<![CDATA[Trần Kỳ Trung]]> http://trankytrung.com/index.php vi http://trankytrung.com/read.php?865 <![CDATA[GIÀ - Tùy bút của nhà văn TRẦN ĐỨC TIẾN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 08 Jan 2016 07:58:49 +0000 http://trankytrung.com/read.php?865 Nhà văn Trần Đức Tiến tặng tôi tập đoản văn&tùy bút " Thả hy vọng" do NXB Trẻ xuất bản năm 2015. Đọc quyển sách này mới thấy bút lực nhà văn còn "mạnh"lắm. Tất cả ngóc ngách của đời thường, với người khác, vụt trôi nhưng với nhà văn là sự chiêm nghiệm, triết lý tìm hướng thiện của cuộc đời. Tôi khoái tùy bút "Già" của nhà văn. Ai cũng phải đến tuổi này, không cưỡng lại được. Cái sự "già" là phải chấp nhận, đừng ham hố, cũng đừng cậy"già" mà lên mặt.

   Đọc tùy bút này của nhà văn ,ngẫm sự "già" của thế sự đang diễn ra, giật mình. Ai đó đã bị người đời chê già, lẩn thẩn, mà vẫn cố gượng tưởng mình khôn nhưng có giữ được đâu, cuối cùng chỉ làm trò cười cho thiên hạ.

Mời các bạn đọc tùy bút "GIÀ " của nhà văn Trần Đức Tiến.

 

·                                 Thế quái nào mà ngay từ hồi còn khá trẻ (trên dưới ba mươi), mình đã

khoái viết về những anh già. Nhân vật già, cũng giống như nhiều nhân vật khác

trong truyện của mình, không có tên, chỉ được gọi là “lão”. Một “lão” sống độc

thân trong khu tập thể, cả đêm lo sốt vó vì trận bão có thể quật đổ cây bàng

ngoài sân, đè bẹp căn phòng ọp ẹp của lão. Một “lão” khác suốt ngày trò chuyện

với con mèo cưng như trò chuyện với người, lo cả chuyện tìm vợ cho mèo (vì nó

là con mèo đực). “Lão” khác bỏ cái làng chài dưới chân núi lên sống ở lưng

chừng núi, có cái thú tiêu khiển lấy móng tay dài ngắt đôi con kiến để thấy cái

đầu quay lại ngoạm cái bụng tha về tổ. Chơi chán, “lão” vạch quần đái vào tổ

kiến. Rồi cuối cùng, chết trong một đêm biển động, xác lão bị đàn kiến tha ra

con đường mòn dẫn về làng… Truyện cuối cùng này kinh kinh. Giờ đọc lại

mình vẫn thấy sởn cả người. Nhưng lúc in ra chỉ có duy nhất một bạn đọc… trân

trọng ngả mũ! (he he). Mình nhớ đấy là một ông họa sĩ vẽ sơn mài độc thân vô

danh, tình cờ gặp nhau ở nhà người quen.

Có lẽ vì mình hay viết về người già, nên ngay cả khi còn trẻ, nhiều người

vẫn tưởng mình là nhà văn già. Bằng chứng là từ trước đến giờ, mình chưa từng

được dự bất kỳ một hội nghị nhà văn trẻ nào. Tận đến hội nghị lần thứ 7 ở Hội

An, mình mới được một đồng chí trong ban tổ chức mời, nhưng là mời đến để…

chơi cho vui, để đánh đu với các em 7X, 8X. Lúc ấy già đáu rồi, bố bảo cũng

chả dám vác mặt đến.

Mình không bôi bác người già. Không chống lại sự già. Viết về người già

cũng không phải là cách tự trấn an nỗi sợ già, sợ chết. Ai mà chả đến lúc già?

Trốn trời chẳng thoát già, trừ khi trời bắt tội chết yểu. Mình viết như thế cốt để

“tập thể dục” cho cái sự nhìn, giữ cho đôi mắt luôn mạnh khỏe để gắng nhìn

thấu đáo mọi nhẽ xem chính mình lúc già sẽ như thế nào. Lường trước mọi điều

may ra tránh được những bỡ ngỡ, những “bất cập” (mấy anh chị nhà báo bây giờ

sính dùng từ này) khi mình già thật. Chẳng hạn, những cái bệnh như nói trước

quên sau, nói với người này lại tưởng nói với người kia. Húp bát canh thì nước

canh rớt xuống cằm. Chả cười chả khóc gì mà mắt cũng tự nhiên nhoèn ướt. Nói

chuyện lúc hăng lên văng cả nước bọt. Mà chả phải chỉ có văng nước bọt. Già

còn hư đến mức một cái trung tiện cũng không kiểm soát được. Hồi trẻ ngồi

giữa đám đông, buồn đánh rắm thì cố nhịn, nhịn không nổi mới chủ động âm

thầm thả “quả bom nổ chậm”. Chứ lúc già là nó tự động buột ra thành tiếng,

thiên hạ chẳng cần “túng bủng tùng xòe” (*) cũng biết đích danh thủ phạm để

tha hồ lườm nguýt hay giả đò ngó lơ.

Anh H. hơn mình khoảng chục tuổi, tức là năm nay ngót nghét bảy mươi,

chơi với mình khá thân. Tiếng là thân nhưng anh em ở xa nhau, chủ yếu chuyện

trò với nhau qua điện thoại. Hôm vừa rồi mình có dịp ghé qua cái thị xã nơi anh

ở, buổi sáng hẹn anh ra quán cà phê. Hai anh em ngồi với nhau suốt mấy tiếng

đồng hồ. Anh H. nói nhiều và nói rất hăng. Từ chính trị đến văn chương, chuyện

gì anh cũng có thể bàn, và đưa ra những ý kiến sắc sảo khiến mình bái phục. Chỉ

đến lúc đứng dậy ra về, mình mới kịp giật mình… Anh H. cứ loay hoay mãi với

·      cái xe máy khi phải dắt nó từ trên hè phố xuống lòng đường. Khi đưa được nó

xuống rồi, anh lại loay hoay thêm một lúc mới quay nổi đầu xe. Rồi lập cập vắt

chân qua yên xe, lúng túng thế nào suýt đổ kềnh cả xe lẫn người. Mình vội vàng

giơ tay ra đỡ. Thấy mồ hôi anh toát ra ướt cả áo. Anh nổ máy chạy đi rồi, mình

đứng nhìn theo, lặng đi hồi lâu. Không ngờ anh H. lại già yếu đi nhanh đến thế.

