<![CDATA[Trần Kỳ Trung]]> http://trankytrung.com/index.php vi http://trankytrung.com/read.php?967 <![CDATA[MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG THÂN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sat, 04 Mar 2017 13:08:32 +0000 http://trankytrung.com/read.php?967  

 

MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG THÂN

 

 

 

        … Hồi tôi đọc truyện ngắn “ Vũ điệu cái bô” cứ giật mình, nghĩ, ở Việt Nam vẫn còn nhà văn tài, ao ước được gặp.

          May thay, một lần đi dự trại sáng tác ở Đại Lải, tôi được gặp tác giả truyện ngắn trên, nhà văn Nguyễn Quang Thân. Mừng hơn nữa, nhà văn cũng đọc một số truyện ngắn của tôi đăng đây đó, cho lời góp ý rất chân tình. Là người viết văn,  được bạn đọc nhớ tên, nhớ cả tác phẩm mình viết,  hạnh phúc lắm rồi, ở đây lại được một nhà văn có tên tuổi nhớ cả tên, cả tác phẩm, hạnh phúc phải nhân lên cả ngàn lần. Sau này được diễm phúc gần nhà văn Nguyễn Quang Thân, tôi mới nghiệm ra rằng, đó là tính cách chân thực, tinh khiết vốn có của nhà văn, sống hết lòng với bạn bè, không phân biệt lứa tuổi.

      Mỗi lần tôi vào Sài Gòn, dù có bận việc, hay bạn bè rủ, bao giờ tôi cũng dành thời gian đến thăm vợ chồng nhà văn Nguyễn Quang Thân - Dạ Ngân mà lúc này tôi đã coi như người nhà. Đến với anh chị, tôi sướng, là ngập tràn tiếng cười, có cảm giác mọi phiền muội, những điều trăn trở của đời, của tình và cả của sự nghiệp tự nhiên trôi đi nhẹ nhàng. Cứ nhìn cách đối xử rất tình cảm của anh dành cho chị, tiếng gọi thân thương “em ơi” khi anh muốn  nhờ chị điều gì đó, tự soi vào mình. Một “ông lão” gần tám mươi tuổi vẫn tráng niên, vẫn tha thiết đến tận cùng, vẫn mãi xanh với khát vọng yêu…tự thấy đời còn đẹp lắm, việc gì mà bi quan, chẳng cần học ai để giữ hạnh phúc, cứ học anh chị là được.

      Tôi có gần một số nhà văn có tên tuổi,  nhưng “gần” không phải để “khoe” mà thực sự, gần để hiểu mình hơn.

       Nhà văn Nguyễn Quang Thân rất ít khen truyện ngắn của tôi mà khi tâm sự, anh thường chỉ những hạn chế mà tôi thường mắc phải, góp ý một cách chân tình, nhớ nhất anh dặn: “ Phải viết em ạ! Dễ gì những người như em, như anh được sống trong thời đại này, ngồn ngộn tư liệu để mình viết. Tuyệt đối đừng sống giả dối với trang viết của mình, nghĩ, yêu, ghét như thế nào cứ như vậy, đưa vào trang viết…”. Nhà văn Nguyễn Quang Thân sống đúng như thế, viết đúng như thế. Tôi học cả đời, chắc chỉ được một phần. Khi tôi và nhà văn Nguyễn Quang Thân tham gia vào ban vận động Văn Đoàn Độc Lập, anh khuyên tôi: “ Lúc này em phải viết nhiều hơn trước nhé! Tuyệt đối bỏ hết những điều phù phiếm  như giải thưởng, chức danh…mà coi trọng ngòi bút, trang viết của mình để giữ uy tín cho Ban vận động.”.

        Tôi cố gắng thực hiện lời anh khuyên và tự hào, đến giờ chưa làm sai lời khuyên đó.

      Nhà văn Nguyễn Quang Thân là người sống tình cảm, chu toàn với mọi người, ra Hội An lần nào anh cũng điện và đến thăm tôi. Một lần tôi vào thăm anh, anh nói : “ Khoan lên nhà anh, anh với em đến thăm nhà văn Bùi Ngọc Tấn mới vào trong này để chữa bệnh, để anh ấy vui có nhiều bạn quan tâm, mau lành bệnh.”. Nhớ lần tôi đưa con trai vào Sài Gòn để cháu đi nước ngoài du học. Anh cương quyết không cho cha con tôi ra nghỉ khách sạn mà phải về nhà anh ở: “ Nhà rộng lắm ,chị về Vũng Tàu mấy ngày, có mỗi một mình,  em với cháu ở với anh cho vui, cùng nấu ăn nữa. Tài nấu ăn không bằng chị, nhưng so với ngoài, anh không kém!”. Anh rất quan tâm đến con trai tôi, lo cho cháu chỗ ngủ, máy vi tính, thậm chí cả chỗ tắm ,cũng chỉ bảo ân cần như một người ông với người cháu ruột thịt. Hỏi cháu thích ăn gì, anh sẽ nấu rồi  tự đi chợ ( chợ cũng gần nhà)… Quả thật anh nấu ăn rất ngon. Khi con tôi ra nước ngoài học tập, cháu vẫn nhắc những ngày ở với ông Nguyễn Quang Thân.

       Không riêng với cha con tôi, nhưng ngày ở với anh, trong nhà không lúc nào vắng khách, toàn những bạn văn thân thiết đến thăm anh ,bao chuyện đời vui, buồn…rôm rả, như không dứt…Anh còn hẹn, ra tết, hai anh em bố trí đến thăm nhà văn Phạm Văn Biển ở Nha Trang, một người bạn thân thiết của anh,cũng là một nhà văn tôi kính trọng…

       Sự lạc quan, mạnh mẽ của một người đàn ông đứng tuổi thể hiện ở sự cường tráng thân thể, của bút lực dồi dào luôn lao về phía trước với tốc độ lớn để đến tận cùng sự thật, chân lý…

        Tôi luôn nghĩ về nhà văn Nguyễn Quang Thân là như vậy.

        Tiếc thay, cơn bạo bệnh, không báo trước, đưa anh đi…

         Rất thương và nhớ anh!

         Giữ mãi hình ành và lời chỉ bảo của anh cho đến trọn đời.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?716 <![CDATA[ANH ĐÀO HÙNG VỚI NXB ĐÀ NẴNG ]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 18 Dec 2013 11:12:51 +0000 http://trankytrung.com/read.php?716  

              

                 ANH ĐÀO HÙNG VỚI NXB ĐÀ NẴNG

 

         Sáng nay (18/12/2013) tôi hay tin anh Đào Hùng, một cộng tác viên vô cùng thân thiết của NXB Đà Nẵng,  qua đời sau một cơn bạo bệnh.

         Những kỷ niệm thân thiết về anh lại trào lên trong tôi.

         Có thể nói, khi NXB Đà Nẵng mới thành lập, anh Đào Hùng là một trong những cộng tác viên đến với NXB Đà Nẵng sớm nhất. Cũng một lẽ, anh vốn rất quý anh Nguyễn Văn Giai, giám đốc đầu tiên của NXB Đà Nẵng. Điều nữa, tuy anh Đào Hùng về tuổi đời hơn chúng tôi rất nhiều, về kiến thức, nhất là kiến thức lịch sử, anh là bậc thầy  nhưng đối với chúng tôi, với một đội ngũ biên tập viên của NXB Đà Nẵng, đại bộ phận đã tốt nghiệp đại học một cách bài bản, anh rất vui, ham nói chuyện, nói chuyện một cách bình đẳng, không khoảng cách. Mỗi lần anh đến với NXB Đà Nẵng, là một lần “náo động” tiếng cười. Anh ít khi đi một mình, khi thì đi với nhà sử học Dương Trung Quốc, khi thì đi với nhà sử học Trần Quốc Vượng, lúc lại cùng nhà văn hóa Nguyễn Văn Xuân, khi thì có nhà nghiên cứu lịch sử Chăm Trần Phương Kỳ… Mỗi lần như thế quanh một bàn nhậu dân dã, anh cùng các nhà sử học, văn hóa, nghiên cứu… danh tiếng, kể những câu chuyện tưởng là “đời”, nhưng thực ra đó là một buổi bồi dưỡng về kiến thức văn hóa, lịch sử… mà những người biên tập viên như chúng tôi cần có. Thông qua những buổi nói chuyện như vậy, chúng tôi vỡ vạc ra rất nhiều điều như về nhân vật lịch sử Phan Chu Trinh, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ… về quan hệ Việt Minh với Mỹ trong những ngày đầu trước buổi binh minh lập nước… Đến bây giờ, những vấn đề này ngày càng sáng tỏ, nhưng những ngày ấy, vào thời điểm những năm tám mươi của thế kỷ trước, không phải nói ra ai cũng biết, ai cũng hiểu. Là một nhà dịch thuật, sử học, nhà báo danh tiếng, lại sinh trưởng trong một gia đình tri thức, thân phụ của anh là nhà nghiên cứu sử học, nhà Hán học nổi tiếng Đào Duy Anh, nhưng với chúng tôi, những biên tập viên NXB Đà Nẵng, anh Đào Hùng vẫn rất bình dị, thân thiết. Mỗi lần anh đến với NXB Đà Nẵng sau tiếng cười, hỏi thăm hết lượt, anh lại giới thiệu với chúng tôi những tập bản thảo mới, những tác giả mới cần liên hệ cứ y như anh là một cán bộ chính thức của NXB Đà Nẵng chứ không phải khách viếng thăm. Chính nhờ anh mà NXB Đà Nẵng là NXB đầu tiên in cuốn “ Tại sao Việt Nam?” rồi một loạt các cuốn sách nổi tiếng khác, có tính chất tư liệu lịch sử rất cao, trung thực, khách quan  như những cuốn sách viết về Phan Chu Trinh, Phạm Phú Thứ, về sự hình thành phát triển của Đà Nẵng… Trong thời kỳ này, khi NXB Đà Nẵng mới chân ướt, chân ráo của sự hình thành nhưng đã được đông đảo bạn đọc trong cả nước chú ý về những cuốn sách có giá trị về lịch sử, văn hóa…phải nói rằng đó là nhờ sự giúp đỡ  rất lớn của nhiều cộng tác viên có uy tín, trong đó phải kể đến anh Đào Hùng. Mỗi lần tôi hoặc Đà Linh ( bút danh của của nhà văn Nguyễn Đức Hùng) ra Hà Nội công tác, người đầu tiên chúng tôi muốn gặp là anh. Anh Đào Hùng gần như là bạn thân thiết của nhiều nhà tri thức lớn ở Hà Nội. Anh dẫn chúng tôi đi gặp được hầu hết những nhà trí thức này. Từ dịch giả Dương Tường đến nhà văn Hà Ân, biên tập biên NXB thế giới Phương Quỳnh đến cả đạo diễn điện ảnh Nguyễn Đỗ Ngọc…Đến đâu anh cũng nói với mọi người ưu thế của NXB Đà Nẵng, một NXB tầm cỡ miền trung, thay mặt chúng tôi, anh mời mọi người cộng tác. Có anh giúp đỡ, chúng tôi đỡ vất vả nhiều, nhất là vấn đề bản thảo có chất lượng. Cũng đôi ba lần anh dẫn chúng tôi về căn hộ ở khu tập thể Kim Liên, nơi gia đình anh sinh sống. Một căn hộ chật hẹp thời bao cấp nhưng điều đặc biệt rất rộng lòng. Hồi đó, chúng tôi biết, đồng lương của anh “vón cục”, có được bao nhiêu đâu, nhưng anh sẵn sàng mang ra hết để đãi bạn hiền. Tôi còn nhớ một kỷ niệm, ai đó biếu gia đình anh một chai rượu ngoại, hồi đó là của hiếm, chỉ khi có chuyện thật hệ trọng mới mang ra dùng. Khi thấy tôi và Đà Linh đến thăm, anh lẳng lặng mang chai rượu ngoại  ra chợ bán, rồi dùng số tiền đã bán chai rượu để đãi hai chúng tôi. Đà Linh biết chuyện muốn trả lại anh số tiền trên nhưng dứt khoát anh không nhận, hai anh em cứ đùn đẩy nhau số tiền đó, tôi nhìn vừa thương, vừa buồn cười. Với bạn bè của anh cũng như vậy, còn nhớ lần  tôi với anh đến thăm đạo diễn Nguyễn Đỗ Ngọc, nhà ở  phố Quan Thánh. Trước khi đến nhà bạn, anh bảo với tôi ra chợ mua đồ nhậu, anh giải thích: “ Thằng ấy ( chỉ đạo diễn Nguyễn Đỗ Ngọc) khí khái, lại nghèo, đang cô đơn, mày với tao đến thăm đừng làm phiền nó…”. Anh mua hết những thứ cần có, khi đến nhà của đạo diễn Nguyễn Đỗ Ngọc chỉ việc bày biện ra, tôi nhớ, đạo diễn Nguyễn Đỗ Ngọc có trách anh về việc này, nhưng trên khóe mắt của đạo diễn cứ rưng rưng…

