<![CDATA[Trần Kỳ Trung]]> http://trankytrung.com/index.php vi http://trankytrung.com/read.php?758 <![CDATA[NÓI VỚI CHÁU NỘI]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 31 Oct 2014 16:47:31 +0000 http://trankytrung.com/read.php?758  

Cháu sẽ nghe lời của ông ( Ảnh minh họa)

 

 Một bài viết của một tác giả ( không đề tên) gửi đến trankytrung.com. Nhận thấy đây bài viết có nội dung tốt , trankytrung.com xin cảm ơn tác giả và giới thiệu cùng bạn đọc.

 

NÓI VỚI CHÁU NỘI

 

…  Con hỏi nội : “ Lúc này con có nên trở thành đảng viên của đảng cộng sản Việt Nam không ?”.

           Nội suy nghĩ nhiều con ạ! Đảng cộng sản hiện nay không như ngày xưa, ngày mà nội cũng như nhiều đồng đội khác được đứng trong hàng ngũ những người là đảng viên đều cảm thấy vinh dự. Còn bây giờ, việc trở thành đảng viên, dù con vào đảng với động cơ trong sáng nhưng nhiều người không nghĩ như vậy. Giờ đây không còn ai thấy tự hào với hai chữ “ đảng viên”  nữa. Hãy nhìn xem bao nhiêu vụ tham nhũng lớn mang ra tòa xử với án rất nặng, toàn là đảng viên. Những biệt thự hoành tráng, những rừng cao su bạt ngàn, những khách sạn to lớn, hiện đại…chủ nhân ông là những đảng viên, thậm chí là đảng viên ở chức rất “khủng”. Hình ảnh này đối lập hẳn với những căn nhà nghèo, tạm bợ của người dân. Những người đảng viên này lấy tiền ở đâu để có những của cải ghê gớm như thế? Không nói ra, nhưng ai cũng biết cả. Nhiều vụ công an đánh dân, thậm chí đánh chết dân rồi nói rằng người đó “ tự tử”. Nội tin rằng, những người công an đánh dân kia, không thiếu những người là đảng viên. Nhiều tật xấu đang lan tràn ngoài xã hội như khai man lý lịch, tung tiền mua bằng giả để dễ lên chức, lòe thiên hạ, khai man thành tích để trở thành “anh hùng”, hiếp dâm trẻ em, sống sa đọa… không thiếu những người mang danh đảng viên. Đó là chưa nói, hiện tượng kéo bè, kéo cánh ngấm ngầm hại nhau, giở mọi thủ đoạn để triệt hạ những người từng là đồng chí của nhau, trong đảng cũng không thiếu. Đau lòng hơn, kể cả những người lãnh đạo đảng, họ không nêu một tấm gương sáng cho quần chúng tin yêu, ngược lại, nhiều lời nói, hành động của họ tạo ra khoảng cách ngày càng lớn với nhân dân. Nhưng những điều đó chưa đáng sợ, đáng sợ nhất trong đảng bây giờ là sự giả dối. Chưa bao giờ sự giả dối ngự trị lớn trong đảng như lúc này.  Có chi bộ, có đảng bộ báo cáo thường kỳ lúc nào cũng “ vững mạnh”, “ đoàn kết”, “ Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của đảng”. “ tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, tác phong của chủ tịch Hồ Chí Minh” nhưng trên thực tế chi bộ ấy, đảng bộ ấy  là một tổ chức rối ren, mất đoàn kết từ trong ra. Không thiếu những những kẻ là trùm tham nhũng, hối lộ, ăn tàn phá hại tài sản nhà nước, tài sản nhân dân…Ấy vậy đứng trước đảng viên, quần chúng ngoài đảng, họ vẫn lên giọng đạo đức rao giảng về “ Con người mới, con người XHCN.”. Đã có lúc nội tưởng rằng, đảng cộng sản đã nhận ra sai lầm, sửa chữa để đưa dân tộc ta thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu Cũng có lúc nội cũng tưởng rằng, đảng với tư cách một đảng lãnh đạo, tập trung những con người thông minh nhất, trí tuệ nhất, bản lĩnh nhất làm ngọn cờ dẫn dân tộc ta hòa nhập với nền dân chủ, văn minh tiến tiến trên thế giới…Nội sẽ mãi tự hào là một đảng viên của một đảng cộng sản chân chính. Nhưng cho đến bây giờ, nội phải nói với con, trên danh nghĩa, nội vẫn là đảng viên, vẫn giữ thẻ đảng, vẫn đi họp, sinh hoạt trong một chi bộ của những người hưu trí. Bên trong, nội đã ra khỏi đảng. Điều này chắc làm con ngạc nhiên, nhưng đó là sự thật. Tuổi nội già, chắc chẳng còn bao lâu nữa về với ông bà, bạn bè lần lượt “ đi” hết.  Ba, mẹ của con luôn vắng nhà, nhà không có ai, nội cũng cần có chỗ gặp gỡ bạn bè để tâm sự. Chi bộ nơi nội sinh hoạt,  nội dung sinh hoạt kiểm điểm đảng viên, phổ biến, triển khai các nghị quyết…chỉ còn mang ý nghĩa hình thức, chi bộ ấy, thực chất là một “câu lạc bộ” để mọi người gặp gỡ giải tỏa nỗi bực bội, bực bội trong xã hội, bực bội trong gia đình, bực bội với những kẻ “ nói thì rất hay nhưng làm thì như mèo mửa”… Tuổi của nội, có thể chấp nhận sinh hoạt trong một chi bộ như thế, nhưng tuổi của con, tuổi của hành động , tuổi của ước mơ không thể trở thành đảng viên rồi sinh hoạt trong một chi bộ mà đến để chỉ giải tỏa những sự bực bội !!!

         Con đừng hy vọng có những đảng viên nguyện giơ tay trung thành hiến cả đời mình cho lý tưởng, cho dân tộc trong một chi bộ, như chi bộ nội đang sinh hoạt.

        Nội nói với con như vậy, cũng không có nghĩa  nội sẽ không bao giờ đồng ý cho con trở thành đảng viên của đảng cộng sản? Không phải con ạ! Nội vẫn mong ước có một ngày trên đất nước ta, đảng cộng sản vẫn là đảng cầm quyền, nhưng bên cạnh đó có nhiều đảng khác. Những đảng này đại diện cho nhiều lực lượng, nhiều xu hướng, nhiều thế hệ… sẽ giám sát sự hoạt động của đảng cộng sản thông qua Quốc hội, khi đảng cộng sản đang nắm quyền, hoặc thông qua những lần tranh cử  dân chủ tự do giữa các đảng phái trong nước, có sự giám sát quốc tế, mỗi khi đến mùa bầu cử. Muốn tồn tại, muốn thắng cử, muốn có số phiếu cử tri áp đảo các đảng khác, không muốn các đảng khác sẽ thay thế vị trí lãnh đạo của mình,  đảng cộng sản buộc phải sửa chữa những khiếm khuyết. Bằng biệt pháp kiên quyết, không khoan nhượng, đảng cộng sản sẽ cho ra khỏi tổ chức của mình những kẻ cơ hội, hèn hạ,  tham nhũng, ngu dốt, độc tài…cho dù kẻ ấy ở vị trí lãnh đạo cao. Những lãnh tụ của đảng cộng sản thể hiện sự thành thật ở mức cao nhất, nhất là lòng khoan dung, độ lượng, nhân ái, tập hợp được đội ngũ trí thức yêu nước trong và ngoài nước, mong họ góp ý với đảng cộng sản về cương lĩnh hành động, về phương pháp lãnh đạo… để đảng cộng sản trở thành một hạt nhân đoàn kết của dân tộc, đoàn kết giữa các đảng phái khác nhau, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đưa đất nước đến một xã hội dân chủ, văn minh, tiến bộ, kinh tế có đà phát triển tiến kịp với các nước văn minh, dân chủ trên thế giới.

              Đảng cộng sản trở về đảng của nhân dân, của dân tộc, chiếm trọn niềm tin của người dân.

              

              Lúc đó con trở thành một đảng viên của một đảng như vậy, nội rất tự hào!

                                                                                

]]>
http://trankytrung.com/read.php?609 <![CDATA[TRƯỜNG TÔI - Tản văn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 14 Dec 2012 01:51:42 +0000 http://trankytrung.com/read.php?609

Tác giả ( Đứng giữa) cùng các em cựu sinh viên khoa Sử - Chính trị - Trường ĐHSP Quy Nhơn

Trong lễ kỷ niệm 35 năm thành lập.

 

TRƯỜNG TÔI – Tản văn
 
Về lại nhà, sau mấy ngày vào dự lễ kỷ niệm ba mươi lăm năm thành lập trường Đại Học Quy Nhơn. Ấy vậy hình ảnh thân thương, cảm động của cuộc gặp gỡ với đồng nghiệp cũ, với các sinh viên cũ… cứ vấn vương trong suy nghĩ, không thể nào dứt bỏ để cho mình làm việc bình thường.
Năm 1978, tốt nghiệp Khoa Sử - ĐHSP Hà Nội I, mình được Bộ Giáo Dục ( cũ ) giữ lại làm giảng viên và điều động vào giảng dạy tại khoa Sử - Chính trị , trường ĐHSP Quy Nhơn ( Nay là trường ĐH Quy Nhơn). Lúc đó, trường này mới thành lập, tất cả còn ngổn ngang, hầu như cơ sở vật chất không có gì. Mấy giảng đuờng trống hoác, hai khu tập thể hình chữ O không sinh viên. Thư viện nghèo nàn, sách tham khảo, tư liệu đều thiếu một cách trầm trọng… Nếu “ giàu có” thì phải nói, đó là gió. Gió biển mênh mang cả sáng, cả chiều. Rồi đến nắng, nắng rát ràn rạt, thừa thải, đủ làm cho da trở nên màu nâu trong một thời gian ngắn. Rồi còn gì nữa? Sóng biển, sóng biển vỗ ngay dưới chân, bất tận, nhẫn nại lúc rì rào như một lời thủ thỉ, lúc gào rú giận dữ như muốn trút bỏ mọi nỗi niềm, chấp nhận đua với thời gian, không bao giờ chịu dừng. Cả một khoa lớn gồm hai bộ môn Sử - Chính trị mà chỉ loe hoe vài cán bộ như mình. Nhưng điều đó không hề ngăn cản được sự nhiệt tình. Quên tất cả, kể cả nỗi buồn, lăn vào mà làm, lăn vào mà để thể hiện khả năng của mình, không hề có một lời thở than, cũng không hề có sự so đo, tị nạnh.
Giờ ngồi nghĩ lại, chính mình cũng không hiểu, lúc đó lấy nghị lực đâu để làm việc một cách nhiệt thành đến thế!
Chỉ có thể giải nghĩa, đó là sự nhiệt thành của tuổi thanh niên. Mà nhiệt thành của thanh niên bao giờ cũng ngây thơ, vô tư, trong sáng. Cũng chính điều đó, xây cho mình một ấn tượng, một hoài niệm, dẫu có đi muôn nẻo cũng không thể quên. Trước hết là tình cảm thầy, trò. Khóa sinh viên đầu tiên mà mình làm chủ nhiệm bao gồm các em sinh viên đủ mọi miền của đất nước. Nhiều nhất vẫn là mấy em sinh viên quê ngoài bắc. Xa gia đình, xa quê đã gắn các em vào làm một, một gia đình lớn. Mình cũng ở hoàn cảnh tương tự như các em, xa quê, xa gia đình nên rất thương các em. Cũng phải nói thêm rằng, thời điểm năm 1978, là thời điểm bắt đầu sự khốn khó về kinh tế, nhìn đâu cũng thấy thiếu, lúc nào cũng có cảm giác đói. Hình như điều đó cũng làm cho con người tựa vào nhau để vượt qua sự nhọc nhằn, tị hiềm. Không thể quên được những ngày thầy trò đi lao động ở khu kinh tế mới Long Mỹ, Nam Tăng trồng rau muống, rau lang để cố cải thiện bữa ăn. Rau không thấy đâu mà thấy nhiều buổi chiều cả thầy lẫn trò phải đi hái rau má về nấu canh. Cơm gần như là độn, còn sắn (mì), bo bo… mới là chính. Quần, áo mặc không lành lặn, thầy, trò như nhau, bạch phếch, đầy miếng vá. Điều khoả lấp nhọc nhằn, quên những cơn đói hành hạ, nỗi nhớ nhà là tiếng hát, tiếng cười, là những tối quây tròn bên đống lửa sinh hoạt tập thể, tâm sự…trò không dấu thầy một điều gì, còn thầy với trò, thông cảm, thương nhau kể cả những trò nghịch ngầm đậm nét của tuổi trẻ.
Giờ tìm đâu ra những tình cảm ấy, nhất là môi trường đại học.
Mình nhớ một kỷ niệm, buổi sáng sớm, vừa mới ngủ dậy có tiếng gõ cửa. Ra mở cửa, trước mặt mình là một cậu sinh viên dáng gày gò, quần áo nhầu nhĩ sau mấy ngày ăn ngủ vật vờ trên tàu hoả từ Hà Nội vào. Duy chỉ có ánh mắt, ánh mắt lúc nào cũng cũng ánh lên nét tinh nghịch. Cậu sinh viên đó, sau tiếng “ Em chào thầy!” rồi cởi ba lô ra, rút đưa cho mình một tấm gỗ, vốn là bàn ăn trên tàu hoả, nói: “ Mấy lần em sang chỗ thầy, thấy thầy không có bàn ăn, cứ ngồi bệt xuống đất trải báo ra lót. Em đi trên tầu, bẻ trộm chiếc bàn này, biếu thầy. Thầy chỉ cần kê mấy viên gạch lên là có cái bàn ăn lịch sự…”. Mình vừa giận, vừa thương: “ Chết mất! Em làm thế này, người ta bắt được thì sao? Hơn nữa đây là tài sản nhà nước. Mình không nên làm như thế!”. Cậu sinh viên đó cười: “ Thầy ơi! Em đã lấy thì làm sao họ bắt được! Hơn nữa, cả toa tầu, khách đi tàu bẻ gần hết, còn có hai, ba cái chứ mấy! Em không lấy, người khác cũng lấy.” Mình nghe vậy, đành chịu, chỉ đưa ra một lời khuyên: “ Thôi, em nhé! Lần sau đừng làm thế!”. “ Em hứa! Chỉ một lần này thôi, vì thầy không có bàn ăn…”.Thương thế! Cậu sinh viên ấy sau này trở thành một người làm nghệ thuật nổi tiếng, tình cảm thầy trò, gặp mình vẫn như ngày nào. Rồi một chuyện khác, hơn mười giờ tối, anh V… cũng là cán bộ giảng dạy, ngủ cùng phòng, sang khu sinh viên về, nét mặt buồn, tay cầm hai củ đậu, nói: “ Tội quá ông ạ! Tôi đi qua khu bếp sinh viên phát hiện mấy “tướng” đang lấy mấy que nhọn chọc qua khe cửa của kho để lấy củ đậu. Phát hiện thấy tôi, mấy “ tướng” vội bỏ chạy, đánh rơi mấy củ đậu này. Tôi nhặt lên, đuổi theo để đưa cho mấy em mang về ăn, kẻo đói. Thế mà chúng nó tưởng tôi đuổi để bắt đưa lên cờ đỏ, cứ chạy. Tôi gọi mãi không đứa nào đứng lại…”.
Tình cảm thầy,trò như thế, làm sao mình quên.
Cũng ở trường ĐHSP Quy nhơn những năm tháng đó, điều để mình nhớ, đó là “lực bất tòng tâm” của người thầy không thể giúp gì được cho trò. Hồi đó, có những quy định lạ lùng, bây giờ kể lại có khi cho là chuyện “khó tin”, nhưng lúc đó là sự thật hiển nhiên. Có sinh viên, gia đình theo đạo phật, ăn chay trường. Vào trường, Ban giám hiệu lại cấm sinh viên ấy ăn chay, bắt ăn mặn.
Điều vô lý không thể tưởng!
Lại có chuyện, một anh bạn khoa Văn giới thiệu với mình một sinh viên nữ, vốn là giáo viên cấp II đi học. Em sinh viên này nét mặt hiền, ánh mắt buồn, nhưng lúc nào cũng giữ được dáng đoan trang, ăn nói dịu dàng từ tốn, đúng tác phong sư phạm. Em học ngoại ngữ rất giỏi. Ngoài tiếng Anh đã giao tiếp được, em còn học tiếng Nga rất chăm chỉ, tiếp thu rất nhanh. Đặc biệt , em có trình độ thẩm thấu văn học rất tốt. Em thuộc rất nhiều thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Quang Dũng, Bùi Giáng, Du Tử Lê... Mình tin, chỉ độ vài năm, khi ra trường, em sẽ là một giáo viên dạy văn rất tốt, rất cần cho đất nước. Nhưng em ấy chỉ kịp học hết kỳ I, nhà trường buộc em phải thôi học vì gia đình có người anh là sỹ quan chế độ cũ bị bắt đi học cải tạo. Mình và anh bạn khoa Văn không thể đấu tranh để em ở lại tiếp tục học, đành thở dài, bất lực.
Đêm ấy, trước lúc chia tay, mấy thầy trò đi dọc bãi biển, tâm sự nhiều lắm, em nói về tương lai mà nước mắt chảy dài. Còn mình, những lời an ủi, thương cảm cố nói thật nhiều để em bớt đi nỗi buồn, nhưng hình như… cũng giống tiếng động của những con sóng kia, dẫu có vỗ về, nhưng đâu có thay đổi được màu đen như mực của biển Quy Nhơn tối ấy.
Sau này anh bạn khoa văn cho mình biết, em cùng gia đình tìm cách vượt biên ra nước ngoài, nhưng không đến đích, thuyền bị chìm giữa biển…
Em chết do ai?
Mình cũng thấy như có lỗi trong chuyện này. Giá như mình giữ liên lạc, làm chỗ dựa tinh thần cho em, có khi chuyện đó không xảy ra…
Những năm tháng dạy học ở Quy nhơn, đến ngay như mình, làm thầy giáo, nhưng nói đã làm gì với kiến thức để truyền đạt cho sinh viên. Đó là câu hỏi khó! Kiến thức nào!!! Mấy trang giáo án gần như chép lại khi mình học ở Hà Nội, là những buổi theo giáo viên được mời từ ngoài bắc vào thỉnh giảng. Bộ môn mình dạy, rất ít tài liệu tham khảo, chủ yếu mấy quyển sách mang vào, học thế nào, dạy thế nấy, một sự nhồi nhét kiến thức đúng nghĩa. Một môn học, học liên tù tỳ năm tiết liền, trong một ngày, Cứ học như thế trong một tháng, thầy lên lớp đọc, sinh viên ngồi dưới chép, chép đến mỏi tay. Đói hoa cả mắt, học chán ngắt, không một sự hứng thú. Kết thúc một môn học, tổ chức thi ngay. Thi cho có lệ, chứ thực ra, chỉ cần không học trong một tháng… dễ kiến thức của thầy lại trả cho thầy. Nhưng trong cái rủi, lại có cái may. Học khổ, ăn khổ, ở khổ… không thể trông đợi có người nào đó đưa tay cứu vớt, mà mỗi người tự rèn cho mình tính nhẫn nại, chịu đựng, tìm ra phương pháp để tồn tại. Thêm vào đó ý chí tập thể cùng chung lòng không bỏ quên ai, dìu nhau đi. Sau này khi ra trường, đức tính đó đã giúp các em sinh viên trưởng thành, dễ thích ứng, dù ở môi trường nào. Mình mừng nhất đó là nhân cách sống trung thực của các em, trước hết với mình, thầy chủ nhiệm cũ, sau đó đến bạn bè, trước sau như một. Gặp các em, sau ba mươi lăm năm, tiếng : “ Em chào thầy!” vẫn đầy tràn tình cảm, tươi nguyên. Chứng kiến cảnh các cựu sinh viên những khóa đầu gặp nhau, giờ đã bước sang tuổi gần sáu mươi, giữ nhiều chức vụ khác nhau, người Tổng biên tập tờ báo lớn, người làm đạo diễn, vụ trưởng, vụ phó, người là đại biểu Quốc hội… nhưng cũng có người chỉ là anh giáo viên cấp III, thậm chí có người bỏ nghề làm anh nông dân… Ấy vậy, gặp lại nhau, vẫn giữ được tiếng cười hồn nhiên, những ánh mắt nhìn nhau như quên tuổi tác, cả cách xưng hô nữa, y như ngày đầu nhập trường… thật cảm động.
Bây giờ nhìn vào vật chất, tưởng có thể hơn thời mình và các em sinh viên đã sống ở trường ĐHSP Quy nhơn. Nào nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh…đến ăn mặc, chải chuốt, lịch sự hơn. Kể cả nước da nữa chứ, hồng hào, tươi tắn… Dẫu thế, để tìm ra được một tiếng cười vô tư, một chỗ ăn, nói thoả mái không ngượng ngập, không phải nhìn trước, ngó sau, chẳng phải thưa gửi, nịnh bợ ai quả là khó! Phía trước, cuộc sống còn bao nhiêu điều bộn bề, lo toan, đối phó, tìm được một phút giây thanh thản với chính mình giữa bạn bè, rất hiếm. Và cũng giữa thời buổi “ chợ trời”, mọi giá trị tinh thần, kể cả đạo đức, nhắc lại như một từ phù phiếm, con người bi quan, hay lạc hướng giữa buổi thuyết giảng “lý tưởng”, “chủ nghĩa”, đến độ không dám nói thật, không dám sống thật với mình… thì chỉ có những buổi gặp gỡ như thế này, ôn lại những năm tháng sống chết với nhau, thương nhau hết lòng, con người mới có một nụ cười tự nhiên, sống đúng với mình nhất.
Chỉ thế thôi, làm sao không mong có ngày gặp lại.
 