Mươi năm nữa đến lượt mình, cũng lóng ngóng chân tay, đi đứng lẫm chẫm như

anh H. bây giờ thì buồn nhỉ?

Nhưng chắc chắn sẽ buồn hơn, với những ai già rồi mà vẫn… tưởng mình

còn ngon! Tuổi già xấu xí, ốm đau, bệnh tật, lú lẫn, dẹo dọ cả thể xác lẫn tinh

thần, là gánh nặng cho chính mình và cho những người thân, không biết tự trút

bỏ những ham hố đi là rất khốn nạn. Khối anh già rất sợ về hưu. Đến tuổi hưu là

tìm cách tránh né, trì hoãn, cù nhầy xin thêm một bậc lương, một cái quyết định

lên chức. Có anh nhận quyết định hưu rồi còn lầy lữa không chịu bàn giao. Mình

biết một sếp kiên trì bám trụ như thế, tận đến lúc cậu văn thư cầm quyết định

hưu lên phòng, thấy sếp ngồi trên ghế bành, đầu gục xuống bàn, bất động. Cậu

văn thư tá hỏa, vội vàng chạy đến, lay gọi thật lực sếp mới hồi lại. Hai mắt đờ

đẫn, rãi chảy xuống mép, á khẩu, sếp không còn nhận ra mình đang ở chỗ nào.

Vài ngày sau đám cán bộ ở cái cơ quan ấy truyền tai nhau: “ngài” cố tình tìm

cách được “thăng” ở nhiệm sở, để cơ quan phải lập bàn thờ, hương khói cho

“ngài” vĩnh viễn.

Anh T. là thi sĩ lừng danh từ thời chống Mỹ. Mình cũng dân viết lách

nhưng thuộc lớp đàn em. Mấy lần hội họp đông người có mặt anh, mình chỉ dám

đứng xa xa nhìn. Hôm vừa rồi dựa hơi người quen mới được vinh hạnh ngồi

cùng mâm rượu. Trước khi vào bữa, anh rút tập thơ mới in ra ký tặng mọi người.

Lúc đưa sách cho mình, anh cười cười, giọng kẻ cả: “Mày chịu khó đọc thơ đi

mày”? Mình cũng cười cười, đưa cả hai tay ra nhận tập thơ: “Dạ, dạ, em xin

đọc ngay, xin đọc ngay”! Miệng nói thế nhưng bụng nghĩ: chắc gì bác đã đọc

thơ nhiều bằng em? Rồi buổi chiều hôm ấy nằm một mình trong khách sạn,

mình cẩn thận đọc hết tập thơ mới của anh T.

Biết nói thế nào bây giờ nhỉ? Bao nhiêu cái hồn nhiên, tài hoa thời còn trẻ

của anh biến đâu mất cả? Giờ thấy toàn ý tứ vặn vẹo, chữ nghĩa vặn vẹo, đọc

xong không thấy mỏi đầu mà thấy mỏi hàm. Đọc thơ anh, mình lại nghĩ đến

những con sóng ở ngoài Bãi Sau lúc triều xuống - những con sóng vẫn cố nhoài

vào bờ, giống như những thi sĩ hết hơi cố nhoài vào thơ, càng cố nhoài vào gần

thì càng bị rút ra xa hơn nữa.

Nhiều nhà văn cặm cụi viết, cặm cụi đi mãi một con đường đã trở nên quá

quen thuộc mà không hề biết giật mình. Thế là già từ khi nào mà không tự biết.

          Lại có cả những anh đã tắc tị từ lâu, giờ chỉ ngồi hưởng lộc của quá khứ,

lâu lâu lôi tác phẩm cũ ra sửa lại vài câu rồi cho tái bản, sợ thiên hạ quên mặt

quên tên thì chịu khó xuất hiện ở hội thảo này diễn đàn kia… Thế là bệnh già đã

đổ đốn ra đến mức lờn hết thuốc.

--------------------------------------------------------------------------------

·                                

]]>
http://trankytrung.com/read.php?691 <![CDATA[DUY DŨNG VỚI HỘI AN - Viết về Hội An]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 21 Jun 2013 14:23:24 +0000 http://trankytrung.com/read.php?691 ]

     Duy Dũng - Người đàn ông hát

     DUY DŨNG VỚI HỘI AN – Viết về Hội An

       Hôm ngồi trong quán, bên cạnh sông Hoài tôi mới nhìn rõ Duy Dũng, không giống như tôi xem em biểu diễn trên ti vi.  Mái tóc xõa dưới khuôn mặt gầy trông hơi khắc khổ nhưng  hiền lành, chân chất, lặng lẽ… đúng chất người Hội An. Hình như ánh hào quang của người đoạt giải nhất trong cuộc tranh tài “tiếng hát mãi xanh” không còn trong em. Duy Dũng kể cho tôi nghe với sự tri ân, không dấu được cảm xúc như chuyện sau khi em đoạn giải, bà con đồng hương Quảng Nam ở ngã tư Bảy Hiền tụ tập đón em, người ôm hôn, người khác bắt tay, còn người kia tặng hoa… họ công kênh em đi khắp ngã tư, ai cũng vui, cũng hồ hởi, khiến em bị ngợp trong tình cảm. Lúc đó, như em nói, muốn bay ngay về với Hội An, nơi sinh thành, nuôi dưỡng em nên người , để một lần quỳ lạy tạ ơn. Em lại nhắc với tôi những ngày em đi thi vào đến chung kết, cả chợ Hội An  râm ran bàn tán, bà con trong chợ viết mấy chữ lên tấm bìa cát tông “ bỏ phiếu cho Duy Dũng”, hay như chị bán bánh mỳ ở gần rạp Phi Anh ( Đường Phan Chu Trinh) cũng in một bản mầu kêu gọi mọi người nhắn tin bỏ phiếu cho em… Em còn kể cho tôi nghe, khi hát nhìn xuống bên dưới nơi khán giả ngồi, mọi người giương cao tấm băng rôn “ Duy Dũng - Niềm tự hào của dân phố cổ” em như được tiếp thêm sức. Lúc đó Duy Dũng không phải  hát cho riêng mình, mà như đang hát cho tất cả những người dân Hội An… Nghĩa là trong giọng hát của em, gần như có tình cảm, ân tình của người dân Hội An dồn lại.  Nên thế, em đồng ý với với ý kiến của tôi, giải thưởng này đâu có phải riêng em mà của tất cả dân Hội An đấy chứ!