         Hồi tôi làm biên tập viên NXB Đà Nẵng được tiếp rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo, dịch giả… nổi tiếng. Tôi có một nhận xét, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo, dịch giả… kiến thức càng rộng, tầm hiểu biết càng sâu, ngoại ngữ giỏi, đại bộ phận những con người đó tố chất là khiêm tốn, giản dị, rất tôn trọng, bình đẳng với người đối thoại. Với chúng tôi, khi tiếp xúc với anh Đào Hùng, rất ngưỡng mộ trình độ ngoại ngữ, kiến thức sử học uyên thâm của anh nhưng chúng tôi ngưỡng mộ hơn là đức tính giản dị, không khoa trương của anh, từ cách ăn mặc, lời nói đến cách bông đùa… Với lớp thanh niên chúng tôi hồi ấy, anh Đào Hùng với chúng tôi là không có khoảng cách. Những lần anh vào công tác ở Đà Nẵng, Sau giờ làm việc, chúng tôi thường rủ anh đi chơi, dù có bận mấy, anh cũng nhận lời, tham gia nhiệt tình, không hề khách khí. Có những lần chúng tôi cùng anh, nhà nghiên cứu lịch sử Chăm Trần Phương Kỳ lên Mỹ Sơn chơi cả đêm mà hồi đó Mỹ Sơn không như bây giờ, còn hoang vu, đầy bom mìn, muỗi, vắt…Giữa không gian mênh mông, lặng đến độ sợ cả tiếng cú rúc, ánh trăng lạnh mênh mang rải xuống một khu vực âm u, bóng đền tháp ẩn hiện như những bóng ma… thế mà anh cùng nhà nghiên cứu Chăm Trần Phương Kỳ vẫn say sưa kể như đang giảng đạo cho con chiên về truyền thuyết người Chăm làm cho chúng tôi bái phục…

        Anh Đào Hùng với NXB Đà Nẵng trong thời kỳ đầu mới thành lập, có rất nhiều kỷ niệm…

         Nhắc lại một vài kỷ niệm về anh, cũng là nén hương thành tâm kính viếng anh.

 

          Anh Đào Hùng, một nhà tri thức, một nhà khoa học chân chính mà chúng tôi, thế hệ tri thức đi sau, hết sức kính trọng. 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?712 <![CDATA[ANH VŨ HUY CƯƠNG]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 21 Nov 2013 15:17:49 +0000 http://trankytrung.com/read.php?712                                  ANH VŨ HUY CƯƠNG

    

       Nhanh quá, mới gặp anh ngày nào ở Hà Nội,  giờ đã 13 năm anh xa bạn bè, người thân (23/11/2000 – 23/11/2013).

        Dẫu xa ngần ấy năm,  hình ảnh của anh Vũ Huy Cương không thể nào quên trong tôi.

       Nhớ dáng anh, gầy, nhỏ, ăn mặc lúc nào của giản dị, không thể giản dị hơn. Thậm chí có lúc tôi nghĩ, có khi anh Vũ Huy Cương không biết diện. Khuôn mặt khắc khổ, cam chịu nhưng điều tôi biết rõ về anh, là sự rộng lòng. Với anh, tất cả những nhà văn, nhà thơ ở trạc tuổi của anh, đều là những người bạn chí thiết. Anh hay kể cho tôi nghe những người bạn của anh khi còn trong tù. Khổ , truy bức nhưng không hề oan than: “ Xã hội mình nó thế, còn hoang dã lắm, vì thế, chuyện xảy ra với anh cũng là bình thường, kể lại làm gì.” Anh nói với tôi như vậy, khi tôi muốn nghe anh kể những ngày tháng anh ở trong tù, một án tù mà như nhiều người nói: “ Không hiểu vì sao mình lại bị tù?”. Nhưng có một lần tôi với anh đến nhà họa sỹ Văn Sáng chơi, không hiểu sao anh lại kéo tôi đi một con đường chạy dọc theo bờ tường nhà giam Hỏa Lò, tự nhiên nét mặt anh trầm ngâm, tư lự, giọng nhỏ lại, đủ cho tôi nghe: “ Anh đã từng ở trong kia, cố lắng nghe tiếng động ngoài này để tin rằng mình còn sống, còn về lại với đời…”. Có lẽ đó là lần duy nhất anh nói với tôi chuyện tù tội. Anh Vũ Huy Cương trong vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, sau này tôi nghe một số người kể, anh cũng không làm điều gì “to tát”, hình như là một chức nhỏ nhất là biên tập một tập tạp chí của nhóm này. Công việc chính của anh, cũng lại … hình như chỉ là cán bộ bình thường trong xưởng phim truyện. Xin lỗi, tôi nhớ điều này không chính xác, một phần vì anh Vũ Huy Cương rất ít kể cho tôi nghe chuyện quá khứ,  mà hay nói chuyện về văn học, thời thế. Ra tù gần như mọi chế độ chính sách không còn, vợ con không có, anh Vũ Huy Cương sống một mình trong căn nhà hẹp ở 52 – Bà Triệu. Gọi là nhà, thực ra trông giống như một căn bếp tập thể, mái lợp bằng tôn cũng có, gạch cũng có và thậm chí…giấy dầu cũng có, diện tích hẹp vừa đủ kê một cái giường đơn, một  bộ bàn ghế , một cái tủ nhỏ đựng thức ăn, bếp dầu…khi bạn bè anh đến căn phòng nhỏ của anh lại rộn tiếng cười, bởi những chuyện tiếu lâm, chuyện thời sự có thêm tý “ mắm, muối”, chuyện yêu đương của ông này, bà kia, “ lỗ chỗ này, lãi chỗ khác.”…

         Anh Vũ Huy Cương tôi quen cũng là một sự tình cờ. Biết tôi biên tập chính cuốn “ Miền hoang tưởng” của Đào Nguyễn ( bút danh nhà văn Nguyễn Xuân Khánh), anh Cương đến gặp tôi ở 56 – Bà Triệu, lúc đó là văn phòng đại diện NXB Đà Nẵng tại Hà Nội. Anh cho tôi biết, anh đã đọc bản thảo này của nhà văn Xuân Khánh lâu rồi, hơn nữa giữa anh và nhà văn Xuân Khánh là bạn bè chí thiết nên việc xuất bản được cuốn “ Hoang tưởng trắng” ( Tên ban đầu của cuốn “ Miền Hoang Tưởng”) không phải chỉ tác giả mừng mà đó cũng là nỗi mừng của anh và của rất nhiều độc giả chân chính – Như lời anh nói với tôi. Từ đó, cứ chiều chiều, hết việc làm tôi lại sang nhà anh, có lúc anh lại đến chỗ tôi, hai anh em ngồi nói chuyện. Quả thực lúc đó tôi không biết chuyện “ tù ”  của anh, chỉ biết mình nói chuyện với anh rất hợp.  Có lúc tôi ngạc nhiên, sao không thấy ông này làm chức vụ gì cả, ở thì khổ, con người không thấy dáng sướng, sống một mình trong cái góc “bà tó” mà sao ông ấy biết lắm chuyện thế? Điều tôi ngạc nhiên hơn là bạn bè của anh toàn những người mà tôi nể trọng như nhà văn Vũ Bão, nhà văn Xuân Khánh, vợ chồng nhà văn Nguyễn Quang Thân – Dạ Ngân, nhạc sỹ Hồng Đăng, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà nghiên cứu Hàn Sỹ Phu, nhà thơ Bùi Minh Quốc, nhà dịch thuật Dương Tường…  Sau này khi anh Cương mất, tôi đọc bài văn của nhà văn Vũ Thư Hiên khóc anh, càng hiểu và lý giải được vì sao anh Vũ Huy Cương được bạn bè, những nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ  chân chính quý trọng. Không riêng các nhà văn, nhà thơ … thậm chí một người thợ Bát Tràng quá  quý trọng anh, đã tạc chân dung anh thành một bức tượng với chất liệu làm bằng đất nung.  Bức tượng đó anh để trong góc nhà, nếu chú ý lắm mới biết, có hỏi anh mới nói.  Tôi còn được biết họa sỹ Văn Sáng rất quý anh Vũ Huy Cương. Một lần tôi, họa sỹ Văn Sáng cùng anh Vũ Huy Cương ngồi uống bia cùng mấy gói lạc rang ở vỉa hè. Văn Sáng vừa đi câu cá về, nhiều người đến gặp Văn Sáng để đặt bìa, nhất định Văn Sáng từ chối, vì một lý do đơn giản: “ Ông thông cảm nhé, để lúc khác, tôi đang ngồi hầu chuyện với anh Vũ Huy Cương…”.

