<![CDATA[Trần Kỳ Trung]]> http://trankytrung.com/index.php vi http://trankytrung.com/read.php?915 <![CDATA[TÔI HỌC KHOA SỬ - ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI I]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 04 Oct 2016 07:25:23 +0000 http://trankytrung.com/read.php?915  

 

                        TÔI HỌC KHOA SỬ -TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI I

 

 

               …Tháng 9 năm 1971, tôi nhập học vào khoa Sử - ĐHSP Hà Nội I. Không thể quên những kỷ niệm ban đầu. Khu A ký túc xá, trừ lúc tự hoc, còn lúc nào cũng ồn ào, không bóng đá, lại bóng chuyền,  những buổi chiều trên sân thượng của khu A từng đôi ,từng đôi chụm đầu tâm sự, mơ một tương lai đẹp ở phía xa, vẳng đâu đấy trong không gian là giọng hát của ai đó đang ngân nga: ..” Chiều thanh vắng là đây, âm thầm gió rì rào…”. Giảng đường” của chúng tôi, gọi như vậy cho “oai” thực ra chỉ là những dãy nhà lợp nứa, những bộ bàn ghế đơn sơ, cũ theo màu thời gian…nhưng chính ở “ giảng đường “ này, các thầy cô đã truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức lịch sử. Những kiến thức đó không phải chỉ là “phương tiện” kiếm sống mà lớn hơn  rất nhiều, đó là chân lý bất diệt qua những bài học lịch sử: Con người sống phải có tự do, phải chiến đấu cho lẽ phải, trọn niềm tin vào dân, vào đất nước, vào dân tộc, đất nước này phải là của người Việt Nam… chúng tôi mang “hành trang đó” theo suốt cuộc đời. 

           Tôi cũng không thể quên những năm tháng đi sơ tán của khoa, thầy trò là một, sống như trong một đại gia đình. Máy bay Mỹ ném bom ra miền bắc, Hà Nội là một mục tiêu. Những năm tháng đó thầy trò chúng tôi tạm xa ngôi trường chính, hết Đồng Văn ( Duy Tiên – Nam Hà cũ) lại đến Đan Phượng ( Hà Tây cũ) rồi đến Khúc Lộng – Bần Yên Nhân ( Hưng Yên)… vừa tránh máy bay, vừa học, vừa đào hầm, vừa học… “ giảng đường” là những sân chùa, mái đình, sân kho hợp tác…chúng tôi ngồi bệt dưới đất, vở để trên gối ghi chép đầy đủ những lời thầy đang giảng. Phía trên là tiếng ì ầm của máy bay, góc trời có khi dậy tiếng cao sạ… nhưng trong  một ngôi chùa cổ , qua lời giảng của các thầy cô chúng tôi vẫn say sưa với vẻ đẹp kỳ vĩ Kim Tự Tháp tận Ai Cập cổ đại xa xôi, vẫn như nghe thấy tiếng hò reo của quân Vua Quang Trung, sau khi đánh bại quân Thanh,  tiến vào thành Thăng Long…Những năm tháng đó, dẫu kề cận cái chết, dẫu có bom, có cả những cuộc chia tay không hẹn ngày về nhưng đó là những năm tháng đẹp, nhiều kỷ niệm, nhớ lại chỉ có thương, yêu, và không muốn “nhòa” theo thời gian.

          Rồi cũng như bao bạn nam sinh viên lúc đó, tôi lên đường vào bộ đội, đi tự nguyện, đi xung phong, vì tôi bị cận thị, nhưng “ Chiến trường đang gọi…”, Lúc đó chúng tôi đều nghĩ như thế và khoác ba lô đi vào nơi không có khái niệm thời gian, sống, chết. Cho đến tận lúc này, khi tuổi đã quá lục tuần , nghĩ lại những năm tháng đó, nhiều lúc cũng ngạc nhiên, sao mình có thể đi được, chấp nhận được? Đâu là động lực? Những lúc nghỉ ngơi sau một ngày hành quân mệt nhọc, hay sau một trận đánh, những kỷ niệm chúng tôi hay nói nhiều nhất ngoài chuyện gia đình, quê hương, chúng tôi lại nhắc nhiều đến tình bạn, tình thầy trò trong khoa, là những ngày đi thực tế khảo cổ học ở Tứ Xã , chống lụt ở Cống Thôn hay đắp đê ở Xuân Quang và nhớ nhiều nhất là đôi mắt của người bạn gái , thương lắm, muốn yêu lắm, chưa kịp ngỏ lời đã lên đường, phía xa vẫn ánh mắt của bạn ấy dõi theo…

         Đất nước im tiếng súng, cũng là may, tôi còn sống  trở về, bao người bạn cùng trường  không có điều may mắn đó. Thành,  năm thứ ba – khoa Sử, Toàn – năm thứ nhất , Tuấn năm thứ hai khoa Địa, Long, Dư năm thứ ba khoa Văn… hồi đó có người nói với tôi nếu ngay lúc đấy được nhìn thấy cổng trường ĐHSP Hà Nội I, chết cũng thỏa lòng. Ước mơ bình dị đó không đến được với những người bạn  của tôi. Tôi vẫn mong, nếu thế giới tâm linh có thật, các bạn hãy về không những nhìn cổng trường đã to, đã đẹp, giảng đường đã lớn , đặc biệt ở đây, đã 65 năm, các thầy cô trong khoa, trong trường, những cự sinh viên, những sinh viên… không ai quên các bạn.

          Tháng 9/1975 tôi về học tiếp , lại mất ba năm, khóa cũ của tôi đã ra trường. Trở về với sức khỏe còn yếu, di chấn chiến tranh không dễ quên… nhưng tôi và nhìều bạn cùng cảnh dễ hòa nhập bởi nhiều lẽ, nhất là tình cảm của nhiều thầy cô dành cho chúng tôi. Đó là giờ học thêm, giờ phụ đạo, rồi những ai trong chúng tôi đau ốm, vết thương tái phát cả lớp đều lo, các thầy cô trong khoa đều hỏi thăm. Ở Lớp tôi có một anh bộ đội về, không may bị tai nạn, mất đột ngột, cả lớp đau đớn như trong một gia đình mất đi một người thương…các thầy cô trong khoa cũng đau buồn, cùng chúng tôi đưa anh ấy về nơi an nghỉ cuối cùng

      Sự động viên của các thầy cô giúp chúng tôi học tốt, đuổi kịp được chương trình, nhiều người sau này được giữ lại trường, trở thành cán bộ giảng dạy, tiến sỹ, giáo sư…

       Tháng 9 năm 1978 Sau khi tốt nghiệp ,theo sự phân công, tôi về làm công tác giảng dạy tại khoa sử - chính trị , trường ĐHSP Quy Nhơn. Và một năm sau, tôi ra lại Hà Nội học sau đại học. Ở  khoa Sử - chính trị ĐHSP Quy Nhơn, Thật may mắn, tôi lại được gặp nhiều thầy cô ở khoa Sử vào đây thỉnh giảng như Thầy Phan Ngọc Liên, thầy Phạm Hồng Việt, Thầy Bạch Ngọc Anh… Các thầy thỉnh giảng cho sinh viên nhưng cũng  đồng thời chỉ bảo, kèm cặp thêm về phương pháp giảng dạy, kiến thức lịch sử cho chúng tôi. Những buổi ximine, những lần trò chuyện, những buổi chiều dạo chơi ven biển… nội dung chính vẫn là trao dồi kiến thức  mà các thầy mong chúng tôi, trong một thời gian ngắn, phải nắm bắt được.

         65 năm thành lập khoa sử - ĐHSP Hà Nội I, nhìn lại, nhất là thế hệ chúng tôi, lớn lên, trưởng thành cùng khoa, thực sự tự hào. Bởi lẽ, chúng tôi đã được các thầy cô day bảo tận tình, sống hết lòng vì  sinh viên thân yêu. Chúng tôi  nhớ như in giọng nói, tác phong mẫu mực, sự chỉ bảo tận tình của các thầy như thầy Phan Ngọc Liên, thầy Bạch Ngọc Anh, thầy Phạm Hồng Việt, thầy Trương Hữu Quýnh, thầy Chiêm Tế, thầy Thái, Thầy Kiệm, Thầy Nghinh, Thầy Lư…nay các Thầy đã đi xa nhưng tôi vẫn tin rằng các Thầy vẫn dõi theo sự trưởng thành, sự cống hiến của từng cựu  sinh viên và các bạn sinh viên chúng ta. Tôi cũng từ hào một điều nữa, là cựu sinh viên khoa Lịch sử- Trường ĐHSP NộiI. với kiến thức lịch sử, nhất là lịch sử dân tộc các thầy ,các cô trong khoa luôn luôn muốn sinh viên của mình phải nắm bắt được những đặc tính tốt của lòai người,  của dân tộc đó là. đã là con người phải  sống trung thực, cao thượng, có đạo đức tốt, hết lòng phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân, biết nhận ra con đường sáng, đúng chân lý để đi, căm ghét quân xâm lược, quyết bảo vệ từng tấc đất của tổ quốc…

        

          Đại bộ phận những con người trưởng thành từ khoa sử -Trường ĐHSP Hà Nội, qua 65 năm, khi ra trường nghĩ đúng điều đó, thực hiện đúng điều đó, không phụ lòng của các thầy, cô.

          Chúng tôi tự hào đã từng là sinh viên khoa Lịch sử - Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội I

 

      

]]>
http://trankytrung.com/read.php?840 <![CDATA[Bài 4 - Nước Mỹ - CẢM NHẬN PHẦN NÀO VỀ DU LỊCH MỸ]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Mon, 28 Sep 2015 04:18:08 +0000 http://trankytrung.com/read.php?840  

Cảnh con sông nhân tạo chảy quanh thành phố San Antonio (Ảnh minh họa )

 

                        CẢM NHẬN PHẦN NÀO VỀ DU LỊCH MỸ

 

                                           

 

         Ở nhiều nước, dịch vụ “thỏa mãn nhu cầu đàn ông”, nôm na là phố đèn đỏ phát triển. Không vơ đũa cả nắm, chứ nhiều người đàn ông Việt đi du lịch nước ngoài thường chú ý khoản này, vì nước mình cấm .

         Biết tôi đến Mỹ, một ông bạn nói với tôi với giọng hiểu biết,  “đây là một trong những điểm nhấn để Mỹ phát triển du lịch, ông nên tìm hiểu” rồi… “Đây là dịch vụ mà ở Mỹ chỗ nào cũng có” Cứ nghe tuyên truyền “ văn hóa đồi trụy”, tưởng tượng, bạn nói, thành ra… nghĩ đến Mỹ  ra đường là gặp!!!

         Hóa ra đó sự tuyên truyền bậy bạ.

         Hôm đến thăm thành phố San Antonio, một thành phố văn hóa của bang Texas. Ở thành phố này có trung tâm mua sắm lớn, lại có những dịch vụ ăn uống sầm uất, ban đêm có những ban nhạc nổi tiếng nước Mỹ đến biểu diễn, có những quán bag sang trọng dành cho người nhiều tiền, cả những rạp hát nhỏ biểu diễn ma quái ngay sát bên đường, mở màn cả ngày lẫn đêm…nhưng tuyệt nhiên, để tìm ra khu ăn chơi như kiểu phố đèn đỏ ở Thái Lan, Sinhgapo… không dễ. Anh bạn thổ địa dẫn đi, nói, chuyện ấy là của muốn đời, có cầu, có cung, nhưng ở thành phố này, anh muốn, sẽ có, tuy vậy buộc phải chi một khoản tiền  đắt khủng khiếp… chi bằng anh dùng số tiền ấy đi tìm hiểu những nét đẹp văn hóa có hơn không? Vừa nâng cao nhận thức, vừa hợp túi tiền, lại khỏe khoắn trong người…

        Nghe ra cũng có lý, đồng ý cho anh bạn dẫn tham quan thành phố San Antonio bằng thuyền, chiếc thuyền theo con sông đào chở khách du lịch dạo quanh thành phố.Con sông đào bề ngang không rộng, nước trong xanh, hai bên bờ là những vườn hoa, nhưng cây lớn tán xanh, những con đướng lát đá uốn lượn… Cũng tưởng ít người đi vì người Mỹ biết chán thành phố này rồi, nhưng không? Đến chỗ mua vé phải xếp hàng, xuống thuyền cũng phải xếp hàng, chờ đến lượt…

       Chiếc thuyền bày trí cho khách ngồi rất gọn, bốn hàng ghế, có mái che, đặc biệt người lái thuyền cũng là người hướng dẫn, nhiệt tình, vui tính, giải đáp tất cả thắc mắc của mọi người. Chiếc thuyền trôi nhẹ trên sông, chui qua những gầm cầu bắc ngang. Đến mỗi địa điểm văn hóa, người lái thuyền dừng lại giới thiệu. Viết đến đây lại nghĩ về Hội An, Hội An có con sông Hoài, nếu nói về cảnh đẹp tự nhiên không thua gì con sông đào này, thậm chí còn hơn. Giá như trên con sông ấy bố trí những chiếc thuyền du lịch, người lái tàu kiêm người hướng dẫn, ngoại ngữ giỏi.  Người lái tầu kiêm hướng dẫn ấy đưa khách đi, giới thiệu lịch sử con sông Hoài, những cảnh đẹp ven sông, cảnh sinh hoạt của người dân bản địa không riêng ở Hội An mà ở cả những vùng quê này nằm dọc sông Hoài, Hội An sẽ hấp dẫn thêm khách du lịch.

        Bao giờ Hội An mới làm được điều này?

       Làm du lịch ở Mỹ, mới thoáng qua, phải thừa nhận, người Mỹ tận dụng hết tất cả những cảnh quan, những vật cảnh do chính họ tạo ra để làm du lịch, nói trắng ra là bằng mọi cách, để lấy tiền người đi du lịch.

       Thường bên mình, những trung tâm làm việc của cơ quan nhà nước, ít khi cho nhân dân vào tham quan. Có lẽ sợ “ thế lực thù địch phá hoại”, cũng có thể suy nghĩ “ Chốn công quyền không phải là chốn ăn chơi, tụ tập”… Ở Mỹ thì ngược lại, đến ngay cả tòa nhà trắng, trung tâm quyền lực cao nhất của nước Mỹ, người ta cũng mở cửa cho dân vào tham quan. Đến tham quan tòa thị chính của bang Texas vào ngày chủ nhật ( Chỉ mở cửa ngày chủ nhật)  thấy khách tham quan đông vô cùng, khách thỏa mái đi dạo hết tất cả các chỗ làm việc của các quan chức cấp cao. Khách vào chỗ họp của hội đồng liên bang, chụp ảnh thoải mái, được giải đáp những điều khách thắc mắc…Trong tòa thị chính còn có cửa hàng bán lưu niệm, khách tham quan xong có thể ra đây mua vài món quà, có in hình tòa thị chính về tặng bạn bè… Một trung tâm cơ quan công quyền, trở thành một điểm du lịch. Điều này, nhiều lúc tự hỏi, đã biết bao nhiêu ông lãnh đạo nhà nước Việt Nam từ cấp tỉnh đến quốc gia sang thăm, làm việc ở Mỹ, sao không học tập điều này??? Vừa rồi một loạt tỉnh thành ở Việt Nam như Đà Nẵng, Bình Dương, Hà Tĩnh…xây những trung tâm làm việc cho cơ quan công sở rất lớn, chứa cả ngàn người làm việc, nhưng hình như … điều đó chỉ cốt khoe tầm to, hiện đại, uy quyền, người dân đâu có được vào tham quan. Giá như… đây cũng biến thành điểm cho khách vào tham quan, điều này giúp dân hiểu rõ phong cách làm việc của người cán bộ, hơn nữa góp một phần xóa bỏ sự ngăn cách giữa “quan” và dân, hạn chế tệ quan liêu, xa cách dân và biết đâu, nơi bày trí đẹp, hiện đại, có không gian nghĩ ngơi thư giãn vào ngày thứ bảy, chủ nhật, khách tham quan đông, cũng là một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách của tỉnh, thành phố, tạo thêm công ăn, việc làm cho nhiều người.

        Ở thành phố Houston có hai điểm  trong những điểm du lịch cần đến đó là vườn Nhật Bản và trung tâm triển lãm Nasa. Với vườn Nhật Bản, có lẽ nhiều người Việt Nam đã biết, phong cảnh từa tựa như một sân vườn Việt Nam, có hồ, có suối, có ngôi nhà nhỏ nép dưới một tám cây rộng, xung quanh là những vườn hoa khoe sắc…Với người Mỹ, hay người châu Âu, có một không gian văn hóa châu Á cũng là điều hay để thư giãn vào ngày thứ bảy, chủ nhật còn người Việt Nam có đến tham quan cũng chưa đến mức độ ngạc nhiên phải nhưng đến trung tâm triển lãm Nasa thì khách mới đến lần đầu phải ngã mũ thán phục.