 
]]>
http://trankytrung.com/read.php?605 <![CDATA[LỚP TÔI - Tản văn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 29 Nov 2012 15:32:04 +0000 http://trankytrung.com/read.php?605

LỚP TÔI – Tản văn
 
Mới đó đã hơn bốn chục năm.
Gặp lại không khỏi ngỡ ngàng, tóc bạc, nét mặt nhiều nếp nhăn, dáng cũng thay đổi. Nhưng một điều hình như không thay đổi đó là giọng nói, tiếng cười. Mình vẫn có cảm giác y như ngày nhập lớp. Gặp nhau, đoán nhé: “ Ai đây ? Thêm phải không? Còn đây! Đúng rồi Hà Thanh. Đây nữa! Anh Cát, anh Tuấn!”…
Thế là vỡ ra tiếng cười, có cả nước mắt rơi.
Một thời, sống đầy kỷ niệm. Những kỷ niệm hút hồn, gìm chặt vào trí nhớ, đi theo, chung thuỷ suốt cả cuộc đời.
Làm sao quên được những tình cảm bạn bè trong sáng, vô tư không một vết gợn, khi sống những năm tháng đó. Trong một tổ gần như không phân biệt sang, hèn, mà lúc đó hình như không có khái niệm “ giàu, nghèo”. Học bổng như nhau, chế độ tem phiếu như nhau, ăn mặc gần như giống nhau…Nên thế, sinh hoạt tổ như một gia đình. Mấy anh cán bộ chăm học, làm gương cho lớp trẻ. Còn bọn mình, ngoài chuyện học, nếu là nữ lại tìm cách đan lát, móc, thêu. Còn con trai, ầm ỹ với trái bóng mỗi chiều, với tiếng ghi ta bập bùng trên sân thượng khu ký túc xá. Hồn nhiên trong sinh hoạt, hồn nhiên cả trong chuyện tình cảm. Quan tâm đến nhau, cũng có chút giận hờn vì không chép bài cho nhau, rồi mải đá bóng để lỡ cuộc hẹn, hay như tự ái vì để các bạn châm chọc…

Tác giả ( đứng, bên phải) chụp chung với anh Tuấn, bạn Mai, Nhị, Nhân
 
Nhưng cũng như một cơn gió thoảng… chưa đâu vào với đâu, thì chiến tranh phá hoại ập đến.
Quên làm sao được cái đêm 16/4/1972 khốc liệt cả Hà Nội phải sơ tán gấp vì máy bay Mỹ ném bom. Bên kia sông Hồng, kho xăng Đức Giang trúng bom máy bay Mỹ thả, lửa cuồn cuộn bốc lên, sáng cả một góc trời. Trên đường nhựa trước cổng trường người đi bộ, người đạp xe , người gồng gánh… tất tả, chen lấn, cuống cuồng. Cả lớp cũng vội vã, người nhét vội quần áo vào ba lô, kẻ vơ vội chăn màn cuộn tròn cùng sách vở…rồi tất cả cố gắng đi thật nhanh đến ga Hàng Cỏ, xuôi theo tàu về sơ tán ở Đồng Văn ( Duy Tiên – Nam Định). Đêm trên tàu, ngồi ép vào nhau, lắc lư theo nhịp tàu đi, ánh mắt người nào, người nấy đều lộ vẻ lo lắng, lo lắng cho gia đình ở nhà, giờ này có làm sao không ? Hầm hố đào thế nào? Rồi lại nghĩ có khi gia đình cũng đang lo cho mình…
Cả một đêm trên tàu, không ai ngủ được.
Nơi sơ tán, một vùng đạo toàn tòng, có nhà thờ, mỗi chiều tiếng chuông nhà thờ ngân xa, vang trong chiều muộn như cố níu kéo hoàng hôn chậm lại. Mình ở gần nhà Lý Cẩm Hương, Kim Chung… mấy bạn gái trong tổ. Chiều chiều Cẩm Hương hay rủ mấy đứa trẻ, con cháu bác chủ nhà ra tập múa, Hương hay rủ mình đến xem. Mình với Kim Chung, nhiều buổi chiều, chẳng có việc gì làm, hai đứa cầm chổi ra quét dọn con đường phía trước ngồi nhà tạm trú… Bên này con đường những dãy nhà lá lụp xụp, ẩn mình dưới rặng tre già, còn bên kia nhìn ra, một cánh đồng trải dài đến tít tắp màu xanh mượt của lúa đang kỳ lên đòng. Điểm xuyến, những cánh cò trắng chấp chới bay lúc mờ, lúc tỏ và xa hơn nữa, những đám mây trôi đi vô định… Thế thôi, lớp ở đây mới có hơn tháng, với cảnh ấy, nhớ da diết khi xa.
Chia tay với Đồng Văn, lớp mình sơ tán tiếp đến Đan Phượng ( Hà Tây cũ) gần nhà mình ở thị trấn Phùng. Với lớp không thể xa, thế là mấy ngày đầu, mình cùng anh Chương, anh Thông, anh Tánh, anh Quỹ, Lê Hà…đắp bếp lấy chỗ nấu ăn. Học ngay trong một ngôi đình làng, thầy giảng bài ở trên, còn chúng mình ngồi bệt xuống nền, sách để trên đùi mà ghi chép. Học khổ nhưng vui, vì ngồi không hàng lối, kẻ dựa lưng vào cột, người dựa vào tường…ngủ gật thầy cũng không biết. Có lúc một bạn nữ dấm dúi đưa cho một múi bưởi, cúi xuống giả vở viết, thực ra dấu thầy “ăn vụng”, người ngồi phía trước che cho, người ngồi cạnh nói nhỏ: “ Còn không, cho tớ một miếng?”. Thỉnh thoảng giờ học phải ngưng, chạy vội ra hầm trú ẩn vì có tiếng máy bay xoẹt qua, tiếng súng của một trận địa cao xạ gần đó nổ…Thực ra học như thế bữa đực, bữa cái, kiến thức cũng chẳng vào đựơc là bao nhiêu. Chỉ vui, hình như có nhiều thời gian để gần nhau, để nhớ nhau hơn. Tối tối, trăng sáng, mình với mấy bạn nữ tha thẩn lên mặt đê, nhìn về phía xa xa, có ánh sáng mờ mờ hắt lên. Hà Nội đấy, bao giờ yên hàn, đất nước hết chiến tranh, lớp bớt đi những chỗ trống do các bạn trai lần lượt lên đường nhập ngũ, để được quay về với khu ký túc xá, với những dãy nhà bốn tầng có ánh điện vàng soi trang sách, rộn tiếng cười. Để chiều chiều lên sân thượng, nghe văng vẳng đâu đây giọng ai đang hát: “ Chiều thanh vắng là đây, âm thầm gió rì rào…”
Ở Đan Phượng được một thời gian, lớp mình tiếp tục chuyển chỗ, sơ tán về xã Khúc Lộng – Văn Giang – Hưng Yên. Một làng quê yên ả nằm cạnh một con sông đào, có cái cầu bắc qua, tên gọi ngộ ngộ: Cầu Váu. Mình ở nhà bà Hoè, một căn nhà ngói cũ kỹ, trước sân cạnh bể nước có cây bưởi, những đêm vắng, hương buởi thoang thoảng bay vào nhà, dễ làm cho người có giấc ngủ say. Cũng chưa thể tổ chức học, máy bay Mỹ ném bom ngày càng ác liệt, thế là mình cùng Kim Chung và cả lớp được Ban chủ nhiệm Khoa phân công đi làm công tác hè, giúp các em cấp II trong xã. Mình với Kim Chung dạy các em bài hát : “ Mùa xuân sang em lớn thêm một tuổi, lúc hoa bưởi toả ngát hương thơm. Bạn rủ em đi ra đồng với con nghé hoa cũng lớn thêm một tuổi…” ( Tổ khúc “ bốn mùa” – sáng tác : Hoàng Vân). Các em dễ thân, hay mời mình và Kim Chung về nhà chơi…
Nhưng rồi…
Cuộc “ thực tập” đầu tiên trong đời để sau này trở thành giáo viên, bị bỏ dở nửa chừng.
Mình lên đường nhập ngũ.
Nhớ mãi buổi chia tay, Kim Chung và Tâm định đưa mình đến tận chỗ nhận quân. Mình không chịu: “ Các bạn về đi, tiễn với đưa làm gì! Đi rồi lại về…”. Mình không muốn cuộc chia tay diễn ra trong nước mắt, nói cứng thế thôi, bên trong bùi ngùi thương cảm. Vì giữa mình với Kim Chung lúc đó chưa là gì cả, chỉ chơi thân với nhau, cũng không một lần nắm tay…nhưng, trong tổ gần như mình đi đâu cũng có bạn ấy, dễ nói chuyện với nhau, chẳng dấu nhau một điều gì.
Mình đi xa, quay lại vẫn thấy hai bạn đứng nhìn theo.
Những năm tháng ở Trường Sơn rồi bao vây Bình Long ( Đông Nam bộ) kề cận cái sống, cái chết. Có lẽ điều mình nhớ nhiều nhất là người thân Bố, Mẹ, mấy đứa em và cả lớp Sử khoá 1971 – 1975 mình đã học năm đầu. Ao ước, ao ước thật sự lúc đó là được quay ra bắc, lao vào vòng tay người thân. Lại được choàng vai, bắt tay với mấy bạn trong lớp. Dừng chân ở bãi khách, mình với Lễ, bạn cùng lớp, cùng một ngày nhập ngũ, cùng đơn vị hay ôn lại những kỷ niệm về lớp Sử thân yêu, nhắc lại những ngày đi khảo cổ ở Tứ Xã ( Lâm Thao – Phú Thọ), đi lao động ở Cống Thôn, Xuân Quang, những buổi đạp xe cùng các bạn đi xem phim ở tận bãi Cầu Giấy… Lễ hay nói với mình cái giọng y như buổi còn sinh viên: “ Từ này tiếng Nga là gì nhỉ?”. Rồi Lễ hát nho nhỏ lời Việt của một bài hát Nga: “ Ôi, không gian bao la. Hãy nói với ta. Như ngôi sao hôm. Đêm ngày mong chờ. Rằng ta vẫn nhớ. Đến người dấu yêu. Ở phương trời xa…” ( Lời Việt bài hát Nga: Ngôi sao ban chiều) làm cho nỗi nhớ thêm cồn cào. Ông chính trị viên Thành nằm cạnh, nghe Lễ hát như vậy, mắng ngay: “ Đang hành quân vất vả như thế này, không động viên mà đi hát nhạc vàng. Mấy ông sinh viên im ngay cho tôi nhờ!”. Mình với Lễ vội im, không dám trò chuyện nữa. Không biết lúc đó Lễ nghĩ gì, còn mình, những khuôn mặt của các bạn, cả nam lẫn nữ trong lớp sử mình học cùng, hiện lên rõ mồn một, lạ kỳ, bên tai nghe như có cả tiếng cười nữa…
Hình ảnh đó cứ thế đi theo mình cho suốt cuộc trường chinh.
Đất nước hoà bình, bộn bề công việc, khi mình trở về lại trường để học tiếp thì các bạn khoá 1971 – 1975 đã ra trường, tứ tán mỗi người một nơi, mình không có điều kiện gặp.
Dẫu thế vẫn ước ao, có một ngày được gặp lại tất cả…
Nghe điện thoại của anh Cát, bạn Tỵ, bạn Nhị… điện cho mình thông báo ngày gặp cả lớp, sau bốn mươi năm xa, mình mừng vô cùng.
Gặp lại nhau, nhìn mà thương vì nghĩ mãi, đoán mãi, không biết người đang ngồi trước mặt mình là ai? Thay đổi nhiều quá. Ngày nào là tuổi xuân phơi phới, mái tóc dài, làn da trắng, má đỏ hồng. Thế mà bây giờ… Khi nhận được ra nhau, cùng ồ lên trong tiếng cười, nước mắt. Bốn mươi năm, trôi qua như một cái chớp mắt, nhưng in đậm nỗi niềm khốn khó vận vào từng số phận. Có bạn, năm tháng qua là những chuỗi ngày của vất vả, phải nuôi chồng bị tai biến nằm liệt một chỗ . Lại có bạn là sự cương cường chống lại số mệnh, chạy thận mười một năm, vẫn lạc quan, hết mình với bạn. Trong lớp có mấy bạn, không may chồng mất sớm, một mình ở vậy nuôi con cho đến khi con khôn lớn dựng vợ, gả chồng… Có bạn phận nghèo, ở tít tận Lạng Sơn, Hoà Bình, xuống với mọi người vẫn cố mang bằng được mấy bao hạt dẻ, bắp ngô… làm quà.
Gặp nhau, coi như không có tuổi tác, cũng không phải là hiện tại mà thực sự trở về với quá khứ bằng tiếng cười, tiếng hát, cách xưng hô “ cậu, tớ, mày, tao…”, của tuổi sinh viên, cùng ôn lại những kỷ niệm của bốn mươi năm trước, mà cứ ngỡ nó vừa xảy ra hôm qua, không quên một chi tiết nào! Các thầy Cảnh Minh, Đặng Minh, Thầy Thêm, Cô Bích Ngọc…cùng đến chung vui, chứng kiến cảnh ấy, ánh mắt của các Thầy,Cô cũng biểu lộ sự xúc động. Nhìn các Thầy mình lại nhớ đến Thầy Hồ Song, chủ nhiệm Khoa lúc đó. Biết mình cận thị vẫn xung phong đi bộ đội, Thầy nói riêng với mình, giọng ái ngại: “ Em nên lựa sức mình, mắt như thế, liệu có thể hoàn thành nhiệm vụ không?”. Không hiểu sao lúc đó, mình trả lời chắc nịch: “ Thầy yên tâm, em tin ở mình!”. Nhưng sau này vào chiến trường, có lúc bình tĩnh ngồi ngẫm nghĩ , thấy mình cũng hơi liều, may mà… không chết! Khi mình về lại trường, nhập học,Thầy thấy mình, reo to, như thể thấy đứa con đi xa, giờ mới trở về: “ Trung về rồi này! Thầy mừng quá, có làm sao không, em? ”.
Buổi gặp mặt tổ chức trên con thuyền rồng lướt nhẹ trên mặt nước hồ Tây hôm ấy đã làm thoả mãn cho mình một điều, gặp lại những khuôn mặt xưa, thân hơn ruột thịt, làm điểm tựa cho mình lại sức ,vượt qua những lúc cam co nhất.
Gặp những con người, đã giúp mình có khát vọng sống, khát vọng tin vào một tương lai nhất định sẽ tốt đẹp nếu mình đừng bi quan, đừng chán nản.
Xin cảm ơn các Thầy, Cô và các anh, các chị, các bạn lớp Sử - Khoá 1971-1975 – Khoa Lịch Sử - Trường ĐHSP Hà Nội I.
--------------------------------------------------
 
 
 
]]>
http://trankytrung.com/read.php?588 <![CDATA[ĐÁM CƯỚI LÀNG - Tản văn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 23 Oct 2012 12:33:47 +0000 http://trankytrung.com/read.php?588  

Một đám cưới làng quê - Ảnh có tính chất minh họa

 

 

                        ĐÁM CƯỚI LÀNG – Tản văn

           Người cháu bên vợ làm đám cưới. Vợ nói: “ Anh có khiếu ăn nói, đi đám cưới cho cháu, thay mặt bên đằng trai, làm chủ trò nhé.”.  Một đám cưới vùng nông thôn, cách chỗ mình ở hơn hai trăm cây số, tận một làng ở Hoài Nhơn ( Bình Định)  muốn tìm hiểu, mình liền đồng ý với yêu cầu của vợ.