             Có một tối, anh rủ tôi đến thăm một bậc lão thành cách mạng – Như lời anh giới thiệu - trình độ uyên thâm, nặng lòng với hiện tình đất nước. Tôi đi theo anh, đến giờ nhớ mang máng, hình như bậc trí thức già đó ở trong một căn hộ tập thể. Tiếp hai anh em với một phong cách lịch sự là một người trí thức già, người gầy, ăn vận giản dị. Tôi một kẻ đi theo, có chăng ngồi nghe hóng hớt  không biết gì, chỉ lặng lẽ quan sát. Trên tường nhà của bậc trí thức này là tấm lịch in rõ “Tạp chí Cộng Sản”. trên bàn làm việc cũng một chồng “ Tạp Chí Cộng Sản”, sau bàn làm việc thì toàn trước tác của Mác, Lê Nin, Hồ Chí Minh… Tôi thầm nghĩ, anh Cương quen cả những ông cộng sản “ gộc”. Suốt cuộc nói chuyện của hai người, tôi lắng nghe, hai người toàn nói chuyện “ lớn” như bàn đến hiện tình đất nước, rồi làm thế nào để phát huy quyền dân chủ, trước hết ở trong Quốc Hội, cả vấn đề đảng với dân, với dân tộc phải như thế nào? Đặc biệt cần có những việc làm cụ thể đoàn kết anh em trí thức… đều là những vấn đề  hệ trọng… Tôi thầm đoán, bậc trí thức già kia phải là một người giữ chức vụ rất to trong đảng, nhà nước hoặc là chuyên viên cao cấp của một Viện nào đó, ai nói “chống đảng” thì ông ấy “ đập cho bỏ mẹ”!!!.  Khi đi với tôi, anh Cương ít khi nói chuyện này, nhưng khi nói chuyện với người trí thức già kia, anh nói say sưa, hình như quên cả tôi đang ngồi đó, quên cả thì gian. Lúc về, anh Cương hỏi tôi: “ Em có biết anh vừa nói chuyện với ai không ?”. Tôi lắc đầu không biết. Anh nói : “ Cụ Hoàng Minh Chính đấy! Một con người yêu nước nhiệt thành”. Tôi giật mình, thầm nghĩ, tại sao những con người như thế này đảng và nước lại nói là “ phản động” rồi bị tống vào tù nhỉ? Sau này tôi đọc nhiều bài báo “ lề phải” kết “tội”  cụ Hoàng Minh Chính, tôi thấy thương cho cụ hơn. Giá như các vị lãnh đạo đảng cộng sản thành tâm, biết lắng nghe, cùng chân thành trao đổi với những nhà văn, nhà tri thức lớn có ý kiến, kiến nghị phản biện, tìm hướng đi mới  cho dân tộc thì đảng cộng sản vẫn giữ được uy tín, dân ủng hộ và như vậy làm gì phải lo đối phó với “ luận điệu tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch” , rồi cứ phải thanh minh, thanh nga về “ tù chính trị” trước dư luận quốc tế.  Mà những người gọi là “ bất đồng chính kiến” với đảng bị đi tù, theo nhận xét của tôi, đó là những người trí thức lớn, có tâm, dám nói, làm theo lẽ phải mà anh Vũ Huy Cương là một ví dụ.

            Ngày ông Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn mất ở bên Pháp, một hãng thông tấn lớn quốc tế có điện phỏng vấn anh về sự kiện này. Anh Vũ Huy Cương đã trả lời, đại ý, một cựu hoàng đế của một triều đại từng để lại nhiều dấu ấn lớn trong lịch sử Việt Nam, là người Việt Nam, tôi xin gửi lời chia buồn đến gia quyến của cựu hoàng đế Bảo Đại. Điều thứ hai tôi vẫn kính trọng ông Bảo Đại, vì những năm ông sống xa tổ quốc, lưu lạc nơi đất khách, quê người, ông vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, khẳng định mình là người Việt Nam. Điều nữa tôi kính trọng ông Bảo Đại, đang ở đỉnh cao quyền lực nhưng trước yêu cầu của lịch sử, của dân tộc, nếu thấy việc làm của mình  có lợi cho tương lai dân tộc, đất nước ông sẵn sàng thoái vị, nhường quyền lãnh đạo cho một chính thể mới. Đó là một điều không dễ dàng của một vị hoàng đế, không dễ có trong lịch sử, nhưng ông Bảo Đại đã làm được. Sau ông Bảo Đại, hình ảnh sẵn sàng thoái vị của một vị lãnh đạo, hay một chính thể , khi cả dân tộc nhìn thấy vị lãnh đạo đó, chính thể đó trở thành vật cản của lịch sử, ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại, không lặp lại. Vì thế tôi kính trọng và nghiêng mình trước cái chết của cựu hoàng Bảo Đại.

             Phải đến mấy ngày sau, sau cuộc trả lời phỏng vấn của anh Vũ Huy Cương về cái chết của cựu hoàng đế Bảo Đại với hãng thông tấn nước ngoài thì Bộ ngoại giao Việt Nam mới gửi lời chia buồn đến gia quyến của cựu Hoàng!!!

            Ngày anh Vũ Huy Cương mất, tôi đã về lại cơ quan cũ ở Đà Nẵng. Nhận được tin này tôi sững sờ, vì trước đó ít lâu tôi còn nhận được thư anh và tấm ảnh anh chụp chung với nhà nghiên cứu Hàn Sỹ Phu ngay trước cửa nhà anh. Anh còn hẹn với tôi, cố gắng ra lại Hà Nội cùng với anh xuống Hải Phòng thăm nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Không thể ra được, tôi gửi vòng hoa ra viếng. Sau này họa sỹ Văn Sáng gặp tôi có kể lại đám tang này, một đám tang cũng “ không yên ổn” vì chuyện “ thế sự” vì có nhiều người gọi là “ bất đồng chính kiến” tham dự. Dẫu thế, tình người vẫn lớn, ngoài người thân, đi theo xe tang của anh là rất đông các bạn văn, thơ kính trọng anh, họ bất chấp tất cả, đưa anh đến tận nơi an nghỉ cuối cùng.

           Anh Vũ Huy Cương sống đẹp và đến bây giờ, tôi tin, vẫn còn rất nhiều người nhớ anh.

          

]]>
http://trankytrung.com/read.php?695 <![CDATA[MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN ĐÀ LINH - Viết về bạn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sun, 14 Jul 2013 07:33:05 +0000 http://trankytrung.com/read.php?695

Nhà văn Đà Linh ( Nguyễn Đức Hùng)

 

MỘT VÀI KỶ NIỆM VỚI NHÀ VĂN ĐÀ LINH – Viết về bạn

           Nhà văn Đà Linh, tên thật là Nguyễn Đức Hùng, chơi với chúng tôi ở thủa ban đầu của NXB Đà Nẵng rất thân.  Mấy anh em chúng tôi trong NXB Đà Nẵng khi đó gồm Hoàng Hoài Nhơn, Tân, Dương Quang Hà, Kỳ Trung, Đức Hùng,  Huỳnh Kim Hùng,  Nguyễn Kim Huy, Ngô Đình Khánh… có nhiều cái chung: Cùng đồng hương Quảng Nam – Đà Nẵng, cùng tốt nghiệp đại học và lớn hơn cả là cùng một đồng vọng, cùng một chí hướng, háo hức muốn xây dựng một NXB ra tấm, ra món ở miền Trung. Gần như lúc đó, chúng tôi chỉ có một say mê về chuyện làm sách. Ăn, ngủ, thức…đều nói về sách. Ngôi nhà nhỏ của Đức Hùng cả bếp, phòng tiếp khách, vừa là phòng ngủ sát lề đường Nguyễn Chí Thanh khoảng 12 m2 thường là buổi chiều chúng tôi hay kéo đến vừa nhậu, vừa đàm đạo chuyện làm sách. Cũng ngôi nhà nhỏ này, cũng là chốn đi về của nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng như nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Thanh Thảo, nhà thơ Ngô thế Oanh, nhà văn  Thái Bá Lợi,  nhạc sỹ, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, Nhà thơ Bùi Minh Quốc, … Đặc biệt có một nhân vật mà chúng tôi không thể nào quên là kiến trúc sư người Ba Lan Kazich, ông là khách quen đến độ gần như là người nhà của ngôi nhà này.  Ngôi nhà tưởng chật nhưng kỳ thực chủ nhân rất rộng lòng, lúc nào trong nhà Đức Hùng cũng để sẵn món nhậu, không phải vậy thì chạy ào ra quán gần đó mua món “ phá lấu” giá rẻ lại nhiều có thể lai rai đến tận khuya. Đức Hùng lại rất thích tụ tập, điều này nhiều lúc cũng gây phiền cho gia đình. Cứ ngồi lại là chúng tôi bàn đủ thứ trên đời, gia đình lấy chỗ nào mà ngủ, nhưng cũng vì thế, đây cũng là nguồn tư liệu phong phú mà về sau để Đức Hùng đưa vào nhiều truyện ngắn của mình.

           Buổi ban đầu của NXB Đà Nẵng, điều tuyệt vời, là có nhiều  người tâm huyết với nghề này. Đức Hùng là một trong nhưng con người như vậy. Lúc đó Đức Hùng là kế toán trưởng, nắm quyền thu chi trong tay, lại được Ban giám đốc tin tưởng nên khi chúng tôi tiếp cộng tác viên, nhất là với văn nghệ sỹ nổi tiếng, Ban giám đốc và Đức Hùng duyệt chi rất phóng khoáng. Thời đó, ở NXB Đà Nẵng, được đánh gía là thời hạnh phúc nhất, vì chúng tôi có nhiều điều kiện thuận lợi: Tài chính dồi dào, có lãnh đạo biết người, biết việc. Ngày ấy NXB Đà Nẵng gần như là một ngôi nhà lớn được tiếp đón các nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu, nhà sử học... từng là niềm tự hào của văn hóa Việt như nhà văn Nguyễn Tuân, nhạc sỹ Văn Cao, nhà thơ Hữu Loan, nhà thơ Phùng Quán, nhà thơ Thu Bồn, nhà thơ Huy Cận, nhà thơ Tế Hanh, nhà văn Nguyễn Đình Thi, nhà sử học Trần Quốc Vượng, Dương Trung Quốc, nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu, nhà nhiếp ảnh Hoàng Kim Đáng, Nguyễn Đình Toán... Điểm lại, rất ít NXB trong cả nước có được hạnh phúc này. Các nhà văn, nhà thơ lớn, nhà nghiên cứu đó đến với NXB Đà Nẵng không phải chỉ bằng tác phẩm mà cả tấm lòng, vì thấy NXB Đà Nẵng, nhất là Đức Hùng đón tiếp rất ân cần, chu đáo. Đã nhiều lần tôi trực tiếp chứng kiến, Đức Hùng lấy cả tiền lương của mình đến đón tiếp các nhà văn, nhà thơ, không muốn cho ai biết. Mỗi lần có nhà văn, nhà thơ nổi tiếng đến NXB Đà Nẵng, người vui nhất trong NXB có lẽ là Đức Hùng. Đức Hùng sẵn sàng bỏ hết các công việc để “ hầu chuyện” các nhà văn, nhà thơ đàn anh. Sẵn có “ máu viết”  trong người, được các nhà văn như Thái Bá Lợi, nhà thơ Ngô Thế Oanh vừa là “sếp” trực tiếp của NXB Đà nẵng, lại là “ thầy” hướng dẫn cho đàn em trong buổi ban đầu viết văn, Đức Hùng có nhiều thuận lợi. Truyện vừa “ giấc mơ dòng sông” nói về việc xây dựng cây cầu quê hương, những phận đời chìm nổi trong cuộc chiến tranh, sự phấn đấu cương cường của sức người để thắng thiên nhiên… được Đức Hùng đưa vào truyện vừa này. Trong những người viết văn sớm, cũng sớm trở thành Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam thuộc thế hệ chúng tôi ở Đà Nẵng – Quảng Nam có tên Đức Hùng.