            Duy Dũng tâm sự: “ Em không biết nhạc lý, chỉ hát theo bản năng. Em đi thi cũng như vậy, đi thi để biết mình, biết người, và cũng một lần… biết đâu vào vòng trong  được đến Sài Gòn để còn khoe với bạn.”. Không ngờ vào vòng trong thật, thế là bao nhiêu lời động viên của bà con cô bác Hội An, phải cố lên phải làm được một điều gì đó cho xứng đáng với người Hội An. Hai tháng ròng ở trong Sài Gòn luyện thanh, ghép nhạc, tập đi đứng trên sân khấu, thật tình có lúc nản vì quá mệt, rồi  nhớ vợ, nhớ con, nhớ quê… đã có lúc nào Duy Dũng đi xa, đi lâu như thế này đâu, nhưng cứ nghĩ đến tình cảm bà con Hội An dành cho Duy Dũng như tiếp cho em có thêm sức mạnh. Duy Dũng nhớ một kỷ niệm, một bác ở ngã tư Bảy Hiền đến thăm: “ Bác ở Cẩm Kim đây cháu. Nhiều năm rồi bác chưa về thăm quê, nay thấy cháu ở hát hay, cùng quê Hội An, bác mừng lắm! Mọi người khen cháu, tức là khen Hội An, bác thấy ấm lòng, gần quê hơn. Cố lên cháu để bác, người Hội An tự hào một lần nữa.” . Em nói, giọng vẫn chưa dấu hết sự xúc động: “ Anh biết không? có những lúc điện thoại của em như nóng lên vì lời động viên, tin nhắn…” Duy Dũng khoe chiếc đồng hồ đang đeo, cũng là của một “fan” người Hội An tặng. Cũng không phải tặng riêng cho Duy Dũng mà  tất cả thành viên trong gia đình, mỗi người cũng được tặng một chiếc.

          Đất Hội An rất hẹp, ngõ nhỏ, nhà nhỏ, hàng quán cũng nhỏ  chỉ có lớn về nắng, về mưa, cả về bão lũ… nhưng trên tất cả, để mở rộng cái “nhỏ” , để chống lại cái “lớn” làm cho ai cũng muốn về Hội An đó là tình người. Tình người bao la, khoan dung, độ lượng, lúc nào cũng chan chứa ân tình. Gặp nhau bất kể thân, sơ đều vui, đều như người nhà. Choàng vai nhau, ngồi lại đây nhấm nháp một ly cà phê và hát. Duy Dũng thích hát từ nhỏ, trước khi đoạt giải em chưa qua một lớp thanh nhạc nào, nghĩa là giọng hát của nguyên sơ, chân thật, không biết phô diễn, khoe khoang, nhưng em hát như sinh ra là để hát. Duy Dũng hát trước đám đông cũng như hát trước một nhóm bạn thân, hát hết lòng, hát với tất cả tình cảm. Em nói với tôi: “ Ở Hội An có nhiều người hát hay hơn em, nhiều người nổi tiếng như chị Ánh Tuyết, Tịnh Quyên… còn cỡ giọng như em, anh chịu khó đi dự đám cưới, hay vào những quán cà phê hát cho nhau nghe,  thì nhiều lắm! Có chăng, em đoạt giải là bởi… nhiều người ngoại tỉnh bây giờ mới nghe được nghe người dân Hội An hát chính thức trên sân khấu Sài Gòn”. Em khiêm tốn thì nói như thế, chứ hồi biết Duy Dũng được vào đến chung kết “tiếng hát mãi xanh” rồi thấy hình em trên ti vi cả Hội An chỗ nào cũng râm ran bàn tán cứ làm như Duy Dũng là người của nhà mình, Duy Dũng đoạt giải đến nơi rồi, rồi làm cách gì để ủng hộ Duy Dũng? Tôi nói với em, không phải có nhiều người được hạnh phúc như em đâu? Có những kẻ thừa tiền, miệng vênh vang, đi đứng khệnh khạng…tưởng thế là “oai”! Kẻ đó vừa đi qua, dân quên ngay. Có kẻ tưởng  mình có chức lớn, quyền to, nhiều người phải cung phụng, quỵ lụy ,nhưng có biết đâu, kẻ đấy vẫn sống mà người dân coi như đã “ chết” từ lâu rồi, không ai muốn nhắc tên. Với em, em là hình ảnh của người dân Hội An, nghèo nhưng không hèn, trọng đức, thương người thân, sống với nhau hết lòng không vì đồng tiền mà quên đi sự nhân nghĩa. Nên thế, khi em hát, người dân Hội An  thương tiếng hát em một, lại thương mười về thân phận của em, một người dân Hội An nghèo mà sống lạc quan, vẫn muốn mang tiếng hát của mình góp vui cho đời.

          Em đã làm một việc có ích cho người dân Hội An, nên người dân Hội An vui, ủng hộ em.

Tôi quý em hơn, khi em về lại với Hội An bỏ ra mười triệu đồng, trích một phần trong giải thưởng, làm một đêm nhạc tri ân.

           Phải như thế em ạ! Tri ân với dân, là muôn đời “ phải đạo”.

          Nếu không có mảnh đất Hội An, người dân Hội An và tình cảm người dân Hội An dành cho em, em không thể đoạt giải, không thể có Duy Dũng như ngày hôm nay. Đúng không em?