         Ở đây bày trí cố định, vĩnh cửu toàn bộ những thành tựu chinh phục vũ trụ của nước Mỹ. Sự bài trí rất khoa học người xem được trực tiếp nhìn tận nơi những con tàu vũ trụ đồ sộ mà người Mỹ đã từng phóng lên không gian, chiếc máy bay cực lớn chở tàu con thoi, những bộ quần áo, đồ dùng, phòng toa lét…phi công vũ trụ thường dùng trên trạm không gian, thiên thạch, đá mặt trăng…được nhìn tận mắt. Khách đến tham quan còn được vào bên trong của buồng lái tàu con thoi để quan sát, hiểu thêm tính phức tạp khi con tàu này bay  hay đáp xuống mặt đất khó như thế nào? Trong một không gian rộng, phải đi bằng xe điện mới hết khu vực cần tham quan làm cho con người tham quan không có cảm giác nhàm chán mà tự hào với trí tuệ con người, đáng với đồng tiền mình bỏ ra.             

      Ở thành phố Houston còn một bảo tàng triển lãm vĩnh cửu nữa thu hút khách đến tham quan, đặc biệt là các em đó là bảo tàng khủng long và các loại thú có trong thiên nhiên. Ở bảo tàng này trưng bày toàn bộ các loại hình dáng của khủng long từng tồn tại cách đây mấy triệu năm bằng xương hóa thạch của chính loại động vật này. Ngoài hình dáng đủ loại khủng long thông qua hình dáng xương hóa thạch mà người Mỹ tìm được, trong bảo tàng còn trưng bày tất cả các loại thú đã có trên mặt đất, đủ các châu với hình nộm và tiếng động kết hợp hình ảnh 3D, là cho chúng sinh động như thật. Bảo tàng mở cửa tất cả trong ngày, đến tham quan chỉ là ngày thường, thế mà bảo tàng có rất đông khách, đặc biệt là các em vào xem…

        Việt Nam mình, tất nhiên không thể làm được bằng người Mỹ vì điều kiện kinh tế còn nghèo, khoa học chưa phát triển,  dân tình còn lo miếng ăn hơn đi tham quan… nhưng không phải vì thế mà không thể làm được những cuộc triển lãm vĩnh cửu để cho các thế hệ sau này hiểu cha ông đã sống, làm việc như thế nào?

          Mô hình triển lãm vĩnh cửu của Mỹ có thể học tập về ý tưởng.

          Giả như ở Việt Nam đã từng kinh qua hai cuộc chiến tranh lớn, tại sao không thể chọn một khu vực rừng núi, hay đồng bằng tương đối rộng tái hiện toàn bộ cuộc sống người dân, quân đội kể cả những dấu tích ( giả) những trận chiến đấu ác liệt …để người xem vào tham quan. Người tham quan có thể trong khu vực này hai, ba ngày trở thành một chị du kích, một anh bộ đội, một người lính cộng hòa, một người dân… trở về lại một thời kỳ lịch sử mà dẫn tộc đã trải qua biết đâu… vừa hấp dẫn người tham quan, học sinh không quên lịch sử, một cơ hội kiếm tiền không tốn kém. Chứ như hiện nay, bảo tàng lịch sử, bảo tàng quân đội, chứng tích chiến tranh ở Việt Nam đã chán về không gian, hẹp, chật chội, đi chỉ chưa đến buổi sáng đã hết. Còn những hiện vật thì “chết” với những dòng chữ giới thiệu khô khan, lặp lại, không gây hứng thú cho người xem… Hay như chúng ta có những không gian tuyệt đẹp của tự nhiên như hồ Ba Bể ( Bắc Cạn), rừng Cúc Phương ( Ninh Bình), Bạch Mã ( Huế)… học tập ý tưởng xây dựng bảo tàng vĩnh của Mỹ, biết những khu vực này thanh bảo tàng tự nhiên, cấm săn bắn, cấm phá rừng một cách tuyệt đối, thả thú rừng vào núi, thả cá xuống hồ, xây dựng những ngôi nhà lá đơn sơ trong rừng cho khách thuê ở, cùng sinh hoạt với người bảo vệ rừng, cùng đi quan sát nơi thú ở , hòa mình vào thiên nhiên…Tác dụng giáo dục cực lớn, nhất là thế hệ trẻ.

       Mới đến nước Mỹ, tham quan chưa nhiều, mà ngẫm ra được bao nhiêu bài học, nhất là làm du lịch. Tiếc một điều mình chỉ là thằng dân thường, biết là biết thế thôi, chứ có đề đạt ý kiến, ai người ta đọc, ai người ta nghe. Đến ngay như chuyện bán vé cho khách du lịch, ở Mỹ vào tham quan một di tích nào đó, dù tự nhiên hay bảo tàng, khách Mỹ và khách không phải người Mỹ chỉ một giá, đối xử rất công bằng thu hút người đến, thì ở Việt Nam làm ngược lại… Đài, báo, ti vi… phê phán không biết bao nhiêu lần, mà có sửa chữa đâu, huống hồ là ý tưởng bảo tàng vĩnh cửu.

          Ở Việt Nam, tin đi, còn lâu!

 

 

 

 

 

 

 

 

                                                          

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?839 <![CDATA[BÀI 3 - NƯỚC MỸ - NGHĨ VỀ Ý THỨC TỰ GIÁC CỦA NGƯỜI MỸ]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sat, 26 Sep 2015 15:16:15 +0000 http://trankytrung.com/read.php?839

Người Mỹ xếp hàng mua đồ ( Ảnh minh họa)

 

 

 

Bài 3 - Nước Mỹ - NGHĨ VỀ Ý THỨC TỰ GIÁC CỦA NGƯỜI MỸ

         Trước khi đến nước Mỹ,  đã nghe nhiều người nói về ý thức tự giác của người dân đất nước này. Nghe là một chuyện, còn nghĩ lại là chuyện khác, làm gì có người dân lại ý thức tự giác cao như thế?

          Sang đây chứng kiến thì thấy ý thức tự giác của người Mỹ buộc phải công nhận. Chỗ đông người không ồn ào, bình tĩnh nhẫn nại xếp hàng mua vé tham quan, đi trên đường không một tiếng còi xe, ăn xong tự động dọn dẹp bàn ghế, thức ăn thừa…

          Làm sao họ có ý thức tự giác như thế? Nhớ đọc ở đâu đó có một câu, trong mỗi con người đều tồn tại hai đức tính, xấu và tốt. Muốn hạn chế đức tính xấu phải có môi trường giáo dục tốt, một xã hội lành mạnh, một luật pháp nghiêm minh. Ở đây phải hiểu khái niệm “giáo dục” là cả nhà trường và xã hội. Còn luật pháp phải được thực thi nghiêm túc từ người dân đến tổng thống, không có sự miễn trừ. Ra đường ở Mỹ, thấy ô tô đi mà ngợp, con đường từ Houston về đến Lake Charles và chiều ngược lại là tám làn xe, xe giăng như mắc cửi, tốc độ lớn, nhưng làn đường nào, tốc độ xe nấy, không có sự chen ngang, lấn làn. Muốn chuyển làn phải hết sức cẩn thận, bật đèn xi nhan, quan sát, trước sau. Trăm xe như một, ngàn xe như một và tất cả xe đang dịch chuyển trên đường đều làm như thế, rất tự giác, không nghe thấy một tiếng còi. Con gái giải thích việc này. Một phần, đường sá ở Mỹ chất lượng quá tốt, phân làn rõ ràng làn xe nào, ra làn xe nấy. Phần nữa, cảnh sát giao thông ở đây trực hai tư giờ trên hai tư giờ, bất cứ một sự vi phạm nhỏ nào đều bị phát hiện phạt rất nặng. Lớn hơn tất cả, con gái cho biết, học lái xe ở Mỹ, học luật là phần đặc biệt quan trọng, quan trọng hơn cả phần học lái xe. Chỉ là chuyện nhỏ của chiếc xe ô tô, rút ra được bao nhiêu bài học. Muốn tạo nên ý thức tự giác của con người với cộng đồng, xã hội, không đơn giản chỉ những khẩu hiệu như thể sống, học tập, làm việc theo một tấm gương nào đó!!! Mà chắc chắn sẽ không bao giờ học thành công được vì mỗi người có mỗi hoàn cảnh, mỗi công việc, mỗi nhận thức… khác nhau. Nhưng ý thức tự giác lại có thể học tập được là bởi, nó được hình thành từ trong gia đình, nhà trường, xã hội, cộng đồng… Nhà trường tiếp nối gia đình, xã hội tiếp nối nhà trường, cái này bồi đắp cái kia…

         Nhà trường Mỹ dạy ý thức tự giác cho các em không cần đến môn chính trị, lại càng không cần tổ chức thi tìm hiểu lịch sử đoàn, đội… của một chính đảng nào đó để nâng cao tinh thần yêu nước. Các em được học ý thức công dân ,với gia đình phải thế nào? Với xã hội phải thế nào? Thậm chí việc nhỏ, ngay cả với những người tàn tật như thế nào? Đến một bãi đỗ xe lớn, con gái chỉ cho thấy khu vực ưu tiên cho người tàn tật, nói, không ai được để xe khu vực này, cho dù các chỗ xe khác không còn chỗ trống. Khi từ nhỏ con người đã có ý thức tự giác như giúp đỡ người khốn khó,  biết tằn tiện tiết kiệm khi chi tiêu, thì lớn lên những việc lớn như giúp đỡ, cứu trợ người bị nạn, bị thiên tai, chiến tranh… và lớn hơn nữa biết bảo vệ tổ quốc, bảo vệ độc lập dân tộc, những việc đó sẽ trở thành một việc làm tự nhiên như hơi thở hàng ngày của một người yêu nước.

       Ý thức tự giác của người Mỹ không phải chỉ hành thành trong môi trường giáo dục, mà cả trong hiến pháp, pháp luật. Quyền của người dân phải được tôn trọng, nhỏ  như  quyền riêng tư cá nhân, lớn như việc bầu cử, tất tần tật phải là sự tôn trọng, tôn trọng thực sự chứ không phải chỉ là những văn bản, nghị quyết không hơn những khẩu hiệu bao nhiêu!!! Chính phủ sai, người dân có quyền góp ý, lớn hơn, có quyền phế truất. Chính đảng nào có cương lĩnh đúng ,hợp lòng dân, người dân có quyền bầu lên, người dân được thực sự có tiếng nói của họ thông qua những cơ quan như báo chí, đài, ti vi … do chính họ tạo lập, thực thi theo luật pháp, có sự khen chê rõ ràng, minh bạch, công khai… Như vậy ý thức tự giác của người dân ngày càng hoàn thiện. Khi ý thức tự giác của người dân càng hoàn thiện thì nhà nước đó cũng càng hoàn thiện, luật pháp càng hoàn thiện.

       Một xã hội nếu không xây dựng được cho người dân thức tự giác, xã hội đó sẽ tự hủy diệt. Ý thức tự giác lại càng không phải là sự áp đặt, giáo điều, luôn khẳng định mình đúng, buộc người khác phải tuân theo. Ý thức tự giác xây dựng như thế nào để thấy rằng nó luôn luôn tồn tại một cách khách quan, không làm như thế sẽ là sai, là không hợp với quy luật, không được tồn tại trong một xã hội văn minh. Nói vậy, thực hiện không dễ. Ở một đất nước lúc nào cũng nghị quyết rao giảng, lúc nào cũng cờ phướn giăng khắp nơi, khẩu hiệu dán tứ tung chỗ nào nói về ý thức con người… nhưng trên thực tế lại ngược lại, quyền ưu tiên cho ông “to” không cần phải xếp hàng, có lỗi lại chạy chọt, xin xỏ,  chơi luật “rừng” nếu như không chạy được án, chỗ nào cũng tiền để đút lót… thì làm sao xây dựng được ý thức tự giác cho người dân. Ở Mỹ có chuyện này không? Người viết bài này tin rằng có, nhưng có rất ít, hoặc giảm thiểu đến mức độ không làm băng hoại đạo đức, xây dựng được ý thức tự giác của người dân. Một lần đọc báo, thấy tổng thống Mỹ vào nhà hàng phải xếp hàng, cũng rút ví trả món ăn vừa mua, nói với thằng bạn, lão ấy đóng kịch. Thằng bạn lắc đầu, bình tĩnh, đừng vội kết luận, làm đến chức ấy cần gì phải đóng kịch. Sang Mỹ hỏi một người bạn, người đó trả lời, chuyện ấy bình thường anh ơi, tổng thống cũng như người dân thôi mà. Mỗi người đều có công việc do xã hội phân công, tổng thống cũng có thể có quyền ưu tiên, nhưng suy nghĩ kỹ một chút, ông ta vẫn là một công dân bình thường, không có việc gì bận, thích thư dãn thì nên…xếp hàng với dân. Hiểu dân, gần dân, dân sẽ hoan nghênh. Nhưng quan trọng hơn, hình ảnh đó, sẽ nâng cao ý thức tự giác của người dân, từ việc nhỏ đến việc lớn.

         Sang Mỹ thấy rất rõ điều đó. Tự giác trong lời ăn tiếng nói, không nói to nơi tham quan, mua sắm… Đến khu vực tham quan hang động tự nhiên Natural Bridge Caverns (Texas) và khu bảo tồn động vật hoang dã ở đây, người người xếp hàng, không chen lấn, không tiếng nói nhỏ, to. Ô tô xếp hàng dài, đi từ từ, không vượt ngang, không bấm còi trong những con đường dài tít tắp của khu bảo tồn mà xem tận nơi ở của muôn thú hiền lành như hươu, nai, hươu cao cổ… rồi trực tiếp cho chúng ăn. Vào trong hang động tự nhiên  của khu vực này cũng vậy, một hang động đẹp gần giống với động Phong Nha của Việt Nam, người đi tham quan rất đông, nhưng không có sự chen ngang, cũng không có chuyện xả rác, xếp ngay hàng thẳng lối, rất trật tự nghe người hướng dẫn viên giới thiệu. Chuyện này không dám so sánh với những lễ hội như chùa Hương, đền bà Chúa Kho… của Việt Nam. Ý thức tự giác của người Mỹ còn thể hiện trong việc mua sắm, mua đồ xong, ra máy quẹt thẻ, tự thanh toán. Ở những cây xăng cũng vậy, người lái xe, tự bơm xăng, cũng tự quẹt thẻ thanh toán. Vào bãi đỗ xe, hoàn toàn tự động, tự tìm chỗ đỗ, tự thanh toán… Thắc mắc với con gái, không lẽ chuyện dễ dàng như thế, không thể làm điều khuất tất sao ? Không được ba ơi! - Con gái giải thích - Camera họ để khắp nơi, mọi việc không đúng đều ghi nhận được, phạt rất nặng, hơn nữa, chỉ tự mình làm mọi việc mới nhanh được, xã hội công nghiệp mà. Nhưng điều này mới quan trọng ba ạ! Ở Mỹ làm những điều khuất tất, gian xảo tự lương tâm người đó thấy cắn rứt, cộng đồng biết sẽ rất khinh, đặc biệt con cháu họ sẽ lên án, cho dù đó là người thân ruột thịt…

                        

          Dù xã hội Mỹ vẫn còn nhiều điều phải bàn,  nhưng quan sát những việc làm của người dân nhất  là ý thức tự giác,  chúng ta hiểu vì sao nước Mỹ hùng mạnh, hùng mạnh thực sự vì trước hết nước Mỹ có người dân rất tự giác thực thi pháp luật.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?838 <![CDATA[BÀI 2- NƯỚC MỸ - THOÁNG QUA THÀNH PHỐ LAKE CHARLER]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 24 Sep 2015 14:19:15 +0000 http://trankytrung.com/read.php?838

Trường đại học ở thành phố Lake Charles (Ảnh minh họa)

 

THOÁNG QUA THÀNH PHỐ LAKECHARLES

 

           Xem trên bản đồ, thành phố Lake Charles  nằm cực nam của một bang trung bình nước Mỹ. Thành phố này yên bình, yên bình đến độ ngỡ ngàng.  Đi ngoài đường cũng không dám nói to, thảnh trước, nhìn sau có lúc trên đường chỉ có một mình, lại mong có một người đi ngược lại để gật đầu chào hỏi. Yên bình khiến ngạc nhiên nữa, không hề thấy bóng một chú cảnh sát nào? Nghĩ dại, cứ thế này bỗng xuất hiện một ông IS bịt mặt nào đó, giơ dao ra đòi cắt cổ, biết kêu ai? Con gái cười, ba cứ lo, bất cứ điều gì nghi ngờ, cảnh sát xuất hiện ngay, ba nói điều này với người Mỹ, họ cười cho…Ừ, cứ cho là thế đi, nhưng đi bộ một mình giữa con đường rộng, hai bên những hàng cây cổ thụ xanh lá, những  ngôi nhà thấp mái, đóng kín cửa, không bóng người… cũng có một cảm giác văng vắng, sợ sợ thế nào ấy! Hay là cảm giác này chỉ có người Việt Nam,  nhất là gần đây ở Việt Nam có mấy vụ giết người, giết nhiều người không ghê tay!!!