          Buổi ban đầu của NXB Đà Nẵng, chúng tôi sống như anh em trong một gia đình lớn. Nhiều chuyện vui, không thể không kể ra đây. Hồi ấy Kim Hùng có chuyện buồn, mà hễ buồn là Kim Hùng uống rượu, rượu vào lời ra, có lần Kim Hùng đến nhà Đức Hùng vừa uống rượu vừa tâm sự đến tận khuya. Nếu như ở công viên, hay ở cơ quan thì không sao, đằng này lại ở nhà của Đức Hùng, phải để cho vợ, con của Đức Hùng còn ngủ nữa chứ!  Tìm cách kéo Kim Hùng về, đưa Kim Hùng về đến khu tập thể, vào tận giường ngủ chúng tôi mới yên tâm. Có ai dè … sáng sau Đức Hùng đến cơ quan kể cho chúng tôi nghe. Kim Hùng chỉ nằm được một lúc rồi ngồi dậy, đi bộ đến nhà Đức Hùng, gọi Đức Hùng ra để tâm sự. Đức Hùng ngồi với Kim Hùng cho đến tận sáng.

          Hồi đó, chúng tôi sống với nhau là như thế.

          Còn chuyện tìm bản thảo hay, có chất lượng, có lẽ Đức Hùng, trong những năm đầu NXB Đà Nẵng là người nhiệt tình nhất. Bản thảo ở đâu? Xa  xôi bao nhiêu Đức Hùng cũng động viên anh em cố tìm bằng được. Những bản thảo hay như “ "Bá tước Môngtơ Crítxtô", "Hoa tuy líp đen" “ Hoàng hậu Mácgô”, “ Người thất bại trở về”, “ Hành tinh khỉ”, “ Trường sinh học”, “ Tuyển tập thơ miền trung thế kỷ XX”, “ Tuyển tập văn miền trung thế kỷ XX”, “ Một tiếng đờn”… xuất bản trong thời kỳ này, có dấu ấn của Đức Hùng, tạo được uy tín trong lòng bạn đọc.

        Tôi còn nhớ một kỷ niệm…

         Năm 1990 – 1991 đất nước bắt đầu bước vào giai đoạn “ đổi mới” rất cần những cuốn cách có nội dung tuyên truyền về vấn đề này. Đức Hùng, sau những ngày đêm suy nghĩ, đề nghị Ban biên tập chúng tôi làm một cuốn sách có nội dung giới thiệu tiềm năng kinh tế của các tỉnh miền trung với bạn bè trong nước và quốc tế bằng hai thứ tiếng Việt – Anh. Sau mấy cuộc họp bàn bạc đi đến thống nhất, chúng tôi lấy tên cuốn sách đó là : “ Miền Trung cơ hội đầu tư và phát triển”. Có lẽ đây là cuốn sách song ngữ đầu tiên của một NXB ở miền trung. Mặc dù lúc đó rất bận về vai trò của một kế toán trưởng, nhưng Đức Hùng bỏ hết, cùng tôi rong ruổi suốt một tháng trời, đi hết mấy tỉnh miền trung để chuẩn bị nội dung cho cuốn sách này. Chúng tôi đã gặp   gần như đầy đủ các vị lãnh đạo của các tình, các tập đoàn, xí nghiệp lớn trong khu vực miền trung, thuyết phục họ ủng hộ việc làm của chúng tôi. Lúc đó gần như chúng tôi đi cũng vì sách, ăn, ngủ cũng vì sách. Khi hoàn thành cuốn sách cũng là thời gian gần tết, tôi, Đức Hùng cùng toàn bộ ban giám đốc NXB Đà Nẵng lại lên đường để phát hành. Rất mừng, dù là ngày cận tết, nhưng do sự nhiệt tình của mọi người, nhất là Đức Hùng, công tác phát hành sách vô cùng thuận lợi. Sách phát hành xong, NXB thu được một nguồn tài chính đủ để cho anh chị em trong NXB đón tết vui vẻ, và hạnh phúc nhất cho anh em chúng tôi lúc đó, cuốn sách ra đời do ý tưởng của Đức Hùng được nhiều lãnh đạo các tỉnh miền trung đón nhận, họ gửi lời cảm ơn ban giám đốc NXB Đà Nẵng.

         Còn một điều nữa, cũng phải nói ở Đức Hùng là sự ham viết. Có thể nói chuyện với Đức Hùng cả ngày về chuyện văn thơ,  về chuyện sáng tác. Sự tìm tòi, mày mò cố gắng tạo cho mình một phong cách viết riêng biệt là có ở Đức Hùng. Đọc những truyện ngắn mà Đức Hùng sáng tác như : “ Nàng Kim Chi sáu ngón”, “ Ngôi nhà sáng tạo”, “ Chuyện của Người”… Cách viết của Đức Hùng tôi cho là lạ. Những truyện ngắn của Đức Hùng, nếu đọc lướt qua, có thể có người không hiểu, nhưng đọc kỹ, săm soi từng chữ, từng dòng sẽ hiểu ý tác giả dấu đằng sau những dòng chữ lên xuống kia. Gần như hiện thực cuộc sống, những điều thực trải qua, Đức Hùng đưa tất cả vào truyện ngắn của mình. Đức Hùng có năm, sáu tập truyện ngắn đã in. Ngoài truyện ngắn, Đức Hùng có sáng tác thơ, tất nhiên thơ không là thế mạnh của Đức Hùng. Gần đây, Đức Hùng mạnh dạn đi vào con đường dịch thuật, làm việc chăm chỉ miệt mài…  Đức Hùng dịch tác phẩm “ Cảm ơn” của tác giả Đaniel Pennac phải nói là sự kỳ công, vì tôi được biết, ngay như tác phẩm này ở bên Pháp, nhiều người Pháp đọc còn không hiểu, thế mà Đức Hùng cố gắng chuyển ngữ tác phẩm này sang tiếng Việt, cho người Việt đọc thì quả là quá giỏi!

          Điều ước muốn cháy bỏng của Đức Hùng là xuất bản sách phải ra xuất bản, không chạy theo những thị hiếu tầm thường. Hoặc hơn nữa, sách của NXB Đà Nẵng phải là những quyển sách “ nặng” về chất lượng, “ sáng” về tầm tư tưởng, tri thức. Nên thế thời Đức Hùng giữ chức Phó giám đốc kiêm tổng biên tập, NXB Đà Nẵng có một số quyển sách gây tiếng vang,  được bạn đọc đánh giá cao như “ Tuyển tập Trần Dần”, “ Thế giới phẳng”…Với những quyển sách “lớn” như thế này, sự dũng cảm của Đức Hùng được bạn đọc ghi nhận, nhưng về quyền lợi Đức Hùng cũng chịu nhiều thiệt thòi!!!

           Những năm sau này, do nhiều nguyên nhân khách quan, cộng với việc để có điều kiện chăm sóc sức khỏe, Đức Hùng chuyển ra Hà Nội làm việc tại NXB Lao Động. Dẫu vậy, những thời gian đầu của NXB Đà Nẵng, khi nhắc lại những kỷ niệm, không ai trong chúng tôi lại không nhắc đến Đức Hùng.

 

        Một con người để lại dấu ấn sâu đậm nhất về sự hình thành và phát triển của một NXB miền trung.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?629 <![CDATA[MỘT VÀI KỶ NIỆM NHỎ VỀ ĐẠO DIỄN HẢI NINH]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 07 Feb 2013 01:06:25 +0000 http://trankytrung.com/read.php?629
MỘT VÀI KỶ NIỆM NHỎ VỀ ĐẠO DIỄN HẢI NINH
 
          Thực tế, tôi không biết nhiều về ông, nhưng xem phim của ông thì nhiều. Có lẽ phải kể đến “ Vĩ tuyến 17 ngày và đêm” , “ Đêm hội Long Trì”, “ Thành phố trước lúc rạng đông” và nhất là “ Mối tình đầu”. Tôi nhớ hồi đó ở bãi Cầu Giấy chiếu phim này phải chăng dây cho người vào xem trật tự, mà phải đi sớm mới có chỗ… Cũng nghĩ, được xem phim của đạo diễn nổi tiếng cũng là quý lắm rồi, còn được trực tiếp nói chuyện với ông, có lẽ là khó.
          Nhưng không ngờ, tôi được nói chuyện với ông, không phải một lần mà đến ba, bốn lần thậm chí ăn cùng mâm, chụp chung một bức ảnh…
          Nguyên do là:
          Được một người bạn thân giới thiệu, vợ chồng đạo diễn Nguyễn Thanh Vân và Nhuệ Giang vào Hội An tìm tôi, nhờ tôi giúp tìm bối cảnh và diễn viên để thực hiện quay bộ phim “Đời cát”. Nghe tiếng của hai đạo diễn này đã lâu, cũng tưởng phong cách hai người này chắc quý phái, đạo mạo… nghĩa là khó gần. Thực tế ngược lại hoàn toàn, Thanh Vân và Nhuệ Giang gặp tôi như đã biết từ lâu, nói chuyện thoả mái đặc biệt tác phong rất giản dị, không có khoảng cách với ngưòi đang nói chuyện. Tối ấy, trên gác ngôi nhà cổ của tôi, chưa được sửa chữa, dơi bay sát sàn sạt, mất điện, nóng như cái “lò bánh mỳ” thế mà vợ chồng Thanh Vân, Nhuệ Giang ngủ ngon lành. Do điều kiện, hoàn cảnh phim “Đời cát” không thực hiện quay ở Hội An mà chuyển ra Quảng Bình, dẫu thế vợ chồng Thanh Vân và Nhuệ Giang vẫn giữ quan hệ mật thiết với tôi, có điều kiện vào Hội An lại ghé thăm…
         Năm 2007, tôi được dự lớp bồi dưỡng biên kịch, đạo diễn điện ảnh do Hội điện ảnh Việt Nam tổ chức tại Huế, ở đây tôi vinh dự gặp đạo diễn Hải Ninh. Ông cùng với một số nhà biên kịch, đạo diễn nổi tiếng khác tham gia với tư cách là giảng viên cho lớp học. Biết tôi có quen với Nguyễn Thanh Vân, con trai của ông, ông rất vui. Rồi suốt mấy ngày ở lớp bồi dưỡng, ngoài những giờ lên lớp, bọn trẻ chúng tôi ( so với tuổi của ông và những nhà đạo diễn, biên kịch khác) đi đâu, ông cũng đề nghị cho đi theo, không quản tuổi cao. Với lớp trẻ, hình như ông không câu nệ tuổi tác, sự nổi tiếng mà hình như ông cố truyền hết những kinh nghiệm mình có cho lớp trẻ chúng tôi lĩnh hội. Ông nói: “ Phải sống chết với nghề, phải coi một bộ phim là danh dự của người đạo diễn, không được làm hoen ố. Nếu làm phim muốn để nổi tiếng, điều đó dễ dẫn đến thất bại… Các em cần đọc nhiều, xem nhiều, đi nhiều, khiêm tốn sẵn sàng đón nhận mọi sự phê bình để làm phim sau tốt hơn…”. Ông hỏi tôi về viết kịch bản phim. Tôi thành thực trả lời, đây là việc hoàn toàn tay ngang, chỉ nhờ những người bạn tốt như Phạm Ngọc Tiến, Nguyễn Quốc Trọng, Hữu Mười… giúp đỡ, sửa chữa kịch bản, phim mới dựng được, đến bây giờ tôi vẫn còn lúng túng lắm. Ông động viên: “ Điều đó không sao! Em vẫn cứ phải viết, viết chăm chỉ. Được kịch bản nào, em có thể đưa cho những người bạn thân, có kinh nghiệm viết kịch bản điện ảnh xem và góp ý. Hoặc nữa, em đưa cho vợ chồng Thanh Vân, Nhuệ Giang xem, góp ý…”.
          Đến Đại hội điện ảnh vừa rồi ở Hà Nội, tôi lại gặp ông. Gặp tôi, ông nhận ra và hỏi : “ Từ đó đến giờ em có viết thêm kịch bản nào nữa không?”.
          Tôi không biết trả lời với ông thế nào? Cũng cảm thấy xấu hổ vì những lời khuyên chân thành của ông, mình đã không thực hiện được.
         Cũng tự hứa, mình sẽ gắng viết kịch bản. Biết đâu, cũng được dựng thành phim, lúc đó mới dám đến gặp và nói chuyện với ông.
         Nhưng ,việc đó sẽ không bao giờ trở thành hiện thực nữa, đạo diễn Hải Ninh về với thế giới người hiền, để lại thương tiếc cho bao nhiêu người…
         Tôi vẫn nhớ mãi nụ cười hiền hậu và tiếng nói trầm, chân tình của ông…
 