       Nhưng với tôi, tôi lại nghĩ, chính giọng hát của em, làm cho cả nước hiểu Hội An hơn, thương Hội An hơn. Hội An giờ đây không phải chỉ có Chùa Cầu, Chùa ông, Chùa Phước Kiến…những địa danh nổi tiếng, mà có thêm một sự kiện văn hóa, ít nhất trong năm nay, nhiều người còn nhắc, Duy Dũng, một người dân Hội An chính hiệu đã đoạt giải nhất “ tiếng hát mãi xanh”.  Có lẽ cũng lâu lắm rồi, Hội An mới có một sự kiện “khẳng định tiếng hát của người dân Hội An” do chính người dân dựng nên, mà lại dựng ở Sài Gòn. Giá như những người làm công tác văn hóa Hội An hay một vị lãnh đạo của Thành phố làm việc này, chứ không phải để em bỏ tiền ra tri ân, rồi họ mời em lên chúc mừng.  Qua tấm gương của em, động viên các thanh niên học tập em, tự rèn luyện bản thân, ham học hỏi, tin ở mình, có lối sống tích cực, biết đâu trong tương lai, nhiều cuộc thi hát, khoa học… lại có những người Hội An đứng nhất. Lúc đó Hội An sẽ càng đẹp hơn!

         Mà thôi! Đó là suy nghĩ của tôi, chứ Duy Dũng không muốn nhắc đến chuyện “ tiền nong” trong cuộc gặp gỡ này. Duy Dũng nói đến cuộc đi của ngày mai, giọng phấn khởi: “ Ngày mai em sẽ bay vào Sài Gòn để ra Trường Sa biểu diễn. Chắc chắn em sẽ hát nhiều hơn, hay hơn hôm đoạt giải. Vì qua tiếng hát, em muốn nói với các chiến sỹ hải quân, bà con ở Trường Sa, người dân Hội An luôn luôn nhớ, luôn luôn ở bên cạnh Trường Sa, sẵn sàng vì Trường Sa.”

                    

        Ánh mắt của Duy Dũng đang lấp lánh niềm vui.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?680 <![CDATA[NGƯỜI ĐIÊN HỘI AN - Viết về Hội An]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 31 May 2013 06:35:04 +0000 http://trankytrung.com/read.php?680 NGƯỜI ĐIÊN HỘI AN – Viết về Hội An

        Trước cổng đình Văn Chỉ  của Hội An có một chàng “điên” có cách thể hiện rất lạ.

          Cứ sáng sáng, kệ cho nắng gắt, cũng mặc lúc mưa tuôn, mặc cho con tạo xoay vần, không để ý đến cả những ai đang để ý đến mình, chàng cứ ngồi bất động như thế, tĩnh tại, nhẹ nhàng như nhìn đời để đánh giá. Nhiều lúc tôi nhìn chàng tự hỏi, rồi tự trả lời, có lẽ chàng này không điên đâu, vì trên nét mặt của chàng  không hề có biểu hiện của đau đớn, tuyệt vọng, hay ánh mắt dội lên những tia căm thù. Giữa cái xã hội chói chang nóng bức ghê gớm như thế này, mỗi người, nhiều lúc cứ như gồng mình lên mà sống, cũng có khi phó mặc, mệt mỏi không dám sống đúng với suy nghĩ của mình, cười giả, nói giả, đến cả cái ánh mắt nhìn có khi cũng không muốn nhìn thẳng… giả như ngó nghiêng để cho người đối diện không biết mình đang suy nghĩ gì, thì chàng điên này điển hình của một người sống thật nhất.  Hơn nữa, một xã hội đang đảo điên vì đồng tiền, đồng tiền làm tha hóa nhân cách, chủ nghĩa thực dụng lên ngôi, bao người hợm hĩnh khoe của, phô phang sự giàu có thì với chàng điên, tôi thấy, hình như điều đó chàng coi khinh ra mặt. Vật dụng mà chàng hay dùng là một chiếc gương nhỏ. Đến trước cổng đình, ngồi ngay ngắn, chàng giơ chiếc gương lên xem dung nhan của mình, sửa lại mái tóc, chỉnh chu lại áo quần, rồi… cứ thế, trong thế “ thiền” chàng ngồi, nét mặt không tư lự, mắt mở to, mái tóc dài rũ trước trán, tay nắm chặt chiếc gương nhỏ, “ người bạn” trung thành với mình.

          Không biết có ai nhìn hình ảnh này nghĩ gì? Còn tôi lại ao ước, giá như mình  “ dũng cảm” được như chàng. Ừ nhỉ! Được như thế,  thôi, chẳng phải hận thù với bộ mặt của một thằng bạn đầy nhem nhuốc, nhơ bẩn. Cũng thôi, không phải lo chật vật với giá thực phẩm đang tăng lên chóng mặt. Và nữa, cũng chẳng phải bận tâm với sự dơ dáy của giả dối đang ngự trị khắp nơi…

          Làm sao tôi được ở cái “ thế” như chàng ĐIÊN này.

          Khó quá!

          Một người rất tỉnh không làm được, lại một chàng, người ta gọi là “điên” lại làm được. Bạn có phục không?

         Người điên Hội An có những điều lạ, tôi không thể lý giải được. Nhiều nơi người “ điên” là sự bận tâm của xã hội: Phá phách, chửi đổng, ăn bẩn, ở bẩn, vô thức…nhưng ở Hội An, khó kiếm ra một người điên như vậy.

      Chẳng phải lâu, Hội An đã vắng bóng chàng Minh “ khùng”. Minh mất sau một cơn bạo bệnh, để lại nỗi nhớ cho bao người.

        Suốt ngày Minh để đầu trần cứ đi dọc mấy phố cổ nhắc mọi người đừng xả rác ra đường, thanh niên đừng nói tục, thổi còi ngăn không cho xe máy vào đường cấm… Bao việc, gần như không có ai phân công cho Minh, nhưng Minh “ khùng” làm đầy trách nhiệm, không hề đòi hỏi một chút thù lao, cũng không hề kể công. Nhận của ai đó một lời khen Minh “ khùng” lại  cười,  nói với giọng quan trọng : “ Góp ý mà không sửa chữa, tôi họp ở thành đoàn là báo cáo đấy!”.

        Ôi ! Lãnh đạo mà được những người “ khùng” như thế này, biết quan tâm đến dân, dân được nhờ biết bao nhiêu.

        Minh đi xa, người dân Hội An vẫn hay nhắc, cho dẫu dãi dầu của mưa nắng, dẫu khó khăn quăng quật, dẫn cho thời gian bào mòn đi bao nhiêu nét mặt từ trẻ thành già… người dân nghèo Hội An trong phố cổ vẫn thấy Minh hiển hiện, cảm như Minh vẫn trẻ, vẫn vui với những tháng ngày sống chung của những con người lao khổ.