          Đám cưới làng, mình đọc báo nhiều, xem ti vi, rồi youtube… cung cấp, thường đó là đám cưới ở nông thôn bây giờ  “mới”, “ cũ” … lộn tùng phèo, bia rượu ngả ngớn, say nói lè phè, thậm chí cả đánh nhau, còn MC pha trò với những câu chuyện tiếu lâm chọc cười rẻ tiền… nghĩa là văn hóa nhiều đám cưới làng đã “về mo”.

         Nhưng, đám cưới mình dự, một đám cưới làng, không hiểu sao để lại trong mình một sự cảm thông, thương đến là thế.

      Con đường dẫn vào nhà cô dâu, dễ cả mấy chục năm vẫn vậy. Một còn đường đất lồi lõm như sống trâu, qua cơn mưa tối trước, loang lổ những hố nước nổi váng vàng chân lội vào bước lên, thụt xuống phát ra những tiếng lõm bõm. Hàng cây dừa, muôn đời với những dáng độc, như một thân người gầy, gắng gượng sống, cố vươn lên, thi gan  chống chọi với thời gian. Ven đường là những ngôi nhà mái tôn màu xỉn loang lổ, chúi thấp mái như một người ăn mày ngồi ngủ gật, không có ai đỡ. Vẫn những đứa trẻ áo quần không lành lặn, chân đất đứng trước cổng nét mặt bám bụi sau những trò đùa nghịch ngợm, ánh mắt ngạc nhiên nhìn theo đoàn người đón dâu đi qua… Một hình ảnh không thay đổi của nông thôn Việt Nam, có dễ đến hơn ba mươi năm mình chứng kiến, vẫn y như vậy. Quang cảnh này gợi lên một hoài niệm tưởng như đã gìm chặt vào dĩ vãng, giờ cứ thế hiện rõ, cụ thể, không phải tưởng tượng, làm cho mình xúc động.

       Một rạp cưới nhà gái dựng, không thể đơn giản hơn. Mấy miếng vải hồng, che xung quanh. Dăm ba  bộ bàn ghế gỗ cũ kỹ đơn sơ được sắp đặt thành hàng, thành lối trên nền sân lầm cát, còn trên bàn là ngay ngắn những chén, ly sàng sứ sạch sẽ  để chủ nhà chuẩn bị đãi khách… Nhìn kiểu sắp đặt như vậy, mình cũng hiểu, đám cưới chắc cũng không nhiều món sang như những đám cưới thành phố mình đã dự. Mà cách bố trí này, gợi lại đám cưới hồi thời bao cấp, cũng nghèo, phông màn đơn sơ, vài bộ bàn ghế cũ kỹ… Cũng có điều hơn đám cưới thời bao cấp là ban nhạc quê, bao gồm mấy thanh niên biết đánh đàn tụ họp lại, nét mặt chất phác, áo quần không sang, phục vụ đám cưới tận tâm, ai hát cũng đánh đàn phụ họa theo, bất kể bài gì…

       Họ nhà trai đến, bên ngoài chiếc cổng kết hoa nhựa, treo tòn ten hai chiếc đền lồng màu đỏ là họ nhà gái. Mấy người đàn ông, có lẽ lần đầu thắt caravat, mặc comlê… nên trông họ có phần ngượng nghịu. Lại mấy người phụ nữ, cũng áo dài, tóc búi, trên nét mặt có thoa chút phấn son… chỉ thế thôi mà họ cũng có vẻ như không quen, thỉnh thoảng lại ngoảng mặt đi chỗ khác, cười khúc khích. Đứng xung quanh là mấy người thanh niên cả nam lẫn nữ nhìn mình cùng họ hàng nhà chú rể với ánh mắt tò mò, ngó nghiên, tay chỉ chỏ.

      Khi an vị xong, hai họ đứng lên giới thiệu. Bên đằng trai, mình đứng lên giới thiệu, chưa đến chục người, nên cũng không mất nhiều thời gian, nói ngắn gọn. Riêng đằng nhà gái, ông bác đứng lên, trông rất tội. Ánh mắt nhìn trước nhìn sau, đằng hắng một tiếng, nói trịnh trọng:

      - Kính thưa các cấp chính quyền, thưa quan viên hai họ…

   Mình nhìn quanh, hỏi nhỏ một người bên đằng gái:

      - Chính quyền cũng dự à!

    Người đó gật đầu, nói vừa đủ nghe:

      - Đám cưới hay cả … đám ma cũng phải mời họ. Không có là không xong. Sau này có xin chứng thực giấy tờ hành lên, hành xuống, khổ lắm!

       Rồi ông ta khều nhẹ tay, bí mật chỉ cho mình một người đàn ông dáng béo trục, béo tròn, da mặt mặt hồng hào, mắt cúi xuống bàn, cười lơi lả với một phụ nữ ngồi cạnh, nói thì thào:

      - Ông phó bí thư  kiêm chủ tịch xã đấy!

       Không hiểu sao cảnh ấy cũng làm cho mình cảnh giác, tý nữa có phát biểu gì cũng nên cân nhắc.

        Ông bác bên đằng gái sau lời thưa gửi, giới thiệu tiếp đến những họ hàng, bà con. Mình để ý, bên đằng gái, trừ mấy người ông, người bác tuổi khá cao, còn lại toàn bà lão, đàn bà, con gái… Đàn ông là trung niên, thanh niên đi đâu hết cả rồi? Đến cả lúc cao trào là hát mừng, cũng chỉ mấy người con gái đứng lên hát, mà đám cưới lại hát toàn những bài hát buồn, buồn đến não lòng: “ Đừng xa em đêm nay, đêm rất dài…” Rồi một chị, có lẽ tuổi cũng đã lớn, hát được câu đầu, đến câu sau là khóc: “ Ba đi xa, ,thì con với mẹ. Mẹ đi xa thì con với ba. Cả nhà ta đừng đi đâu xa. Đi là nhớ, gần nhau là cười…” (1). Đám cưới, ngày vui mà khóc thì quá buồn. Nhưng hình như… nội dung bài hát đã nói đúng tâm trạng của những người phụ nữ ngồi đây, nên dứt bài hát, họ vỗ tay rất to đề nghị người phụ nữa kia hát lại và họ hát hòa theo. Mình thắc mắc, tự tìm hiểu mới phát hiện ra rằng: Làng này, đàn ông đủ sức, đủ tuổi thường đi làm xa để kiếm tiền nuôi gia đình. Một người bên đằng gái cho biết, không riêng gì làng này, các làng khác xung quanh đây đều thế cả. Ở nhà đói lắm, kiếm ăn khó lắm, phải đi xa, có khi đi biền biệt mấy năm mới về. Các làng nghèo đều vắng hết đàn ông, trong làng toàn đàn bà. Đàn bà vắng chồng, vắng cha, vắng con khắc khoải chờ đợi ngày đoàn tụ trong năm. Những ngày đợi chồng, đợi cha, đợi con chỉ mong có một chỗ dồn lại để hát, hát nỗi khao khát đến cháy bỏng: “… Cả nhà ta đừng đi đâu xa. Đi là nhớ, gần nhau là cười…”.

       Vừa hát vừa ăn liên hoan, đám cưới làng, không cao lương mỹ vị. Nghèo, giản dị, chân tình. Món đầu, mình thấy, bánh cuốn chấm nước mắm ớt tỏi. Món sau mình thưởng thức, thịt heo cuốn bánh tráng. Món tiếp theo, bánh hỏi ăn với lòng heo luộc…Những món ăn dân giã, đúng giờ, đúng bữa, nên ăn rất ngon.  Ngon hơn nữa, gần như không có khách sáo, mỗi món bưng ra, lại có người khoe: “ Tôi làm đấy, anh ăn thử đi, xem có ngon không ?”. Thấy mình như không hiểu, người đó giải thích: “ Đám cưới của cháu, nhưng là của làng, mọi người cùng góp công vào cho cháu hạnh phúc. Món này, nhà này nấu, món kia, nhà kia nấu rồi đúng giờ mang đến. Tiền công xá, thực phẩm chẳng đáng bao nhiêu, chủ yếu làm thế nào để đám cưới mọi người cùng chung vui, ai cũng được hưởng, mấy khi được thế này…”.

          Văn hóa làng, xã mặt văn minh, mình  tưởng giữa cảnh xô bồ này đã biến mất. Có lúc mình bi quan, như đi dự đám cưới ở thành phố chẳng hạn. Vào đám cưới  bỏ vội chiếc phong bì mừng hạnh phúc vào thùng, ký ngoằng một cái vào tấm vải để trên bàn rồi dắt vợ vào ngồi bên trong, bên tai những tiếng đàn, tiếng trống nghe chát chúa, người ngồi bên cạnh nói, cũng không biết họ nói gì.  Khung cảnh xung quanh ồn ào, cả hàng trăm người, có khi lên cả nghìn, ngồi cùng bàn cũng không biết mình đang ngồi với ai?  Ăn uống, hát hò tất cả như diễn, không hề có cảm xúc. Ăn thì vội, chưa xong món này, nhà hàng đã dọn, đưa lên món khác… Trên đứng hát, cứ hát, ai muốn nghe thì nghe, không nghe thì thôi,  rõ nhất là tiếng chỗ này “dô”, chỗ kia “dô”… nhuộm nhạm, lôm nhôm… Chỉ mong đám cưới mau kết thúc để về…

          Đám cưới làng mình đang chứng kiến đây, rõ là nghèo, các món ăn gần như tự nấu, phía sau khói bếp đốt bằng rơm vẫn bốc lên thành ngọn, có lúc bị cơn gió đưa, khói theo vào vây lấy thực khách, mùi nồng nồng, ngai ngái. Mình cố hít mùi làng quê ấy, thấy thơm lạ lùng. Khách dự cũng là người quanh làng cả, nhiều tiếng chúc hỏi thăm nhau, từ chuyện làm ăn đến chuyện gả chồng, cưới vợ cho con cái y như trong một gia đình lớn.

        Cũng có chỗ mà mọi người không dám ngồi gần, chỉ qua lại xã giao là chiếc bàn để riêng cho ông phó bí thư kiêm chủ tịch xã ngồi. Khuôn mặt ông đỏ hồng vỉ rượu, ngả ngớn vì nói, cười hỉ hả có vẻ như ăn ngon, bên cạnh mấy vị cao niên đang ngồi lặng lẽ tiếp rượu, đưa mồi cho ông ta.

           Cũng là một hình ảnh “lạ” trong đám cười làng mình chứng kiến.

           Lúc họ nhà gái tiễn họ nhà trai ra về, cô dâu theo chú rể, những ánh mắt buồn nhìn theo, cánh tay quệt hàng nước mắt, lời giã từ: “ Làm dâu nhà họ phải sống tốt nghe con, nhà mình nghèo chỉ còn cái đức. Con nên giữ để bên chồng trọng nhà mình …”

           Họ nhà gái đi theo đoàn rước dâu một đoạn đường dài để tiễn…

Lên xe mình nhìn lại.

Xe đã nổ máy.

Vẫn mấy ánh mắt đó nhìn theo…

---------------------------------

(1) Lời bài hát " Cả nhà thương nhau" - Nhạc và lời: PHAN VĂN MINH

        

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?547 <![CDATA[HỒN HÀ NỘI TRONG PHỐ CỔ HỘI AN - Tản văn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 10 Aug 2012 11:37:57 +0000 http://trankytrung.com/read.php?547  

Phố cổ Hà Nội xưa rất giống phố cổ Hội An hôm nay

 

Một lần, nhân dịp tôi ra Hà Nội có công việc, Nhà văn Đào Thắng dẫn tôi đến gặp Nhà báo Đào Quang Thép. Nhà báo Đào Quang Thép có đặt tôi viết một bài về Hà Nội, nhân dịp kỷ niệm 1000 Thăng Long. Tôi nhận lời, nhưng thực sự phân vân, vì đây là đề tài khó, đã có nhiều người viết rất thành công, còn tôi chỉ là anh viết văn, viết báo bình thường, viết như thế nào để nói được nét đẹp của người Hà Nội là một việc không dễ. May cho tôi, ở Hội An, tôi có một kỷ niệm về một gia đình gốc Hà Nội. Tôi viết "nguyên vẹn"  những cảm xúc của mình khi gặp gia đình này. Bài tản văn  " Hồn Hà Nội trong phố cổ Hội An"  tôi  đưa cho nhà báo Đào Quang Thép. Thật mừng, bài tản văn đã được in trọn vẹn, không sửa một chữ trong tạp chí Người Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long và sau này có đăng lại trong báo Xây Dựng số tết 2011.

         Bài tản văn " Hồn Hà Nội trong phố cổ Hội An"  tôi cũng đưa vào chuyên mục " viết về Hội An" của trankytrung.com, nhiều bạn đã đọc. Nay khi đọc nhiều tin trên các báo, báo động lối sống của người Hà Nội xuống cấp, tôi rất buồn nhưng không biết do nguyên nhân vì đâu? Rõ ràng không thể ai phủ nhận, với quá khứ không xa, phong cách sống của người Hà Nội là tuyệt vời, sáng vô cùng, văn hóa vô cùng...

        Tôi muốn mọi người đọc lại bài tản văn này, cùng tôi hoài niệm nhớ và thương người Hà Nội, biết ơn một nét đẹp văn hóa đã từng là biểu tượng của Văn hóa Việt Nam.

        (  Bài viết đăng lại có sửa chữa).

--------------------------------------------

 

                                          HỒN HÀ NỘI TRONG PHỐ CỔ HỘI AN

        Tôi dẫn một bác lớn tuổi quê gốc Hà Nội, dạo phố cổ Hội An, đúng lúc trăng rằm, lúc đó cũng tầm gần nửa đêm, những ngôi nhà nằm im vùi vào giấc ngủ say, đường lẻ loi một, hai hình bóng người với những bước chân chậm rãi. Mà hình như cảnh ấy muốn tạo cho người tĩnh tâm để nhìn, ngắm trăng. Cái ánh trăng sáng viên mãn, vàng nhẹ trong đêm, trông tinh khiết đến lạ lùng. Con trăng ấy nhìn xa cứ như mơn man, trôi theo trên từng nóc nhà cổ. Bác lớn tuổi, quê gốc Hà Nội nhìn cảnh đó, đứng sững lại, nắm tay tôi, nói cảm động:
- Trời ơi! Sao nó giống ánh trăng của Hà Nội thời của bác sống thế hả cháu!