      Thành phố Lake  Charles có công viên nằm sát hồ PrienLake. Đứng bên này hồ, nhìn sang bên kia là chiếc cầu bê tông hiện đại, bốn làn xe, xe chạy đan nhau, như mắc cửi . Nhìn chếch sang bên trái là nhấp nhô của mấy ống khói  nhà máy lọc dầu. Nghĩa là công viên này không xa nhưng nơi dễ gây ô nhiễm, ấy vậy không biết nơi đây họ xử lý thế nào mà công viên này đẹp đến vậy. Những thảm cỏ xanh, mềm trải rộng. Nước hồ lặng, trong. Hàng cây tăm tắp, dáng đẹp, dễ khoe. Không một cọng rác vứt ra đường. Không khí tuyệt vời, cứ muốn hít thật mạnh cho nở ngực. Hơn nữa, là thái độ của người đi dạo, nói khẽ, bước chậm, thảnh thơi cứ như thể cả công viên rộng này là của từng người, của từng gia đình, mỗi người đang đi dạo phải có ý thức tự gìn giữ, tự bảo vệ. Suy nghĩ mãi, làm sao họ lại làm được điều này? Nghĩ đi rồi nghĩ lại, cứ nhìn việc giữ gìn yên bình môi trường thế này phải có tầm của người lãnh đạo, dù muốn làm gì thì làm, nhưng yếu tố đầu tiên quy hoạch thành phố là phải biết bảo vệ môi trường. Chỗ nào trong thành phố Lake Charles cũng có cây, cây lớn dọc đường đi, cây nhỏ tán to bao xung quanh những ngôi nhà một tầng giản dị. ( Ở thành phố này không cho phép xây nhà ba tầng, trừ những trụ sở của Ngân Hàng, Công ty lớn…)Tiếng chim hót ngân nga, bất tận từ sáng cho đến chiều tối, thú nhỏ như chồn, sóc, thỏ… chạy ra đường  thường xuyên bắt gặp. Đến ngay nghĩa trang của thành phố, cũng là những thảm cỏ xanh, trên những ngôi mộ, cạnh những phiến đá, miếng đồng khắc tên người quá cố là những bó hoa khoe sắc, người đến viếng không có cảm giác lạnh lẽo. Nên thế, đi bộ bất cứ đâu trong thành phố cứ cảm tưởng như đang đi dạo trong rừng để tìm cảm giác thảnh thơi sau một ngày lao động mệt nhọc. Con gái nói, ở đây không cho cắm trại, phải có chỗ, họ rất sợ chặt cây hay đốt lửa trại để cháy rừng. Mỗi gốc cây trong thành phố đều có ghi số cụ thể, hàng ngày vẫn có người đến chăm sóc. Lại nghĩ đến vụ chặt cây vừa rồi ở Hà Nội. Mấy ông lãnh đạo Hà Nội, giá như có chút suy nghĩ, trước khi ra quyết định dại dột, ngu xuẩn, hãy cho người sang đây quan sát, học tập và làm theo cách quản lý của những vị lãnh đạo thành phố Lake Charles, chắc sẽ không có chuyện đau lòng chặt cây như vừa rồi. Nghĩ là nghĩ thế thôi, chứ nếu có chuyện đó, khác nào “ lặn dưới nước ba mươi phút không có ống thở’!!!    

        Buổi tối, con gái đưa đi tham quan casino của thành phố Lake Charles.  Casino là hai tòa nhà nhiều tầng, ô tô của khách đến đánh bạc đỗ chật như nêm ở bãi đậu. Hai casino này không phải là loại lớn, nhưng lại tập trung rất đông người từ trên Houston xuống. Bên ngoài lặng ngắt như tờ, đi trên đường, chỉ nghe thấy tiếng xe lăn, qua ánh đèn pha, còn nhìn thấy hai con chồn đùa trên đường. Ấy vậy, qua lớp cửa kính của tòa nhà của một casino, một thế giới khác hiện về. Một khu đánh bạc náo nhiệt, đèn đuốc sáng choang, đủ hạng người không phân biệt quốc tịch, giầu, nghèo cắm đầu, cắm cổ vào máy, vào bàn chơi bài. Tuyệt nhiên không có tiếng cãi nhau, cười đùa. Trật tự là một trong nguyên tắc người chơi phải tuân thủ nghiêm chỉnh của sòng bạc. Quán ăn ngay bên cạnh rất lịch sự, nhiều món ăn ngon, kể cả những món ăn dành cho người Việt. Trong sòng bạc còn có một sân khấu lớn, hiện đại, từng có nhiều sao Việt đến đây, được ban giám đốc casino thuê diễn, người xem, xem không mất tiền. Cạnh casino là một bể  bơi dành cho khách, nếu mệt người, có thể thư giãn dưới nước…. Con gái cho biết, thuế của sòng bạc này chiếm một tỷ lệ rất lớn trong số tiền nộp thuế cho bang.  Nhìn người ra, kẻ vào tấp nập trong sòng bạc, rồi thấy rất ít người đi trên đường, nghĩ, hóa ra sự trầm tĩnh của thành phố này chỉ là bề ngoài. Nó vẫn vận hành, thậm chí vận hành rất mạnh mẽ. Chỉ có điều, nó vận hành một cách khoa học, kín kẽ, chặt chẽ, không khoe khoang, lấy hiệu quả là chính. Lại một suy nghĩ khác, đi trên đường của thành phố này, trật tự giao thông, thông qua đèn tín hiệu, xe chạy đúng làn, người lái xe thực hiện đúng luật khỏi phải bàn, cái xe ô tô kia, mới là điều khiến phải để ý. Người Mỹ đi làm việc, rất ít đi xe sang, chiếc xe ô tô không phải để phân biệt đẳng cấp, chức vụ, giàu sang, nghèo hèn…mà đó chỉ là phương tiện nhằm phục vụ đi lại thuận lợi  trong công việc. Có ô tô, sử dụng ô tô lấy hiệu quả công việc là chính, đó cũng là ý thức văn minh, có học, thể hiện một xã hội phát triển.

        Còn không phải thế!!!

       Nhìn xã hội Việt  Nam, những chiếc ô tô sang trọng đang đi trên đường, người ngồi trong xe thái độ hợm hĩnh, khoe của, bên cạnh là những người nghèo, mà chữ “nghèo” chưa diễn tả đủ nỗi cùng cực. Sự phân hóa giầu nghèo đã ở mức độ báo động, đủ biết xã hội chúng ta đang ở giai đoạn nào của sự phát triển?!

       Con gái sang Mỹ du học, ngoài giờ học trên lớp, cháu còn đi làm thêm. Cháu làm trong một nhà do một người Mỹ gốc Việt quản lý. Cháu nói, ba nên đến thăm bà chủ cửa hàng, biết đâu sẽ có nhiều chuyện để ba viết bài.

        Bà Phương, tên Việt Nam, chủ quán Wok D’Lite  tiếp với thái độ niềm nở. Bà nói: “ Ở Mỹ mà lười lao động người ta sẽ khinh”, mấy đứa con trai của bà, được gia đình chu cấp đầy đủ vẫn phải đi làm. Đứa thì làm công chức nhà nước, ngoài giờ đứng bán hàng cho mẹ. Thằng cả làm bếp trưởng, hết khách, dẫu đã khuya, vẫn cầm chổi cọ nhà vệ sinh…Cuộc đời của bà Phương, lắng nghe bà kể, đủ viết thành một cuốn tiểu thuyết. Vượt biên đến Mã Lai ở trong trại tỵ nạn hơn một năm, đủ điều đày đọa, bà cam chịu. Đến được Mỹ, trong túi chỉ có một trăm đô la, tiếng Anh chỉ võ vẽ, ba đứa con như sỏi, như bi lăn lóc. Một ông chồng ngơ ngác ngôn ngữ, ngơ ngác việc làm… Người ta nói, muốn thoát nghèo, phải có ba yếu tố. Một là phải chăm làm, tiết kiệm. Hai phải biết học tập. Ba là thời cơ, may mắn. Hai yếu tố đầu, bà Phương đã có, thậm chí quá cả sự mong đợi. Hơn mười năm đầu ở Mỹ, bà nói, không việc gì là bà không làm, thậm chí có cả những việc người Mỹ sợ, bà cũng làm, ngày ngủ chỉ khoảng bốn tiếng. Lúc ngủ có lúc giật mình tưởng như nghe thấy tiếng chủ gọi mà động chân, động tay như đang đi làm! Để chủ động trong công việc, trong giao tiếp, bà học tiếng Anh. Vừa làm, vừa học, sáu tháng bà đã có thể giao tiếp trực tiếp với ngươi Mỹ. Có tiếng Anh bà chủ động trong công việc, hiểu người thuê mình cần gì? Mình phải làm thế nào cho thật tốt, để giữ uy tín, giữ công việc mình đang làm. Có chút tiền, bà đầu tự việc học tập cho con cái, không muốn chúng có con đường vất vả như bố, mẹ. Điều quan trọng, chúng có định hướng, tự lập, phải biết vươn lên, có vị thế trong xã hội, không để người ta khinh… Nghĩ như thế, làm như thế, ông trời đâu có phụ. Bà Phương được một người bạn, cũng là người Việt sang Mỹ trước bà, có chút vốn liếng thương cảm đã giúp đỡ gia đình bà ít vốn, chỉ chỗ làm nhà hàng. Giờ thì… gần ba mươi năm ở Mỹ ,bà đã là chủ một nhà ăn Việt Nam có uy tín ở thành phố này.

       Chuyện bà Phương, rồi gặp gỡ một số người Việt có hoàn cảnh tương tự, ngộ ra rằng, người Việt mình có đầy đủ những đức tính mà phật ban cho,Trí, Thiện, Tín, Lễ … Ở một xã hội lành mạnh, có tổ chức, luật pháp nghiêm chỉnh những đức tính quý báo này như  những hạt giống tốt được gieo vào mảnh đất màu mỡ, nó sẽ phát triển thành cây cối tốt tươi, vươn lên mạnh mẽ. Còn ở trong một xã hội có sự cạnh tranh không lành mạnh, nhất  là ở chế độ độc tài, toàn trị, kẻ giàu chủ yếu do làm ăn bất chính, luật pháp chỉ thuộc về kẻ có quyền, có thế, đi lên bằng đút lót, tham ô… Tất yếu dẫn đến một xã hội loạn, giãn cách người giàu, người nghèo ngày càng rộng, mâu thuẫn xã hội phát triển, lối sống văn minh không có chỗ tồn tại, đạo đức tha hóa, nhiều vụ chém giết dã man giữa người với người, giữa người nghèo với người giàu xảy ra, nhân lên, độ rùng rợn càng khủng khiếp…

          Không biết suy nghĩ như vậy có đúng không?

      

                            

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?837 <![CDATA[NHỚ QUÊ - Ghi  chép]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 23 Sep 2015 07:03:40 +0000 http://trankytrung.com/read.php?837  

Hơn một tháng rong ruổi mấy bang miền tây nước Mỹ, tôi vỡ vạc ra nhiều điều về nước Mỹ nói riêng và CNTB nói chung. Những điều mắt thấy, tai nghe tôi ghi chép lại, điều này có thể không xa lạ với rất nhiều người, là bởi, họ đến Mỹ nhiều lần chiêm nghiệm, hiểu nước Mỹ hơn tôi. Tất nhiên với nước Mỹ, chưa phải là một xã hội hoàn thiện, còn nhiều việc phải làm nhưng nên thừa nhận đó là một xã hội văn minh, dân chủ, quyền con người được tôn trọng, ý thức tự giác của con người rất cao. Đó là một xã hội mà mọi hoạt động nhà nước gắn chặt với vận mệnh từng người dân, người dân có ý kiến ủng hộ khi nhà nước hoạt động tốt hoặc sẵn sàng phế bỏ  khi nhà nước đó hoạt động không hiệu quả thông qua những cuộc biểu tình và phương tiện truyền thông như báo chi, đài, ti vi... không do nhà nước kiểm soát, cũng như thông qua những cuộc tranh cử bầu tổng thống của các đảng phái khi đến nhiệm kỳ mới...

    Nước Mỹ vững mạnh, kinh tế phát triển,xã hội ổn định, tiềm lực quân sự hùng hậu, luật pháp được thượng tôn...tất cả đều do những điều trên mà ra.

     Ghi chép của tôi về nước Mỹ, tuy còn sơ lược, cũng cố minh họa thêm điều đó.

      Tôi mong đất nước Việt Nam cũng được như vây.

-------------------------------------------

Bài 1

                NHỚ QUÊ

 

       Nhiều lúc ngồi nghĩ lại, hóa lẩn thẩn. Không biết mình đi Mỹ thế này là thực hay mơ? Lên máy máy bay rồi, ngồi đúng số ghế rồi vẫn chưa tin.

      Lẫn lộn cảm giác mơ và thực.

      Giờ của Houston lệch mười hai giờ so với Hội An quê mình. Đến Houston là tám giờ sáng, thì bên kia ở Hội An là tám giờ tối.                              

Tám giờ tối… Tám giờ tối trước cửa nhà lại ồn ã tiếng xe,  tiếng người đi vãn cảnh phố cổ Hội An. Đúng đêm trăng, tròn vành, vào giờ này phố cổ Hội An dưới ánh đèn lồng hiện lên mờ ảo của muôn ngàn tía. Còn ngồi bên sông Hoài giờ này, tĩnh lặng của mặt sông, lấp lánh của ánh trăng, gió mơn man, ghẹo nhẹ trên má, trên tóc… Ơ lạ, tại sao những cảnh ấy hiện lên rõ như thế? Chưa bao giờ có cảm giác này, kể cả trong giấc mơ. Bây giờ, đang lúc tỉnh, nhìn  phía trước, liếc phía sau chỉ thấy người là người, tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Việt… đều phân biệt rõ mà trong đầu chỉ nghĩ về quê, về Hội An .

     Thế là đúng  đã ở Mỹ rồi.

     Sang đến Mỹ, nghe nhiều người kể, rồi thấy trên phim, trên ti vi… nên thế, nhìn những dòng ô tô chạy như suối chảy, những con đường thẳng băng, chia làn như  thể để cho người lái xe khỏi dủng vô lăng, những hàng cây hai bên đường lá xanh mướt như không thể xanh hơn… không ngạc nhiên mà lại nhớ…

         Cứ mỗi hình ảnh lại liên tưởng.

         Qua Mỹ, không gian thoáng, ở thành phố Lake Charles của bang Louisiana chỗ nào cũng thảm cỏ, đường sạch bong, trên đường chỉ có ô tô, rất ít xe máy, người đi bộ còn thưa hơn. Phải nói không gian ấy rất đẹp nhưng sao lại thấy buồn, xa lạ. Buồn và xa lạ không phải giờ là khách xa quê vời vợi nỗi nhớ nhà mà bởi không gian ở đây tĩnh lặng quá, tĩnh lặng đến độ, phố đấy, nhà đấy, ô tô đậu trước cửa nhà đấy mà như không có người.  Những ngôi nhà đóng kín cửa nằm im lìm dưới rặng cây già, trông  nó cô đơn đến tội. Con đường  đang đi rộng, sạch, nhìn trước, nhìn sau đã gần trưa mà chỉ có một mình, một bóng, đi như vô vọng, không đích đến, đi mà nghe rõ tiếng động dưới bước chân, đếm từng bước mà không sợ nhầm…Những cảm giác này, không hề có khi ở Hội An. Đường ở Hội An nào có rộng, ba lần giang tay là hết chiều ngang, cuốc bộ dăm phút hết con đường dài, đâu dám so với đường bên Mỹ. Con đường phố cổ hẹp bước, nhưng rộng lòng, gặp nhau chào hỏi như thân, bất chợt lại nghe tiếng rao : “ Chè xanh đánh đây! “, “Ai trứng vịt lộn!”…không có cảm giác xa mà rất gần…

      Nói đến cây xanh, ở đâu chẳng có, cùng màu. Ở thành phố nơi hai đứa con đang học, chỗ nào cũng cây cổ thụ, tán rộng, cũng những cây thông cao vút, nhưng  có cảm tưởng màu xanh của cây ở đây chỉ muốn khoe sự lực lưỡng, vóc dáng, sức mạnh… không phải sự nương đỡ, hiền dịu, khác xa màu xanh cây cỏ của Hội An. Ở Hội An bên này phố cổ nhìn sang bên kia sông Hoài thấy những hàng tre xanh ngan ngát. Màu xanh hàng tre nhìn mà nhớ y như nhớ ánh mắt hiền của người thương. Dưới màu xanh ấy là con đò bập bềnh trên sóng nước, là tiếng khua mái chèo về đêm, là nhớ giọng hò của người con gái chưa biết mặt mời gọi trong đêm trăng …

      Một màu xanh của quê mà liên tưởng, dội lại bao nhiêu kỷ niệm.