        Nghĩ, nhớ về Minh “ khùng” mọi suy tư như nhẹ hơn, thương đời hơn.  

         Gần nhà tôi ở có ông Quốc, chuyện nghề gánh nước. nghe đâu ông gánh nước thuê từ lúc còn trai trẻ  cho đễn tận bây giờ, đã gần bảy mươi. Chẳng nói đến sức khỏe của đôi vai, một ngày cả mấy chục gánh nước,  chỉ cần nghe giọng cười “điên ” của ông,  bạn có trầm tính đến hơn cả phật, cũng vẫn  phải bật cười theo ông. Tiến cười có âm vang  khồ..khồ…khà… khà... vô tư đến lạ lùng. Tiếng cười ấy như đánh thức tất cả, kéo tất cả lại gần với nhau, nhìn nhau, như hiểu nhau rồi cùng cười chung với tiếng cười khồ…khồ…khà…khà …kia. Hãy nhìn kìa, một người đàn ông chỉ chiếc may ô xanh, nhàu nhĩ, một chiếc quần đùi màu nâu sẫm nhọc nhằn của người lao động, đi chân trần, mặt nhễ nhại mồ hôi, đôi thùng nước sóng sánh như níu đôi vai…ông vẫn đi, thỉnh thoảng nhảy lên một cái lấy tay gãi bắp chân rồi ông nhìn xung quanh và cười. Tiếng cười to như thể không to hơn, bất chấp số phận, bất chấp sự vất vả. Giữa dòng đời ngược xuôi, cái gì cũng phải đề phòng, dè chừng,  rất hiếm gặp tiếng cười vô tư. Có chăng trong bàn nhậu, đám cưới, liên hoan…nhưng đó là tiếng cười nhất thời, biết đâu về nhà lại giật mình vì tiếng cười đó.

           Tiếng cười bộc phát mà cũng phải tính toán, sao khốn nạn đến thế!

          Thế thì…tiếng cười của ông Quốc khồ… khồ … khà… khà…kia có giá trị vô cùng.

       Một tiếng cười như chẳng sợ ai, không giả dối, không nịnh bợ, không phải nhếch mép khinh khi, cũng không phải cười mà chảy nước mắt trong tủi phận. Cứ cười thật to khồ…khồ…khà…khà trong như ánh sáng, như dám thách thức, dám đương đầu, dám chấp nhận và sống vô tư, đem lại niềm vui cho mọi người.

         Tôi đố người không điên, tự nhận là kẻ khôn, tỉnh táo kiếm được tiếng cười như của ông Quốc gánh nước đấy!

            Chợ Hội An cách đây dăm năm, người ta vẫn thấy thằng Đó “điên”. Nó béo phục phịch, bụng lặc lè, quanh năm, suốt tháng toàn cởi trần. Trông dáng đi của Đó không nín được cười, hai chân cứ dạng ra, đảo xuôi, đảo ngược,  vào chỗ hàng quán xếp chật như nêm cối mà Đó đi như vào chỗ không có người. Đi như thế giữa chợ nên dễ đá thúng, đụng nia, Đó bị nhiều người mắng. Nhưng ai mắng thì mắng, Đó không thèm để ý, vẫn cứ đi như thế, bụng béo nhẫy toàn mỡ chuyển lên, hạ xuống theo từng nhịp đi. Chuyện ăn uống của Đó cực kỳ đơn giản, ai cho gì cũng ăn, ăn ngon lành.  Đó “điên” thân hết với mấy bà bán cá. Cá dưới thuyền lên, không có người mang vác, người ta gọi Đó. Rồi các hàng quán trong chợ, buổi chiều cần dọn, Đó lại đến dọn giúp. Đó coi tất cả mọi người trong chợ Hội An như họ hàng, chẳng nề hà việc chi. Buổi tối, Đó lấy chợ làm nhà, ngả người trên những gian hàng trong chợ, ngủ ngon lành. Bố, mẹ Đó là ai? Hỏi Đó, Đó không biết. Quê ở đâu? Đó lắc đầu. Nhưng có một điều lạ, tiền công của Đó, Đó nhớ kỹ đến từng trăm, cất rất cẩn thận,  nhờ một người giữ giúp để nuôi thằng em đang đi học.

       Rồi một hôm tôi không thấy hình ảnh Đó đi lại nghênh ngang trong chợ, tôi hỏi một người bán cá. Chị ta sụt sịt kể, Đó chết rồi chú ạ! Ai đời thấy người đánh nhau  thì tránh đi, lớ xớ lại gần không trúng đầu thì dính tai. Đằng này, thấy vụ đánh nhau, Đó cậy mập (béo) đứng ra giữa can ngăn, bị đánh nhầm đúng vào chỗ hiểm, Đó đi bệnh viện được mấy ngày rồi mất.

        Đó mất, chợ Hội An như mất hẳn một góc. Thỉnh thoảng có người vẫn gọi: “ Thằng Đó đâu rồi, giúp một tay khiêng hộ sọt rau nào!”… Nhắc đến Đó, chỉ có những giọt nước mắt tiếc thương, nỗi nhớ khôn cùng của những người dân nghèo buôn bán ở chợ Hội An.

        Ở Hội An và cả Đà Nẵng nữa, tôi từng chứng kiến có những đám ma to vật vã, vòng hoa phủ kín xe tang, những dãy xe sang trọng nối dài, bài điếu văn thống thiết… Cũng đến thế thôi, họ và tên, chức tước người chết của những đám ma kia chìm lặn rất nhanh vào dĩ vãng, không ai nhớ, trừ vào những ngày đám giỗ mà con cháu  tổ chức.

         Còn những người điên Hội An như thằng Minh, thằng Đó, dẫu hình dáng, giọng nói không còn ở trên đời, nhưng người dân nghèo Hội An nhớ rất sâu, có thể kể cả ngày không hết chuyện  về những con người “điên” này, cứ như những con người này vẫn còn sống trên đời.  Thậm chí, còn có người coi đó là một tấm gương tốt, giáo dục con cháu noi theo.