            Rồi bác lớn tuổi quê gốc Hà Nội ấy hối hả kể với tôi cứ như sợ kỷ niệm kia do ánh trăng ngẫu hứng nhìn thấy trong đêm phố cổ Hội An trôi vụt mất. Trăng đẹp nhất là đúng rằm ở đường Cổ Ngư nhìn ra mặt hồ Tây. Trăng vằng vặc treo trên cao, trông xa như lấy gậy khều được, ngắm trăng mà như muốn ôm trăng. Rồi cũng ánh trăng ấy, lên mặt đê, hay ở cầu Long Biên nhìn xuống sông Hồng. Trăng tròn trĩnh, lơ lửng giữa dòng sông, hắt ánh vàng xuống bên dưới khiến cả dòng sông như một tấm lụa vàng khổng lồ đang dệt. Bác lại kể cho tôi nghe những năm tháng Hà Nội trước năm một chín bảy ba. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, thời kỳ ấy Hà Nội hay mất điện, mà mất điện đúng đêm trăng rằm thì Hà Nội lại hiện lên, đẹp một cách lạ lùng. Không tiếng súng, không tiếng bom ì ầm, rất ít tiếng động cơ xe, đường phố thoang thoảng mùi hoa sấu dọc mấy đường phố lớn, mùi hoa lan dìu dịu lan tỏa từ những ban công của mấy ngôi nhà tầng. Trăng ở Hà Nội chỗ nào cũng thấy. Những mái nhà biệt thự cổ của đường Phan Đình Phùng, dưới ánh trăng, ẩn hiện qua hàng cây sấu như lay động, giống y như nóc nhà cổ trong phố cổ Hội An đêm nay. Đi trong lòng phố cổ Hội An đúng đêm rằm, gợi nhớ về Hà Nội những ngày tháng thanh khiết, thấy Hà Nội không xa mà rất gần, tôi nghĩ thế. Bác nói tiếp: “ Lạ thật cháu ạ! Vẫn ánh trăng ấy, nếu ở nơi khác mình ít để ý, không dễ gợi cho ta hoài niệm, nhưng ở Hội An, như đêm nay, lại gợi nhớ đến quê hương mình nhiều đến thế! Chính Hội An đang giữ hồn Hà Nội”. Nghe bác người gốc Hà Nội mói vậy tôi lại nhớ một chuyện.
Tháng 6 năm 1975, vẫn bộ quân phục màu xanh Quân giải phóng, tôi theo gia đình về lại Hội An, nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời. Buổi chiều, thắp hương ở nhà thờ tộc xong, sáng sau tôi theo Ba ra chợ.
Chợ Hội An nằm ngay trung tâm phố cổ, đúng cảnh “ trên bến, dưới thuyền” , người mua, kẻ bán tấp nập. Tôi ngỡ ngàng với tiếng nói của quê hương, mình quen sống ở Hà Nội ngót hai mươi năm, tuy là mang tiếng người Hội An, nhưng tiếng nói, thậm chí cả tính cách của tôi, đậm chất Hà Thành, khó lẫn. Vì thế, khi về lại quê, tiếng nói của tôi, đâm ra… lạc lõng. Nhiều người dân Hội An nghe tôi nói, họ ngạc nhiên bởi tiếng nói như “ tiếng chim” như một lần Ngoại của tôi nhận xét. Đến một gian hàng bán đồ thực phẩm, đang định nhờ Ba hỏi giá, thì bất ngờ người đàn ông bán hàng cất giọng đặc “ Hà Nội” hỏi tôi:
- Thưa anh giải phóng! Anh là người Hà Nội ?
Tôi giật mình. Từ hôm qua đến giờ, mình như bị ngào lẫn trong ngôn ngữ của đất Quảng, cụ thể là ngôn ngữ của người Hội An, bất chợt, nghe lại tiếng nói Hà Nội trong veo, rõ ràng, không thể lẫn… làm cho tôi lúng túng. Tôi vội giải thích với người đàn ông đó:
- Dạ, thưa! Quê tôi ở đây, nhưng từ nhỏ… theo gia đình tập kết ra bắc. Tôi sống ở Hà Nội nên nói tiếng Hà Nội. Vì thế mà ông tưởng…
Người đàn ông nói tiếng Hà Nội kia hình như không để ý đến lời giải thích của tôi, giọng Hà Nội nguyên vẹn xoắn xuýt, thân như thể không thể thân hơn:
- Mời anh về nhà tôi chơi, nhà gần đây thôi. Anh đến kể về Hà Nội cho cả nhà tôi nghe đi. Tôi và nhà tôi xa Hà Nội hơn hai mươi năm rồi. Nhớ Hà Nội lắm!
Tôi đến thăm nhà của người đàn ông nói tiếng Hà Nội ấy. Căn nhà nằm trong một hẻm nhỏ trong lòng phố cổ, bình dị, bên ngoài có giàn hoa giấy. Điều đặc biệt, làm cho tôi ngạc nhiên, cả nhà vẫn giữ tiếng Hà Nội gốc.Vẫn gọi “ bát” thay “ chén” ,vẫn “ con mời mợ xơi cơm”, vẫn “ Con chào cậu, mợ ạ!”….và điều đặc biệt hơn, trong gia đình ấy, vẫn giữ nếp gia phong mà tôi đã thấy ở một số gia đình người Hà Nội khi đến thăm. Trẻ nhỏ đi ngang qua người lớn đang ngồi nói chuyện thì khoanh tay, cúi đầu. Ở trong nhà không ăn to, nói lớn, giọng nhỏ nhẹ, dung hòa. Cách tiếp khách rất lịch sự, chủ ra chủ, khách ra khách không bỗ bã mà vẫn thân mật… Tôi ngạc nhiên nhận xét điều đó với người đàn ông gốc Hà Nội. Ông gật gật đầu, giải thích:
- Dân di cư Hà Nội năm năm tư vào đây nói riêng, và cả dân Bắc nói chung, nói với anh, toàn là dân giàu có, có học, nhận xét phải, trái phân minh, điều gì tốt, ta theo. Dân Hà Nội, anh ở Hà Nội biết rồi, văn hóa lắm. Cái thanh lịch của người Tràng An không dễ có đâu… chúng tôi sợ mất, nên mới vào nam, vào nam để giữ. May cho tôi, ở Hội An, những điều đó nó hợp, nên những gì gia đình tôi đã có ở Hà Nội, giờ vẫn còn…
Lúc đó, tôi thực sự chưa hiểu hết những điều người đàn ông gốc Hà Nội kia nói, giờ ngộ ra rất nhiều điều. Người đàn ông Hà Nội ấy hỏi tôi về tiếng “leng keng” tàu điện ở Hà Nội từ Cầu Giấy vào trung tâm sau năm năm tư có còn “ leng keng” như trước đó không ? Đường Cổ Ngư, Hàng Khoai, Hàng Dầu, Hàng Bột…có còn như cũ không? Rồi cả tiếng rao “ lạc rang húng lìu” của mấy ông già Tàu ôm hòm gỗ đi dọc phố… còn không? Cả những gánh phở khuya nữa? ngồi lúp xúp dưới hàng hiên trong cơn mưa phùn vừa ăn phở, vừa hít hà mùi nước phở thơm lừng bên bếp lửa nóng …có còn không? Tôi nói với ông: “ Tất cả vẫn còn ông ạ! Mà sao ông nhớ những kỷ niệm ấy ghê thế? ”. Người đàn ông nói cảm động: “ Ở Hội An, hôm nào anh đi với tôi. Những điều Hà Nội có, thời tôi đã sống, Hội An cũng có, thậm chí nó còn sống động hơn, nhắc với tôi hằng đêm. Như vậy làm sao tôi không nhớ Hà Nội…”.
Và quả như người đàn ông gốc Hà Nội kia nói. Hàng đêm, giữa đêm khuya thật tịch vắng, dọc phố cổ, vẫn tiếng rao “ trứng vịt lộn”, “ Chế mà phù”, “ Chè xanh đánh”… lảnh lót ngân xa cùng tiếng guốc gỗ gõ xuống nền đường mạch lạc, rồi xa dần rất dễ gợi cho người ta về một kỷ niệm trong đời đã một lần gặp, một lần thấy. Huống hồ, với người đàn ông gốc Hà Nội kia đã từng “ tắm” trong những kỷ niệm ngọt ngào đó.
Sau này, cũng đến hơn hai mươi năm sau, khi tôi đã về hưu. Một lần đang ngồi trong nhà cổ, có người dẫn một người thanh niên Việt Kiều đến gặp tôi: “ Có một thanh niên mới ở Mỹ về muốn gặp anh ?”. Tôi nhìn anh thanh niên Việt Kiều kia hơi ngạc nhiên. Người thanh niên đó nhìn tôi, nói với giọng Hà Nội rõ ràng:
- Cháu là con của ông…Hồi mới giải phóng Hội An, ông có đến nhà cháu chơi, nói chuyện với bố của cháu về Hà Nội.
Thế là tôi nhớ rồi, nhớ đến người đàn ông bán hàng ở chợ Hội An người gốc Hà Nội, nói giọng Hà Nội, dạo nào bất chợt tôi gặp. Người thanh niên Việt Kiều ấy cho tôi biết. Người cha của mình, người đàn ông gốc Hà Nội ấy, sau này phải ra nước ngoài sống. Người đàn ông gốc Hà Nội ấy cùng gia đình mình, lại một lần nữa hành hương về một phương trời xa ngái, như ông ấy nói với mấy người con: “ Đi để giữ…”, giữ lấy hồn Hà Nội. Đến một phương trời đầy gió với bão, ngôn ngữ bất đồng, cuộc sống gần như phải làm lại từ đầu, muốn hòa nhập phải chấp nhận…thế nhưng, người đàn ông ấy lại dạy con cái phải giữ gốc mình là người Hà Nội, ai cho mình ơn, mình phải nhớ. Với tôi, chỉ là một người gợi lại cho ông những tháng ngày Hà Nội nguyên sơ, gợi cho ông nhớ một mảnh đất thấm hồn người, vậy là ông nhớ. Trước lúc lâm chung, dặn con trai nếu có về lại Hội An cố thăm tôi, một người đã thương và nhớ Hà Nội giống như ông. Người Hà Nội như ông, mới thật Hà Nội. Cảm ơn Hội An đã giữ cho Hà Nội một mảng văn hóa lớn như thế!
Vừa rồi, tôi có xem triển lãm của một họa sỹ trẻ , sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nay định cư ở Hội An gần mười năm, họa sỹ Vũ Trọng Anh. Phải nói tranh của Vũ Trọng Anh đẹp, nhất là tranh sơn mài. Dù tôi không phải là người am tường hội họa, nhưng nhìn tranh của Vũ Trọng Anh rất thích. Những bức tranh sơn mài khổ lớn vẽ phố cổ Hội An trầm mặc, pha phất buồn, thưa bóng người nhưng không có nét đơn côi… Nhà thơ Phùng Tấn Đông, một người rất am tường về văn hóa Hội An đã có nhận xét về tranh của Vũ Trọng Anh : “ …Chậm rãi nhưng nhiệt thành. Tranh Trọng Anh kể câu chuyện bất tận về vẻ đẹp phố. Vẫn là phố cổ đó thôi nhưng phố của Trọng Anh dường như khơi gợi ở người xem một nguồn mỹ cảm mới. Vẫn những phố ấy, nhà ấy, những xô lệch mới mẻ ấy, trong một sớm mưa trưa, một chiều nắng quái, phố như được tắm trong sắc màu óng ả của nắng ,của gió ngày hội mở. Vẫn phố ấy, nhà ấy, những đường nét, một chút sắc màu, được họa sỹ “ bố cục” lại trong mối giao cảm lạ lùng giữa người và thiên nhiên, tạo vật”. Đấy là lời nhận xét của một người hiểu Hội An. Riêng tôi, khi xem tranh sơn mài của Vũ Trọng Anh vẽ phố cổ Hội An tôi hay liên tưởng đến những bức ảnh chụp Hà Nội đầu thế kỷ, mái nhà dọc phố cổ lúp xúp, những người đi chân đất, đội nón rộng vành, áo nâu, quần nâu, gánh những sọt hàng từ bến sông lên, cả những chiếc xe kéo nữa… cho dẫu tôi chưa một lần chứng kiến tận mắt chỉ xem qua phim, ảnh nhưng sao tôi lại như thấy hiện hữu, qua tranh của Vũ Trọng Anh. Tôi đồng tình với lời nhận xét của Nghệ sỹ nhiếp ảnh Vũ Công Điền: “ Có một chàng trai Hà Nội hay ngắm nhìn từng góc phố Hội An cổ kính rêu phong, hoặc rong ruổi về vùng ngoại ô phố cổ, nơi có những cánh rừng dừa nước nghiêng mình soi bóng, cánh đồng rau, lúa xanh rờn… Cảm xúc trước cái đẹp của quê hương có hai di sản Văn hóa thế giới, trong nhiều năm qua Vũ Trọng Anh cho ra đời những tác phẩm hội họa sơn mài, sơn dầu đậm chất Hà Nội. Hội An luôn đông vui nhưng tranh của anh vẫn thể hiện sự lặng lẽ, êm đềm…Trọng Anh luôn lấy gam màu nóng làm chủ đạo. Nếu người nào tinh ý sẽ nhận ra qua từng bức tranh đều có chút bóng dáng phố cổ Hà Nội. Đặc biệt dòng tranh sơn mài về phố cổ trầm mặc, già nua trong nắng sớm hoặc chiều tà, làm người xem phải nao lòng…”.

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?541 <![CDATA[NÓI VỚI CON - Tản văn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 18 Jul 2012 01:44:48 +0000 http://trankytrung.com/read.php?541

                         Cha và con 

               

                 NÓI VỚI CON – Tản văn

 

         Con hỏi ba, thế nào là lòng nhân ái?

               Để ba nói với con. Trước đây ba đi bộ đội, muốn thống nhất đất nước, có lẽ xuất phát điểm đầu tiên để ba cùng với rất nhiều người trạc tuổi của ba dám lao vào chỗ chết, đó là lòng “ nhân ái”. Con không tin sao?  Ba từng chứng kiến những cảnh máy bay Mỹ ném bom trúng dân lành, những trường học tan hoang, những em nhỏ chết thảm… Cùng với những hình ảnh hiện thực đó là sự tuyên truyền của đài, báo ở miền bắc lúc đó tố cáo những tội ác man rợ của lính Mỹ và đồng minh của họ ở miền nam giết hại dân lành, phá chùa chiềng, đẩy con người đến vòng cơ cực của nô lệ … Không thể chịu những cảnh đó, đất nước của chúng ta phải có hòa bình, con người sống với nhau hòa hợp, có tình nhân ái… Ba nghĩ và ba tin nhiều người cũng nghĩ giống như ba đã lên đường chiến đấu lấy lòng “nhân ái” tiêu diệt cái “ ác” để đất nước mình không còn những cảnh trên.

          Sức mạnh của lòng nhân ái lớn lắm con ạ! Nó đã giúp ba cùng nhiều đồng đội vượt qua những dốc cao của dãy Trường Sơn. Những lúc đổ máu, đói lòng… lòng nhân ái đã giúp mọi người gần nhau. Lớn hơn nữa, chính lòng nhân ái, người dân và người bộ đội như ba lúc ấy, đã chan hòa làm một. Ba về với người dân ở mọi miền đất nước như về lại với người thân trong một gia đình… Với lòng  nhân ái, nhiều đồng đội của ba, trước lúc hy sinh, vẫn hy vọng ngày đất nước hòa bình thống nhất, tổ quốc Việt Nam sẽ lớn mạnh, mọi người sống với nhau với tình  bằng hữu. Đất nước mình sẽ  không còn kẻ gian tâm gây tội ác với dân, không còn cảnh dân rên xiết dưới đói nghèo, mất đất, không còn cảnh áp bức, bóc lột, không còn cảnh cảnh sát đàn áp dân lành…

       Nhưng thực tế đang diễn ra không đúng như những gì ba suy nghĩ. Khác chăng xưa kia, dân tộc ta có lòng nhân ái, giành được giang sơn thu về một mối, thì ngày nay, người dân phải đấu tranh để tìm lại lòng nhân ái, khoan dung.

        Ba trăn trở về đạo đức xã hội mà chúng ta đang sống, hình như xã hội của chúng ta không có lòng nhân ái. Nhìn đâu cũng thấy những cảnh đau lòng. Bé thì thấy cảnh người bị nạn, người đi qua ngó nhìn, con đánh chết cha mẹ, thanh niên chém người không ghê tay…Lớn hơn, lòng hận thù của người chiến thắng, kẻ thất bại dai dẳng, dẫu rằng cả người thắng và kẻ thua đều là người Việt Nam. Ngay trong nước, người dân yêu nước biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn xâm lược bị đàn áp. Đàn áp người dân có lòng yêu nước, lòng nhân ái đã triệt tiêu đến số O rồi con ạ! Mà một xã hội, bản chất không có lòng nhân ái thì giả dối sẽ lên ngôi, sẽ xuất hiện nhiều kẻ đầu môi trót lưỡi nói dối không biết ngượng, một xã hội có luật pháp mà như không có, băng hoại ghê gớm…Một xã hội nhân ái trước hết, những người lãnh đạo phải là những người có tâm, nghĩa là trọng dân, thương dân, làm bất cứ điều gì cũng phải nghĩ đến dân, một biểu hiện quan trọng, quyết định để minh định lòng nhân ái. Rất tiếc, trong hàng ngũ những người lãnh đạo hiện nay, không phải tất cả nhưng …có kẻ coi dân không là gì, coi đất nước này, một đất nước mà ba cùng rất nhiều đồng đội của ba đổ bao nhiêu xương máu để gìn giữ, cũng không là gì. Vì lợi ích nhóm, họ sẵn sàng cướp đất của dân, mặc cho cuộc sống người dân cơ cực, cũng vì lợi ích cá nhân, nhóm bẩn thỉu…họ sẵn sàng ươn hèn, hạ mình với những thế lực đế quốc lớn dâng đất chỉ mong giữ được vị trí lãnh đạo, giữ được gia tài tiền bạc đã cướp được của dân chúng…, Trong dòng máu chảy đang nuôi sống cơ thể của những con người này, ba khẳng định với con, không có một “ nhân tế bào” nào của lòng nhân ái. Điều này giải thích vì sao đất nước ta luôn trong tình trạng bất ổn, sự sợ hãi bao trùm, kinh tế rơi vào vòng khủng hoảng như hiện nay, chỗ nào cũng thấy người dân, các bác về hưu, những người cán bộ có lương còm cõi ca thán…

          Con nói với ba, sao ba không nhìn thấy cảnh những người bộ đội, công an giúp đỡ người nghèo, người bị nạn khi lũ lụt, tai ương. Rồi những hình ảnh ti vi đưa về phong trào xây nhà tình nghĩa, vượt lên chính mình… những người nghèo, hoàn cảnh cơ nhỡ được phát không tiền bạc, chăn màn, nhà cửa…để thấy rằng lòng nhân ái của chúng ta vẫn còn?  ba không phủ nhận điều đó, thậm chí ba và tin cả dân tộc chúng ta, mọi người đều muốn nhân rộng hình ảnh đó lên.  Ở một đất nước nào, chính thể nào muốn được lòng dân, dân tin, ủng hộ đều phải biết làm những việc con vừa nêu, chứ không riêng ở Việt Nam. Tiếc rằng,  ở Việt Nam chúng ta hiện nay, cứ thêm được một ngôi nhà tình nghĩa, một gia đình vượt lên chính mình, giải thoát được tiền nợ vay ngân hàng thì lập tức cũng có hàng chục gia đình mất nhà cửa vì giải tỏa, đền bù giá rẻ mạt, lại có hàng nghìn công nhân không có việc làm lâm vào cảnh thất nghiệp, cũng con số ngần ấy về thanh niên hư, tai nạn giao thông, tự tử, đâm chém…Con nhìn rộng ra,  đất nước không có lòng nhân ái, con sẽ thấy, người dân còn muôn phần cực khổ, còn nhiều cảnh người Việt của chúng ta trở thành kẻ làm thuê cho nước ngoài ngay trên đất nước mình, thậm chí phải đi làm dâu cho người ngoại quốc, mà thực chất là “ bán thân” để nuôi gia đình.

          Đất nước không có lòng nhân ái, dân sẽ mất niềm tin, từ mất niềm tin quay ra phản kháng chế độ. Có thể, mới đầu sự phản kháng đó chỉ là lẻ tẻ, tự phát nhưng nếu như những người lãnh đạo chỉ dùng biện pháp hành chính đàn áp, không cùng nhân dân đi chung một con đường, thông cảm với dân, sống cùng dân điều gì sẽ ra, con biết không ? Đó là sự nổi loạn. Điều này, nói thật với con, ba không muốn. Đất nước mình trải qua bao nhiêu năm điêu linh, chiến tranh, lũ bão, hạn hán…tàn phá, bên ngoài Trung Quốc lăm le xâm lược… lúc này xã hội loạn bấn sẽ là điều kiện thuận lợi cho kẻ thù dân tộc thực hiện những mưu đồ bẩn thỉu. Một điều dễ dàng để làm thành một bức trường thành ngăn quân xâm lược, một móng nền vững chắc  để ngôi nhà Việt Nam trụ cương cường trước giông bão đó là lòng nhân ái. Đất nước, dân tộc của chúng ta đã thể hiện nhiều lần tính bất khuất chống xâm lược, cột nguồn của tính bất khuất đó, chính là lòng nhân ái. Rõ nhất, khi đất nước ta bị quân xâm lược phương bắc xâm lược, vua tôi đồng lòng, không còn phân biệt quan, lính, giàu, nghèo… mọi người tay trong tay, chị ngã em nâng, cây một cội…  cầm được vũ khí xung phong ra trận để giữ vững tròn vẹn tổ quốc, giữ yên cho từng ngôi nhà…  

       Sự nhân ái đoàn kết cả dân tộc, bảo vệ tròn vẹn tổ quốc Việt Nam.

         Bây giờ con đã hiểu lòng NHÂN ÁI là gì rồi chứ!          

]]>
http://trankytrung.com/read.php?491 <![CDATA[LÃNG ĐÃNG ...SÀI GÒN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sun, 25 Mar 2012 08:14:28 +0000 http://trankytrung.com/read.php?491

 

LÃNG ĐÃNG… SÀI GÒN

       Nhận được thiếp mời của Vũ Tiến Thu, mời vào Sài Gòn dự đám cưới của con. Thu với mình một thời cùng công tác và giảng dạy ở khoa Sử - Chính trị, trường Đại học sư phạm Quy Nhơn. Nghĩ đây là ngày vui của bạn, biết đâu cũng là cơ hội để gặp lại bạn cũ, mình đi liền.