 

Đạo diễn Hải Ninh ( ngoài cùng bên phải ) và tác giả ( đứng giữa) cùng với một số hội viên HĐA Việt Nam thăm một di tích lịch sử ở Huế

Tác giả cùng đạo diễn Hải Ninh thăm di tích Mỹ Sơn ( Quảng Nam)

]]>
http://trankytrung.com/read.php?618 <![CDATA[TIN BUỒN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 08 Jan 2013 12:52:14 +0000 http://trankytrung.com/read.php?618  

TIN BUỒN

Anh Hoàng Trọng Dũng, tác giả tập truyện ngắn " TRÒ CHUYỆN VỚI MƯA" mà trankytrung.com đã giới thiệu. Sau một thời gian bị bạo bệnh, được gia đình, người thân, các bác sỹ tập trung chăm sóc, cứu chữa, nhưng do bệnh quá nặng, không qua khỏi.

Anh Hoàng Trọng Dũng từ trần lúc 17h ngày 7/1/2013.

trankytrung.com xin gửi lời chia buồn thống thiết nhất đến gia quyến của anh Hoàng Trọng Dũng và mãi mãi nhớ đến anh, một con người sống đẹp với gia đình, bạn bè và với những trang văn rõ chữ "ĐỜI" nhất.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?617 <![CDATA[HOÀNG TRỌNG DŨNG - THƯƠNG QUÁ TRÒ CHUYỆN VỚI MƯA]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Mon, 07 Jan 2013 07:03:24 +0000 http://trankytrung.com/read.php?617 HOÀNG TRỌNG DŨNG – THƯƠNG QUÁ “ TRÒ CHUYỆN VỚI MƯA” – Viết về bạn
 
 
 
Tập truyện ngắn " trò chuyện với mưa" - Tác giả : Hoàng Trọng Dũng
 
Tôi chơi thân với với Hoàng Hoài Nhơn, em của nhà văn Hoàng Trọng Dũng, vì thế biết anh. Anh cũng coi tôi như em trai của anh ấy, nên dễ nói chuyện.
Cách đây cũng không lâu, anh khoe với tôi, sắp ra một tập truyện ngắn mới, tôi mừng cho lực viết của anh. Hoàng Trọng Dũng là người viết không nhiều, nhưng mỗi truyện ngắn anh viết, mỗi tập truyện ngắn anh in đều có sức “nặng” nhất định. Bởi, Hoàng Trọng Dũng viết không hề lấy tiếng, lại càng không phải để khoe, tận cùng là sự chiêm nghiệm, là sự giãi bày nhân tình thế thái, viết để giải toả mọi nỗi bức xúc của bản thân.
Có thể vì thế, tập truyện ngắn anh mới in lấy tiêu đề “ Trò chuyện dưới mưa”. Trong tập truyện ngắn này, anh không muốn để tên thật, bìa 4 chỉ một mầu, không minh hoạ ảnh chân dung, thậm chí vài dòng sơ yếu lý lịch cũng không có.
Bình lặng vẫn hơn.
Nghe tiêu đề sách “ Trò chuyện với mưa”, không cần đọc truyện, cũng thấy sự thầm lặng, cô đơn, một mạch văn không hừng hực, ngoa ngôn, chỉ là sự trò chuyện thủ thỉ của bản thân, không muốn người bên ngoài biết. Nhưng đó là cái nhận xét ban đầu, đọc kỹ từng chuyện trong tập truyện ngắn này, mới nghiệm ra rằng, nhận xét đó mới động chạm, phớt qua một mảng mầu xanh vách núi mà không hề biết bên trong một năng lượng ngầm đang tích tụ, chờ đúng dịp để bùng phát.
Ngay trong truyện ngắn đầu tiên “ Tiếng biển”, Hoàng Trọng Dũng dẫn người đọc đến thăm một ông già, cả cuộc đời chỉ có biết về biển. Biển gắn với cuộc đời, ông già không cần biết chữ, cũng không cần ai dạy mình phát âm, chỉ cần ra dấu về biển là ông hiểu hết. Biển là suy nghĩ, là hơi thở, là ngôn ngữ, là hành động của ông Một bức tranh ông vẽ trước khi mất, dẫu đó chỉ là nhưng nét sơ lược gửi lại hậu thế, phải giữ biển đến muôn đời. Ông già không nói được, nhưng cả cuộc đời của ông, qua câu chuyện Hoàng Trọng Dũng đã kể, mới biết rằng, chúng ta để mất biển, không phải chỉ là nỗi đau của một dân tộc, mà cụ thể, nỗi đau đó, nó thấm đến tận da thịt của con người, đến chết vẫn còn khắc khoải, mắt nhắm không yên, cụ thể nhất, như ông già câm trong truyện ngắn “ Tiếng biển”.
Câu chuyện kết thúc tưởng đơn giản, nhưng gấp sách lại, ý nghĩ của người đọc vẫn không thể dứt khỏi câu chuyện. Một ông già câm sống chết với biển như thế, còn những con người đang sống, lành lặn, có quyền ăn nói nghĩ với biển như thế nào? Có dám giữ biển và sống chết với biển không? Một câu hỏi lớn không dễ tìm ra lời giải đáp, nhất là lúc này!
Cả một tập truyện ngắn gồm 17 truyện ngắn Hoàng Trọng Dũng, với những nội dung khác nhau, nhưng đọc kỹ hóa ra liền mạch, là bởi, cả 17 truyện ngắn của Hoàng Trọng Dũng đề cập một xã hội đang chênh vênh thế đứng, những số phận con người đang đong đưa với lý tưởng, tương lai vô định. Chỉ cần một chút an ủi ví như được ký hợp đồng, được vào biên chế, cho dẫu mức lương chẳng phải là một con số “tiểu”, thế mà cũng có cảm giác thay đổi số phận như nhân vật Ninh, trong truyện ngắn cùng tên. Hoặc như trong truyện ngắn “ Cổ tích tình”, sống nhân hậu với nhau, không làm điều ác, sẵn sàng vì bạn và cả vì tình người thực sự, cứu vớt sự lầm lỡ, ý nghĩa lớn hơn rất nhiều với những lời nói khoa trương, nó sẽ đè bẹp sự hận thù.
Đọc tập truyện ngắn “ Trò chuyện với mưa” tôi phục Hoàng Trọng Dũng với sự quan sát tinh tế, không bỏ sót bất cứ chi tiết nhỏ nhặt nào trong sự náo nhiệt, xô bồ của cuộc sống, để biến những chi tiết đó thành chi tiết đắt trong câu chuyện mà tác giả muốn kể lại cho người nghe. Như truyện ngắn “Oanh”. Oanh chỉ là một cô giúp việc nghèo, nhưng tâm tính tốt, biết thưởng thức văn hóa, nhiệt tình công việc…Những con người như thế, trong xã hội đầy tính nghiệt ngã này, có nhiều, nhưng rất ít được để ý. Để ý làm gì, giờ thì người ta để ý đến chức quyền, nhà lầu xe hơi, ví đầy tiền, chân dài, hoa hậu, những cuộc ăn chơi, khoe khoang thế, lực, lợi dụng lẫn nhau… Trong một gia đình trí thức, có cô Oanh giúp việc cũng vậy, họ ít để ý đến cô Oanh. Nhưng khi vắng cô ấy, căn nhà tự nhiên như mất “hồn” chết lặng, làm việc gì cũng khó, kể cả chuyện bán nhà. Khi cô Oanh trở về làm việc, mọi việc lại đâu vào đó, hành thông, con người sống trong ngôi nhà đó nhẹ nhàng hơn, đối xử với nhau nhân hậu hơn… Suy cho cùng, cái tốt, nhất là tốt về đạo đức vẫn là sự trường tồn, còn cái “ xấu”, lại xấu về đạo đức, dù có một xã hội đang báo động về sự suy đồi đạo đức, cái xấu đó cũng không thể tồn tại lâu dài…Hay như truyện ngắn “ Chiếc phong bì không tên người gửi”. Đám cưới của con gái, tác giả nhận được rất nhiều quà mừng. Kể ra, vợ chồng đã về hưu, bạn bè còn nhớ, còn đến dự đám cưới của con gái, thế cũng là hạnh phúc, hơn bao nhiêu kẻ về hưu, bạn bè lặn mất tăm. Nhưng điều tác giả áy náy, gợn rất nhiều trong trí nhớ là có chiếc phong bì của ai đó tặng hai cháu, không đề tên người dự, trong phong bì chỉ có hai chục nghìn đồng, đồng tiền cũ, nhàu nhĩ. Với Hoàng Trọng Dũng, chiếc phong bì đựng tờ hai chục nghìn đó, là một ân nghĩa, mình làm tốt với người ta, người ta biết ơn mình, nhưng phận chìm, bạc với danh phận, tự ty, nhưng không thể không đến. Đến lại sợ người ta hiểu sai về mình, đưa vội chiếc phong bì, có khi, người đó không dám vào dự đám cưới! Tác giả luôn nghĩ tốt về việc đó, tự trách mình nhiều hơn, lẽ ra phải biết người gửi để có một lời cảm ơn. Chi tiết hay, cuối truyện mà tôi cho anh viết giỏi, là có phong bì của người bạn thân tặng cho hai cháu, bên trong có năm mươi tờ vé số, người cha của hai cháu cũng không muốn dò xem có trúng hay không? Không trúng cũng chẳng làm sao, nhưng trúng, khi người ta đề tên thật của mình, rồi thì… phải giải quyết thế nào? Ơn nghĩa bằng tiền, bằng hiện vật, trả lại cho nhau, rất mệt. Sống với nhau bằng tình cảm, như người không đề tên có phong bì mừng đám cưới hai chục nghìn kia, lại thấy hay hơn.
Trong tập truyện ngắn này, tôi thích truyện ngắn “ Nếp nhà”. Nội dung của câu chuyện hết sức đơn giản, đó là tính nghiêm khắc của người cha, là sự tôn ti trật tự của ngôi nhà có trên, có dưới. Những người trí thức, được đi học ở nước ngoài, nhưng về đến nhà, vẫn giữ nếp gia phong, kính trọng người trên, nhường nhịn người dưới, đừng lai căng, sao chép, giáo điều… Một ngôi nhà cổ kính, con người sống truyền thống nhân hậu, mặt tốt cần phát huy, ngôi nhà đó mới bền vững. Còn không phải thế, chẳng riêng gia đình, cả xã hội sẽ loạn.
Một truyện ngắn đọc đều đều, không có những đoạn gay cấn, thắt nút, nhưng ý nghĩ nhân văn không nhỏ.
Tôi nghĩ, đây là sự thành công của truyện ngắn này.
Đọc hết mười bảy truyện ngắn trong tập truyện ngắn” Trò chuyện với mưa” tôi nhận thấy, với Hoàng Trọng Dũng, anh không hề có cái nhìn ác ý, hoặc như một thiên kién xấu với bất cứ sự kiện hay con người nào, dù người ta có thể chơi “ác” với mình. Một cái nhìn nhân hậu thấm đẫm, ngọt ngào, bao dung, không trách phận. Có lẽ đây cũng là nhân cách cần có của một người cầm bút. Từ chuyện quan hệ với hàng xóm, vợ chồng, đồng nghiệp, những sở thích của người mẹ thích xem bóng đá nhưng không hiểu bóng đá như trong truyện ngắn “ Chơi bóng bằng tay”, hay như “ Đ…mẹ chú Hai!”…Hoàng Trọng Dũng dùng toàn những lời văn nhẹ nhàng, tâm sự. Tốt một điều, qua những sự việc đó, bản thân tác giả cũng như người đọc rút ra được những bài học đối nhân xử thế tốt hơn, đẹp hơn. Nhìn đời, cho dù có bão tố, có nhiều điều nghịch lý, coi trọng vật chất hơn tinh thần, thậm chí quan hệ với nhau bằng thủ đoạn, nhưng, giữ được sự bình yên tâm hồn, không thù nghịch, quan tâm nhiều đến người thân, vợ con, sẽ nhận ra đâu là hạnh phúc, như trong truyện ngắn: “ Cô vợ anh hàng xóm”. Truyện ngắn là một lời trách cứ nhẹ nhàng của người vợ có chồng đi công tác xa. Người chồng lúc nào cũng chỉ nhớ những lồng chim nuôi ở nhà, vợ, con không một lời nhắn thăm. Còn vợ ở nhà, ngoài việc chăm sóc những lồng chim của chồng, một điều chị nhớ nhất đó là hơi thở, mùi mồ hôi, áo quần của chồng. Và nhớ hơn cả, như chị nói cuối truyện ngắn: “ Vợ con không hỏi một lời, lúc nào cũng chỉ chim!...chim!Có một con chim nuôi hoài vẫn chừng ấy mà cứ bày đặt!”.
Lời trách cứ của vợ nghe mà thương.
Truyện ngắn: “ Hậu và những chú cá hoa la hán”, tác giả viết có yếu tố hài, cứ tưởng cá la hán đẻ sẽ mang lại bạc triệu cho mình , khi vợ thông báo.Đến khi biết rõ đó là con gái đẻ ra một cu con, chứ không phải mấy con cá la hán kia, nhân vật Hậu trong truyện ngắn thốt lên “ Ái dà!”.
Nhân cách nhân vật này lộ rõ sau tiếng “ Ái dà!”, cũng là bài học cho người đọc, đâu là “tình người” , đâu là “ tình vật”. Con cá la hán dâũ là bạc triệu, cũng không thể có hạnh phúc bằng trong nhà giàu có, lại trống vắng tình người tự nhiên có tiếng khóc “ oa…oa…” của trẻ thơ.
Đọc hết tập truyện ngắn “ Trò chuyện với mưa” của Hoàng Trọng Dũng, ta sẽ thấy yêu đời hơn, những tị hiềm, đố kỵ, thủ đoạn xấu, gian manh chẳng là gì, nếu như chúng ta sống tốt với nhau.
Tôi rất hy vọng được chữ ký của anh Hoàng Trọng Dũng ký tặng tập sách này. Nhưng… điều này không thể, Hoàng Trọng Dũng bị bạo bệnh, rất nặng. Người ký tặng sách thay anh là nhà thơ Ý Nhi, chị ruột của Hoàng Trọng Dũng, một nhà thơ tôi rất kính trọng.
Tôi vẫn mong anh Hoàng Trọng Dũng sẽ khỏi bệnh, viết tiếp nhiều truyện ngắn.
Không phải riêng tôi mà nhiều bạn đọc thân thiết với anh cũng mong điều này.
Hãy trở về với đời, nghe anh!
Chúng em đợi.
---------------------------
 