        Người ta nói, đất Hội An “ hiền” và “lạ” nên thế, mọi chuyện ở đây cũng “hiền” và “lạ”, kể cả chuyện của người “ điên” cũng để cho người ta nhớ và thương.

        Nhớ, thương đến tận cùng.

    

          

]]>
http://trankytrung.com/read.php?626 <![CDATA[MỘT NGÀY ĐÔNG ẤM ÁP - Viết về Hội An]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Mon, 04 Feb 2013 05:20:10 +0000 http://trankytrung.com/read.php?626

Ông Nguyễn Sự - Bí thư thành uỷ Hội An

 

MỘT NGÀY ĐÔNG ẤM ÁP – Viết về Hội An
 
Nhận được lời mời vào thăm Hội An của ông Nguyễn Sự, bí thư thành uỷ Hội An, thế là dự kiến buổi gặp mặt cuối năm của Chi hội nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng thay đổi. Thay địa điểm gặp mặt trong một nhà hàng ở Đà Nẵng thành ra ở Hội An. Đoàn nhà văn của Chi hội nhà văn Việt Nam vào thăm Hội An không đông, chỉ có chín người: Nhà thơ Ngân Vịnh, nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Thanh Quế, nhà thơ Đông Trình, nhà thơ Lê Anh Dũng, nhà thơ Nguyễn Kim Huy, nhà thơ nữ Đinh Thị Như Thuý… nhưng đều hồ hởi, vui.
Niềm vui thực sự.
Giữa thời buổi này, nói thật, nhìn về một người lãnh đạo, nhất là bên đảng, không hiểu sao, không giống những năm tháng đất nước còn vật vã vì bom đạn, vì nghèo, vì khổ. Những năm tháng ấy người cán bộ với dân gần như khoảng cách không xa lắm, có thể bắt tay, giãi bày, thậm chí cãi tay đôi cũng không sợ, miễn điều mình đang nói là đúng. Nhưng thời buổi này, cứ tưởng kinh tế phát triển, giao thương rộng, mở tầm nhìn…mọi chuyện sẽ khá hơn, nhưng thực tế ngược lại, để tìm lại hình ảnh đẹp xưa kia sao thấy khó thế!
Chẳng lẽ hoài niệm bằng những tác phẩm điện ảnh, sân khấu… rồi thở dài, tiếc rẻ.
Sáng ấy, trong tiết đông cuối năm, cuộc gặp giữa ông Nguyễn Sự, bí thư thành uỷ Hội An với các nhà văn, nhà thơ trong Chi hội nhà văn Việt Nam đang sinh hoạt tại Đà Nẵng trong khuôn viên rộng, tràn mầu xanh ở khách sạn Hội An bỗng chốc làm cho tâm thái mọi người thấy nhẹ hẳn. Cũng hạnh phúc, tự nhiên có một cuộc nói chuyện vui, khoáng đạt, rất thật không có khoảng cách giữa một người là lãnh đạo thành phố và bên kia, những người sống với ngòi bút, trang giấy, muổn trải lòng thật cho muôn người biết.
Nhà văn, nhà thơ ở Đà Nẵng thường hay nói vui với nhau: Nói chuyện với mấy vị lãnh đạo, sướng nhất là được nói chuyện với ông Nguyễn Bá Thanh, nguyên Bí thư thành uỷ Đà Nẵng, thứ là đến ông Nguyễn Sự, bí thư thành uỷ Hội An, có thể nói thoả mái, xưng hô cũng thoả mái “ ông, tôi” gần như là không khí “bình dân”, anh em trong một nhà. Lại thích nữa, hai ông này khoái nghe” phản biện” như ông Nguyễn Sự tâm tình: “ lãnh đạo phải lắng nghe, nghe mà chắt lọc xem những việc mình làm được và chưa được. Họ có quý mình mới góp ý.”. Biểu thị cho sự quý trong văn nghệ sỹ, ông Nguyễn Sự đã chuẩn bị sẵn một bó hoa đẹp để tặng nhà thơ Bùi Công Minh, khi biết tin nhà thơ đựơc kết nạp thành hội viên, hội nhà văn Việt Nam.
Một nghĩ cử đẹp của người lãnh đạo, khiến tất cả nhà văn, nhà thơ đi trong đoàn đều cảm động.
Chuyện gần, chuyện xa lại xoay quanh chuyện về văn hóa Hội An. Ông Nguyễn Sự bộc bạch: “ nếu giả sử tôi chuyển công tác, không làm ở Hội An nữa là thấy khó. Có lẽ tạng của mình chỉ hợp với Hội An, chứ làm chỗ khác, chức vụ khác không biết thế nào? Thành công không dám nói nhưng thất bại rất dễ, vì không phù hợp với khả năng, trình độ của mình”. Nói thật như lời ông Nguyễn Sự, ở thời buổi này, của một cán bộ lãnh đạo có lẽ, theo tôi, hơi bị hiếm. Chẳng có một ông lãnh đạo to từng nói công khai trước bàn dân thiên hạ, đại ý, năm mươi mốt năm theo đảng, đảng phân công nhiệm vụ nào tôi cũng cố gắng làm, không thoái thác. Câu nói đó, thực tế là nói vô trách nhiệm, kiêu căng, không đúng lời khuyên của cụ Hồ. Mình phải biết trình độ mình ở đâu chứ!Kết quả lãnh đạo như thế nào chứ! Dân có tín nhiệm mình không? Đã có một lãnh tụ nói: Dốt cộng với nhiệt tình, thành phá hoại. Mà ở nước mình, nhiệt tình ở các vị lãnh đạo thì nhiều vô kể, nhưng nhiệt tình không, đâu đã đủ. Còn kết quả công việc, mà kết quả công việc đem lại lợi ích cho dân, cho đất nước, không thể kể đó là nhiệt tình, mà là tính tổ chức, tính khoa học, biểu hiện một trình độ. Hội An có được như ngày hôm nay, có lẽ là một đáp số rõ ràng nhất của tính “tổ chức”, tính “ khoa học”. Hình ảnh đẹp của Hội An biểu hiện một trình độ lãnh đạo chưa đến độ thượng thừa, nhưng cũng ở một mức dân chấp nhận, xã hội chấp nhận, dư luận chấp nhận. Ấy vậy, ông Nguyễn Sự nói với chúng tôi: “ Tôi rất muốn gặp, trò chuyện với đội ngũ trí thức giỏi, nhà văn, nhà thơ… mong các anh cho những lời khuyên, làm thế nào để trong tương lai, con cháu mình không bao giờ trách cha ông chúng nó, rằng, không biết giữ Hội An. Ở Hội An còn nhiều việc phải làm lắm!”. Ông Nguyễn Sự đặt thẳng vấn đề: “ Theo các vị, Hội An có nên tổ chức lễ hội thường niên không?”.