       Đang ở Hội An, có lẽ cũng quen một không gian trầm, nhẹ, thưa của bước chân, thân và ngọt của sự giao tiếp, đến Sài Gòn vào buổi sáng gần cuối xuân, chớm hè, mình thấy hơi bị ngợp. Ngợp tiếng còi xe, ngợp với những sóng mũ bảo hiểm nhấp nhô trên đường và ngợp của những bóng người trên những chiếc xe máy vun vút lướt ngang qua cửa quán cà phê khi mình ngồi bên trong nhìn ra… nhưng thế thôi, như thằng cháu nói:“ Chú ở đây, nửa ngày là quen!”. Mà quen thật! Bình tĩnh điện cho Nhà văn Nguyễn Quang Lập, Lập vồn vã “ Ông đang ở đâu?...được rồi… không nói nữa, chiều thứ ba gặp nhau tại quán Ziều Đỏ của Nhà thơ Đỗ Trung Quân”. Tiếp đến nhà báo Lê Thiếu Nhơn hồ hởi: “ Anh vào khi nào? Trưa mai đến em đi, rồi đi ăn cơm” Rồi Hà Tùng Sơn, ông bạn vàng, giống mình ưa dịch chuyển. Đang là cán bộ giảng dạy ngon lành ở khoa văn, ĐHSP Quy Nhơn, không hiểu sao lại chuyển sang một ngành chẳng dính dáng chút nào về giáo dục là truyền hình, bây giờ lại quay về nghề cũ, gõ đầu trẻ. Có điều không ở Quy Nhơn mà Sơn vào Sài Gòn. Nghe thấy giọng của mình qua điện thoại, Sơn nói rất vui: “ Thôi nhé ! Đừng hẹn với ai nữa, tôi với ông phải ngồi với nhau trong trưa mai …”. Đấy là chưa kể mấy bạn văn nữa lại hẹn, lại mong…thời gian có hạn, đành thể tất. Chỉ thế thôi, tự nhiên thấy Sài Gòn không còn bị “ ngợp” mà như thân quen rất lâu rồi.

          Dự đám cưới con của bạn, nhiều lúc bần thần, bây giờ là chuyện của nó, chẳng mấy chốc lại chuyện của mình, cũng phải lo chuyện đám cưới cho con. Thấy Thu cứ tất bật chạy ra rồi chạy vào, dặn dò MC đừng chọc cười rẻ tiền, đến chỗ này xem lại chỗ ngồi khách mời, đến chỗ kia giới thiệu hai họ…mà thương cho nó. Cũng bương trải, cũng phải lăn lộn giữa cuộc sống đầy gió và bụi này, trông Thu già trước tuổi.  Thấy mình vào dự đám cưới của con, Thu mừng: “ Anh sẽ gặp được nhiều bạn bè và học sinh cũ của anh em mình, mọi người thấy anh chắc rất ngạc nhiên!”.

         Cũng buồn cười, xem thiệp mời của Thu đề rõ ràng là đám cưới tổ chức lúc 17h30, cứ nghĩ như ở Hội An, mình đến đúng giờ, ai ngờ…! phải đến gần hai tiếng sau mới vào tiệc. Mình thắc mắc, Thu giải thích :“ Ở Sài Gòn giờ toàn thế cả, anh đến đúng giờ, có khi ngồi một mình, một bàn mà chờ. Thôi, anh ra đón khách cùng em”. Khách đến, mình vui gặp lại nhiều đồng nghiệp cũ, mọi người thấy mình tay bắt, mặt mừng. Nhìn những đồng nghiệp cũ, mới đó đã hơn ba mươi năm, thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ. Giờ nhìn ai trên đầu tóc cũng điểm bạc, dáng cũng đã biểu hiện sự chậm chạp, người lên chức “ ông”,  chức “bà”, bây giờ giống mình,  đều đến tuổi về hưu. Duy nhất một điều mình thấy không thay đổi, đó là tình cảm. Ngồi lại quên cả chuyện đang dự đám cưới. Vội chúc mừng cô dâu, chú rể, vội chụp ảnh với gia đình hai họ, giơ ly, nở nhanh nụ cười, trao phong bì mừng, rồi quay ra ngay ôn với nhau chuyện xưa, cứ y như nó mới xảy ra ngày hôm qua. Cái ngày hành trang vào đời chỉ có mấy bộ quần áo, mấy tập giáo trình, ăn uống cực thậm khổ như lại giàu có, vô cùng giàu có về sự nhiệt tình. Cái nhiệt tình đôi lúc mang hơi hướng nghĩa khí của một tính cách lãng tử, bất chấp. Lúc đó đúng là thế thật, những giảng viên trẻ như mình mới về trường ĐHSP Quy Nhơn không hề tính toán so đo thiệt hơn về quyền lợi cá nhân, cũng không hề ao ước có một căn nhà riêng có đủ tiện nghi vật chất mà chỉ có một nguyện vọng là cống hiến, là trở thành những giảng viên đại học giỏi, giỏi cả “ tâm” lẫn “tài”. Than ôi! Ước mơ đó là đẹp, không ai phủ nhận nhưng sau này đem lại kết quả như thế nào… bây giờ ngồi lại, nhắc những kỷ niệm đó, mọi người đều cười, cười nghiêng ngả!!! Một người nói : “ Hồi đó chúng mình giống như những thằng, những con bị ma ám nên hay hoang tưởng”. Thôi, không nhắc lại nữa, trong ngày vui con của bạn, chúng ta hãy cạn chén mừng cho bạn sắp lên “ông”. Thu nói đúng, Hôm nay mình gặp rất nhiều em sinh viên khóa I, lớp Sử - Chính trị , trường ĐHSP Quy Nhơn mà mình đã từng chủ nhiệm. Các em thấy mình vào, tự động đến chào, bắt tay, ánh mắt nhìn thầy giáo chủ nhiệm cũ cảm động. Thật mừng, nếu điểm lại, nhiều trò đã hơn thầy trên tất cả phương diện. Có em nay là một đạo diễn, quay phim tài liệu nổi tiếng. Có em đã là Vụ trưởng ở một vụ trong một Bộ quan trọng, có em là Tổng biên tập một tờ báo có uy tín, số lượng bạn đọc đông … Tiếng “ Em chào thầy” của các em vẫn như ngày nào, ấm áp, thân thiết, trân trọng. Mình nghĩ, dẫu giá trị đạo đức của thời này đang đi dần vào  sự hỗn mang, phi lý, lộn sòng giữa tốt và xấu, mình vẫn phải cố gắng giữ, có thể “tài” chưa giỏi, nhưng “ tâm” phải sạch để nghe thấy tiếng: “ em chào thầy” không có điều gì phải xấu hổ, ân hận.

         Nói như vậy nhưng để thực hiện được, không dễ !

         Đến thăm Lê Thiếu Nhơn, gặp thằng em làm báo, làm thơ đầy bản lĩnh, có tài, có nhân cách mình vui, còn vui hơn ở đây mình gặp nhà thơ Thanh Tùng  với bài thơ “ Thời hoa đỏ” nổi tiếng, sau thành lời trong bài hát cùng tên của nhạc sỹ Đình Bảng mà gần như thế hệ của mình, ai cũng thuộc. Với Lê Thiếu Nhơn quen biết từ lâu, nói chuyện nhiều, nên chỉ cần nghe tiếng cười đã biết nhau suy nghĩ của nhau nhưng riêng với nhà thơ Thanh Tùng, mình nhìn anh, mới gặp thôi, sao mà thương đến lạ. Cảm giác này có khi bị ảnh hưởng do những lời thơ cháy ruột của anh viết, viết cho anh, viết cho cả bọn mình. “… Dưới màu hoa đỏ cháy khát khao/ bước lặng im trên đường vắng năm nao /Chỉ có tiếng ve sôi ồn ào/Mà chẳng cho lòng mình  yên chút nào…”Nhà thơ dáng nghèo, nói từ tốn, nhìn thấy lành và thiện. Những người như thế này thường khổ. Buổi chiều, mình cùng Lê Thiếu Nhơn, nhà thơ Thanh Tùng  vào một quán hình như mang tên Phố Hội trên đường Nguyễn Đình Chiểu thì phải để ăn cơm và có cớ hàn huyên. Anh Thanh Tùng ăn ít, anh muốn dành thời gian nói chuyện với mấy đứa em. Mình thấm thía lời anh nói: “ …Viết gì thì viết, nhưng phải viết thật, như tình yêu ấy! Yêu thật, không giả dối. Có xa chỉ nhớ và thương thôi, để dẫu có chia tay cũng không bao giờ mình trách mình hay trách người yêu. Viết văn, làm thơ phải như vậy. Cứ chân thành ai cũng thương…”. Cuộc đời của nhà thơ Thanh Tùng mang nhiều hương vị mặn của biển, nghiên ngả của gió bão, lúc mờ mịt của bụi đường mà một thời Hải Phòng, nơi nhà thơ đã sống, thấm vào. Bây giờ nhà thơ ngồi đây, bình lặng như một gốc cây già gan góc, xù sì chấp nhận mọi gió bão, khô hạn, lũ lụt… cố tích nhựa,  phi đời.

        Cũng ở chỗ làm việc của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, nỗi mừng nhân đôi khi mình gặp nhà văn Nguyễn Khoa Đăng. Mình đã đọc một số truyện ngắn của nhà văn, biết nhà văn viết cuốn tiểu thuyết “ Nước Mắt Một Thời” đang gây xôn xao trong dư luận bạn đọc. Nay trực tiếp gặp nhà văn, mừng hơn, nhà văn tặng cho mình cuốn tiểu thuyết “ Nước Mắt Một Thời”. Cầm cuốn tiểu thuyết trên tay mình đã háo hức, tìm mọi cách đọc ngay. Trước đây, mình viết cuốn tiểu thuyết “ Một Phần Đời Trong Chiến Tranh”, có đề cập đến giai đoạn cải cách ruộng đất, nhưng tất cả những chi tiết đó, mình chỉ nghe lại, nên tả chưa đến tận cùng của đáy nước mắt. Đọc cuốn tiểu thuyết: “ Nước Mắt Một Thời” của nhà văn Nguyễn Khoa Đăng, có lẽ do nhà văn trực tiếp chứng kiến, một bi kịch gia đình, một bi kịch tình yêu phơi ra như những dòng máu chảy thành vệt hiện rõ trên tường. Một thời khủng khiếp, con người đày đọa con người, còn hơn con người đày đọa súc vật. Thương cho nhân vật “tôi” trong tiểu thuyết, thương cho cả nhân vật Én, yêu đến như thế, đẹp như thế mà không thể đến được với nhau. Yêu càng tha thiết, càng khao khát lại càng xa nhau. Một kiếp bị người ta đọa đầy cũng là một kiếp chung thủy đợi nhau. Gần ba trăm trang tiểu thuyết “ Nước Mắt Một Thời”, có thể nói, đây là ý nghĩ của riêng mình, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng đã chỉ rõ bản chất của công cuộc “ cải cách ruông đất” là gì ? Hãy đọc kỹ những trang tác giả tả hoạt động của Đội cải cách ruộng đất, hay chân dung của Đội Khoảnh, Kền…Những màn tra tấn bắt nhận tội, những tội hoàn toàn bịa đặt để chính những người tố “ điêu “ ấy cũng thấy xấu hổ, ân hận mà không làm sao thanh minh được, để đến tối, lần mò đến nhà người bị nạn giập đầu xuống xin lỗi.

          Bản chất của một cuộc Cách mạng nông dân hiện rõ khi có thành quả. Nó sẽ phản động, tàn ác và đem lại hậu quả xấu khôn lường, không những cho từng gia đình mà cả dân tộc. Với sự nhân văn, cao thượng, trong đoạn kết của cuốn tiểu thuyết, nhà văn Nguyễn Khoa Đăng muốn kết thúc câu chuyện này có hậu. Nhưng mình vẫn nghĩ, di hại của cái gọi là “ cải cách ruộng đất”, đến nay vẫn còn, chỉ có điều nó diễn ra dưới hình thức tinh vi hơn, tàn độc hơn, phi nhân bản hơn, hèn hạ hơn vì tư tưởng nông dân, nếp nghĩ nông dân vẫn đang ngự trị cơ mà!

          Vào Sài Gòn, nhịp điệu cuộc sống lúc nào cũng vội, cũng gấp gáp, mình biết thế! Nên tranh thủ đợi Hà Tùng Sơn đến đón, mình đứng trước cổng của cơ quan Lê Thiếu Nhơn đọc gấp cuốn tiểu thuyết mà nhà văn Nguyễn Khoa Đăng vừa tặng. Sơn đến đón,  thấy vậy cười: “ Nhà văn các ông, tôi nghe nói, ít đọc sách của nhau. Nhìn ông thế này, tôi lại nghĩ khác…”. Lời nhận xét của Sơn không sai, nhưng tùy người. Riêng với mình, sách của các nhà văn tặng, cố đọc. Đọc để học thêm được điều gì, hay điều nấy. Mình đang nghĩ, đọc xong cuốn tiểu thuyết này sẽ viết một bài nhận xét. Thực tế đây là cuốn tiểu thuyết đáng đọc.

          Buổi trưa ở Sài Gòn trong một quán vắng, mình với Hà Tùng Sơn nói chuyện nhiều. Nói gì thì nói, gốc của mình vẫn là anh thầy giáo, dẫu có bỏ nghề hơn hai mươi năm nay rồi. Mỗi khi đến ngày “ Hiến chương các nhà giáo” 20 tháng 11, nghĩ lại, lòng vẫn thấy rưng rưng. Không có những năm tháng làm “ thầy”, không có những năm tháng “ thầy” ra “ thầy”, “ trò” ra “ trò” mình không thể có ngày hôm nay và không thể có nguyên vẹn tình thầy trò như ngày hôm nay. Hà Tùng Sơn hơn mình, đã có lúc chuyển ngành, nên một quan chức, nhưng cương quyết không bỏ nghề, vào Sài Gòn vẫn quyết tâm trở lại với giáo án, giảng đường, vẫn đau đáu một ước nguyện làm thế nào “ thầy” ra “ thầy”, “ trò” ra “trò” của một trường đại học lớn. Nhưng, bối cảnh bây giờ, xã hội đang sống, một thực tế “ oi khói đen kịt” ai cũng chứng kiến. Nói đến giáo dục chỉ có tiếng thở dài đến não lòng, liệu quyết tâm của ông bạn vàng có trở thành hiện thực không ? hay chỉ là một cốc nước trong đổ xuống một ao bùn!!! Nói chuyện giáo dục giữa trưa trong một quán vắng, thưa người, món ăn ngon thành ra nặng nề, không hợp, mình và Sơn quay sang nói chuyện gia đình, con cái. Thế là thấy nhẹ người!

      Trưa thứ ba, đang nghĩ cách làm sao tránh được cuộc nhậu với một ông doanh nghiệp có làm ăn với vợ chồng mình, thì được điện thoại của Nguyễn Quang Lập: “ Định hẹn với ông, chiều đến, nhưng tám giờ tối nay ông “ bay” ra Đà Nẵng, thời gian gấp rút quá. Trưa nay đến quán Ziều Đỏ đi, có thời gian nói chuyện nhiều. Anh Trung Trung Đỉnh, anh Nguyễn Trung Dân và Nguyễn Nhật Ánh cũng đến…”. Thế là có cớ để khước từ cuộc nhậu với ông doanh nghiệp nhiệt tình, hẹn khi khác. Trưa đấy mình đến quán Ziều Đỏ. Vừa đến cũng là lúc gặp nhà văn Nguyễn Quang lập từ trên tắcxi bước xuống, chưa kịp chào hỏi nhau thì một chiếc xe du lịch màu đỏ bốn chỗ ngồi xịch tới. Nhà báo Nguyễn Trung Dân trực tiếp cầm lái, đưa nhà văn Trung Trung Đỉnh đến gặp mấy thằng viết văn đàn em.

         Mình cùng mọi người lên gác hai, ngồi chưa ấm chỗ thì Nguyễn Nhật Ánh, trên nét mặt mồ hôi đổ giọt không kịp lau cũng vừa đến. Đi cùng với Ánh là một em sinh viên khoa báo chí, dáng nhanh nhẹn, nét mặt vui. Hai thầy trò ngồi chung bàn, câu chuyện vì thế thêm ồn ã. Qua câu chuyện của nhà văn Nguyễn  Nhật Ánh, mình mới biết thêm một chi tiết, vì Nguyễn Quang Lập không nói. Trong hội sách vừa tổ chức, lẽ ra nhà văn Nguyễn Quang Lập, cũng giống như nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đến tại hội chợ sách ký tặng vào tác phẩm của mình viết, nếu như độc giả mua có yêu cầu. Nhưng có lệnh miệng, không biết từ đâu “ ban” xuống. Yêu cầu nhà văn Nguyễn Quang Lập không được đến hội chợ sách!!! Một cái lệnh “ cấm” hết sức lạ lùng. Nhưng thôi, nếu nói đến chuyện “ lạ lùng” ở nước ta, thì kể cả ngày không hết. Với lại, những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang Lập, đâu có cần bán ở hội chợ, bán chỗ nào chẳng có người mua. Có kẻ  “ghét” nhà văn viết trên blog, nói cạnh, nói khóe, cũng thừa nhận đã phải mua tác phẩm của nhà văn để đọc, mà đọc“ thích thú”. Rồi như chứng minh, nếu là tác phẩm hay, đáng đọc, chỗ nào cũng người đón nhận, một em tiếp viên nhà hàng Ziều Đỏ ( nơi  trưng bày sách của nhà văn ) đưa hai quyển sách “ Ký ức vụn”  của nhà văn Nguyễn Quang Lập  mà hai độc giả vừa mua đến để cho nhà văn ký tặng. Nhà văn Nguyễn Quang Lập ký rất trang trọng và cho rằng chuyện “cấm ”không cho nhà văn đến hội chợ sách ký tặng tác phẩm của mình cũng là một chuyện hết sức… trang trọng, không phải nhà văn nào cũng được như thế!