 
 
 
 
 
 

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?615 <![CDATA[TÁM ƠI!THẾ LÀ MƯỜI NĂM RỒI - Viết về bạn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sun, 30 Dec 2012 12:29:58 +0000 http://trankytrung.com/read.php?615

Nhà thơ Trần Khắc Tám

( 1954 - 2002)

 

TÁM ƠI ! THẾ LÀ MƯỜI NĂM RỒI.
( Nhân giỗ mười năm ngày mất của Nhà thơ Trần Khắc Tám) – Viết về bạn
 
Mới đó mà Tám đã xa bạn mười năm.
Thời gian trôi vụt đi như thoáng chốc, có khi làm cho người ta không kịp ngỡ ngàng, để giật mình quay lại. Đến khi quay lại, nhẩm tính, tự trách bản thân và thương bạn hơn.
Trần Khắc Tám, cái tên rất quen, rất nhớ với tôi. Dáng người nhỏ thó, đi đứng điềm đạm, ăn nói từ tốn, tôi chưa bao giờ thấy Tám nóng giận, to tiếng với ai. Xung quanh nhiều ngươì còn muốn ăn thua, sỹ, tỏ ra hơn mình, nhìn thấy thế Tám buông một câu, làm tôi mát lòng: “ Kệ họ, ông ạ! Cuối cùng, chỉ cần ông nhớ tôi, chơi với tôi là được”.
Tám ơi! Mười năm, không phải một mình tôi, mà còn rất nhiều người nhớ đến Trần Khắc Tám. Rõ nhất, nhớ ngày mười năm Tám đi xa, chúng tôi, Nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Thanh Quế, nhà thơ Ngân Vịnh, nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên, nhà thơ Nguyễn Kim Huy, nhà báo Đức Hùng ( báo Thanh Niên)… đến với Tám, để muốn nói rằng, với Trần Khắc Tám, chúng tôi rất nhớ, nhớ rất nhiều.
Những lúc ngồi một mình, tôi hay lần những bài thơ, truyện của bạn thân ra đọc. Tôi đọc thơ của Trần Khắc Tám, tự nhiên giật mình. Hình như Tám đoán trước được ngày “đi” của mình, nên bài thơ “ Ngày sinh nhật” phải là bài thơ vui chứ. Phải có nhiều người chung vui chứ. Nhưng không! Trong bài thơ đó, hình như Tám đoán định tương lai chắc chắn mình sẽ đến, sẽ gặp trong một ngày rất gần. Toàn bài thơ ngằn ngặt nỗi buồn:
 
…Chào ngày sinh nhật của tôi
Tôi và ai nữa sẽ ngồi với nhau
Hoa hồng mấy đóa trên bàn
Làn hương mỏng mảnh tiếng đàn nhẹ rơi
Nỗi buồn ngồi với niềm vui
Nước mắt rơi chạm nụ cười trên môi
Mỗi năm chỉ một ngày thôi
Tôi với tôi nữa lại ngồi với nhau
 
Trích trong bài thơ “ Ngày sinh nhật”
 
Không phải riêng tôi nhận xét như vậy, Đức Hùng ( phóng viên báo Thanh Niên), người chơi thân với Tám, lo cho Tám đến tận phút cuối cùng, nói với tôi: “ Lạ ông ạ! Cả tập thơ của Tám, ít có câu “ cười” mà đọc lên, chỉ có những câu “ trực trào nước mắt”, cả chuyện Tám linh cảm nữa, như thể sẵn sàng cả rồi, cho dù nó đến rất bất ngờ!”.
Một tương lai đoán định như thế, nên Tám phải sống gấp, nói gấp, nói như trải hết cả nỗi lòng của mình không dấu ai. Với bạn, chơi thật thân, không làm ai giận, sống thật nhân hậu, nếu không may ra đi cũng không phải nuối tiếc, ân hận. Với thơ, văn , giăng rộng lòng ra, quên đi bản thân, chỉ viết về những người mình thương yêu nhất. Hình như, những lúc đó Tám nghĩ, mình chỉ là hạt bụi, nhắc đến làm gì.
Điều đầu tiên, tôi đọc thơ của Trần Khắc Tám, nhớ nhất, thương bạn nhất là những vần thơ Tám nói về người Mẹ kính yêu. Câu thơ nổi tiếng của Tám viết về Mẹ : “ Nhìn về đâu cũng thấy vắng một người” ( Đi chợ chiều nhớ mẹ). Đọc câu thơ đó, tôi cứ nghĩ mãi, tại sao mình cũng thương Mẹ mà không nói được những điều như bạn của mình đã nói, hay như những câu thơ dưới đây, Tám viết về Mẹ thật cảm động:
 
Nhớ về tuổi thơ làm sao quên
Những buổi chiều ngóng đợi
Bóng mẹ đi như chạy giữa cánh đồng
Dường như ở nhà mẹ sợ con khóc
Con không hiểu thời mẹ là con gái
Mẹ ơi có sung sướng gì không ?
Giờ cứ gặp trầu cau là ngỡ thấy
Mẹ vẫn cười hồn hậu trước mặt con
 
Trích trong bài thơ :“ Mẹ”
 
Thơ của Tám viết về Mẹ có thể chưa phải là những câu thơ hay nhất, nhưng đọc thơ, nhiều câu rất nhớ, rất thương:
Người ta đua nhau đối diện với thiên tài
Con ao ước được ngồi bên Mẹ
Được nhổ tóc sâu ngắm mẹ nhai trầu
Mẹ mong con đừng đi xa
Mẹ mong con lấy vợ quê nhà
Với Mẹ con là chiếc gậy
Nâng đỡ Mẹ đi những giây phút cuối đời…
 
Trích trong bài thơ “ Bên Mẹ”
 
Nếu chịu khó quan sát kỹ một chút, thấy ở nét mặt của Tám lúc nào cũng phảng phất buồn, đến cả nụ cười của Tám khi nói chuyện với bạn, cũng ít khi thành tiếng. Người như thế hay sống nội tâm. Nên thế, thơ của Trần Khắc Tám, dễ tìm ra những bài thơ trăn trở về số phận, trăn trở về những cuộc đời bất hạnh. Chỉ một tiếng rao đêm trên con phố vắng mà Tám cũng thấy:
 
Một tiếng rao đêm bay vào gác xép
Dường như bụng người rao lép kẹp
Ai mua bánh ú bánh chưng đây
Tiếng rao tơ non như em gái tôi
Tiếng rao tạt vào giấc ngủ
Tiếng rao xoay nghiêng ngửa cả căn phòng
Đói thì tôi không đói nhưng làm sao tôi ngủ
Tiếng rao như em như Mẹ bay vào
 
Trích trong bài thơ “ Tiếng rao đêm”
 
Với người Chị, Tám viết:
 
… Đói rách cần bàn tay
Đêm tối cần con mắt
Yêu nhau cần thấy mặt
Mùa gặt cánh cò bay
 
Năm mươi năm nay
Chị tôi sống với đồng với ruộng
Với ao bèo cọng muống
Hạt lúa treo lơ lửng trước con người
Đòn gánh mài vai chị mòn hai phía
Chị đi như chạy
Chị đứng như run
Thấp thoáng trong tôi một cánh buồm gầy guộc.
 