      Càng đi xa, càng thấy màu xanh của quê hiện hữu, thương, nhớ  đến vô cùng.

      Đi dạo trong công viên Prien Lakecủa thành phố  Lake Charles trong một buổi chiều tĩnh lặng. Không gian thật yên bình, bên bờ hồ dăm ba người đàn ông câu cá, ghế ven hồ một hai đôi tình nhân ngồi tâm sự, xa hơn những ngôi nhà giản dị xây sát mép hồ, soi bóng… dễ thả hồn mà nhớ. Hội An không có công viên rộng, lại càng không có cảnh đẹp thế này nhưng ở Hội An lại có cảnh đẹp của Sông Hoài khắc đậm trong ký ức mỗi khi hòang hôn đến. Khi ánh nắng sắp tắt, cái màu vàng sậm, sậm dần, lạnh, lạnh dần chầm chậm trôi về dãy phía tây,  hai bên bờ nhánh sông Hoài cạnh phố cổ tự nhiên như cựa mình nhộn nhịp sau giấc ngủ chiều. Ghế nhựa mang ra, rải đều hai bên bờ sông xây bằng bê tông, mấy chiếc xe quay nước mía vội đẩy, đèn nhà hàng vội bật, người đi, kẻ lại hối hả. Chỉ một vài khắc sau, một diện mạo mới của Hội An hiện lên, khác hẳn lúc chiều…thế là đi, chen vai, thích cánh, thế là ngồi, ngồi cạnh gánh chè, thế là nói, nói đủ ngôn ngữ của khách du lịch trong, ngoài nước. Sự ồn ã, náo nhiệt phố cổ , không hiểu sao mình vẫn thích hơn là một buổi tối của công viên có đẹp nhưng vắng, lại lạnh dưới ánh đèn cao áp như công viên Prien Lake  của thành phố Lake Charles ( Louisiana) này.

        Đến sân bay Houston gặp những người cảnh sát Mỹ cao to, nghiêm nghị nhưng rất nhiệt tình, làm hết trách nhiệm giúp đỡ vác hộ chiếc va ly nặng ra xe đẩy. Gặp những người bạn Mỹ mới quen, nhưng không cảm giác bỡ ngỡ như quen từ lâu rồi khi họ hỏi thăm người thân… làm nhớ đến người thân  ở Hội An. Sao giống đến lạ, nhất là nụ cười, nét mặt…

      Sống tốt với nhau bao giờ chẳng thế !

 

      

      

]]>
http://trankytrung.com/read.php?819 <![CDATA[NHỮNG TIẾNG VỖ TAY CẢM ĐỘNG - Ghi chép]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 08 May 2015 02:44:35 +0000 http://trankytrung.com/read.php?819  

NHỮNG TIẾNG VỖ TAY CẢM ĐỘNG - Ghi chép

 
 
    Đại hội nhà văn khu vực miền trung và Tây Nguyên khai mạc vào sáng ngày 7/5/2015.
    Trước giờ khai mạc, trong đại hội lan truyền bài viết của nhà văn Ngô Thị Kim Cúc viết về việc 9 nhà văn đã tham gia  Ban vận động Văn Đoàn Độc Lập (VĐĐL) bị gạch tên không được dự đại hội nhà văn toàn quốc tại Hà Nội.
    Tiếp đến trong phần góp ý kiến của các đại biểu, nhà thơ – dịch giả người dân tộc T.L.C và nhà văn K.V lên án rất gay gắt của cái gọi là một “tổ chức” đối nghịch lại với HNV Việt Nam được gọi là VĐĐL. Thậm chí nhà thơ – dịch giả T.L.C phê bình cả BCH Hội Nghà Văn Việt Nam: "Tại sao trong bản báo cáo của BCH viết, đa số các đồng chí ủy viên BCH không tán thành việc tổ chức thành lập VĐĐL, mà không viết một trăm phần trăm không tán thành. Viết như vậy nghĩa là trong BCH Hội Nhà văn Việt Nam có đồng chí tán thành việc thành lập VĐĐL. Cần xem lại việc này…”.
Là người tham gia Ban vận động VĐĐL ngay từ buổi đầu tiên, tôi nhận thấy rằng, trong HNV Việt Nam, nhiều hội viên đã hiểu sai tôn chỉ,mục đích của ban vận động thành lập VĐĐL, hơn nữa, nhiều sự việc “ bé xé ra to”, không đúng bản chất, buộc tôi phải có ý kiến.
     Đầu tiên tôi chủ động xin rút tên ra khỏi danh sách bầu đại biểu đi dự đại hội toàn quốc vì tôi biết, với chuyện là thành viên trong ban vận động thành lập VĐĐL, sẽ có ý kiến chỉ đạo không bầu cho tôi (Giả sử như tôi có nhiều hội viên ủng hộ) vì đại hội ở thành phố Hồ Chí Minh nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Đỗ Trung Quân, Nguyễn Duy, Ngô Thị Kim Cúc, vợ chồng nhà văn Nguyễn Quang Thân – Dạ Ngân… còn bị buộc phải ở nhà, huống hồ là tôi, một anh viết văn quèn. Khi nghe đề nghị của tôi vào lúc cuối buổi sáng, có nhiều ánh mắt ngỡ ngàng, cả hội trường lặng đi một lúc. Tôi hiểu, có nhiều người không ngờ trong đại hội này vẫn có nhà văn tham gia ban vận động VĐĐL. Điều này cũng có nghĩa, cho đến giờ phút hiện tại, nhiều nhà văn trong HNV Việt Nam chỉ nghe “láng máng” có “tổ chức” này chứ họ không biết ai là người trong ban vận động thành lập VĐĐL (Buồn cười,mặc dù đã xin rút tên ra khỏi danh sách được bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên, đến buổi chiều kiểm phiếu, tôi vẫn được… 2 phiếu bầu!!!).
    Trong phiên họp buổi chiều, tôi chủ động xin lên diễn đàn phát biểu, hoàn toàn nói vo, suy nghĩ sao, nói vậy. Đoàn chủ tịch gồm nhà thơ Văn Công Hùng, nhà văn Đình Kính, nhà văn Trung Trung Đỉnh và phía dưới ngồi ở hàng ghế thứ nhất, nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch HNV Việt Nam hoan nghênh và cho phép tôi trình bày.
    Đầu tiên tôi trình bày nguyên nhân vì sao tôi gia nhập  ban vận động VĐĐL? Tôi đã đính chính lại cách hiểu sai của nhiều người về ban vận động VĐĐL. Ở đây cần rạch ròi, ban vận động VĐĐL chưa phải là một tổ chức, một hội đúng nghĩa, càng không phải một tổ chức đối lập với HNV Việt Nam như một số người tuyên truyền. Ban vận động thành lập VĐĐL chưa có cương lĩnh, điều lệ , văn phòng... không nhận sự tài trợ của bất cứ tổ chức nào, hoạt động mới giới hạn phạm vi hẹp dựa trên sự tình nguyện của một số nhà văn,  nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu… đồng chí hướng muốn xây dựng một nền văn học Việt Nam đích thực, đoàn kết, lành mạnh cùng Hội Nhà văn Việt Nam tạo ra bước chuyển biến mới cho nền văn học Việt Nam, tiến kịp dòng chảy thời đại (Cho dù bây giờ không ít người xin vào, nhưng Ban vận động vẫn không nhận). Nên thế, nhiều nhà văn Việt Nam tham gia ban vận động thành lập VĐĐL vẫn là hội viên HNV Việt Nam và gần như giữa anh chị em Hội viên HNV Việt Nam với các nhà văn, nhà thơ tham gia ban vận động thành lập VĐĐL quan hệ rất thân thiết, không hề có sự đối nghịch hay mâu thuẫn.
     Hiểu như trên nên tôi gia nhập Ban vận động thành lập VĐĐL với động cơ hoàn toàn vô tư, trong sáng vì thấy sẽ có một “sân chơi” mới để “trình làng” với thiên hạ những tác phẩm văn học của mình mà bên báo, sách của “lề phải” có thể không in vì sự “định hướng”. Và sự thật, một số truyện ngắn của tôi đăng trên trang báo mạng của ban động thành lập VĐĐL http://vandoanviet.blogspot.com/  nhận được nhiều lời góp ý chân thành của bạn đọc trong và ngoài nước. Cũng phải nói thật, sau này khi tôi đọc một số bài báo với nội dung “đao to, búa lớn” phê phán ban vận động thành lập VĐĐL tôi hơi hoang mang, vì thấy nội dung đó hoàn toàn truy chụp, chưa nói là bịa đặt, không đúng sự việc mà mình biết, đã tham gia. Nhưng tôi lại nghĩ, động cơ mình tham gia vào ban vận động thành lập VĐĐL là rõ ràng, minh bạch thì không việc gì phải "giật mình”. Hơn một năm tham gia ban vận động VĐĐL, nếu nói “hoạt động” của tôi ,điều gì tích cực nhất? Tôi sẽ trả lời,đó là sáng tác và quan tâm đến thời cuộc hơn. Hai điều này quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau, rất cần thiết với một nhà văn. Tôi cũng nghĩ, điều này chắc chắn cũng trùng hợp với yêu cầu của một Nhà văn là Hội viên HNV Việt Nam. Cũng trong hơn một năm qua, nếu nói hoạt động nổi bật nhất của Ban vận động thành lập VĐĐL là tạo ra đội ngũ sáng tác đông đảo hơn, đa dạng hơn về nội dung , đặc biệt thông qua những bài viết của một số nhà văn, nhà thơ trong nước, cũng như mạnh dạn giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của một số nhà văn, nhà thơ Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài trên trang http://vandoanviet.blogspot.com, Ban vận động thành lập VĐĐL đã giúp nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam đang sinh sống ở hải ngoại hiểu đúng tình hình xã hội Việt Nam, đặc biệt là tình hình văn học, có mối đồng cảm, liên kết dựa trên tính nhân bản giữa các nhà văn Việt Nam, cho dù họ ở bất cứ phương trời nào. Hàn gắn những hiểu lầm, những bất hòa, chung tay góp phần để hòa hợp, đoàn kết dân tộc, xây dựng một nước Việt Nam hưng thịnh. Những nội dung đó, tôi cho rằng đều thống nhất với tôn chỉ, mục đích của HNV Việt Nam. Rõ ràng nhất, trong điều lệ sửa đổi (dự thảo) của HNV Việt Nam trình ra đại hội sắp tới có đề cập đến việc tạo điều kiện thuận lợi kết nạp  nhà văn, nhà thơ Việt Nam đang sống ở hải ngoại thành hội viên HNV Việt Nam khi họ đủ điều kiện mà HNV Việt Nam yêu cầu. Điều đúng đắn này, tôi nghĩ rằng, những hoạt động, những tiếng nói của một số nhà văn, nhà thơ trong ban vận động thành lập VĐĐL đã được Ban chấp hành HNV Việt Nam lắng nghe.
     Còn nói về trang mạng http://vandoanviet.blogspot.com. Trong hơn năm qua trang mạng này hoạt động ngày càng hiệu quả, có tác dụng tích cực phổ biến các tác phẩm văn học Việt Nam ngoài phạm vi trong nước, còn cả cộng đồng quốc tế. Nhưng trên thực tế, nó vẫn cũng chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của bạn đọc. Hơn nữa, với mục đích thuần túy phổ  biến những tác phẩm văn học hay, nổi bật, có chất lượng của nền văn học Việt Nam, cần sự chọn lọc kỹ càng, có bản lĩnh của những người làm biên tập. Nên hiện nay lượng bạn đọc truy cập trang mạng đông, nhưng không phải là đứng nhất trong các trang mạng Việt Nam, đó cũng là điều dễ hiểu.
     Trong bài phát biểu của mình, tôi cũng đề cập đến việc Ban vận động VĐĐL in hai tập sách. Đây là những tác phẩm in trên trang mạng http://vandoanviet.blogspot.com. Nhiều tác phẩm từng được in trên báo giấy trong nước, hoặc trên báo mạng chính thống, nay tập hợp lại in thành quyển, nhân kỷ niệm một năm thành lập Ban vận động thành lập VĐĐL. Tôi và một số nhà văn, nhà thơ trong Ban vận động VĐĐL cũng hiểu rằng việc xin giấy phép để xuất bản là khó, trong khi dư luận, nhất là dư luận trong nước, vì thiếu thông tin chưa hiểu đúng,  các cấp có chức năng lại không cho phép trình bày, đối thoại. Nên vậy chúng tôi tự góp tiền, in sách theo kiểu “lưu hành nội bộ” trong phạm vi hẹp, những nhà văn có tác phẩm in trong tập sách này. Việc này tôi cũng thấy bình thường ở nước ta, miễn là tác phẩm đó không kích động bao lực, kêu gọi lật đổ chế độ, chống đảng, nhà nước, tuyên truyền mê tín dị đoan… Sách in ra, có một số nơi muốn phát hành, chúng tôi cảm ơn, nhưng không đồng ý.
  Sự việc chỉ đơn giản như vậy, tôi muốn nói lại cho rõ.
  Kết luận bài phát biểu của mình, với tư cách hoàn toàn cá nhân, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng, trong quá khứ, chúng ta đã có bài học đau đớn về vụ “Nhân văn Giai phẩm”. Một số nhà văn, nhà thơ chân chính, có tài, có đức, thành tâm với dân tộc, với vận mệnh đất nước, chỉ muốn nói lên tiếng nói đúng của mình mà chịu nhiều nỗi oan khiên. Không lẽ bây giờ, giữa thời đại văn minh này, một nhà nước tự nhận vì dân,do dân bầu ra lại dẫm lại sai lầm đó.
   Tôi cũng tin rằng, Hội Nhà văn Việt Nam, tập hợp những nhà văn, nhà thơ đều là những đồng nghiệp thân thiết của chúng tôi. Những nhà văn, nhà thơ này không bao giờ muốn sai lầm đó xảy ra một lần nữa với những đồng nghiệp của mình.
   Thương nhau không hết nỡ nào giận nhau.
 
 
   Sau kết thúc bài phát biểu của mình ,tôi nhận được nhiều tràng vỗ tay ủng hộ của các đại biểu dự đại hội.
   Những tiếng vỗ tay làm cho tôi ấm lòng và cảm động.
   Trong bữa cơm thân mật do thành ủy Đà Nẵng mời chiều ngày 7/5/2015, khi tôi ngồi cạnh nhà văn nữ Thùy Mai ( Huế ) cùng một số người khác thì nhà thơ Hữu Thỉnh ,chủ tịch HNV Việt Nam cầm cốc bia đi đến và nói: “ Trung! Anh mời em!”.
   Tôi cảm ơn và chạm cốc với nhà thơ.

 
]]>
http://trankytrung.com/read.php?734 <![CDATA[NHỚ MỘT THỜI LÀM CỘNG TÁC VIÊN CHO BÁO VĂN NGHỆ TRẺ]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Mon, 18 Aug 2014 07:52:14 +0000 http://trankytrung.com/read.php?734

NHỚ MỘT THỜI LÀM CỘNG TÁC VIÊN CHO BÁO “ VĂN NGHỆ TRẺ” – Hồi ức

           Bây giờ báo giấy, nghĩa là báo của Ban tuyên giáo TW chỉ đạo nội dung quả là khó bán, số lượng phát hành thấp, nhiều tờ báo người ta không muốn mua. Nhưng có một thời, tôi nhớ không lầm thời điểm những năm chín mươi của thế kỷ trước, lúc đó báo mạng, blog, Facebook… ở nước ta chưa phát triển mạnh như bây giờ, báo giấy vẫn bán chạy, thậm chí có tờ như tờ “ Văn Nghệ” của Hội nhà văn Việt Nam, dưới thời nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập, người ta phải xếp hàng trước cửa bưu điện, chờ mua mỗi khi đến ngày báo này phát hành. Giải thích nguyên nhân này, theo tôi, có mấy nguyên nhân.