        Mấy nhà văn được ngồi với nhau, rượu vào, lại rượu ngon, tất yếu lời ra, ra vô tội vạ. Nhà báo Nguyễn Trung Dân mang ra một chai rượu ngoại  “ khủng”, mình không uống rượu nhiều, nên không biết tên, chỉ có một thoáng vơi gần nửa. Giữa trưa, quán Ziều Đỏ phải phục vụ cơm văn phòng nên đồ nhậu mang lên chậm, chỉ có rượu “ chay” nên phải uống. Uống rồi, phải say. Say thì phải nói. Nói chuyện trên giời, dưới biển. Nguyễn  Nhật Ánh nhận xét, trong những tản văn hay mà nhà văn Nguyễn Quang Lập viết, có bài “ Niệu liệu pháp” là hay nhất. Nhà văn Nguyễn Quang Lập cũng gật đầu công nhận vì có một thời ai nói gì cũng nghe, những điều vô lý mà cứ tin, tin một cách thành thực. Huống hồ là “ cái nước” của chính mình thải ra, chẳng lẽ mình lại hại mình à! Bây giờ mới phát hiện ra rằng, không ai hại mình cả, mà có hại may lắm chỉ vài lần. Còn chính mình đi lừa mình, hại mình thì lúc nào cũng có. Đề phòng đấy mà vẫn cứ bị lừa. Nguyễn Nhật Ánh hỏi tất cả mọi người trong bàn “ Uống chưa?” . người gật đầu: “ Uống rồi!”, kẻ thì bảo “ Tôi không uống, nhưng bố tôi uống!”, ngừơi khác thừa nhận: “ Do uống nhiều bia quá, đến lúc uống nước… của mình, khai toàn mùi bia, nên tôi sợ!”. Cười đau cả ruột!

          Cô bé đi cùng với nhà văn Nguyễn Nhật Ánh hóa ra là đồng hương với nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhưng có thêm một chi tiết cảm động, cô bé chính là cháu nội của nhạc sỹ Nguyên Nhung, tác giả những bài hát vang mãi một thời: “ Chiếc đàn môi”, “Bài ca bên cánh võng”… Những bài hát của nhạc sỹ Nguyên Nhung, như nhà văn Nguyễn Quang Lập đánh giá  là “ sang trọng”. Bài hát “ Bài ca bên cánh võng” từng theo mình suốt dãy Trường Sơn năm 1972, khi dừng chân bên con suối, mắc võng đung đưa: “ Dừng chân bên suối võng đưa. Rừng ru ta thân yêu như quê nhà. Như con thuyền trên bến. Đợi rẽ sóng trùng khơi…”. Bọn mình hát lại cho cô bé nghe bài hát đó, ánh mắt cô bé rung rưng, cảm động, chắc đang nhớ về ông nội của mình.

         Chuyện không ra đầu, ra đũa cứ thế cho đến hết buổi chiều…

          Cũng còn may ra sân bay kịp!

          Tạm biệt nhé! Một lần lãng đãng… Sài Gòn.

        

        

        

        

]]>
http://trankytrung.com/read.php?440 <![CDATA[MẸ TÔI ĐI TÂY]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 04 Nov 2011 15:06:14 +0000 http://trankytrung.com/read.php?440

 

 

MẸ TÔI ĐI TÂY
 
Trước đây tôi có viết một truyện ngắn : “ Mẹ tôi đi tây” ( Mời các bạn đọc phần sau). Thực tế truyện ngắn này tôi bịa hoàn toàn. “ Nghe hơi nồi chõ” của mấy thằng đi tây về, rồi phóng tác. Tất nhiên, trong truyện ngắn đó có nhiều điều không có thật, vì lúc đó suy nghĩ như vậy và thiếu thông tin. Mong bạn đọc thể tất.
Còn những điều tôi viết dưới đây, gần như nguyên vẹn lời Mẹ tôi kể lại.
... Mẹ tôi có hơn năm mươi tuổi Đảng. Với Đảng, với Cụ Hồ, Mẹ tôi nguyện một lòng trung thành .Cho dẫu thời buổi gần như nhiễu nhương, trong lòng, trước khi đi tây, Mẹ vẫn nói với chúng tôi: “ Không có Đảng, không có Cụ Hồ không có ngày nay đâu các con ạ!”. Với các nước tư bản, cho dù trong nhà tôi, toàn bộ đồ đang sử dụng, từ miếng chùi chân cho đến máy điều hòa, thậm chí cả lon sữa bột mà Mẹ vẫn uống hàng ngày, đều là đồ tư bản, nhưng cứ sau mỗi buổi đi nghe thời sự hay học nghị quyết về, Mẹ đều giảng giải cho chúng tôi nghe: “ Bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn là thối nát, bóc lột, phản động không thay đổi...”.
Thằng em thứ hai của tôi, đi xuất khẩu lao động ở một nước XHCN Đông Âu trước đây, sau năm 1990, nước này chuyển sang thành nước tư bản, nó ở lại định cư, làm ăn được. Vừa rồi, nó mời mẹ tôi sang chơi.
Tôi nói đùa với Mẹ: “ Mẹ sang nước tư bản, nó đang giãy chết. Mẹ đừng đứng dưới chân của nó, nó giãy mạnh, không khéo nó không chết mà mình lại chết trước...”. Mẹ lấy tay cốc vào đầu tôi, làm như tôi còn bé lắm:“...Cái thằng, chỉ được cái nói bậy như đồ phản động..”.
Mẹ tôi đi sang đó hơn hai tháng. Lúc về, Mẹ bảo với tôi đóng hết các cửa lại, rồi Mẹ kể về nước tư bản...
-... Mẹ xuống sân bay, con biết không? Em con, nó đến muộn mất độ mười lăm phút. Mẹ sợ quá, hành lý cồng kềnh, tiếng nước họ, mình không biết. Mà chắc chắn họ cũng không biết tiếng nước mình. Đang ngơ ngác, sợ hãi không biết hỏi ai thì có hai ông cảnh sát tiến đến giơ tay chào Mẹ. Một trong hai ông ấy mời mẹ lên chiếc xe lăn, còn ông kia đỡ cho Mẹ hai chiếc va ly lên chiếc xe đẩy. Họ đưa mẹ vào một nhà nghỉ trong ga sân bay rất đẹp, lấy nước lạnh mời mẹ uống rồi ra dấu đề nghị Mẹ đưa tay để họ đo huyết áp, khám sức khỏe. Sau đó họ ra hiệu cho Mẹ đưa địa chỉ, điện thoại của em con để họ liên lạc... Mẹ định đưa thì em con đến. Họ bàn giao toàn bộ va ly, giấy tờ cũng như hiện trạng sức khỏe của Mẹ. Họ yêu cầu em con ký vào tờ giấy. Xong thủ tục, họ lại đứng nghiêm chào Mẹ, rồi mới đi ra, thái độ rất lịch sự, nhã nhặn, đàng hoàng...Mẹ định bảo em con, giống như bên mình, bồi dưỡng cho họ ít tiền cũng là sự biết ơn. Không có hai người cảnh sát này Mẹ không biết xử lý như thế nào giữa nhà ga sân bay rộng mênh mông. Em con lắc đầu, nói ngay: “ Bên này không có chuyện đó đâu Mẹ ơi! Đó là nhiệm vụ phải làm của cảnh sát sân bay. Thấy Mẹ là người già, họ có trách nhiệm giúp đỡ. Họ không làm việc này, bị kỷ luật ngay. Bên này nghiêm lắm...”. Mẹ ngạc nhiên thực sự nói với em : “ Cảnh sát tư bản sao mà tốt thế, bên mình mà có mấy người cảnh sát như thế này, mẹ nhất định đề nghị chi bộ kết nạp vào Đảng.”
Em con đưa Mẹ ra xe. Trên đường về nhà, Mẹ, con nói đủ thứ chuyện. Mải nói chuyện, xe của em con chuyển làn đường mà không tăng tốc, không ra hiệu. Đi được một lúc ,nghe tiếng còi xe đằng sau, em con giật mình mới biết mình đi sai luật. Em con nói với Mẹ: “ Mình bị phạt rồi!”. Mẹ nói với nó: “ Mẹ có thấy công an đâu! Nếu có , con để mẹ nói một câu, chắc họ cũng thông cảm hoặc bồi dưỡng ít tiền để họ bỏ qua...”. Thằng em con cười: “ Bên này làm gì có chuyện xin xỏ, hối lộ. Ai vi phạm là phạt, bất kể dân thường hay thủ tướng, tổng thống... không có công an, nhưng camera ghi lại hết...”. Độ một tuần sau, em con nhận được biên lai trừ tiền phạt từ trong tài khoản và hình ảnh ghi lại chiếc ô tô của em con chuyển làn không đúng quy định. Mẹ phục lắm.Thế này thì làm sao mà tham ô với hối lộ như công an bên mình mà ti vi vẫn đưa... tài thật!
Em con đưa Mẹ tham quan mấy nước lân cận bằng xe buýt hai tầng. Mẹ là người già nhất trong những khách đi xe hôm ấy và vì thế luôn được ưu tiên. Đi ô tô Mẹ được nằm chỗ tốt nhất, gần người lái xe. Đến chỗ nghỉ, bao giờ ông lái xe cũng yêu cầu mọi người nhường cho Mẹ xuống trước.Ông còn nói với em của con, Mẹ cần gì? Có yêu cầu như thế nào? Ông đều đáp ứng. Ông cười rất thân thiện với Mẹ, cho dù bất đồng ngôn ngữ mà cứ cảm giác ông ấy là người nhà. Mẹ cứ nghĩ mãi. Sao tư bản có người tốt thế! Ở Việt Nam mà lái xe tốt như thế này, thế nào cũng được bầu làm lao động tiên tiến, rồi ưu tiên  vào lăng viếng Bác Hồ.
Rồi Mẹ lại kể cho chúng tôi nghe về chuyện đường sá bên đó đẹp như thế nào? Xe cộ đi lại trật tự ra sao? Các siêu thị, công viên lớn, nhà cao, hiện đại... cái gì cũng hơn Việt Nam cả. Mẹ kết luận “ Đẹp, lớn, hiện đại... Việt Nam mình còn lâu mới theo kịp.. Nhất là con người, họ văn minh, có văn hóa lắm, không như bên mình, đến Đảng Viên như mấy ông cán bộ lớn cũng còn thua...”.
Hết buổi nói chuyện, Mẹ thì thầm giọng quan trọng:“... Mẹ nói vậy, các con nghe rồi để bụng, đừng kể cho ai. Nếu không, mấy ông lãnh đạo biết , sẽ bảo là Mẹ đi tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản, dính vào luận điệu của bọn phản động bêu xấu Chủ Nghĩa Xã Hội, chống Đảng là chết ”.
Nghe Mẹ nói thế, chúng tôi thương quá!
 