Trích trong bài thơ : “ Bài thơ gửi chị”
 
Với người anh đi viếng mộ Cha, giọng thơ của Trần Khắc Tám cũng run lên bần bật:
 
… Tuổi năm mươi tóc bạc trắng anh gọi cha
Giọng run run như hồi ba tuổi
Cha nằm dưới đất sâu hai thước
Tiếng anh gọi hình như cha nghe được
Cỏ trên mồ khe khẽ rung…
 
Trích trong bài thơ: “ Cùng anh trai đi viếng mộ cha”.
 
Tôi tâm đắc với câu thơ: “ Cỏ trên mồ khe khẽ rung…”. Chỉ có thương anh đến cháy lòng mới có thể chú ý được một chi tiết “đắt’ như thế!
Đến một người hàng xóm cô đơn, liền vách, chỉ một cái trở mình, cũng làm cho Tám không ngủ được và viết:
 
…Bên này tôi chưa ngủ
Nghe bên ấy trở lưng
Nghe bên ấy thở dài
Bên này tôi ái ngại
 
Nhân tình và thế thái
Bên ấy có sao không
Vui như hoa như nụ
Buồn như lá sang thu
Hàng xóm tôi chưa ngủ
Tôi nghe buồn bên ấy
Chầm chậm sang nhà mình
 
Trích trong bài thơ “ Hàng xóm”.
 
Trong thơ của Tám, người thân là hình ảnh hiện hữu, thường trực. một âm hưởng trộn lẫn, khó phân biệt nặng nhẹ, rạch ròi. Tuy thế, hình ảnh của vợ, con, thơ của Trần Khắc Tám có sức nặng riêng, “ nặng” kiểu vàng, khác với “nặng” kiểu sắt. Tiếng nói đầu tiên của đứa con, mà Tám reo to như thế này cũng là đặc biệt:
 
Tiếng nói đầu tiên
con gọi mẹ
tiếng nói đầu tiên
con gọi ba
mẹ - dòng sông của con
ba – chân trời mùa hạ
gọi ba và gọi mẹ
tiếng nói con ra ràng
nhẹ nhàng như ngọn gió
nhỏ bé như sợi tơ
ngàn âm thanh kết tổ
Trích trong bài thơ: “ Tiếng nói đầu tiên”
Với người vợ thân yêu, trong thơ, Tám dùng một hình ảnh mà tôi ít thấy người viết:
 
 
…nhưng chiều nay cơn mưa ập tới
mưa trắng không gian mưa trắng phố phường
em trộn vào mưa anh nhìn không thấy
rồi đột ngột hiện ra như giọt nước
anh ôm em
ôm cả trận mưa chiều
 
Trích trong bài thơ: “ Trên con đường ấy”
 
Con người yêu thương vợ, thương con dạt dào, rộng lớn như thế, trong thơ tả được Tám, không có nhiều.
Tôi muốn nhắc lại một ý, trong thơ Trần Khắc Tám luôn thường trực nỗi buồn:
 
Nhiều khi tôi buồn quá
Nằm nghe tiếng đêm rơi
Tiếng cựa của lá non
Tiễng vỗ của lá già
Trở mình gặp câu thơ
Của một thời nồng cháy
Nhiều khi nhiều khi vậy
Em cuối trời có hay
 
Trích trong bài thơ : “ Nhiều khi”
 
Dẫu buồn, Tám vẫn hy vọng, vẫn có niềm tin, nếu trong tương lai, có thể là vô định, thì hiện tại, hãy tìm tự tìm cho mình một hình ảnh cụ thể để an ủi tinh thần, như hương thơm của bông hoa, một cơn gió nhẹ trong buổi trưa hè, một chiếc lá vàng rơi đầu thu… Hãy để ý những chi tiết đó, tự nhiên cũng làm cho mình có chút nhẹ lòng, thanh thản. Chỉ một tiếng chim bất chợt trong phố Tám nghe thấy cũng tạo nên một âm hưởng lớn, dạt dào tình cảm:
 
…Và từ đó chiều nào cũng thế
Hơn một lần tôi lắng tai nghe
Giữa muôn tạp ồn ào phố xá
Tiếng chim kêu trong trẻo gọita về
Những ruộng lúa bờ tre bến bãi
Những xôn xao xóm làng gặt hái
Còn âm vang trong lòng tôi mãi
Có một cánh đồng trong tiếng chim kêu
 
Trích trong bài thơ:” “ Tiếng cù cườm kêu trong thành phố”
 
Nên thế, trong thơ của Trần Khắc Tám, một sự việc bất chợt găp, với người khác có thể không để ý, nhưng với Tám như có hồn, như có tầm suy tưởng:
 
Lá rơi trước cửa
Anh ngỡ em về
Tiếng lá rơi nhỏ
Như bước chân em
Bước khẽ lên thềm
 
Trích trong bài thơ “ Lá rơi trước cửa”
 
Tám nhìn hiện tượng cây, cỏ, nắng, mưa… hay liên tưởng đến con người, nhất là sự cống hiến một cách vô tư, không tính toán, ví như cây gòn đứng trước nhà chẳng hạn. Nó đã từng chứng kiến bao nhiều cặp yêu nhau, đứng dưới gốc cây này tâm sự. Giờ họ nên vợ, nên chồng, hoặc nữa, có thể sóng gió, không thành đôi… liệu họ có nhớ ngày nào đã đứng dưới gốc cây gòn này không? Tám viết:
 
Những cánh chim xa lạ về kết tổ
Con gái con trai về dưới gốc cây thủ thỉ
Những tình yêu ấy bây giờ ra sao
Ngay cả chúng ta cũng không biết nữa
Nhưng cây gòn còn đó
Lặng lẽ tung những bông hoa trắng lên trời
 
Trích trong bài thơ: “Với cây gòn trước cửa”
 
Tôi cứ nghĩ, giá như tất cả chúng ta sống vô tư, quan tâm đến nhau, chung niềm vui, san sẻ nỗi buồn, không tị hiềm, cống hiến tận cùng như: “ ... Tung những bông hoa trắng lên trời” giống cây gòn kia, thì đời cũng bớt nhiều nước mắt.
Mà thôi, nói nữa, viết nữa, có khi làm choTám không vui. Vì khi còn sống Tám luôn không muốn mọi người nhắc đến mình. Đến cả thơ, hình như Tám viết cũng để cho mình đọc, lúc buồn, không muốn khoe với ai.
Nhưng với Trần Khắc Tám, dù bạn không muốn, chúng tôi vẫn phải nhắc, phải viết vì rất nhớ.
 
… Sự thổn thức của trái tim bao giờ cũng thực
Mà bóng tối không thể nào xóa được
Những niềm tin ở phía mặt trời
Có lẽ nào tôi không viết về anh
Những cuộc đời các anh
Không dễ gì viết được bằng thơ.
 
Trích trong bài thơ “ tiếng hát từ trái tim”
 
Tôi dành câu thơ của Tám kết thúc bài viết ngắn này để muốn nói, chúng tôi, bạn văn thơ, thơ ở Đà Nẵng không ai quên Trần Khắc Tám.
Dẫu mười năm Trần Khắc Tám đã đi xa.
 
 
Hội An 12/2012
----------------------
Tất cả những đoạn thơ trích trong bài viết đều trích trong tập “ Tuyển tập TRẦN KHẮC TÁM – NXB Kim Đồng - 2003
]]>
http://trankytrung.com/read.php?574 <![CDATA[THẾ LÀ SƯỚNG , HÙNG Ạ! - Viết về bạn ]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 05 Oct 2012 03:18:41 +0000 http://trankytrung.com/read.php?574

        Nhà thơ, nhà báo Văn Công Hùng 

 

THẾ LÀ “ SƯỚNG”, HÙNG Ạ! – Viết về bạn bè

 

     Nghe điện thoại của anh Thái Bá Lợi giọng thảnh thốt: “ Trung ơi, Mẹ của thằng Văn Công Hùng vừa mất, mày xem làm cách nào gửi vòng hoa của tao với mày, tới viếng”. Mình cũng ngỡ ngàng, vì điều này Hùng không báo cho mình biết, mà trong lúc tang gia bối rối như thế này, có hỏi chắc gì gửi kịp vòng hoa đến nơi. Không còn cách nào khác, mình đành nhắn vội một tin chia buồn với Hùng. Đến chiều nhận được tin Hùng trả lời: “ Cảm ơn ông bạn vàng!”. Thế  là mình cảm giác an ủi phần nào, điện của người bạn phương xa đã đến được với bạn mình. Không vợi đi những giọt nước mắt, nhưng cũng là một ít lực, động viên bạn vượt qua những lúc cam co nhất của sức người.

      Bạn bè sống hết lòng với nhau, có lẽ rõ nhất là những lúc này. Mẹ của Văn Công Hùng mất, nhà văn Thái Bá Lợi báo ngay cho mình biết, còn mình, dẫu chưa bao giờ được gặp Mẹ của Văn Công Hùng, nhưng cũng cảm thấy đó là người thân, phải làm ngay một việc gì đó để động viên bạn. Đọc bài của Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết an ủi Hùng, mình cũng cảm động. Rồi khi Hùng cho biết bạn bè đến với Hùng trong những giờ phút đau đớn nhất đã an ủi, động viên Hùng rất nhiều.

         Mình nghĩ: Đến với nhau không phải vì chức quyền, tiền bạc mà đến với nhau bằng tình bẵng hữu chân thật, bằng những điều tâm sự sâu kín nhất vẫn có thể nói với nhau. Đến với nhau những điều xấu vẫn cứ nói thẳng mà không sợ bạn giận. Đến với nhau, chỉ một niềm vui nhỏ của người này cũng thành niềm vui lớn của cả nhóm, ngồi với nhau cả ngày nói không hết chuyện. Hùng đến với bọn mình bằng tiếng cười, vì bạn bè, bọn mình đến với Hùng cũng y như thế. Nên vậy, những người viết văn, làm thơ chân chính coi nhau như một gia đình, nỗi buồn vui của một người cũng là của tất cả, cùng chia sẻ. Trong thời buổi nhộn nhạo, à uôm của chính trị, xã hội, thậm cả cả văn chương nữa…thật, giả khó phân biệt. Thế mà, ngày mất của Mẹ, Hùng được bạn bè đông đảo xa, gần, thân, sơ … trên mọi miền đất nước từ vòng hoa, điện, tin nhắn gửi đến, đến chính Hùng cũng ngạc nhiên.