Thay cho câu trả lời, nhà văn Thái Bá Lợi nhắc lại những kỷ niệm vô giá về những năm tháng cùng nhà văn Nguyễn Tuân, nghệ sỹ nhiếp ảnh Hoàng Kim Đáng, hoạ sỹ Lưu Công Nhân, nhà “Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân, đặc biệt là cùng với kiến trúc sư người Ba Lan Kazik đi Hội An. Những năm tháng gọi là “ Hội An - Binh minh di sản văn hóa thế giới” nhà văn Nguyễn Tuân đã nói với nhà văn Thái Bá Lợi, đại ý, giữ được Hội An cần có những con người văn hóa, điều này không dễ đâu. Còn nhà “ Quảng Nam học” Nguyễn Văn Xuân, nói một câu để đời: “ Hội An tiến lên tương lai bằng quá khứ”. Hoặc như kiến trúc sư Ba Lan, Kazik nói một cách ngưỡng mộ: “ Hội An đang sở hữu một “ núi vàng lộ thiên”, cho tôi một ngôi nhà cổ ở Hội An, tôi sẽ thành tỷ phú”…Cũng chỉ có ở Hội An mới níu kéo hoạ sỹ Lưu Công Nhân ở lại vẽ ròng rã mấy tháng trời. Mỗi bức tranh của ông vẽ về Hội An, bây giờ có giá “ trên trời” ít người được sở hữu. “ Như vậy, theo tôi…” Nhà văn Thái Bá Lợi nói riêng ý kiến của mình: “ Hội An có nét đẹp gọi là “tiềm ẩn”. Càng ngắm lâu, càng thấy đẹp, càng ở lâu, càng thấy thích, Tổ chức lễ hội hoành tráng, náo nhiệt, đông người, nhưng trò chơi thi thố… đó không phải là đặc thù của văn hóa Hội An.”. Nhà thơ Thanh Quế góp ý thêm: “ Lễ hội thực sự có ý nghĩa đó là “lễ hội” trong lòng dân. Dân cảm thấy lễ hội đó mang lại kết quả thiết thực như nâng cao trình độ trong nghi lễ giao tiếp, ngoại ngữ, mở mang tầm nhìn … đặc biệt là kinh tế, có điều kiện phát triển, dân sẽ ủng hộ. Còn không phải như vậy mà tổ chức lễ hội thật to, kéo dài ngày sẽ không đạt hiểu quả kinh tế, gây lãng phí, tạo điều kiện tham nhũng và nhất là dân, có thể không nói ra, nhưng dứt khoát họ không đồng tình, phản ứng tiêu cực.”…Ông Nguyễn Sự nghe chăm chú những lời góp ý chân tình của các nhà văn, nhà thơ. Ông tán thành: “ Không riêng tôi mà tập thể lãnh đạo thành phố Hội An cũng nhất trí quan điểm này. Hiện nay Hội An mở rộng phát triển nhiều hình thức du lịch văn hóa như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhân rộng hình thức du lịch gia đình. Nghĩa là khách du lịch cùng ăn, cùng ở, cùng sinh hoạt với từng gia đình ở Hội An. Làm được điều này có mấy cái lợi: ngoài tăng thu nhập kinh tế, còn có thể nâng cao trình độ ngoại ngữ, học hỏi điều tốt của các nền văn hóa khác nhau thông qua khách du lịch đến tạm trú. Giải toả những lúc các khách sạn đông khách, giá cả vừa phải, nhiều cách thức sinh hoạt thưởng thức văn hóa, ẩm thực khách du lịch sẽ chấp nhận. Hoặc tổ chức cho khách du lịch vừa tham quan vừa trực tiếp lao động trồng trọt, chế biến món ăn ở làng rau Trà Quế, đánh cá trên sông Hoài, hay như chơi, đua thuyền thúng ở Cẩm Thanh… đã đạt một số hiệu quả bước đầu. Rất cần các vị tham vấn thêm. Lòng dân ổn định, tin tưởng vào chế độ, vào người lãnh đạo, kinh tế phát triển hài hoà, bền vững, như vậy ngày nào trong năm cũng là “lễ hội” với người dân, còn không phải như thế, lễ hội có to mấy, tuyên truyền nhiều đến mấy… người dân tham gia cũng chỉ là sự gượng ép, không đạt kết quả”. Ông Nguyễn Sự kết luận.
Hiện nay, trong xã hội ta còn tồn tại lối lãnh đạo “Tư duy nhiệm kỳ”, “ tư duy lãnh đạo tập thể”. Lối tư duy này đã giết chết bao nhiêu sự sáng tạo, giết chết sự đột phá, đổi mới. Với ông Nguyễn Sự, có thể may cho ông hay may cho Hội An, trong cuộc nói chuyện với anh em chi hội nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng, với cương vị lãnh đạo ở một đô thị cổ gần hai chục năm, ông Nguyễn Sự đã phê phán gay gắt lối tư duy đó. Ông Nguyễn Sự nhắc đến ông Kazik với sự ngưỡng mộ. Ông còn nhắc đến ông Nguyễn Vân Phi, nguyên giám đốc đầu tiên của trung tâm Bảo tồn, quản lý di tích đô thị cổ Hội An. Với tầm nhìn văn hóa xa, vượt tầm ông Phi đề nghị các vị lãnh đạo thị xã Hội An lúc đó cương quyết giữ các đình chùa như chùa Ông, đình Cẩm Phô… phục hồi các lễ hội truyền thống mà hồi đó không ít ý kiến cho rằng đó là những trò “mê tín dị đoan” .