            Nhiều tờ báo lớn lúc đó có những Tổng biên tập có nghề, có tâm, dám chịu trách nhiệm, đứng về lẽ phải, đồng hành cùng nhân dân, nói được nguyện vọng của người dân nên tờ báo đó được người đọc đón nhận như tờ Văn Nghệ, Lao Động, Tuổi Trẻ…Nhiều tờ báo có đội ngũ biên tập viên “ cứng” nhanh , nhậy biết tổ chức đội ngũ cộng tác viên giỏi để có những bài báo hay, nội dung phong phú. Điều nữa, thời mới “ mở cửa”, “ đổi mới”…nhiều đề tài, trước đây thường “ cấm kỵ”, nay được phép viết, đó cũng là một luồng gió mới thổi vào để làm cho nội dung nhiều tờ báo trở nên hấp dẫn hơn…

             Ở đây tôi muốn nói đến báo “ Văn Nghệ Trẻ” của Hội Nhà Văn ở thời kỳ đầu, khi tờ báo này xuất bản.

             Ban biên tập của báo Văn Nghệ Trẻ hồi ấy, tôi biết, toàn những người làm báo giỏi, vui nữa, đó là những người tôi quen biết như nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Hồng Thanh Quang, nhà văn Phan Thị Vàng Anh, nhà thơ Nguyễn Thành Phong… Mỗi khi ra Hà Nội, ngồi nói chuyện với nhau, gần như chúng tôi chỉ nói chuyện làm báo, cần viết những nội dung bám sát vào đời sống, nguyện vọng của người dân, nội dung đó phải thiết thực, cụ thể không sa đà vào văn hóa rẻ tiền…

              Phải nói thời kỳ đầu của báo Văn Nghệ Trẻ đã hoàn thành tốt chức năng này.

           Tôi nhớ một kỷ niệm, chuẩn bị số báo xuân 1998 của tờ Văn nghệ Trẻ, tôi nhận được điện của nhà thơ Hồng Thanh Quang: “ Quang nhờ anh viết hộ một số chân dung phóng viên nữ của Đài truyền hình Đà Nẵng để đăng vào số tết, được không ?”. Tôi có hỏi lại Quang: “ Có hạn chế đề tài không?”. Nhà thơ Hồng Thanh Quang trả lời: “ Anh cứ chọn thỏa mái, miễn là đề tài đó anh cảm giác thấy hay, phù hợp với tôn chỉ mục đích của Văn Nghệ Trẻ.”. Nghe Quang nói vậy, tôi vui. Vì như vậy,  viết sẽ đúng sở trường của mình, chứ còn hạn chế đề tài, cái này được viết!!! cái kia cấm viết!!! sẽ ra những bài viết sống sượng, gượng gạo, khó hay. Trong phóng viên nữ của ĐTH Đà Nẵng lúc đó, tôi chú ý đến  Hoài Thu, một MC của đài, đồng thời cũng là một biên tập viên có nghề, xông xáo, đã hoàn thành nhiều phim phóng sự được khán giả đánh giá cao. Đặc biệt tôi được biết, một xí nghiệp giày da ở Đà Nẵng do người nước ngoài quản lý, những người công nhân đang làm việc ở đây không chịu được việc đối xử bất công của chủ như lương thấp, kéo dài thời gian làm việc, điều kiện ăn uống tồi tệ…họ đã bãi công toàn xí nghiệp. Chủ xí nghiệp sợ dư luận bên ngoài biết đã đóng cổng, giam công nhân bên trong, mặc cho thời tiết nóng nức, đói, khát… Hoài Thu cùng một số đồng nghiệp nữa biết chuyện, xin phép Ban giám đốc đến quay phim, phỏng vấn trực tiếp công nhân để đánh động dư luận, đồng thời cũng là một tiếng nói thiết thực đòi lại quyền lợi chính đáng của người lao động. Được Ban giám đốc  ĐTH Đà Nẵng đồng ý, Hoài Thu cùng một số đồng nghiệp đến ngay tại cổng của xí nghiệp giày da này quay lại cảnh đình công và phỏng vấn trực tiếp những người công nhân. Trên nét mặt vẫn còn nhễ nhại mồ hôi với ánh mắt phẫn nộ, lời nói cương quyết những người công nhân này đã cho  dư luận thấy sự bóc lột thậm tệ của chủ người nước ngoài, họ không biết bấu víu vào đâu??? Quay tại chỗ, biên tập tại chỗ, vừa quay vừa dựng kịch bản…Phóng sự này của Hoài Thu đã gây ra một tiếng vang, ít nhất chủ người nước ngoài cũng phải ngồi lại với người công nhân để thống nhất cách giải quyết.

          Ngoài viết chân dung Hoài Thu, tôi còn viết chân dung MC Như Ngọc, một MC bàn lĩnh, có văn hóa, trình độ… phụ trách một số chương trình “ điểm” của ĐTH Đà Nẵng. Hai bài báo này đăng ở Văn Nghệ Trẻ số xuân 1998, gần như không sửa một chữ nào.

             Viết đến đây tôi lại nhớ đến “ tù nhân lương tâm” Đỗ Thị Minh Hạnh. Chỉ vì bức xúc với sự đối xử tệ bạc của một số chủ người nước ngoài với công nhân Việt Nam, chị viết bài tố cáo việc này với dư luận trong cũng như ngoài nước, trả lời phỏng vấn với đài nước ngoài, tham gia một số tổ chức đòi quyền lợi cho người lao động…   So với Hoài Thu rõ ràng hai con người, hai sự việc đều giống nhau về bản chất cũng như nội dung . Nhưng bây giờ  giả như tôi viết về chị Hạnh như viết đã  viết về Hoài Thu, chắc chắn không tờ báo giấy nào dám đăng  vì chị Hạnh bị quy kết vào tội “ Chống phá nhà nước, gây mất ổn định trật tự , xã hội” bị đi tù vừa mới rồi mới được trả tự do…

            Nói như vậy để thấy rằng, có một thời, nhất là sau thời “ Đổi mới” báo chí Việt Nam đã làm tốt chức năng của mình, được bạn đọc đón nhận.

             Còn bây giờ, sao lại không được như xưa….

             Với Văn Nghệ Trẻ tôi còn một chuyện nữa, muốn kể ra đây.

               Một hôm, tôi nhận được điện thoại của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Thiều nói với tôi, đại ý, theo gợi ý của Phan Thị Vàng Anh, BBT “ Văn Nghệ Trẻ” có mở mục “ TRONG ĐÁM ĐÔNG, HỎI LẤY MỘT…!”. Có nghĩa là quan sát, suy nghĩ trong đời sống xã hội rồi chọn lấy những nhân vật, hiện tường…tiêu biểu, giả như làm cuộc phỏng vấn để phê phán pha chút hài hước nhưng  có tính xây dựng. Viết ngắn gọn, đủ, thật sâu sắc.

          Nghe Thiều nói vậy, tôi an tâm, nhưng cũng thoáng băn khoăn, như Thiều nói mục này là “ đinh” của tờ báo, liệu với khả năng viết còn hạn chế của mình có đáp ứng được yêu cầu? Tôi có nói điều này với Thiều, Thiều động viên, ông cứ nhận lời và viết đi, có gì chúng tôi sẽ góp ý.

                      Với mục “ TRONG ĐÁM ĐÔNG HỎI LẤY MỘT…” chúng tôi thống nhất toàn lấy tên phụ nữ. Ví như đạo diễn, nhà báo Lê Hoàng có bút danh “ LÊ THỊ LIÊN HOAN” ( nhà báo giữ bút danh này cho đến tận bây giờ, có người nói với tôi, đây là họ, tên vợ của nhà báo), còn Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều lấy bút danh “ TRẦN THỊ VUI VẺ”. Còn tôi tự nhận “ VŨ THỊ HÂN HOAN”. Nghĩa là “ Liên Hoan”, “Vui Vẻ”,  “Hân Hoan”, tự bản thân bút danh đó, cũng là một tiêu điểm để bạn đọc chú ý khi đọc vào mục này. Sau này, tôi có đọc báo, thấy hình như… các nhà báo viết bài, rất không để ý lắm đến bút danh gây chú ý như kiểu “ Lý Sinh Sự ” ở báo “ Lao Động”. Theo tôi, sở dĩ, mục “ TRONG ĐÁM ĐÔNG , HỎI LẤY MỘT…! ” của báo Văn nghệ Trẻ đứng được trong lòng bạn đọc, một phần tiều đề bài báo, không giống ai, gợi sự tò mò của bạn đọc, một phần nữa, là tên tác giả các bài báo, là tên “đặc biệt” làm cho người đọc dễ nhớ, lưu sâu trong kí ức.  

            Đó là cái “ tài” của những người phụ trách nội dung tờ báo Văn Nghệ Trẻ.

             Mở đầu của mục này, là bài báo phỏng vấn cô nuôi dạy…“hổ” của phóng viên “ Trần Thị Vui Vẻ”. Thực ra, như tôi giới thiệu phần trên, đây là bài báo do nhà văn Nguyễn Quang Thiều thực hiện. Một bài báo hay, nói rõ thực trạng đáng báo động của nền  giáo dục mầm non Việt Nam. Trong cuộc “ phỏng vấn” này, cô nuôi dạy trẻ “trả lời” phóng viên với thái độ bất cần, cách giáo dục vô văn hóa, chỉ cần tiền, không cần đạo đức, vùi dập tuổi thơ… Bài báo lập tức gây được dư luận, có người  khen hay, nhưng cũng có người cho rằng bài bào đã nói quá,  “ bêu xấu” nên giáo dục Việt Nam, ở đây cụ thể là giáo dục mầm non, làm gì có những cô giáo dạy lứa tuổi mẫu giáo “ác” như thế!!! Than ôi! Những điều mà phóng viên “ Trần Thị Vui Vẻ” báo động về thực trạng giáo dục mầm non,với hiện tại, nhiều sự việc, hiện tượng chúng ta đang chứng kiến đã vượt quá những điều “Vui Vẻ” phỏng vấn rất nhiều. Nhiều sự việc đau lòng xảy ra, gây phẫn nộ trong dư luận như cô giáo  nhét  các em vào lu nước không cho khóc, hoặc tát các em khi cho ăn, đập, đá các em đến chết… Giá như cách đây gần hai mươi năm bài “ phỏng vấn” cô nuôi dạy “hổ” của phóng viên “ Trần Thị Vui Vẻ” được những vị lãnh đạo ngành giáo dục chú ý cho chuyển thành một đề tài thảo luận sâu rộng trong ngành, rồi cũng qua bài “ phỏng vấn” này, ngành giáo dục đề ra những cuộc thi đua, kiểm tra sát sao về đạo đức của giáo viên trong ngành giáo dục, nhất là giáo dục mầm non… tôi tin ít nhiều ngành giáo dục mầm non có chuyển biến, những sự việc đau lòng về việc đối xử với các em sẽ được hạn chế ít nhiều. Rất tiếc…!!!

          Vậy là các phóng viên “Liên Hoan”, “ Vui Vẻ”, “ Hân Hoan”  “Phỏng vấn” cứ “ phỏng vấn”, còn có ai nghe không?

               Tùy!

              Thực ra với đề tài rộng như thế này, BBT Văn Nghệ Trẻ đã cho chúng tôi một mỏ “ vàng” lộ thiên tha hồ khai thác. Rõ nhất là phóng viên “ Lê Thị Liên Hoan”, “ Em” phỏng vấn đủ nhân vật, hết  cu “ Tèo” có vẻ dân dã, đến cả “Hoa hậu” xóm, rồi cả những vật vô tri, vô giác như bàn, ghế… “Lê Thị Liên Hoan” phỏng vấn tuốt luốt. Người phỏng vấn ra câu hỏi hóm hỉnh, người được phỏng vấn cũng trả lời những câu hóm hỉnh không kém… Sau này “ Lê Thị Liên Hoan” thành tên một “ thương hiệu” của nhà báo, đạo diễn Lê Hoàng mà nhiều báo đến đặt bài.

               Riêng tôi, tôi cũng chú ý và học được nhiều điều ở những bài phỏng vấn này và  bắt đầu chú ý từng chi tiết nhỏ trong cuộc sống để hình thành đề tài. Ví như, theo dõi ti vi, nhất là chương trình thời sự hay truyền hình trực tiếp một sự kiện văn hóa, chính trị nào đó, tôi thấy có nhiều vị cứ cầm giấy đọc cứ như “ theo khuôn”. Việc này tưởng đơn giản nhưng người nghe có quyền đánh giá về trình độ, nhận thức, tác phong… của vị đó. Lớn hơn, cầm giấy đọc còn là sự biểu hiện đức tính quan liêu xa rời quần chúng… sự ngăn cách sẽ càng nới rộng giữa cán bộ lãnh đạo và nhân dân. Nghĩ như thế tôi viết bài phỏng vấn:

           VỚI NGƯỜI HAY CẦM GIẤY ĐỌC…

                     Phóng viên Vũ Thị Hân Hoan thực hiện

-  Phóng viên ( PV): Sao tóc anh chải mượt thế?

- Người hay cầm giấy đọc ( NHCGĐ): Anh là lãnh đạo.

- PV: Sao khi nói, mồm anh tròn thế?

- NHCGĐ: Cũng vì anh là lãnh đạo.

-PV: Sao anh có bộ comlê oai thế?

- NHCGĐ: Người lãnh đạo phải thế!

- PV: Tại sao khi phát biểu anh hay cầm giấy đọc?

- NHCGĐ: Vì đấy là tác phong người lãnh đạo. Ở nước ta ai không cầm giấy đọc trước cử toạ, là không phải người lãnh đạo.

- PV: nhưng em nghĩ đã là Tiến sỹ mà lại cầm giấy đọc, chẳng lẽ trình độ của anh “ ghê” như thế mà không thể nói “ vo” một vấn đề mà người nghe đang quan tâm?

- NHCGĐ: ( cười) …

- PV: Anh cười là em hiểu bằng “ Tiến sỹ” của anh như thế nào rồi!!! Thế sao em thấy bên tây mấy ông lãnh đạo khi nói với cử toạ, rất ít khi cầm giấy đọc!

- NHCGĐ: Các ông ấy liều, vô văn hoá, không có nhân cách và rất dốt.

- PV: Anh nói, em không hiểu?

- NHCGĐ: Các bố ấy liều, là nói không có giấy rất dễ đi sai đường lối, sai chỉ đạo chung. Vô văn hoá, nhỡ đâu, không có giấy, lại ăn nói kiểu nông dân, văng tục trước mọi người thì sao? Không có nhân cách, vì đọc không có giấy, nhân tiện trong đầu cứ nghĩ mình nhất, thế là nói văng mạng, tự đề cao mình, chửi đồng đội bạn bè, có khi chửi cả mấy người trí thức chân chính. Nói không có giấy viết sẵn sẽ lòi ngay cái dốt ra. Nói dài, nói dai, nói dại. Nói mà không biết mình đang nói vấn đề gì…

- PV: Nhưng em thấy mấy ông lãnh đạo bên tây, đã có ai dính vào trường hợp ấy đâu?

- NHCGĐ: Họ “ dính vào chuyện ấy …” Lại đi nói cho cô biết, có mà …

- PV: À ! Em hiểu rồi, bên mình có chuyện đó, nên những người như anh mới “ Phải cầm giấy để đọc”?

- NHCGĐ: Đấy là cô nói chứ không phải tôi nói.

- PV: Nói thật với anh ! Anh cứ cầm giấy cắm cúi đọc, chỉ thỉnh thoảng mới ngẩn mặt lên, khua tí tay, uống một hớp nước, giải thích dăm ba câu cho có lệ, rồi lại cúi xuống đọc, trông mất “ uy ” quá, thiếu tự tin.

- NHCGĐ:  Tôi cần gì “ uy” ! Mà giả sử tôi không có “ uy” , tôi vẫn là người lãnh đạo, chẳng ai làm gì tôi. Còn cô nói “ thiếu tự tin!”, tôi cho cô nói câu này đúng.

- PV: Vì sao thế ạ ?

- NHCGĐ: Thiếu tự tin, cụ thể hơn, luôn lo sợ là bản chất người lãnh đạo.

- PV: Lãnh đạo ở đâu ? thưa anh.

- NHCGĐ: Ở tôi, chứ đâu!

- PV: Em cảm ơn anh đã nói ra sự thật. Nhưng trông anh “ oai ” thế kia, lại ở vị trí lãnh đạo, có việc gì mà phải sợ?