     Đâu có gì ngạc nhiên! Sống chân thành, vì bạn, vì mọi người, “đời” sẽ trả lại ơn.

      Mình tin, ở nơi tận xa, nếu hương hồn của Mẹ có chứng giám, chắc Mẹ của Hùng sẽ rất vui, chứng kiến được tình cảm của bạn bè Hùng đến với Hùng đẹp như thế nào?

      Và Hùng, đằng sau những giọt nước mắt khóc Mẹ, dẫu đau đớn vẫn có một chỗ dựa tinh thần rất lớn, đó là tình cảm bạn bè, những người viết văn, làm thơ chân chính , dành cho Hùng.  Không ai muốn xa Hùng, nhất là những lúc như thế này.

        Xã hội chúng ta đang sống, hiện tại không nhiều người được như thế đâu. Dẫu đám ma người thân của họ, hay chính họ to hơn, nhiều vòng hoa hơn, lời điếu nghe lâm li, thống thiết hơn…cũng chỉ đến thế, một thời gian không ai nhắc đến nữa. Thế vẫn chưa đau, có người vừa về hưu, mọi người đã coi người ấy như “chết”, không ai muốn quan hệ, không ai nhắc, thậm chí, tưởng là bạn thân thiết, không cũng muốn đến thăm… Còn Mẹ của Hùng, một người bình thường, và Hùng cũng thế, một bạn văn, bạn thơ bình thường nhưng được nhiều người thương, nhiều người còn nhắc. Và Hùng tin đi, dẫu sau này thời gian có đi xa, chúng mình gặp lại nhau, vẫn nhắc lại những ngày này, động viên Hùng, để động viên nhau, để chúng ta sống tốt với nhau, trong những ngày còn lại của đời người.

        Mình muốn xin lỗi Hùng, trong ngày này không nên nhắc những từ đó, nhưng Hùng cho phép mình nói: Thế là “Sướng” Hùng ạ!

       

]]>
http://trankytrung.com/read.php?508 <![CDATA[GỬI EM, HỌC SINH CŨ CỦA TÔI]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 11 May 2012 15:29:27 +0000 http://trankytrung.com/read.php?508

NSƯT ĐÀO ANH DŨNG

 

 

 

 

GỬI EM, HỌC SINH CŨ CỦA TÔI

 

             Tôi nhận được tin nhắn của em: “Thưa Thầy! Em xin báo Thầy tin vui là học trò của Thầy vừa được nhận NSƯT hôm 29/4 vừa qua. Cảm ơn Thầy đã đồng hành và chỉ bảo cho em nhiều năm qua …” Mừng lắm em ạ! Mừng đến độ, cứ như mình được phong NSƯT chứ không phải em. Rất muốn vào Sài Gòn chia vui với em, việc bận, không đi được, đành phải viết mấy dòng này.

              Mới ngày nào, mùa tựu trường của khoa Sử - Chính trị trường ĐHSP Quy Nhơn, em chỉ là một sinh viên bình thường như bao sinh viên khác. Có khác chăng, hay đàn hát, nghịch ngầm… Thế mà bây giờ đã trở thành một nhà quay phim, một đạo diễn phim tài liệu có tên tuổi. Tôi biết tài của em qua một bộ phim truyền hình dài tập, em vừa là nhà quay phim, đồng thời cũng là một diễn viên chính trong bộ phim đó. Gặp em, Tôi mừng về sự thành công, nhưng hình như em vẫn chưa bằng lòng với những việc mình đã làm. Em nói: “ Có lẽ em sẽ học đạo diễn và chuyên làm phim tài liệu Thầy ạ! Nói lên sự thật về những sự kiện, con người ở thời đại chúng ta đang sống để sau này con cháu chúng ta không hiểu sai về thời kỳ cha ông đã sống!”. Đó là một ý kiến hay nhưng rất khó, nhất là trong bối cảnh “ trên đường ray chỉ có một con tàu” như hiện nay. Tôi chỉ gợi ý với em: “ Làm phim tài liệu, em hãy cố gắng ghi lại đúng sự thật với những hình ảnh chân thực nhất. Làm được như vậy thế hệ sau này sẽ biết ơn em!” . Em gật đầu: “ Em sẽ nghe lời Thầy!”.  Những phim sau này em làm, tôi xem, rất vui, gần như em đã thực hiện lời của tôi từng tâm sự với em.

                Trong một bộ phim tài liệu gần đây, do em quay, đã đưa người xem đến một hòn đảo xa xôi giữa Thái Bình Dương.  Nơi đó cách đây cũng hơn một trăm năm,  thực dân Pháp làm nơi giam cầm, đày đọa những người Việt Yêu Nước, những người chỉ ao ước một đất nước Việt Nam độc lập, chính quyền là của người Việt Nam . Mấy chục năm sau, qua bao cơn binh lửa, hàng triệu người Việt hy sinh, Đất nước  Việt Nam mới được hòa bình, người Việt có chính quyền độc lập… Ước mơ của họ đã thành hiện thực nhưng cha ông của những người gốc Việt ở đây chết không thể nhắm mắt vì vòi vọi nỗi nhớ cố quốc, quê hương, khao khát một ngày được đặt chân lên mảnh đất sinh thành…tất cả chỉ là sự vô vọng. Vô vọng hết thế hệ người Việt này đến thế hệ người Việt khác, cũng đến bốn, năm đời. Đất nước Việt Nam hiện nay ra sao ? Quê hương có thay đổi nhiều không? Họ hàng ai còn, ai mất? Em đã quay những ánh mắt người Việt trên đảo nhìn em ngần ngật nước vì nhớ thương, không biết tìm đâu trong muôn nẻo để có đường về. Em quay cả hình ảnh người Việt, một bóng, một hình cô đơn lặng lẽ đi trên bãi biển nhìn về phía mặt trời sắp lặn, nhìn theo những cánh chim hải âu bay chấp chới như muốn hỏi cánh chim kia,   quê hương có ai nhớ đến tôi không ?  Rồi em quay hình ảnh một nấm mồ hoang vu với hành chữ Việt sai dấu, sai lỗi chính tả trên tấm bia, như một lời nhắn nhủ với người còn sống: “ Đến chết tôi vẫn là người Việt”. Vào một gia đình người gốc Việt trên đảo, em cho mọi người xem thấy hình ảnh một bàn thờ đơn sơ của người Việt để trong nhà dưới lá cờ đỏ sao vàng và bức ảnh Cụ Hồ vẽ theo trí nhớ. Người  nói chuyện cố bập bẹ vài tiếng Việt “ thưa ông! Thưa bà”, như để khẳng định với người được nói chuyện,  chúng tôi không quên tổ quốc. Người xa nước là thế, yêu nước là thế! Xem phim của em tôi ngậm ngùi thương xót cho thân phận người Việt xa xứ. Thế mà có người Việt ở ngay trên đất Việt, tự nhận là “yêu nước” dám  dâng đất cho ngoại bang, dám đánh cả đồng bào của mình vì tội phản đối quân xâm lược. Xem phim của em rồi so sánh với hiện tại, mới thấy thương người dân đất nước mình. Bao đời đổ mồ hôi, nước mắt thậm chí cả máu, còn hơn thế nữa, bị đày biệt xứ để giữ mảnh đất tổ tiên, đến giờ tưởng đạt được ước nguyện, thế mà vẫn khổ.  Nỗi niềm đau khổ của người xa tổ quốc là đường về mịt mù xa ngái, và nếu họ biết, còn đau khổ hơn, là chính quyền của người Việt hiện nay, gần như đã quên họ. May có những thước phim em và đồng nghiệp ghi lại, biết đâu đây là tiếng  “gõ cửa” để những người cầm quyền Việt Nam nghe thấy, có trách nhiệm hơn, thể hiện lòng biết ơn cụ thể hơn với những người Việt yêu nước ở nơi xa xôi kia, ngày đêm trông ngóng có điều kiện trở về …

           Tôi lại xem một phim tài liệu mà em là người quay phim chính,  nói về ba ông Vua triều Nguyễn, cũng chỉ vì lòng yêu nước bị thực dân Pháp thông đồng với những ông Vua tại vị ươn hèn,  cho lưu đày ba ông Vua này đi biệt xứ. Với một chính thể nô lệ từ ý thức cho đến quyền hành vào ngoại bang thì lòng yêu nước bao giờ cũng bị trả giá. Thương thay cho ba ông Vua, người đến chết vẫn giữ hồn Việt từ vóc dáng, tiếng nói, đến cả bộ quần áo đang mặc. Người quyết chí về nước để cứu nước, lại bị chết giữa đường, vì “tai nạn”, cái chết chứa đầy uẩn khúc… Có thể ai đó quên những vị Vua đầy lòng ái quốc này, rõ nhất là nấm mộ của Vua Hàm Nghi, rêu xanh đã phủ, chữ trên bia đã nhạt, người thân dần dần xa vắng…nấm mộ của nhà Vua nằm trong cô quạnh trên đất người. Nhưng hình ảnh mộ của ông Vua yêu nước, em cố quay cận cảnh, như nhắc với hương hồn của ông, ở Việt Nam vẫn có người kính trọng ông, biết ơn ông.

            Em còn làm nhiều phim tài liệu nữa, em đi nhiều, ghi lại nhiều thước phim giá trị, nhưng vẫn chưa nói hết những tấm lòng yêu nước của người Việt, kể cả trong nước lẫn ngoài nước. Tấm lòng yêu nước đó, trong như ánh sáng, mạnh hơn sức mạnh của các loại vũ khí hiện đại nhất. Nó sẽ là bức trường thành giữ vững, trọn vẹn tổ quốc Việt Nam. Em sẽ cố gắng, bằng những thước phim tài liệu ghi lại, để những người hôm nay và các thế hệ mai sau ghi nhớ, phát huy. Những phim tài liệu em đã làm, nhất là những phim em làm về chí sỹ yêu nước cuối thế kỷ 19  đầu thế kỷ 20, đã thể hiện phần nào ý định của em.

         Những bộ phim này đều đoạt giải trong những kỳ liên hoan phim. Em có báo tin này đến với tôi, nhưng điều đó đối với em không quan trọng. Điều quan trọng – như em tâm sự - Những thước phim em đã thực hiện, chỉ mong muốn những người đang sống, hành động như thế nào không làm tủi hổ vong linh của những người đã khuất. Họ chết cho chúng ta sống, cho sự trường tồn của Đất nước Việt Nam.

          Em đã là Nghệ Sỹ Ưu Tú vì thành công của những bộ phim trên. Mừng cho em. Hãy đi tiếp con đường mình đang dự định.

          Làm phim về sự thật, nói đúng sự thật.

          Danh đó lớn hơn NSƯT và NSND rất nhiều. Đúng không em?

]]>