-----------------------
 
MẸ TÔI ĐI TÂY – Truyện ngắn
 
Thằng em tôi đi Tây, nó muốn tạo ra "dòng giống Âu Lạc" bên trời Tây nên lấy vợ Tây và ở luôn... bên đó. Nhân tết Tây, vợ chồng nó viết thư về, có nhã ý mời mẹ tôi sang Tây tham quan cho biết. Vé máy bay đi, về vợ chồng thằng em tôi lo đủ.
Nhận được thư của vợ chồng thằng em bên trời Tây gửi với ý định như vậy, cả nhà tôi bàng hoàng. Mọi suy nghĩ không phải của tất cả thành viên trong gia đình, về thằng em không chịu lấy vợ thôn ta mà sang Tây lấy vợ" tóc quăn, mũi lõ" tự nhiên bay biến. Rõ ràng thằng em tôi cũng còn có hiếu, chưa đến độ cho cha mẹ vào " viện dưỡng lão gần đài hoá thân hoàn vũ", kể cả đứa em dâu người Tây nữa, cũng thể hiện "công, dung, ngôn, hạnh" gần bằng phụ nữ Việt Nam. Tên nó là gì nhỉ ? Tôi chẳng bao giờ đọc được đầy đủ tên, họ của nó. Tên, họ gì mà dài dằng dặc còn hơn " sán dây ": Ma - ri - ơ - đét - Xcai - A - Pha - Li - Hi - đi - A- Cra - Ep - xít - Bắc - Tư - Nhét - Xo. Đọc xong tên họ của cô em vợ người Tây, miệng của tôi mỏi như không nhai được cơm. Thôi, cứ gọi như cách mẹ tôi lại hoá tiện. Mẹ tôi nghe tên con dâu người Tây dài nhằng nhẵng như vậy, bà ngán ngẩm lắc đầu, lấy tay vỗ vào mông đánh "bẹt" một cái, rồi buông một câu :"...Tên với chẳng họ, đọc lên tao chẳng nhớ gì cả. Để dễ nhớ, tao cứ lấy chữ đầu và chữ cuối tên nhà nó ghép lại mà gọi: Ma Xó "." Ma Xó ", gọi như thế lại hóa hay, dễ nhớ !
Ngày mẹ tôi sắp đi Tây, cả nhà tôi chuẩn bị cho mẹ thật tấp nập. Mọi việc không liên quan đều gác sang một bên. Làm sao cho mẹ sang Tây không bỡ ngỡ? Đời mẹ chúng tôi quá cực khổ, làm sao để mẹ ở bên ấy thật lâu để tận hưởng hết những ngày sung sướng? Mẹ tôi chưa bao giờ rời xa cái làng này " nửa bước", làm sao cho mẹ quen dần với phong thổ, tập quán bên ấy? ...Nghĩa là anh em chúng tôi phải lo cho chuyến đi của mẹ sang Tây thật suông sẻ, cố tránh được nhiều cái " làm sao ". Ấy là chuyện gia đình, còn trong làng, việc một bà già gần bảy mươi tuổi được đi Tây cũng là một đề tài để cho mọi nguời bàn tán:" Bà Cả Mĩm sướng nhất làng mình. Có khi đi qua đấy thấy sướng quá rồi bà ấy xin ở luôn cũng nên"." Đi như bà Cả Mĩm được kẻ đón, người đưa, khi về có chết cũng đã ". " Khổ tận, cam lai trong làng mình chẳng ai đựơc như bà Cả Mĩm."
Con cái lo lắng, chu tất, bà con trong xóm nhìn ước ao, điều đó làm cho mẹ tôi cảm động. Ngồi đâu bà cứ lấy gấu quần chấm chấm nước mắt liên tục, thốt klhông ra lời để cảm ơn mọi người. Kể ra động tác " lấy gấu quần chấm chấm nước mắt " ở nước ta thì được, sang bên Tây phải" nhập gia tuỳ tục "vợ chồng thằng em tôi để mẹ mặc váy , mà mẹ vẫn quen động tác đó thì ... Vợ tôi góp ý với mẹ:" Mẹ sang đó đừng có lau nước mắt hay nước mũi bằng gấu quần. Ở bên Tây không chùi theo kiểu đó "." Thế chùi ở đâu ? Chẳng lẽ lại chùi vào tường như tao đang đun cám lợn ở bếp à?". Mẹ tôi hỏi lại.Vợ tôi cười, đưa cho mẹ chiếc khăn tay trắng tinh, êm ái, rồi giải thích :" Mẹ đã sang Tây phải sinh hoạt như người Tây, nghĩa là tất tần tật cái gì ở mũi, ở mắt mẹ cho vào chiếc khăn tay này !". Vợ tôi cẩn thận làm giả mấy động tác để mẹ bắt chước. Tưởng như thế mẹ sẽ nhớ, ấy vậy khi ngồi ở phòng chờ trong ga máy bay mẹ tôi vẫn không bỏ được thói quen đó. Nhổ nước trầu hay nước bọt, mẹ cứ " toẹt " ngay ra sàn nhà ga mà người ta vừa lau bóng loáng làm cho mâý ông Tây ngồi cạnh cứ trố mắt nhìn. Chúng tôi có nhắc, mẹ cười vô tư, lấy gấu quần lau miệng: " Tao quên ".
Rồi cũng đến giờ mẹ tôi ra máy bay sang trời Tây. Chúng tôi giao ước với mẹ, sang đó mẹ phải nhắc thằng em điện ngay về nhà để biết tin. Nếu khó qua thì cũng phải viết thư về, cho gia đình đỡ mong. Phút chia tay giữa chúng tôi với mẹ thật sự bịn rịn, đầy lưu luyến tất nhiên có cả nước mắt. Chúng tôi chỉ sợ mẹ sang đấy sướng quá rồi ở lại luôn. Mẹ đi vắng, tự nhiên căn nhà thấy trống trải. Tất cả những hình ảnh của mẹ, chiều nào khi ăn cơm vợ chồng tôi và các con đều nhắc. Lúc mẹ nhai trầu, lúc mẹ hút thuốc, lúc mẹ chăm cháu, lúc mẹ cho lợn ăn, dáng lụi cụi... Ơn sâu, nghĩa nặng mẹ đã dành cho anh em chúng tôi, không biết đến bao giờ chúng tôi mới báo đáp nổi ? Cũng may, thằng em tôi cùng con Ma Xó, vợ của nó mời mẹ sang bên Tây chơi, đã giúp vợ chồng chúng tôi báo đáp một phần công lao của mẹ. Vợ chồng tôi biết ơn vợ chồng thằng em bên trời Tây vô cùng.
...Ngày mẹ lên đường đến này đã gần một tháng mà chẳng thấy thằng em điện hay viết thư về như đã hẹn. Điều đó làm cho vợ chồng tôi cùng mọi người trong nhà thắc thỏm lo âu đâm ra suy diễn đủ thứ :" Hay là mẹ sang đó lạ nước, lạ cái, khác múi giờ bị ốm ?"." Bậy ! làm gì có chuyện đó, bên ấy có điều hoà nhiệt độ còn tốt hơn ở Hà Nội. Muốn có khí hậu ôn đới, nhiệt đới... họ đều có thể làm được cả. Làm gì có chuỵên lạ nước, lạ cái."." Hay là... lần đầu tiên mẹ mới gặp con Ma Xó, vui quá rồi mẹ quên đánh điện?"." Bậy ! Mẹ là người sống rất tình cảm, gọi điện hay viết thư đối với mẹ là việc không khó ."." Hay là mẹ đi máy bay...bị lạc?"." Bậy, nếu đúng như thế thằng em mình bên ấy đã điện về nhà ?"... Cả nhà đưa ra đủ mọi giả thuyết, rồi lại chứng minh ngược lại một cách thuyết phục để bác bỏ. Dẫu thế hoài nghi vẫn hoàn hoài nghi, thấp thỏm vẫn hoàn thấp thỏm...
Cho đến sáng hôm ấy, gia đình tôi nhận đựơc bức điện khẩn:" Mẹ về bằng chuyến bay.. .Giờ... ngày... tháng.. .ra đón mẹ tại sân bay...".Bức điện của thằng em gửi về làm cho cả nhà sửng sốt. Tại sao mẹ lại về sớm như thế ? Thằng em tôi nói sẽ cho mẹ ở ba tháng cơ mà!Tại sao bức điện đánh về nội dung có vẻ gấp gáp, vội vàng đến thế ? Kiểu này là có chuyện rồi. Cả nhà kéo nhau ra sân bay đón mẹ, lòng dạ ai nấy đều như có lửa đốt.
Khi thấy mẹ xuất hiện ở cửa phòng đón khách tất cả chúng tôi như không tin ở mắt mình. Ánh mắt mẹ gặp chúng tôi thì mừng nhưng không dấu nổi sự sợ hãi, thỉnh thoảng mẹ lại liếc vội về phía sau như xem có ai đuổi theo mình không ? Dáng mẹ gầy quắt lại, bước nghiêng ngả cứ như người bị bỏ đói năm ngày vừa thoát khỏi trận lụt thế kỷ. Nước da mẹ lại tai tái chứ không còn vẻ hồng hào như hồi ở nhà.
Sao Mẹ lại đến độ như thế nhỉ? Chúng tôi không hiểu, chẳng lẽ ăn và ở bên Tây lại khổ hơn bên nhà ?!!
Về đến nhà, thật bình tâm, mẹ kể hết mọi chuyện , chúng tôi mới vỡ lẽ ra nhiều điều.
Đúng như lời thằng em dặn trong thư, đón mẹ ở sân bay bên Tây là thằng em và con Ma Xó. Gặp được mẹ , thằng em tôi cũng mừng, nó xa mẹ và gia đình cũng hơn mười năm rồi. Nhưng đến lúc con Ma Xó định ôm hôn mẹ, tục lệ bên Tây mà lại. Mẹ tươi cười, định ôm hôn lại đứa con dâu người Tây thì con Ma Xó tự nhiên lăn đùng ra... ngất lịm, phải hô hấp một hồi nó mới tỉnh. Mấy người Việt Nam, bạn của thằng em tôi, ra đón mẹ, đứng cạnh đó không hiểu điều gì đã xảy ra? Té ra khi mẹ cười, con Ma Xó thấy hàm răng đen vì nhai trầu của mẹ , nó vội liên tưởng đến hàm răng của mấy bộ tộc ăn thịt người bên châu Phi. Khi tỉnh dậy con Ma Xó lắc đầu quầy quậy không cho mẹ tới gần. Thằng em tôi thấy vậy, tưởng nó bênh mẹ, có ai ngờ... nó có vẻ xấu hổ, lại trách:" Ở bên mình, trước khi sang đây lẽ ra mẹ phải cạo răng đi cho nó trắng . Nhìn hàm răng đen thế kia, đến con cũng chết khiếp chứ đừng nói đến vợ con.". Từ đó, thằng em tôi yêu cầu mẹ khi gặp bạn của nó, nhất là mấy thằng Tây là mẹ không được cười, nếu có nói phải lấy tay che miệng. Mẹ nói " Bên ấy khách Việt thì ít, khách Tây thì đông. Gặp khách Tây, một là ngồi im, còn nói phải lấy tay che miệng, mẹ hỏi các con, thế có phải là cực hình không ? Giời đày cũng không khổ như thế.". Vì thế, mẹ kể tiếp, đang ở trong nhà mà nghe ngoài cửa có tiếng xì xồ, là mẹ được thằng em tôi cho ngay vào buồng, cứ y như con tù đi " trốn trại". Ở với thằng em trong nhà thui thủi một mình, độ một tuần mẹ thấy chán. Mẹ tôi nói với thằng em :" Mày bảo con Ma Xó để con ở nhà, tao giữ cháu dăm hôm, chứ cứ như thế này tao buồn chết mất .".Thằng em tôi chiều theo ý mẹ , thuyết phục con Ma Xó mãi, nó mới đồng ý với điều kiện: " Anh nói với mẹ không được hôn cháu để đề phòng bệnh truyền nhiễm ". " Con Ma Xó nói thẳng với chồng nó như thế, em mày dịch lại cho tao nghe - Mẹ tường thuật lại y lời của con em dâu người Tây - Tao rất bực mà không biết nói với nó thế nào? Tao không biết tiếng nước nó, còn nó lại không biết nói chuyện với tao. Chán mớ đời!". Thằng bé, con của vợ chồng thằng em tôi mới gần năm tuổi, nhưng do " bơm " sữa với "đắp " thịt nên thằng bé to như ông hộ pháp trông đình. Sức thằng bé " lôi " mẹ đi chứ đừng nói mẹ bế nó. Mới ở với nó có một ngày, mẹ đã toát hết mồ hôi. Đấy là một chuyện, ở buổi sáng không sao, buổi chiều có chuyện. Trong nhà chỉ có hai bà cháu, cửa đóng kín mít chẳng biết nhờ vả ai, ngôn ngữ lại bất đồng.Thằng bé khóc, đòi đi " xia ", bà lại tưởng cháu đòi đi ngủ, chuẩn bị đệm, gối, kéo cháu lên trên đó.Thằng bé chịu không được ," tương " một bãi đầy đệm, đầy sàn nhà. Khốn nạn, nếu "của tống ra " của thằng bé vón cục còn dễ dọn, đằng này thằng bé ăn toàn thức béo, mùi đã "nặng " lại còn " sền sệt" hơn đất bùn chuẩn bị gieo mạ. Mẹ phải cọ rửa suốt một buổi vẫn không hết mùi .Con Ma Xó đi làm về khịt khịt mũi, khó chịu gắt ầm lên. Nó xịt nước hoa đầy phòng, bế con đi biến đến ba ngày mới về. Thằng em tôi nhìn cảnh đó, nó lắc đầu:" Mẹ chỉ trông được trẻ An Nam thôi. Ở ta chúng ăn ít, lại toàn rau nên lâu tiêu, ba ngày mới " xia " một lần .Chứ ở bên này chúng ăn toàn thức bổ, ngày phải " xia " hai lần. Cũng còn may cho mẹ, con của con mới "xia " có một lần ..."." Ở bên này có khi nào chúng mày ăn nói tệ bạc với mẹ như vậy đâu, mà em của mày lại nói với tao như thế !". Nói xong câu nói đó, mẹ lấy gấu quần thấm thấm nước mắt. Khổ nhất là mẹ tôi thèm thuốc rê. Hôm mới sang, mẹ cứ tưởng như ở nhà, lấy trong bịch ra một ít để cuốn hút.Con Ma Xó từ phòng trong đi ra, hít phải khói thuốc liền ho sặc sụa rồi nó xả ra một tràng tiếng tây như đại liên bắn ở đồn Cây Vồ hồi kháng chiến. Thằng em tôi dịch lại cho mẹ nghe :" Vợ con nói, mẹ hút thuốc đó phả ra khói độc như vậy sẽ thủng tầng Ôdôn." ." Nào ! mẹ có biết tầng Ôdôn, ô diếc gì đâu, nhưng nghe thằng em con giải thích mẹ thấy hãi. Thằng em con nói, tầng Ô Dôn đã gần thủng rồi, mẹ mà hút chút nữa, khói ra là nó thủng thật. Mà tầng Ôdôn thủng là cả nhân loại, trong đó có họ hàng nhà ta phải ra... nghĩa địa". Nghe vậy mẹ không dám hút thuốc rê nữa. Vậy là cả ký thuốc rê vợ chồng tôi chuẩn bị cho mẹ sang đấy, cho đến lúc về vẫn y nguyên, chỉ có khác là nó mốc meo. Mẹ nghiện thuốc đã khổ, còn khổ hơn là có thuốc đấy mà không được hút.
Nhưng tất cả những điều đã kể, mẹ nói: " Chẳng bằng đêm giao thừa tết Tây .".
Đêm giao thừa tết Tây, thằng em tôi và con Ma Xó mời các bạn, chủ yếu là người Tây đến nhà nó chơi. Chúng mở nhạc to hết cỡ, mẹ chỉ ngồi nghe một lúc mà lỗ tai đã bùng nhùng không biết đấy là tiếng trống hay tiếng bom. Mẹ nhận xét : " Hồi máy bay Mỹ thả bom có nổ to cũng chỉ đến mức độ đó thôi." Ấy thế mà cả đám bạn của thằng em tôi thích thú, từ con trai đến con gái ăn mặc dị hợm, dậm dật nhảy nhót theo tiếng nhạc cứ như tất thảy chúng nó bị động kinh ở trại điên. Mẹ phải lánh vào trong bếp. Mẹ ngồi dúm dó vào góc bếp tưởng như thế là yên, có ai ngờ! Có một thằng Tây cao to như vượn, mặt mày đỏ gay đi ngật ngưỡng vào trong bếp định lôi mẹ ra ngoài. Đúng là lũ chúng nó, lúc say rượu " trẻ không tha, già không thương ". Mới đầu mẹ sợ. Chợt nghĩ đến " vũ khí lợi hại ", mẹ vội há miệng, phơi hết cả hai hàm răng đen cùng với cái lợi đỏ lòm. Thằng Tây say rượu, nhìn thế hoảng quá vội quay đầu định chạy, đầu nó va mạnh vào cạnh tường, lăn đùng ra ngất.
Mẹ thấy vậy cũng hoảng, ra khỏi bếp chạy vào buồng ngủ. Vừa mở cửa định bước vào thì mẹ thấy ở trên giường có hai đôi, chúng chẳng mặc quần áo, đang " vật " nhau, thở phì phò. Thế này còn ra cái thể thống gì nữa, mẹ lăn ra ngất lịm.
Khi mẹ tỉnh dậy, biết mình đang nằm trong bệnh viện.Thằng em tôi đến, nhất mực mẹ đòi về lại Việt Nam ngay. Mẹ nói với nó : " Nếu con còn thương mẹ, để mẹ sống lâu, con cho mẹ về Việt Nam gấp trong ngày hôm nay." .
Thực ra, ý thằng em tôi cũng thương mẹ, nhưng sinh hoạt bên Tây mẹ ở không hợp. Bên ấy chỉ có tuổi thanh niên, còn mẹ là người già...
- Chẳng đâu bằng quê hương, các con ạ ! Mẹ ở quen rồi.
Kể xong câu chuyện đi Tây, mẹ tôi kết luận như thế.
 