- NHCGĐ: Tôi lên được vị trí này cô tưởng dễ à! Chạy qua bao nhiêu cửa, “chơi” không biết bao nhiêu kiểu, để hạ gục những thằng định tiếm quyền chức này. Rồi còn chuyện hy sinh về kinh tế nữa, nói ra cô không tin đâu! Tôi mới ngồi được ở ghế lãnh đạo. Tuy nhiên vẫn chưa yên, nhiều thằng đang muốn hất văng tôi ra khỏi ghế này… làm sao mà không lo sợ?

- PV: Để đối phó việc đó, anh phải làm gì ?

- NHCGĐ: Thì cô thấy đấy, cần phải dấu trình độ của mình, không cho chúng nó biết, bằng cách kiếm bằng “ Tiến sỹ” , “thạc sỹ”, rồi ăn mặc thật đẹp mỗi khi phát biểu. Khi đã phát biểu thì phát biểu thật đúng, thật hay cũng lại bằng cách để cho người khác viết, rồi mình  “ cầm giấy  đọc” bài phát biểu ấy trước cử toạ.

- PV: Anh đọc như thế, em sợ, có khi chính anh cũng không biết mình đang đọc gì?

- NHCGĐ: Điều đó không quan trọng lắm, đối với tôi.

- PV: Anh không tôn trọng người nghe hay sao?

- NHCGĐ: Cô thử hỏi họ, họ có tôn trọng tôi không? Mà tôi đi tôn trọng họ.

- PV: Nhưng họ đang nghe anh nói cơ mà!

- NHCGĐ:  Tôi thừa biết có khi tôi đang đọc “phát biểu”, họ ngồi im lắng nghe. Thực ra là giả vờ hết, tiện cho việc quay ti vi, khỏi bị công an, trật tự viên nhắc nhở. Còn khi ra ngoài hội trường mọi việc đâu lại vào đó, bài phát biểu “đọc” của tôi họ không nhớ đến một câu, chẳng có một tác dụng gì hết.

- PV: Nghe anh nói như vậy, em buồn thật.

- NHCGĐ: Vì sao cô lại buồn?

- PV: Thế thì… anh phát biểu làm gì?

- NHCGĐ: Cô hỏi thật buồn cười, vì tôi là người lãnh đạo. Đã lãnh đạo thì phải  “ phát biểu “ chứ. Vì không “ phát biểu” tôi còn biết làm việc gì nữa. Cô hiểu chưa ?

….

       Tiếp đến tôi chú ý đến những người tặng sách và người được tặng sách. Quan sát kỹ, đó là một  “hài kịch” ở nước ta. Người in sách, nhất là những người tự nhận là “ nhà thơ” thường in sách để “ tặng”. Con người nhận sách, rất ít người đọc cho tử tế, phần đông để “ khoe”. Nhìn rộng ra, tặng sách, nhận sách bệnh khoe, ảo tưởng, cho những cái mình không có, nhận những cái mình không biết, ấy thế mà cứ vênh vang. Thế là tôi viết bài phỏng vấn:

       PHỎNG VẤN NGƯỜI ĐƯỢC TẶNG NHIỀU SÁCH

                    Phóng viên VŨ THỊ HÂN HOAN thực hiện

        Phóng viên ( PV): Theo em được biết,  trong năm vừa qua, anh là người được các nhà văn, nhà thơ tặng nhiều  sách nhất. Nhờ Anh cho em biết,  có “ bí quyết ” gì mà anh được “ân huệ”  đó?

         - Người được tặng nhiều sách( NĐTNS): Quả thực em hỏi thế làm  anh khó trả lời. Có lẽ các nhà văn, nhà thơ tặng sách cho anh, cứ nghĩ  rằng, ở cương vị này, anh là người ham đọc sách, nên họ tặng.

           - PV:  Em được biết, anh là người rất bận việc, riêng chuyện ngồi đoàn chủ  tịch,huấn thị, cắt băng khánh thành, cầm xẻng xúc đất động thổ ... đã  hết thời gian. Vậy anh đọc sách lúc nào ?

            - NĐTNS: Chà ! Chà ! Em hỏi  thế, anh càng khó trả lời... Đúng là anh không biết đọc sách lúc nào...  Em nói chưa đủ, anh còn dự nhiều hội nghị khác nữa chứ . Ví dụ như Hội  thảo khoa học... mà có nhiều hội thảo nội dung anh mù tịt, vẫn phải  ngồi, ngồi im lặng, ngắm chai nước suối...

             - PV: Nghĩa là anh rất bận về sự vụ, không có thời gian đọc sách?

             - NĐTNS: Gần đúng như thế !

              - PV:Nghĩ cũng lạ, anh bận như vậy mà các nhà văn, nhà thơ vẫn... tặng sách cho anh ?

             -  NĐTNS: Việc tặng sách là như thế này. Anh hay đi dự hội nghị của các  ngành, của các tỉnh... Đất nước mình ở đâu mà không có nhà văn, nhà thơ.  Nhất là bây giờ đâu đâu cũng có nhà thơ, ngành nào cũng có... thấy anh  đến dự, nghe đoàn chủ tịch giới thiệu, bên dưới vỗ tay, anh thấy mấy ông  nhấp nhổm, ánh mắt nhìn anh chan chứa thương yêu. Đến giờ giải lao,  chính mấy ông ấy tặng anh những tập thơ vừa mới sáng tác. Nhà thơ đấy!  Thậm chí có ông nhà thơ, anh nhớ không lầm, cũng tập thơ đó, tặng anh  những ba lần.  Anh vỗ vai nhà thơ đó: “ Này cậu! hình như hai lần trước  cậu cũng tặng mình hai tập thơ cùng một nội dung này rồi...”. Ông nhà  thơ ấy nghe anh nói vậy, nở một nụ cười rất dễ thương: “ Dạ, thưa anh !  Lần đầu em tặng anh tập thơ ấy là dành cho vợ của anh đọc. Lần thứ hai  em cũng tặng tập thơ ấy là cho con anh đọc. Còn lần này em tặng, là cho  đích danh anh đọc!”. Nhà thơ đã nói vậy. làm sao anh không cầm...

          - PV: Nhà thơ tặng sách cho anh nhiều như vậy, điều đó chứng tỏ nền văn nghệ nước ta đang thịnh?

           -  NĐTNS: Có lẽ em nói đúng! Có ông nhà thơ khoe với anh: “ Thưa anh ! Đây  là tập thơ thứ “ băm” trong năm của em. Mỗi tập thơ ra đời là một bước  đi lên, như có nhà phê bình, bạn thân của em đã viết. Tập thơ sau bao  giờ cũng dày hơn tập thơ trước. Chữ tập thơ sau bao giờ cũng to hơn chữ  tập thơ trước. Đặc biệt, bìa tập thơ sau bao giờ cũng in láng, đẹp hơn  tập thơ trước...”.
- PV: Nhưng dù sao em vẫn thắc mắc, tại sao anh là người được nhiều nhà văn, nhà thơ tặng sách?

          -  NĐTNS: Họ tặng cho anh vì... như họ ghi lời đề tặng đầu trang: “ Tặng  anh... người anh tinh thần của em!”. Anh đọc lời đề tặng rồi tự hỏi: “  Quái lạ cho tay nhà thơ này! Cứ làm như không có mình thì nhà thơ không  có tinh thần chắc ?”. Rồi có người còn viết: “ Tặng anh, một con người  có trái tim quả cảm, dám chấp nhận phong ba...”. Nói thế là quá với anh,  anh đang mắc bệnh đau tim vào nằm thường trực ở bệnh viện Hữu Nghị  suốt. Được “ trái tim quả cảm” không thuốc men có mà sướng cả đời! Anh  lại sợ gió bão, cứ nghe có sóng thần là thôi không dám mua căn hộ cao  cấp ven biển. Viết thế là không đúng với anh!

         - PV: Dẫu sao anh cũng  hơn em là có người hâm mộ, tặng sách. Có điều gì không phải của người  tặng sách, theo em , anh nên bỏ qua... Anh cho em hỏi lại, anh có đọc  sách của người tặng sách không ? Anh trả lời thực tình nhé !

         - NĐTNS: Anh nói với em rồi... đừng bắt anh trả lời câu hỏi này nữa.

          - PV:Anh nói như vậy không sợ những người tặng sách tự ái sao?
-  NĐTNS: Nói nhỏ với em, có nhà thơ, nhà văn biết thừa là họ tặng sách  cho anh, anh cũng không đọc nhưng họ thích anh khen, nhất là khen họ  trước đám đông. Nên thế dù không đọc sách của họ, anh vẫn khen : “ Sách  của cậu viết hay lắm, rất hấp dẫn, đúng vấn đề... tuyệt vời...”. Nghe  anh khen, quá sướng, lỗ mũi của mấy người này phập phồng như mang con cá  đang bơi ở dưới nước ấy. Nhà văn, nhà thơ ai chẳng thích những người  như anh khen.
- PV: Nhưng... nhỡ đâu những điều anh khen  không có trong cuốn sách họ tặng cho anh thì sao?

           -  NĐTNS: Em nói đúng... nhưng anh biết có rất nhiều người giống anh, cũng  không bao giờ đọc sách văn học, Nên anh khen hoặc chê, họ không biết.  Tuy nhiên điều đó cũng không quan trọng, quan trọng là khi anh khen...  không ai dám phản bác được...
- PV: Thưa anh! Vì sao?

          - NĐTNS: Vì các nhà thơ, nhà văn thích tặng sách cho anh để lấy cái “ Oai”: “ Tôi là bạn của ông...”.  Em hiểu không ?

           - PV: Anh nói thế em hiểu! Cảm ơn anh.

                 ...

              Những bài “ phỏng vấn” như thế này, đều được đăng trong mục “ TRONG ĐÁM ĐÔNG, HỎI LẤY MỘT…!” của báo Văn Nghệ Trẻ. Tôi vui, vì có lần mình chứng kiến, nhiều người đọc mục này cứ tranh cãi người viết “nam” hay là “ nữ” , rồi đoán già, đoán non tác giả!

              Với mục “TRONG ĐÁM ĐÔNG, HỎI LẤY MỘT…!” BBT báo Văn Nghệ Trẻ đã thực hiện đúng chức năng của báo chí, cho phép người viết chọn đúng đối tượng phê phán. Phải nói đây là bản lĩnh của những người làm báo. Tôi lại thử hỏi, với những bài phỏng vấn như hai bài báo tôi viết ở trên, hiện tại, liệu có báo giấy nào dám đăng!!!

              Điều đó cũng giải thích vì sao, một thời báo Văn Nghệ cũng như báo Văn nghệ Trẻ được đông đảo bạn đọc đón nhận. Cũng phải nói thêm, có một thời, như những năm chín mươi thế kỷ trước, chúng ta, nhất là báo chí được phép “ mở miệng”, rất ít vùng bị “cấm”, viết được nhiều đề tài mà bây giờ gọi là “ nhạy cảm”, nhưng không hề sợ bị gọi là “ các thế lực phản động lợi dụng”!!!

            Hiện tại, nếu như, các cấp lãnh đạo, cụ thể ở đây là ban Tuyên giáo TW tin tưởng vào đội ngũ Tổng biên tập các báo, cho phép các báo đề cập nhiều vấn đề, không có vùng “ cấm” mà nhân dân, dư luận đang cần một lời giải thích rõ ràng, tôi tin rằng, báo chí lại trở về một thời hưng thịnh, như thời tôi được vinh hạnh làm cộng tác viên của tờ Văn Nghệ Trẻ.

        

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?729 <![CDATA[DỰ PHIÊN PHÚC THẨM TRƯƠNG DUY NHẤT - Ghi chép]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 27 Jun 2014 01:45:03 +0000 http://trankytrung.com/read.php?729

Ảnh chụp qua màn hình

 

DỰ PHIÊN XỬ PHÚC THẨM TRƯƠNG DUY NHẤT – Ghi chép

    Nguyên (1) điện cho mình: “ Ra sớm nhé! Trước 6h30, Phượng đã xin được cho ông  và tôi cùng anh Lợi (2) vào dự phiên phúc thẩm của Nhất rồi. ” Thế là hôm trước vội chuẩn bị áo quần cho tươm tất, làm hết mọi việc vợ nhờ, rồi để sáng hôm sau, mới bảnh mắt mình phóng ô tô ra Đà Nẵng.

         Đến trước cổng tòa Phúc thẩm, mình thấy Phượng , vợ của Nhất cùng con gái và luật sư Trần Vũ Hải đã đứng chờ. Ở đây mình gặp Nguyên cùng anh Lợi. Người dự cũng không đông, chỉ lèo tèo vài mống, việc này mình không ngạc nhiên. Đang mùa World Cup, thức cả đêm, còn sức đâu mà đến dự. Lại có người nói, y án, đến làm gì! Mình không hiểu họ lấy tin này ở đâu hay từ vụ án Phạm Viết Đào rồi suy diễn. Có một điều giống phiên sơ thẩm lần trước, là đông công an quá, công an ngồi trong quán cà phê,  dọc ngã tư, cạnh hàng rào tòa phúc thẩm… Mình nghĩ có cần đông công an thế không ? khi chỉ xử một mình Trương Duy Nhất, mà tội trạng của Nhất chỉ là cái tội: “ dám nói”, một cái tội không động đến lông chân của một ai đó, nếu như người đó không muốn nghe.

             Qua cổng vào tòa án, y như qua cửa kiểm tra an ninh sân bay. Máy ảnh, điện thoại, máy ghi âm… phải bỏ lại, trình chứng minh thư cho người gác cổng xem có đúng họ tên với họ tên đã đăng ký xin vào dự không? Rồi qua cửa kiểm tra an ninh, nếu nghi ngờ có mang vật lạ, một người công an nữa sẽ đến kiểm tra. Đây là lần đầu tiên được trực tiếp dự một phiên phúc thẩm, xử người “ bất đồng chính kiến” hơn nữa, mấy người công an làm nhiệm vụ kiểm tra an ninh khuôn mặt lạnh như tiền, ít nói, nguyên tắc… làm cho mình hơi căng thẳng. Nhưng phút căng thẳng này cũng qua nhanh, vì mọi thủ tục mà tòa án yêu cầu đối với người đến dự, mình, Nguyên và anh Lợi đều đáp ứng gọn, đủ.

         Cũng tưởng sẽ vào được phòng xử án để nghe Nhất , tòa, luật sư tranh tụng, không ngờ…! Những người có trách nhiệm của tòa Phúc thẩm mời mọi người đến dự vào phòng báo chí, xem xử án qua một màn hình lớn. Mình nhìn quanh, cũng chỉ thấy có một vài phóng viên một số tờ báo quen mặt, rồi thì… đông công an.

       Công an đông, thái độ vui, bình thản, có một vài người mặc áo giáp chống đạn, đội mũ sắt, đôi ba người cầm cái gậy ( dùi cui) đi đi, lại lại tung tẩy, chào người này, hỏi người kia… có mấy nữ công an mặc thường phục, nét mặt xinh, duyên dáng… gần như có cảm tưởng họ không để ý đến ai. Ây vậy một lần Nguyên vô ý khẽ để hai chân lên ghế trước, lập tức một người công an trẻ đến nhắc: “ Anh bỏ chân xuống!”. Nguyên chấp hành nghiêm túc.