HẾT
 
]]>
http://trankytrung.com/read.php?243 <![CDATA[GHI CHÉP MỘT LẦN ĐẾN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 24 Mar 2011 06:52:30 +0000 http://trankytrung.com/read.php?243 Đến đất Lào, theo đoàn Chi hội nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng gồm các nhà văn Thái Bá Lợi, nhà văn Thanh Quế, nhà thơ Ngân Vịnh, nhà thơ Nguyễn Hoàng Thu, nhà văn Bùi Tự Lực, nhà thơ Lê Anh Dũng... mình thấy hơi bỡ ngỡ, dẫu đã một lần qua.
Lần ấy, cách đây cũng hơn ba mươi năm, cùng đồng đội hành quân vào nam. Đường giao liên bên tây Trường Sơn, qua nước bạn Lào. Nơi đất khách, dọc đường giao liên, chủ yếu chỉ có người Việt với nhau. Đi trong rừng, cố tránh bom đạn, cố gắng để sống... cả đoàn quân, người tiếp người, dài dằng dặc, gần như cúi mặt mà đi, đi thật nhanh để về bãi khách (1), tìm chỗ nghỉ. Nếu nhớ những kỷ niệm trên đất Lào về người Việt, là nhớ những kỷ niệm cháy ruột về đồng đội, những thằng chết lại càng nhớ.
Nhớ một lần cả đoàn hành quân trong đêm, tay lần theo sợi dây chăng qua sông, nước dưới chân chảy xiết, cấp trên đã dặn: “ Bám chặt dây, bám sát người phía trước... không để nước cuốn.” Thế mà một thằng để tuột dây bám, bị dòng nước xiết cuốn đi. Tiếng kêu thảng thốt của nó trong đêm khuya : “Mẹ ơi! cứu con với!” cứ ám ảnh mình cho đến tận bây giờ.        
Lại một lần, mình với mấy thằng, nhân ngày nghỉ, lò dò đi thám thính xung quanh. Ra khỏi rừng, thấy những cánh đồng đã gặt, giữa ruộng có những hố to hơn cái nong phơi lúa ở nhà, nước lúp xúp, trên có để mấy cành tre khô. Điều đặc biệt, trong hố rất nhiều tăm nước nổi lên, một thằng reo to: “ Có cá chúng mày ạ! Tăm nổi nhiều thế kia, cá là vô thiên lủng, xuống bắt đi!”. Thế là không cần ai phải ra lệnh, mấy thằng vội cởi quần dài lao xuống cái hố đó bắt cá. Cá nhiều thật, buộc túm cả mấy ống quần dài để đựng cá, vẫn không hết. Cởi nốt quần đùi, túm lại để đựng cá. Mấy thằng tồng ngồng y như thời mới lọt lòng, bùn bắn lên tận đầu, cười nói hỉ hả. Đúng lúc ấy có mấy người Lào xuất hiện, kinh khủng nhất là có người cầm AK, giơ lên trời bắn chỉ thiên mấy phát. Cả bọn vội ôm chỗ cá vừa bắt, không kịp mặc quần cứ thế chạy, chạy thục mạng. Mấy người Lào đuổi theo, họ vừa đuổi vừa la hét làm cho cả bọn càng sợ, càng cuồng chân chạy cho thật nhanh. Nhưng chạy nhanh làm sao bằng mấy người Lào, họ đã quen đường rừng. Hơn nữa, tay thì ôm bọc cá, không mảnh vải che thân, đói, mệt... cả bọn đành thúc thủ để người Lào bắt. Tưởng sẽ bị nhốt, bị đánh hoặc chi ít bị giam rồi họ báo cho ban chỉ huy tiểu đoàn, để ban chỉ huy tiểu đoàn vào nhận lại. Không ngờ... sau khi đã yên ổn, những người Lào giải thích, phải bắn súng chỉ thiên để báo động vì sợ bọn mình bắt cá như vậy dễ bị máy bay Mỹ phát hiện. Thấy bọn mình bỏ chạy, mấy người Lào đuổi theo không phải vì việc bắt cá, mà họ muốn ngăn lại, sợ bọn mình chạy theo hướng đó dễ lạc vào chỗ bọn biệt kích của chính phủ “Hoàng gia Lào” gài mìn. Vui nhất, những cái hố giữa ruộng đầy cá, không phải là của trời, mà đều có chủ. Những người Lào có ruộng đào hố, để mùa mưa nước ngập, cá sẽ vào. Mùa khô, nước rút, cá ở lại trong hố. Có thể nói đây là “ thực phẩm” rất quý của người Lào cho cả mùa khô, cho đám cưới, đám giỗ, ngày lễ... thế mà bọn mình cứ tưởng là của vô chủ. Nghe họ nói thế, cả bọn ôm đống cá đã bắt, đưa mắt nhìn nhau không biết nói thế nào. Ai dè, họ cho tất, còn vào trong bếp lôi ra nhiều xâu cá phơi khô cho thêm bộ đội Việt Nam. “ Với bộ đội Việt Nam, người Lào chúng tôi không tiếc một thứ gì!”. Mấy người Lào nói với bọn mình. Nhưng chuyện mình chứng kiến vẫn không bằng câu chuyện của nhà văn Phiêulavanh, Chủ tịch Hội nhà văn nước CHDCND Lào kể.
Ở tỉnh Uđonsay, người Lào vẫn nhắc đến một cái hang, do trúng bom Mỹ thả, một tảng đá cỡ vài chục tấn lấp cửa hang, không thể dùng cách gì phá được. Lúc ấy trong hang có hai anh bộ đội Việt Nam, nhưng không giống hang tám cô bên Việt Nam, ở vụ bị đá lấp hang này có một kẻ hở có thể dùng liên lạc, tiếp tế, nghĩa là vẫn có thể đổ cháo, nước để tiếp tế bên trong. Bên ngoài nói, bên trong nghe được, bên trong truyền lời nói ra, bên ngoài hiểu. Một ông già người Lào quá thương hai anh bộ đội Việt Nam mắc kẹt trong hang nên hàng ngày, qua kẻ hở đó, ông tiếp tế cháo, nước cho hai anh bộ đội Việt Nam. Nhưng rồi, chuyện tiếp tế đó chỉ được hơn một tuần, vì ông già Lào nghe thấy tiếng của một người bộ đội Việt Nam ở trong hang, vọng ra qua kẻ hở của hang: “ ... Bắt đầu từ ngày mai, bố không phải tiếp tế cho chúng con nữa. Bố cho con gửi lời kính thăm tất cả, chúng con thương bố lắm, cảm ơn nhân dân Lào...”. Bên ngoài, ông già Lào không hiểu vì sao hai anh bộ đội Việt Nam lại nói như vậy? Đang phân vân thì nghe từ trong hang, qua khe hở, dội ra hai tiếng súng nổ, rồi mọi việc trở nên im ắng, im ắng một cách lạ thường. Ông già Lào cố gọi, trong hang không có một tiếng thưa, không một lời đáp lại như thường ngày. Ông già Lào đã hiểu chuyện gì xảy ra, cứ đứng cạnh tảng đá lấp cửa hang mà khóc.
Mình và các anh trong đoàn Nhà Văn Việt Nam nghe chị Phiêulavanh kể, lặng người.
Lần này đi trên đất Lào, điều đầu tiên, mình để ý, là cái tình người Việt trên đất khách quê người. Ở đâu cũng vậy, người Việt xa quê, khi gặp nhau, chỉ cần nghe một tiếng nói đã thân. Cả đoàn nhà văn Việt Nam đến thị xã Atôpơ đang ngơ ngác tìm chỗ ăn trưa, tiếng Lào không biết, người của Hội Nhà Văn Lào chưa tới, bất chợt nghe thấy một tiếng Huế: “ Các anh là người Việt Nam mới sang phải không? Vào quán kia mà nghỉ.” Tất cả mừng rỡ, nhưng rồi lại lo lắng, không biết vào quán kia có bị “ chặt chém” không ? Người Việt với nhau, giờ là kinh tế thị trường, quan hệ khác trước nhiều lắm! Vào quán rồi bao nỗi lo lắng tan biến sau cuộc trò chuyện. Người Việt mình vốn sẵn tính chịu thương, chịu khó. Chỗ nào có thể tạo thế an cư, lạc nghiệp là đến. Như gia đình người Việt mở quán ăn ở đây, sang Lào đã hơn hai mươi năm. Khai phá chỉ là một quán ăn nhỏ, nhặt nhạnh từ tý một. Cố hòa đồng thật nhanh phong tục tập quán từ lời ăn, tiếng nói đến cách xã giao ở nơi đất lạ, làm thế nào để người Lào không nghĩ xấu về mình. Đối xử với người Lào là thế, với người Việt là hơn thế. Cứ thấy người Việt từ quê sang, người chủ quán nói tiếng Huế mừng lắm, mời vào quán, giá cả phải chăng, món ăn vẫn hương vị quê hương... đồng hương gặp nhau chỉ có tiếng cười. Rời quán ăn của người Huế ở thị xã Atopơ lại thêm một nỗi nhớ, một địa chỉ thân, để lần sau nhất định phải ghé lại.
Nhớ buổi sáng ở kinh đô cổ của Lào Luôngprabang mình với nhà thơ quân đội Lê Anh Dũng bị lạc đoàn, không biết đường nào mà về. May gặp một người mẹ, quê ở Ninh Bình sang Lào đã hơn sáu mươi năm chỉ đường mà không lạc. Nghe tiếng mẹ trả lời bằng tiếng Việt, làm cho mình và nhà thơ Lê Anh Dũng sững người : “ Tôi không phải người Lào mà là người Việt, để tôi chỉ đường cho hai chú!”. Rồi mẹ tất tả vẽ đường, dẫn giải rất cẩn thận. Sợ mình và nhà thơ Lê Anh Dũng lạc một lần nữa, mẹ ghi tiếng Lào vào một mảnh giấy đưa cho mình, dặn : “ Nếu không tìm đúng địa chỉ, cứ đưa mảnh giấy này cho người Lào, họ xem rồi chỉ đường cho.”. Mình hỏi Mẹ: “ Mẹ sang đây hơn sáu mươi năm, sao mẹ vẫn nói tiếng Việt rõ thế!”. Mẹ giảng giải : “ Mẹ rời quê lúc mới có bảy tuổi, đời người, tài sản có mỗi tiếng Việt để bám vào mà sống, để tự an ủi những lúc mình khốn khó nhất, rằng cố gắng mà bương trải để rồi còn về quê chào hỏi họ hàng, bà con. Mẹ nói rõ tiếng Việt là vì thế. Gặp được các con, cả ngày hôm nay mẹ vui lắm.” Nghe mẹ nói mà thương đến lạ lùng, người xa xứ quê hương, cứ gặp, thật lạ, là nhớ. Giữa đất Lào, cứ nghe ai nói tiếng Việt, lại giống như hồi ở dãy Trường Sơn dạo nào, cứ muốn quây quần để hát hò, để trò chuyện, để tâm sự, để gợi lại những kỷ niệm mỗi người đã trải qua như đã thân nhau từ lâu lắm rồi. Mấy bạn nhà văn Lào, lại cả một số cán bộ người Lào đã từng học tập, giảng dạy ở Việt Nam, nói tiếng Việt như người Việt, gặp buổi tối ở nhà của nhà văn nữ Lào PhiêuLavanh, Chủ tịch Hội Nhà Văn Lào, đã cho mình có cảm giác đó. Các bạn hát với mình “ Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn”. “ Tiếng đàn Ta Lư”, “ Tiếng hát từ thành phố mang tên Người...”thế là không khí hòa lẫn, chan hòa không còn biết đâu là khách, đâu là chủ. Không khí này gợi lại cho mình nhớ kỷ niệm Trường Sơn, khi bọn mình, nhân ngày nghỉ quây quần bên nhau cạnh một con suối, vừa tắm, vừa đùa... Mấy ông bộ đội Pha thét Lào đi ngang qua, thấy vui quá cũng vội cởi quần áo xuống tắm chung, cũng đùa ngất trời, vui y như đêm nay ở nhà chị Phiêulavanh.
Còn một chuyện nữa, mà nhà văn Thái Bá Lợi nói với mình: “ Cố ghi lại làm kỷ niệm, dễ gì đã ai được gặp”. Ở Xavanakẹt, buổi sớm hôm ấy, trước khi đoàn nhà văn Việt Nam đi Viên Chăn, vào uống cà phê của một quán người Lào. Ông chủ quán dáng béo tròn, nụ cười hiền hậu, sởi lởi, đeo một tạp dề đỏ, biết đây là đoàn nhà văn Việt Nam, ông vui ra mặt. Vui nhất là ông nói được tiếng Việt, nói rõ ràng, nói như người Việt. Ông giảng giải một bài chính trị bằng tiếng Việt làm cho cả đoàn nhà văn Việt Nam tròn mắt ngạc nhiên: “...Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải đồng thời tiến hành ba cuộc cách mạng, lấy cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt...”. “ Cách mạng Lào cũng như cách mạng Việt Nam hiện chứa đựng những mâu thuẫn mang tính thời đại, là nơi hội tụ của ba dòng thác cách mạng. Cách mạng hai nước là ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc, là ngọn hải đăng dẫn đường cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng giai cấp tiên phong, hai nước Lào - Việt sẽ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản...”. Trời ạ! Những khái niệm, những luận chứng, trong đoàn, có người từng qua những lớp chính trị, đã quên, nay ở đất Lào có người Lào nói tiếng Việt nhắc lại để nhớ. Hỏi ra, ông chủ quán cà phê Lào này đã từng ở Việt Nam học ở trường Đảng cao cấp đến sáu năm, hèn gì mà ông không thuộc những khái niệm đó. Nhưng sao ông ấy lại đứng bán cà phê, cứ như bên Việt Nam cỡ như ông cũng phải chức này, ông nọ rồi chứ! Hỏi chuyện, ông bạn Lào kể, vui không thể vui hơn. Té ra thời gian ông học Trường đảng cao cấp bên Việt Nam có yêu một cô gái, hai người đã có chung một đứa con ngoài giá thú. Kể ra mã đẹp trai như ông, thì có khối cô gái Việt Nam “chết”, huống hồ lại là học trường Đảng Việt Nam là cán bộ nguồn thì, có lấy tay gạt, cũng không hết gái theo ông. Lẽ ra ông sẽ nên vợ, nên chồng với cô gái Việt Nam, nhưng vì bên Lào đã có vợ, không thể “đèo bòng” nên ông về lại Lào. Ngẫm đi, ngẫm lại để thỏa mãn trí tang bồng, để có dịp dễ gặp lại người Việt Nam và biết đâu ... cũng một lần thăm lại chốn cũ, gặp người tình xưa, ông bạn Lào đã từng học trường Đảng cao cấp bên Việt Nam xin ra khỏi biên chế, đi bán cà phê cạnh đường, cố gặp người quen. Nếu gặp được người Việt Nam, là mừng vô hạn, hồn Việt thấm vào ông rồi, để “oai” thì nhắc lại nhưng lời thầy Việt Nam dạy:“...Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, lấy cách mạng khoa học là then chốt!”, còn nhớ, hoài niệm một nỗi buồn, thì khóc và nói: “ Tôi thương cô ấy lắm. Cô ấy và đứa con là một phần máu thịt của tôi, thế nào tôi cũng sang Việt Nam các anh ạ! Quê hương thứ hai đấy!”.
Sang thăm Lào, một đất nước quá đỗi hiền hòa, chân thật. Mà hình như, không biết mình nhận xét có võ đoán không? Sự hiền hòa, chân thật của người Lào gặp người Việt Nam, nâng lên tầm cao hơn. Chẳng thế, đoàn nhà văn Việt Nam sinh hoạt trong Chi hội Nhà Văn Việt Nam tại Đà Nẵng khi đến Viên Chăn được mời tham dự lễ đón hơn bảy trăm cựu chiến binh Việt Nam đã từng chiến đấu trên chiến trường Lào của Đảng và Nhà nước CHDCND Lào trong một hội trường lớn trang hoàng lộng lẫy. Buổi lễ đón tiếp diễn ra thật ấm cúng, không còn phân biệt đâu là người Việt, đâu là người Lào.Đêm văn nghệ hoàn toàn những là những diễn viên nghiệp dư biểu diễn mà hay lạ lùng, bài hát Việt xen lẫn bài hát Lào, ai cũng thuộc, cùng vỗ tay hát theo.
Đến đất Lào, càng tiếp xúc, càng thấy nghĩa tình của người Lào dành cho Việt Nam, khó có cách nào tả hết. Vì ở đâu, người dân Lào cũng nâng niu, gìn giữ nghĩa tình với người Việt. Hôm mình cùng nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ, nhà văn Nguyễn Hoàng Thu đến thăm nhà văn Chănthy, nguyên chủ tịch Hội Nhà Văn Lào. Nhà văn bị tai biến, hiện chỉ ngồi trên xe lăn, sức khỏe yếu đi nhiều ấy vậy vẫn không dấu được sự hóm hỉnh, nhà văn nói với mình cùng nhà văn Thái Bá Lợi, Nguyễn Hoàng Thu, bằng tiếng Việt: “ Tiếc là sức khỏe không còn, nếu không, mình dẫn các ông đi chơi, vui phải biết! Nhà văn Lào, nhà Văn Việt Nam là một nhà mà, đoàn kết chơi chung, vui chung, không thể xa rời. Các ông về, tôi nhớ lắm! ”.
“ Đoàn kết, chơi chung, vui chung, không thể xa rời” – Thưa anh Chănthy, nhà văn Việt Nam chúng tôi cũng sẽ như thế khi nghĩ về đất nước Lào.



Hội An 11/2010

]]>
http://trankytrung.com/read.php?242 <![CDATA[Nắng Lào]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 24 Mar 2011 06:50:42 +0000 http://trankytrung.com/read.php?242 Nhớ lại, bằng khoảng thời gian này, trước năm một chín bảy lăm, tháng mười hai, vào đầu mùa khô của Lào, bên tây dãy Trường Sơn không còn mưa, chỉ có nắng, tiện cho việc hành quân. Dọc các đường giao liên, những tiểu đoàn bộ binh, hàng nối hàng, người tiếp người, bước chân đè lên bước chân... miên man đi như suối chảy, tít tắp... Mình lẫn vào những đoàn người đi như vô tận đó vào nam. Đang đi trong rừng, bạt ngàn cây xanh, cái màu xanh đậm đặc ngay trước mặt, che hết cả nắng. Bất chợt, xuyên qua một cửa rừng, gặp một trảng cỏ, không rộng, lộ ra một mảng trời xanh, ùa nắng. Cái ba lô đựng quân tư trang căng phồng, ruột tượng gạo đầy oặt, khẩu AK với đủ cơ số đạn... đang nặng trĩu vai, bỗng chốc, làm cho mình không để ý, chỉ thấy ngợp với nắng Lào. Người nhìn người thấy có vẻ hơi khác lạ so với thường ngày, nét mặt trông có vẻ lành lặn hơn và nụ cười... cũng có vẻ vui hơn. Chẳng gì, từ một chỗ hầm hập hơi người, lưng mồ hôi người này áp vào mặt người kia, nay bất chợt ra chỗ thoáng đãng, tạo cho mình, cho mọi người có cảm giác thân thiện với nắng Lào hôm ấy.
Đến bây giờ, bao nhiêu việc ngồn ngộn phải giải quyết, lo từng cái ăn, cái mặc, thời thế vàng, thau lẫn lộn, ngồi một chỗ không yên... chỉ nghĩ làm sao gia đình mình tồn tại, con cái học hành đàng hoàng... đã mệt cả người. Còn hơi đâu để ý đến nắng.
Nắng hanh hao, nắng vàng nhạt, nắng oi ả, nắng rát bỏng lưng, nắng hạn gay gắt, nắng quái chiều hôm... mình cũng mặc kệ. Gặp nắng, chống chọi với nắng, có khi hóa ra mua cái bực mình vào trong người.
Nhưng thật lạ, cùng đoàn Nhà Văn Việt Nam sang thăm Lào, đúng vào thời điểm trước đây mình hành quân vào Nam bên dãy tây Trường Sơn, cái cảm giác ngỡ ngàng gặp nắng Lào ở cửa rừng bất chợt ùa về, nhớ đến nao lòng.
Qua cửa khẩu Bờ Y (KonTum) mình cùng đoàn Chi hội nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng đặt chân lên đất Lào. Đường rộng, trải nhựa, uốn lượn theo các triền núi, lúc lên cao, lúc xuống thấp...Ngồi trong ô tô nhìn ra, những cánh rừng màu xanh chập chùng lên, xuống theo độ cao, thấp của con đường mà ô tô đang đi. Màu xanh óng ả của cây, của lá... đang được tắm nắng. Trời của đất Lào vào đầu mùa khô xanh ngăn ngắt, chỉ có vài đám mây trắng điểm xuyến, trôi lờ lững, còn tất cả chỉ có nắng, nắng vàng của đất Lào như rót mật xuống mặt đất, xuống cánh rừng.
Lâu lắm rồi mình mới cảm nhận được sự thoáng đãng, mơn man của màu nắng này.
Lại tự hỏi, sao hơn ba mươi năm, tóc đã điểm bạc, cái nhìn đã trĩu nặng việc đời, buồn nhiều hơn vui... sao hôm nay lại tự nhiên vui, trút đi mọi nỗi ưu phiền vì gặp nắng của Lào?
Là vì, màu nắng đó, gợi nhớ cho mình một thời không thể quên của kề cận cái sống, cái chết. Những kỷ niệm cứ ăm ắp dội về. Khuôn mặt mấy thằng bạn thân nằm cạnh mình khi mắc võng giữa rừng già, đứa còn, đứa mất hiện rõ dưới ánh nắng của đất Lào, nơi mình đang đi qua.
Lại nữa, tham quan thác nước Phapheng, dưới ánh nắng ban trưa trên đất Lào đang rải đều xuống dòng thác. Dòng nước thác trắng xóa oằn mình, uốn lượn qua những tảng đá to, nhấp nhô, óng ánh như đang được trộn với kim tuyến. Con người không thể trầm trồ trước vẻ đẹp của tự nhiên, sáng lòa, sôi sục của con thác khi có ánh nắng Lào chiếu vào.
Đến thủ đô Viên Chăn của Lào, dù đã gần trưa, vẫn gặp cái nắng, nhưng lạ, không gắt như bên đông Trường Sơn. Mình cứ ngẫm nghĩ: Tại sao thế nhỉ? Xem nhiệt độ, không cao hơn bên Việt Nam là bao nhiêu, sao mình không thấy bức bối, không muốn ngồi trong phòng điều hòa, mà muốn đi ra ngoài kia, để tắm nắng? Ngẫm nghĩ một lúc mới phát hiện ra, nắng của Lào thanh, sạch hóa ra là do sự trật tự của người Lào. Ô tô không bấm còi, xe nhường xe, người đi đường đúng luật, không chen lấn. Cảnh vật, người, xe và nắng như giao hòa, quyện vào nhau, nâng nhau lên, thanh tao hơn, thoáng đãng hơn, đẹp một cách lạ lùng. Một điều nữa làm cho nắng Lào trở nên thân thiện là ở Viên Chăn không hề có nhiều nhà cao mấy chục tầng, không có những khối bê tông xám xịt đè nặng tầm nhìn, không có những cao ốc mà những cửa kính nhìn vào cứ lóa mắt như thể sắp bị mù... mà chỉ có những ngôi nhà ngăn nắp ẩn hiện giữa vườn cây, những khách sạn vừa tầm, trang nhã, những ngôi chùa trầm mặc trang nghiêm... mà hình như kiến trúc ấy để cho nắng Lào lan tỏa vào tận mọi ngóc ngách, ai cũng được tận hưởng ánh nắng tự nhiên. Hít thở không khí trong lành, con người như nhòa đi trong không gian ấm, nhẹ của nắng... sống thế cũng đủ sướng rồi.
Ở Việt Nam của mình, nhất là thành phố lớn đâu dễ để có phút tận hưởng ánh nắng đẹp như nắng của Lào ! Về nước ngồi lại nghĩ vẫn thèm.
Không biết ai đã nói câu này làm cho mình tâm đắc: “ Sống như nắng, đẹp như nắng, sinh ra là để cho ” Với ánh nắng bình minh trên đất Lào, mình đã cảm nhận sự yêu thương mà ánh nắng ban mai đã ban tặng cho con người đúng như câu nói trên.
Ở Luôngprabang từ tờ mờ đất, từng đoàn nhà sư đi khất thực, hai  bên vệ đường cả đoàn người người đang quỳ xuống, hai tay dâng lễ vật cúng cho nhà chùa. Người cho tự nguyện, người nhận cũng tự nguyện. Không ăn to, nói lớn, đi lặng lẽ, trật tự. Cũng không cần nhiều, nhận vừa đủ. Nếu của ai đó hơi nhiều, nhà sư khất thực sẵn sàng nhường phần đã nhận cho người đi sau hoặc những đứa trẻ nghèo đói đi bên cạnh. Và khi ánh bình minh ló rạng, công việc khất thực của các nhà sư đã xong, quãng đường dài vừa lúc nãy còn đông người, giờ lại thoáng đãng, sạch bong. Trong chùa các nhà sư tiếp tục công việc của mình, ngoài đường, sau việc thiện, những người dâng lễ vật cho chùa lại trở về với đời thường. Dưới ánh nắng bình minh, thật trong, tinh khiết của ban mai trên đất Lào nét mặt mọi người như vui hơn, thân thiện hơn làm cho ai cũng muốn tâm hồn mình thật trong sạch không thể nghĩ những điều gì khuất tất.
Bên bờ sông Mê Kông, vui nhất khi gặp các bạn nhà Văn Lào đến đón. Bất đồng ngôn ngữ lúc này không hề làm nhạt đi cuộc nói chuyện. Những cái bắt tay thật chặt, sự chia sẻ văn chương, những ly rượu mừng...tràn ngập, như rất hiểu nhau dưới ánh nắng Lào. Ánh nắng Lào làm tươi nụ cười của các nhà văn hai nước Việt – Lào, làm lấp lánh nước sông Mê Kông đang chảy xuôi từ Lào qua Cămpuchia về Việt Nam. Một nhà văn Lào hỏi mình: “ Điều gì làm anh ấn tượng nhất khi đến thăm Lào?”. Mình nói : “ sự thân thiện, điều đó thể hiện ở cách giao tiếp, tiếng cười, cảnh vật...”. Nhà văn Lào hỏi tiếp mình:“ Làm sao anh nhận biết điều đó? ”. Mình cười: “ Dưới ánh nắng rất đẹp của đất nước bạn, tất cả những điều đó hiện lên rõ mồn một...”. Nhà Văn Lào bắt tay mình: “ Thế là anh đã hiểu chúng tôi, sống thân thiện, trong sạch, rõ ràng, minh bạch... nhân dân, đất nước Lào muốn đón các Nhà Văn Việt Nam với tất cả điều đó như đón ánh nắng...”.
Nắng Lào đã gặp, một lần về, lại nhớ!


Hội An 11/2010

]]>