        Khi phiên tòa bắn đầu xử, màn hình hiện lên khung cảnh bên trong, Nhất bị còng tay, ngồi hai bên là hai người công an. Khi thẩm phán Nguyễn Văn Bường, chủ tọa phiên tòa tuyên bố phiên tòa phúc thẩm xử Trương Duy Nhất bắt đầu, mình thấy mọi người trong phiên tòa đều đứng lên, rồi lại ngồi xuống. Duy chỉ có Nhất được tháo còng đứng để nghe chủ tọa phiên tòa tiến hành tố tụng. Thái độ, nét mặt của Nhất bình tĩnh tự tin, ánh mắt lúc nào cũng nhìn thẳng. Cũng như bao lần khác, tòa hỏi lý lịch, rồi đọc cáo trang…tiếng truỳền qua loa rõ, màn hình hiện hình rõ nét. Mình yên tâm, Nguyên ngồi cạnh cũng yên tâm, như vậy tuy ở bên ngoài, nhưng với cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại như thế này có thể theo dõi từ đầu đến cuối phiên tòa. Thẩm phán đọc cáo trạng của Nhất giọng rất to, khúc chiếc, rõ ràng ai cũng nghe thấy nhưng đến khi tòa hỏi Nhất “ Anh có nghe rõ bản cáo trạng không ?” . Nhất trả lời: “ Bị cáo nghe rõ nhưng bị cáo không đồng ý một số ý trong bản cáo trạng, như…” thì tự nhiên loa tắt tiếng, trên màn hình chỉ thấy miệng của Nhất  lên xuống, mở ra, thu lại… tuyệt nhiên mọi người ngồi cùng xem với mình không biết Nhất đang nói gì? Có lẽ do trục trặc kỹ thuật!!! Một lúc sau, tự nhiên lại nghe tiếng của thẩm phán : “ Được rồi, mọi yêu cầu của anh chúng tôi ghi nhận, anh nghe tòa hỏi tiếp đây! ” Rồi ông thẩm phán lại hỏi, đại ý, những việc làm như vậy, Nhất có thừa nhận đúng với cáo trạng không? Nhất trả lời thì… không nghe được vì…trục trặc kỹ thuật!!! Rồi đến lời bào chữa của luật sư Trần Vũ Hải, lúc nghe được, lúc thì không? Chỉ thấy hình ông giơ tay chỉ chỗ này, chỉ chỗ kia, rồi cúi xuống đọc. Mình chú ý một đoạn hình, may có cả tiếng lẫn hình khi luật sư Trần Vũ Hải đang vận dụng các điều khoản trong bộ luật hình sự để chứng minh Nhất không phạm tội thì thấy tiếng ông Thẩm phán Bường cắt ngang: “ Những điều đó đề nghị luật sư không trình bày, chấm dứt tại đây, luật sư trình bày sang điều khác đi…còn tôi đề nghị thái độ luật sư cần nghiêm túc, nếu còn như vậy tôi sẽ yêu cầu luật sư ra khỏi phòng xét xử”. Nét mặt luật sư Trần Vũ Hải nhẫn nhục một cách tội nghiệp rồi luật sư trình bày… Lại không nghe được tiếng vì… trục trặc kỹ thuật!!! Trên màn hình mình thấy hình ảnh đôi ba lần một anh công an trẻ đến ngăn luật sư Hải đừng đọc một điều gì đó trong bài viết mà luật sư đang đọc giữa tòa.

         Nghĩa là….

         Mình, Nguyên, anh Lợi cùng một số người khác được vào tòa phúc thẩm xem xử Trương Duy Nhất nhưng… thực trên thực tế, chiếm gần hết thời gian là xem “ Phim câm” Nguyên nói với mình: “ Nên đào tạo phòng viên báo chí, truyền hình nước mình thêm bộ môn khẩu hình, nghĩa là nhìn miệng  mấp máy biết họ đang nói gì.”. Còn mình lại nghĩ :“… Bên trong cứ xử kín Trương Duy Nhất không cho ai vào dự còn bên ngoài với phòng đẹp, thoáng mát, màn hình hình rõ như thế này, tòa phát lại các trận của World Cup tối qua cho tất cả mọi người tới xem, người đến xem chắc chắn sẽ đến rất đông. Rồi chỉ thị cho báo chí, đài, ti vi… ghi lại hình ảnh này, tuyên truyền với dư luận trong và ngoài nước rằng  phiên tòa được “ xét xử  công khai có đông người đến dự”. Thế lại hóa hay! ”.

        … Phiên tòa kết thúc chóng vánh, từ lúc bắt đầu diễn ra đến lúc kết thúc phiên xử phúc thẩm Trương Duy nhất chỉ gần hai tiếng đồng hồ. Có nhiều lý do, rõ nhất hễ Luật sư trình bày điều gì, thẩm phán đều ngăn lại: “ Điều này tòa đã biết, luật sư không cần trình bày.” Còn một điều nữa, tòa cho phép Trương Duy nhất nói lời cuối cùng,trước khi tuyên án hai năm tù giam, y án sơ thẩm. Nhưng thật lạ, khi Trương Duy nhất định nói, lại bị tòa ngăn lại, không cho nói!!!

         Nhất lắc đầu nhẹ, nở một nụ cười… chẳng biết tả thế nào!

         Cùng lúc đó có hai người công an đến áp giải Nhất đi ra ngoài, thấy rõ tấm lưng của Nhất đẫm mồ hôi.

        Trên màn hình, mình và mọi người không nghe thấy tiếng, nhưng thấy hình con gái của Nhất, sinh viên năm cuối một trường đại học ở Đà Nẵng đứng lên nói to một điều gì đó như quát vào mặt các quan tòa.

         Mình không hiểu.

         Mình gặp Phượng, vợ Nhất ngoài cổng, hỏi: “ Lúc này con gái em nói điều gì thế ?”.

         Phượng trả lời:

         - Cháu nói: “ Bố tôi là người yêu nước tại sao các ông lại bắt giam?”.

------------------

(1) – Phạm Xuân Nguyên – Nhà phê bình văn học.

(2) – Thái Bá Lợi – Nhà Văn

        

                                            

]]>
http://trankytrung.com/read.php?726 <![CDATA[MẤY CẢM NGHĨ VỚI CUỘC BIỂU TÌNH NGÀY 11/5/2014 TẠI ĐÀ NẴNG - Ghi chép]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 13 May 2014 06:50:03 +0000 http://trankytrung.com/read.php?726  

 

 

 

 

 

 

Cuộc biểu tình ngày 11/5/2014 ở Đà Nẵng

 

MẤY CẢM NGHĨ VỚI CUỘC BIỂU TÌNH NGAY 11- 5 TẠI   ĐÀ NẴNG – Ghi chép

        Sáng, mình không tập thể dục như thường lệ, ăn qua quít, lấy ô tô phóng vội ra Đà Nẵng. Cuộc biểu tình thị uy của dân Đà Nẵng phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc đặt giàn khoan trái phép vào lãnh hải Việt Nam, một hành động ăn cướp xâm lược trắng trợn, mình không thể ngồi yên và chắc nhiều người dân Đà Nẵng cũng không thể ngồi yên. Ngồi trên ô tô mình dã hình dung cuộc biểu tình này chắc rất đông, rầm rộ, mình sẽ gặp nhiều khuôn mặt của những người bạn thân quen. Sài Gòn rồi Hà Nội đã xuống đường rồi, còn miền Trung, đất Đà Nẵng này không lẽ im lặng!

          Khoảng gần 8 giờ sáng ngày 11/ 5 khi chiếc xe của mình đến gần tượng đài 2/9 ( Nơi xuất phát của biểu tình như thông báo) mình đã thấy nhiều người dân, nhiều em thanh niên …với khí thế sôi sục căm thù giặc tàu xâm lược đang chuẩn bị khẩu hiệu, cờ để đi biểu tình.Tiếc mình không thể đến sớm hơn, cùng mọi người dâng hương trước tượng đài, mong các anh linh liệt sỹ phù hộ cho cuộc biểu tình thành công, biên giới hải đảo bền vững. Có một điều lạ, làm mình ngạc nhiên, nhìn quanh quất, cố tìm xem có  khuôn mặt nào thân quen của bạn văn, thơ…trong Hội nhà văn Đà Nẵng ? Không thấy ai cả. May mình gặp H…Phóng viên báo Lao Động, hỏi sao có hiện tượng này? H… trả lời, em cũng không biết nữa!!! Thôi, có lẽ chủ nhật, ngày nghỉ, mọi người còn bận với chuyện gia đình đưa con đi tắm biển, mua sắm… nên thông cảm!!! Với cuộc biểu tình này, điều mình cảm phục, đấy là những người thanh niên, người dân bình thường, họ tự động in biểu ngữ, tự động tổ chức hàng lối đi biểu tình. Điều mình ngạc nhiên nữa là lực lượng cảnh sát cơ động, công an giao thông của thành phố Đà Nẵng. Nếu gọi lực lượng này cũng tham gia cuộc biểu tình chống hành động gây hấn xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc cũng không ngoa. Những chiếc xe mô tô của cảnh sát giao thông lúc thì đi đầu đoàn biểu tình, lúc đi cuối dẹp đường cho đoàn biểu tình đi có hàng, có lối, với thái độ lịch sự nhã nhặn, không hề có chuyện đàn áp như một số người khuyên mình không nên đi, trước cuộc biểu tình này. Quả thật, mới đầu mình nghĩ, ở Đà Nẵng đã rất lâu rồi chưa bao giờ có chuyện biểu tình tự phát, diễu hành qua các con phố… do người dân tổ chức. Nay trên  Facebook có lời kêu gọi biểu tình sáng chủ nhật ( 11/5) ở Đà Nẵng chống những động thái ăn cướp trắng trợn của nhà cầm quyền Trung Quốc, mình thoáng nghi ngại, liệu cuộc biểu tình tự phát này có bị ngăn trở không? Nghĩ thế,  mình vẫn xác định, có dẫu thế nào cũng vẫn tham gia, vì đây là sự biểu lộ lòng yêu nước, biểu lộ sự phản kháng chính đáng của người dân trước sự xâm lược của thế lực đế quốc lớn đại hán, sẵn sàng chấp nhận mọi điều có thể xảy đến.

             Hóa ra, sự lo lắng của mình bằng thừa.

             Mới đầu, khi xuất phát, đoàn biểu tình đi chưa phải rầm rộ, chủ xướng là em Nguyễn Văn Thạnh. Nhìn em mà thương, chân đi tập tễng, nhìn vóc người cũng không được khỏe, chịu bao nhiêu thiệt thòi!!! Nhưng nhiệt tình vì lòng yêu nước lại quá đầy. Em cầm chiếc loa điện hô vang những khẩu hiệu lên án nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược Việt Nam. Tiếng hô của em như xoáy vào tâm can của những người tham dự cuộc biểu tình, cả những người đang đi trên đường và cả những cảnh sát cơ động, công an giao thông đi theo đoàn…. Mỗi khi đoàn biểu tình dừng lại hô vang những khẩu hiệu yêu nước, lại có những người đang đi trên đường cũng dừng lại hô theo.  Nên thế đoàn biểu tình càng đi, càng có đông người tham gia. Có người mẹ dắt cả con nhỏ đi theo, cháu cũng cầm khẩu hiệu chống tàu xâm lược. Mình chú ý câu hỏi cháu với mẹ: “ Tại sao lại gọi Trung Quốc xâm lược hả mẹ? “ . “ Vì nó định chiếm nhà của nội, không cho hè này con về ăn xoài.”. “ Nhà của nội ở Đại Hồng cơ mà?”. “ Nhưng đó là Hoàng Sa một huyện gần nhà nội, cũng là đất nước của mình con ạ!”. Người mẹ bình thản trả lời, tay giơ cao khẩu hiệu : “ Phản đối Trung Quốc chiếm đóng trái phép Hoàng Sa của Việt Nam”. Những người dân tham gia biểu tình họ bất chấp đoạn đường đi bộ dài, từ quảng trường 2/9 đến trước UBND thành phố Đà Nẵng hơn ba cây số, trời lại nóng, càng về trưa khí trời càng hầm hập nhưng không phải vì thế mà tiếng hô khẩu hiệu thưa đi. Mình đi theo đoàn,  muốn có người bạn tâm giao,  liền điện cho Lê Hải, phóng viên báo “ Kinh tế Việt Nam” : “ Ông đang ở đâu? Tôi đang cuối đoàn biểu tình nè!”. Lê Hải điện lại cho mình, giọng phấn chấn: “ Tôi đang ở đầu đoàn biểu tình, chụp ảnh”. Mình và Hải gặp nhau, vui, Hải giới thiệu với mình nhiều người bạn mới. Té ra, tưởng chỉ có mỗi một mình mình ở Hội An ra Đà Nẵng tham gia biểu tình, có ai ngờ gặp cả vợ chồng anh chị Tăng Quảng cũng ra Đà Nẵng từ sáng sớm. Vợ chồng anh chị Tăng Quảng không ngại tuổi cao, công việc nhà bề bộn…bỏ tất, mà đi theo đoàn biểu tình cho đến lúc giải tán. Nhìn vợ chồng anh Tăng Quảng mình cũng thấy vui, tự hào cho lòng yêu nước của người Hội An, quê mình.

          Khi đoàn biểu tình đi ngang qua chợ Hàn, bà con trong chợ kéo ra xem rất đông, nhiều người nhìn đoàn biểu tình với ánh mắt cảm phục. Minh tin rằng, chỉ cần hô một tiếng, bà con sẽ bỏ hàng quán tham gia vào đoàn biểu tình. Có bác xe ôm, thấy mấy cháu thanh niên hô khẩu hiệu nhiều quá, bác vội chay ra quán gần đó mua cả chục chai nước phân phát cho  từng người. Bác đưa chai nước cho mình, nói: “ Uống đi anh, cho đỡ khát, để lấy giọng hô to vào.”. Bác còn cho biết: “ Thấy tôi mua nước cho đoàn biểu tình, chị bán hàng không lấy tiền còn giục tôi lấy thêm nhiều vào đưa cho mọi người…Giặc Trung Quốc mà vào được đến đây thì nó không từ ai, nên phải chống đến cùng”. Rồi bác dựng vội chiếc xe máy , chiếc “ cần câu cơm”, vào một thân cây bên bờ sông Hàn,  hòa lẫn tấm lưng mồ hôi vào dòng người đang đi biểu tình. Đoàn biểu tình cứ dừng lại ở đầu cầu Rồng hay ở một ngã ba… lập tức có rất nhiều xe hon đa dừng lại, tiếng hô khẩu hiệu lại được cộng thêm “ năng lượng” từ những người này, lan tỏa càng rộng…

          Cuộc biểu tình tự phát của những người dân yêu nước Đà Nẵng, nói về quy mô, không lớn như ở Sài Gòn, Hà Nội nhưng khí thế là không kém. Rõ nhất, đoàn biểu tình đi đến đâu người dân ủng hộ đến đấy. Đến gần trưa, khi đoàn biểu tình đến trước cửa UBND thành phố Đà Nẵng, thì số lượng người tập trung hết sức đông đảo, làm  nghẽn cục bộ con đường Bạch Đằng. Ở đây đoàn người lại thể hiện khí thế một lần nữa, những tiếng hô khẩu hiệu vang xa: “ Đả đảo quân Trung Quốc xâm lược”, “ Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”, “ Việt Nam nhất định thắng!”…Tình người yêu nước, lòng người yêu nước làm xóa nhòa đi tất cả những điều gì gọi là xấu xa, đớn hèn.

         Nói đi cũng phải nói lại, có một điều mình ngạc nhiên, một cuộc biểu tình của những người dân yêu nước như vậy, lẽ ra các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, ti vi… nên tuyên truyền cho dân chúng biết. Rất tiếc ở Đà Nẵng điều này không có, chỉ tìm thấy thông tin về thời gian, địa điểm… của cuộc biểu tình trên một số trang mạng, Facebook…  Điều này dẫn đến hạn chế, có phải người dân nào ở Đà Nẵng - Quảng Nam biết Facebook đâu. Điều nữa, lẽ ra trong đoàn biểu tình có những vị lãnh đạo của MTTQ thành phố hoặc lãnh đạo thành phố đi cùng, cùng giương cao những khẩu hiệu yêu nước, phản đối Trung Quốc xâm lược có phải hay biết bao nhiêu. Tiếc điều này cũng không có. Thêm nữa, khi đoàn biểu tình đến trước cửa của UBND thành phố Đà Nẵng mình thấy rất đông cảnh sát chống bạo động với mũ sắt, áo giáp, súng ống… rải ra hai bên đường. Lực lượng này tụ tập đông để làm gì? Có lẽ đề phòng bạo loạn và sự quá khích!!! Nếu đúng như thế - đây là suy nghĩ của mình – Suy nghĩ của những người lãnh đạo chính quyền thành phố Đà Nẵng với người dân vẫn có một khoảng cách. Người dân, nhất là người dân Quảng Nam - Đà Nẵng có một tinh thần yêu nước vô biên. Máu người dân Quảng Nam- Đà Nẵng đổ để bảo vệ tổ quốc Việt Nam không phải chỉ ở riêng mảnh đất này, mà rải khắp từ Bắc vào Nam. Hoàng thành Thăng Long còn ghi mãi tấm gương tuẫn liệt của Tổng đốc Hoàng Diệu. Rồi Trần Văn Dư, Ông Ích Đường, Trần Quý Cáp, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Thành Tài, Trần Cao Vân, Thái Phiên…Những người con ưu tú của Đất Quảng Nam - Đà Nẵng trước kẻ thù cướp nước không bao giờ chịu đầu hàng, chấp nhận hy sinh để cứu giống nòi, giữ tổ quốc… truyền thống đó, mình rất tin được lớp cháu con của đất Quảng Nam-Đà Nẵng nối tiếp, rõ nhất là cuộc biểu tình tự phát chống sự gây hấn xâm lược của nhà cầm quyền Trung Quốc ở biển Đông trong ngày chủ nhật 11/5/2014. Ngừời dân, không cần những lời hiệu triệu, động viên… họ tự động in khẩu hiệu, tự động diễu hành biểu tình... bất chấp nắng, khát nước,  sức yếu… họ vẫn đi trong trật tự, vẫn hô  khẩu hiệu một cách đàng hoàng. Giá như sáng chủ nhật 11/5 cả thành phố Đà Nẵng là biển người biểu tình đòi lại Hoàng Sa, một huyện của Đà Nẵng, đang bị nhà cầm quyền Trung Quốc chiếm đóng trái phép, về lại với Đà Nẵng, với Việt Nam thì tuyệt vời biết bao nhiêu.

         Tinh thần yêu nước của người Việt Nam, trong đó có người dân Quảng Nam – Đà Nẵng trong sáng vô cùng, hiểu rõ chính, tà. Trước họa xâm lăng của thế lực phản động đại hán, tinh thần đó lại bùng lên, với sức mạnh khủng khiếp, đoàn kết triệu người như một.

           Điều đó là duy nhất, không có việc gì phải nghi ngờ. Hãy ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho những cuộc biểu tỉnh yêu nước như thế này ngày càng nhân rộng ra, lớn lên cho đến khi  đòi lại được Hoàng Sa về lại với đất Mẹ, giàn khoan phi pháp của Trung Quốc cút khỏi thềm lục địa trong lãnh hải Việt Nam.

 

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?721 <![CDATA[TẠI SAO NGƯỜI DÂN ĐÀ NẴNG KHÔNG BIẾT CUỘC GIAO LƯU NÀY - Ghi chép]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 14 Mar 2014 10:47:05 +0000 http://trankytrung.com/read.php?721  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tác giả chụp ảnh chung với anh Lê Hữu Thảo,

nguyên là chiến sỹ hải quân đã chiến đấu với quân Trung Quốc xâm lược trên đảo Gạc Ma-Trường Sa tháng 3/1988

 

TẠI SAO NGƯỜI DÂN ĐÀ NẴNG KHÔNG BIẾT CÓ CUỘC GIAO LƯU NÀY ? – Ghi chép

          Đến tôi, một người hay chú ý đến chuyện thời sự,  tuy ở Hội An nhưng hộ khẩu ở Đà Nẵng, sinh hoạt trong Hội nhà văn thành phố Đà Nẵng… không biết chuyện này, tôi có hỏi nhiều người trong Hội VH-NT thành phố Đà Nẵng, họ cũng không biết. May cho tôi, có một anh bạn nhà báo thân thiết nhắn tin, thế là vội thu xếp để dự cuộc giao lưu, dù không được mời.

        Dự từ đầu đến cuối của buổi giao lưu, tôi nhận xét, rất lâu rồi, tôi mới được dự một cuộc giao lưu cảm động như thế, lấy không ít nước mắt của người dự khán.

        Chiều ngày 13/3/2014 tại hội trường của nhà khách công đoàn Đà Nẵng, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam phối hợp với báo “ Lao Động” tổ chức buổi giao lưu: “ NGHĨA TÌNH HOÀNG SA – TRƯỜNG SA”. Người dẫn chương trình là nữ nhà báo Tạ Bích Loan, một MC nổi tiếng của đài truyền hình Việt Nam. Sân khấu, nơi bố trí gặp gỡ giao lưu trang trí nền nã nhưng sang trọng, âm thanh, ánh sáng tốt, số lượng phóng viên của báo chí, đài truyền hình, phát thanh…của trung ương, địa phương hiện diện rất đông, tác nghiệp với phong cách rất chuyên nghiệp. Đặc biệt có gần như đầy đủ các vị là chủ tịch Tổng liên đoàn lao động của các tỉnh miền trung, những tỉnh có liên quan đến một số sự kiện nổi bật ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tới dự buổi giao lưu có ông Đặng Ngọc Tùng, Ủy viên ban chấp hành trung ương đảng, Chủ tịch tổng liên đoàn lao động Việt Nam ( TLĐLĐVN). Bà Nguyễn Thị Thu Hồng, Phó chủ tịch TLĐLĐVN. Ông Trần Duy Phương, Ủy viên đoàn chủ tịch TLĐLĐVN. Tổng biên tập báo Lao động…cùng đông đảo các vị quan khách khác. Trong buổi giao lưu, theo lời dẫn của MC Tạ Bích Loan, mọi người sẽ có điều kiện gặp gỡ trò chuyện với các nhân chứng sống trong trận hải chiến ở đảo Gạc Ma sáng ngày 14/3/1988, những gia đình có người thân là liệt sỹ trong trận hải chiến này. Nghe vậy không khí buổi giao lưu bỗng trở nên sôi nổi, ai cũng háo hức chờ đợi…

        Tôi cũng ở trong tâm trạng như vậy.

         Mở đầu là là lời phát động phong trào ủng hộ tài chính vật lực cho “ Nghĩa tình Hoàng Sa- Trường Sa” của ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch TLĐLĐVN. Giọng nghẹn ngào, có chỗ không thể kìm được cảm xúc, ông Tùng đã khóc khi nhắc đến những người dân Việt Nam yêu nước đã dám hy sinh cả tính mạng mình để bảo vệ bằng được Hoàng Sa-Trường Sa. Ông nêu chính danh:“ …40 năm trước,ngày 19/1/1974, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. 74 sĩ quan, thủy thủ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa kiên cường chiến đấu bảo vệ đảo và hy sinh, vĩnh viễn nằm lại ở vùng biển Hoàng Sa. Máu của những người con đất Việt, dù trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau, đã đổ xuống để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam yêu dấu. Ghi nhận công ơn đó, chia sẻ nỗi đau của những người mẹ, người vợ, người con có người thân đã hi sinh bảo vệ Hoàng Sa (1974) Trường Sa (1988) là việc làm rất cần thiết của cả cộng đồng và xã hội” ( Dẫn theo báo “ Tuổi trẻ” phát hành ngày 14/3/2014- trang 18).

       Trong lời phát biểu của ông Trần Duy Phương, tổng biên tập của báo “Lao Động” cũng nhắc lại sự chính danh này, với sự biết ơn, cảm phục và ông cũng đau đáu một nỗi niềm, làm sao những người còn sống phải có những việc làm cụ thể để đền ơn, đáp nghĩa.

       Tôi nghe những lời phát biểu như vậy, thực sự cảm động. Nhìn ra xung quanh, nhiều tiếng khóc thút thít, những bàn tay quệt vội giọt nước mắt lăn dài, những cái gật đầu đồng tình…Tôi ngẫm ra rằng, ý thức thống nhất một dân tộc, ý thức biết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ không sợ bất cứ  âm mưu thâm độc của các thế lực phản động xâm lược đã có sẵn trong từng huyết quản của con người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, kẻ nam, người bắc, lãnh đạo hay dân thường… Rõ nhất, trong tất cả những người ngồi dự ở đây, có người lãnh đạo ở cấp trung ương. Tỉnh, thành phố lớn… cho đến người dân bình thường một nắng, hai sương, người lính, cán bộ, phóng viên, học sinh… khi nhắc đến sự hy sinh của những người lính hải quân Việt Nam trong những trận hải chiến năm 1974 và năm 1988, tất cả đều chung một tâm trạng cảm phục, thương xót những người đã hy sinh và căm thù cao độ quân xâm lược. Một câu chuyện cảm động, tập trung được sự chú ý của mọi người là câu chuyện của anh Trần Văn Thu ( anh trai liệt sỹ Trần Văn Bảy, anh Bảy hy sinh trong trận chiến Gạc Ma). Anh Thu cho mọi người biết, ba của anh đã hy sinh ở chiến trường Điện Biên, hai anh trai kế tiếp hy sinh ở chiến trường miền nam trước năm 1975, góp phần nhỏ cho tổ quốc thống nhất, bản thân anh là thương binh trong trận chiến chống quân xâm lược Trung Quốc ở biên giới phía bắc năm 1979, còn em của anh, anh Trần Văn Bảy hy sinh ở Gạc Ma trong một trận chiến không cân sức với bọn lính Trung Quốc lấn chiếm tàn ác. Một gia đình PHI THƯỜNG như vậy, không đòi hỏi gì về quyền lợi, chỉ mong sao hài cốt của hai người anh và người em của anh Thu được tìm thấy mang về lại yên nghỉ tại quê nhà. Người mẹ của anh, vì thế, trước khi mất, không nhắm được mắt.

            Mọi người ngồi nghe lặng đi trong xúc động. Sự hy sinh của nhân dân cho sự toàn vẹn của đất nước dân tộc là quá lớn. Sự im lặng hoặc lãng quên đồng nghĩa với phản bội, làm sao không bị lịch sử lên án.

            Trong cuộc giao lưu, qua lời kể của của anh Lê Hữu Thảo, một chiến sỹ hải quân Việt Nam trên tàu HQ 604 trong trận đánh với quân Trung Quốc xâm lược ở đảo Gạc Ma, người nghe đã hình dung ra được một tập thể của những người lính Việt Nam anh hùng bất chấp quân xâm lược có vũ khí hiện đại hơn, nhiều hơn, họ vẫn anh dũng chống trả đến cùng. Phút cuối, những người lính này đã quây thành một vòng tròn tạo thành “ vòng tròn bất tử” chấp nhận hy sinh để bảo vệ lá cờ tổ quốc trên đảo Gạc Ma…

             Có thể nói, trong buổi giao lưu này, nhiều hình ảnh, nhiều lời nói đã khơi dậy thực sự, sự đoàn kết yêu nước trong cộng đồng người Việt. Tất cả những người Việt Nam  cho dù sống trong và ngoài nước theo những tấm gương tuẫn liệt của các anh hùng đã hy sinh ở Hoàng Sa (1/1974) và Gạc Ma - Trường Sa ( 3/1988) đồng lòng nắm tay xiết chặt, quyết tâm bảo vệ tròn vẹn tổ quốc Việt Nam thân yêu.

           Nhưng…

             Một buổi giao lưu đẹp, có nội dung rất tốt khơi dậy lòng yêu nước, nhất là với tầng lớp thanh niên, với nhiều hình ảnh cảm động để lại dấu ấn đậm trong lòng người sống  lại diễn ra trong một không gian hẹp, vừa đủ của một khán phòng với mấy chục hàng ghế ngồi.

          Ngay như sự quyên góp giúp đỡ các gia đình có người thân đã hy sinh ở Hoàng Sa (1/1974) và ở đảo Gạc Ma – Trường Sa( 3/1988), do Tổng LĐLĐ Việt Nam và báo “ Lao Động” phát động, chỉ trong một thời gian ngắn, được gần 1,2 tỷ đồng. Số tiền này, một phần trao ngay tại chỗ cho các gia đình đang gặp khó khăn … tất cả những chuyện đó không được tuyên truyền rầm rộ!!! như một nhà báo nói với tôi: “ Cứ như làm lén lút, sợ mọi người biết”. Một tấm pano tuyên truyền sự kiện lớn này không thấy có trên bất cứ  đường phố  nào của thành phố Đà Nẵng. Ở Đà Nẵng cũng không tổ chức họp báo thông báo sự kiện này. Ti vi, đài, báo… trước ngày gặp gỡ giao lưu “ Nghĩa tình Hoàng Sa – Trường Sa” không thấy đưa tin. Mà tin này hình như chỉ … “thông báo nội bộ”. Ngay cả bản hướng dẫn mọi người đến gặp gỡ giao lưu với những nhân chứng trong trận hải chiến ở đảo Gạc Ma – Trường Sa trong buổi chiều ngày 13/3/2014 tại hội trường nhà  khách công đoàn Đà Nẵng, tấm bản hướng dẫn đó trông nhỏ thó giống như bản hướng dẫn mọi người đến để dự một đám cưới !!! Lẽ ra, với cuộc giao lưu đậm nghĩa nhân văn cao cả này, càng đông người dự càng tốt, càng được phổ biến rộng rãi càng hay, không hiểu lý do gì!!! Mà Tổng LĐLĐVN và báo “ Lao Động” đơn vị đứng ra đăng cai buổi giao lưu “ Nghĩa tình Hoàng Sa - Trường Sa” lại không làm. Vì sao ? Nên vậy, đại biểu dự khán, tôi có cảm giác chủ yếu là các phóng viên báo chí, đài truyền hình …và các đại biểu quan chức… còn học sinh, sinh viên, những người rất cần tham dự những buổi giao lưu có nội dung như thế này, lại rất ít. Lại một chuyện nữa, tôi nghĩ, buổi giao lưu “ Nghĩa tình Hoàng Sa - Trường Sa” đây là một cơ hội tốt để cho người Việt Nam,  trong quá khứ có thể bất đồng chính kiến, lý tưởng bây giờ ngồi lại với nhau, bỏ qua những hận thù, chung tay đoàn kết xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam. Giá như, nhân có buổi giao lưu “ Nghĩa tình Hoàng Sa – Trường Sa”, ban tổ chức nên mời bà con người Việt ở hải ngoại về dự, qua buổi giao lưu, họ hiểu thêm tấm lòng vị tha, nhân ái của những người Việt trong nước. Rất tiếc buổi giao lưu không có điều đó. Thậm chí trong buổi giao lưu, vắng hẳn những người thân của những người lính hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong trận chiến ở Hoàng Sa tháng 1/1974, cho dù ông Đặng Ngọc Tùng, Chủ tịch TLĐLĐVN và ông Trần Duy Phương, Tổng biên tập báo “ Lao Động” đã nhắc đến sự hy sinh anh dũng của họ với những lời lẽ hết sức trân trọng. Tôi cũng được biết, với nỗ lực và sự cố gắng cao độ, trong một quãng thời gian rất ngắn, báo “Lao Động” đã vận động được nhiều doanh nghiệp, những cá nhân có sự hảo tâm…quyên góp được một số tiền, có thể giúp ( dự kiến) mỗi gia đình có người thân đã hy sinh ở hai trận hải chiến Hoàng Sa và Trường Sa với số tiền trước mắt là 50 triệu đồng. Số tiền không phải là lớn, nhưng quý ở tấm lòng của những người Việt còn sống tri ân những người Việt Nam hy sinh vì đất nước, vì dân tộc. Nhưng… lại “ nhưng”, một anh bạn làm báo cho tôi biết, chuyện này, theo lệnh “trên”, không tuyên truyền rộng rãi!!! Và quả thật, ngày hôm nay ( 14/3/2014) tôi đọc trên báo “ Tuổi trẻ” và “ Thanh Niên”,  hai tờ báo có đưa tin về cuộc giao lưu này với những mẩu chuyện rất cảm động, tuy nhiên hai tờ báo này không hề nhắc đến một từ về sự quyên góp bằng tiền, vật chất của các doang nghiệp, những nhà hảo tâm… giúp đỡ các gia đình có người thân hy sinh ở Hoàng Sa, Trường Sa. Điều đặc biệt nữa, các báo khác, tôi chưa có điều kiện đọc hết, riêng hai tờ báo “ Tuổi Trẻ” và “ Thanh Niên” rất “ kiệm lời” nhấn mạnh tội ác của quân Trung Quốc vô cớ, ngang nhiên một cách trắng trợn xâm lược hai quần đảo của Việt Nam trên biển đông, mà chủ yếu chỉ đề cập nỗi khổ của những người còn sống khi mất con, mất chồng, mất em… Nói về mất mát, thống khổ của từng gia đình Việt Nam qua mấy cuộc chiến, chỗ nào không có nước mắt, thống khổ. Điều quan trọng phải lên án, phải chỉ ra cho mọi người thấy ai là kẻ gây ra những biển nước mắt, nỗi thống khổ đó, phải chống kẻ đó đến cùng, không thể nhân nhượng, hoặc tỏ ra sợ hãi, nhún nhường. Càng sợ hãi, nhún nhường, thỏa hiệp, những kẻ có dã tâm thôn tính Việt Nam như nhà cầm quyền Trung Quốc, càng đẩy mạnh những âm mưu thâm hiểm để bắt Việt Nam thành chư hầu.

          Muốn đánh bại những dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc lớn, cha ông ta đã dạy, những người lãnh đạo phải dựa vào sự đoàn kết, ý nguyện của toàn dân. Việc làm đó phải quang minh chính đại, công khai cho toàn dân biết. Còn nếu làm nửa vời, cốt xoa dịu sự phẫn nộ của người dân, kết quả chỉ ngược lại, sự phẫn nộ của người dân càng lớn hơn, mà kẻ thù dân tộc càng hiểu, càng có cớ để thôn tính đất nước này nhanh hơn.

                                  

 

]]>