Ông Nguyễn Sự tâm sự thật lòng: “ Nếu không có những nhà văn hóa như vậy, lãnh đạo lại không nghe những lời khuyên của những nhà văn hóa đó, không thể có Hội An như ngày hôm nay. Lúc này vẫn phải nên nghe…”. Nhà thơ Đông Trình nhắc lại một kỷ niệm, năm 1974, nhà thơ cùng nhạc sỹ Trịnh Công Sơn tổ chức một đêm nhạc phản chiến ở Hội An, có rất nhiều người dân Hội An dự, cùng hoà theo lời ca, bài thơ khao khát hoà bình , lên án chiến tranh. Nhà thơ Đông Trình nói: “ Giữa phố cổ, mái nhà cổ lặng còn hơn cả sự yên lặng, những bài hát của Trịnh vang lên như một lời cầu nguyện tâm linh cứu rỗi, hướng thiện, yêu nhân hoà, điều đó giống những mạch nước ngầm, trong vắt len lỏi, ngấm dần vào từng tâm hồn con người Việt, gợi lòng yêu nước, yêu dân tộc, yêu văn hóa Việt… Có lẽ nhiều người dân Hội An còn nhớ đêm nhạc Trịnh Công Sơn năm ấy.”. Ông Nguyễn Sự đồng tình: “ Thì chính tôi, lúc đó còn là một chú thiếu niên, dự đêm nhạc đó. Nhắc lại đêm nhạc đó dễ làm cho con người nhớ Hội An, thương Hội An, tự hứa với mình, phải làm một điều gì đó để xứng là người Hội An có văn hóa. Mà người Hội An hình thành nét văn hóa đẹp có lẽ bắt đầu từ những đêm nhạc đẹp như thế!”. Nói đến đó, ông có vẻ tiếc rẻ: “ Giá như bây giờ chúng ta tổ chức được những đêm nhạc như thế cho thanh niên, tốt biết bao nhiêu.”. Rõ ràng, giúp cho những người thanh niên thời hiện đại này họ yêu quê hương hơn, có trách nhiệm với quê hương hơn là một công việc rất cần kíp. Nhà thơ Nguyễn Kim Huy, vừa nhận nhiệm vụ mới, phó giám đốc kiêm tổng biên tập nhà xuất bản Đà Nẵng đề xuất ý kiến: “ Khi thanh niên dễ lạc hướng văn hóa vì mơ hồ trong sự chọn lựa, nên rất cần những quyển sách viết về Hội An, vừa tầm suy nghĩ của các em, do những tác giả có tên tuổi viết.” Nhà thơ góp ý với ông Nguyễn Sự: “ Anh làm lãnh đạo, tôi biết anh rất bận, nhưng cũng nên dành thời gian ủng hộ việc này.”. ông Nguyễn Sự cười: “ Tôi vẫn dành thời gian đọc sách đấy chứ! Không đọc sách, xem mạng là mình lạc hậu ngay. Tôi ủng hộ việc làm này của anh.”. Để chứng minh mình có đọc báo mạng, blog, ông Nguyễn Sự nhắc lại một chi tiết “đắt” của một bài báo trên blog của một nhà văn đi trong đoàn, rồi ông cười thoả mái, hỏi lại: “ Tôi nói chi tiết đó có đúng không?”. Nhà văn kia gật đầu, xác nhận và không dấu ngạc nhiên: “ Tôi phục anh đấy, cứ tưởng những người viết blog như tôi, các anh không đọc, thậm chí còn ghét nữa chứ!”. Ông Nguyễn Sự lắc đầu như muốn nói điều đó không đúng rồi tiếp câu chuyện: “ Các vị viết gì thì viết, nhưng theo tôi nghĩ, phải có tính xây dựng, phản biện đúng, góp phần cho xã hội chúng ta đang sống tốt đẹp hơn, mọi người sống với nhau tốt hơn, giúp đảng sửa chữa những sai lầm, khôi phục lòng tin của dân vào đảng. Nghĩ như thế thì hãy viết”. Quay sang người ngồi bên cạnh, ông Nguyễn Sự giới thiệu với các nhà văn, nhà thơ: “ Người ngồi bên cạnh tôi là đồng chí trưởng ban tuyên giáo thành uỷ, việc in sách, viết sách nội dung như thế nào các nhà văn, nhà thơ bàn với đồng chí này. Có điều…tôi nói xin lỗi các vị, đừng viết theo đơn đặt hàng, mà viết theo cái tâm của mình, viết như thế nào để đối tượng đọc sách, nhất là các em thanh thiếu niên chấp nhận được, hình thành nhân cách sống tốt cho xã hội, thì có bao nhiêu sách có nội dung như vậy, tôi cũng yêu cầu mua bằng hết!”.
Một câu hỏi khó, mấy nhà văn, nhà thơ đưa mắt nhìn nhau.
Cuộc nói chuyện, mang hơi hướng tâm sự nhiều hơn giữa các nhà văn, nhà thơ trong chi hội nhà văn Việt Nam đang sinh hoạt tại Đà Nẵng với ông Nguyễn Sự - Bí thư thành uỷ Hội An, thời gian trôi dần về trưa, mà hình như chưa có điểm dừng lại. Nhà thơ Bùi Công Minh đứng dậy đọc bài thơ mình sáng tác viết về Hội An, trong bài thơ đó, nhà thơ phát hiện ở Hội An một chi tiết “ lạ”, ai cũng thấy, nhưng ít người nói mà chỉ có thể cảm nhận:
 
“…Mỗi ngôi nhà mang dáng một bài thơ
Mỗi con người tựa một pho kỷ niệm
Cũ và mới giao nhau trong nhập nhoà ánh điện
Những người khách đến đây như gặp ở đâu rồi
 
 
Hội An như riêng chỉ mình tôi
Khi rảo bước giữa im lìm phố cổ
Không có ai quen, vẫn muốn tìm ai đó
Như thể đi tìm lại chính mình…”
 
Cảm ơn nhà thơ Bùi Công Minh, nói hộ cho bao người khi đến đến Hội An “ … Như thể đi tìm lại chính mình”.
Nói chuyện với ông Nguyễn Sự, chúng tôi hay liên tưởng đến hình ảnh của ông Nguyễn Bá Thanh. Thời điểm hiện tại, Cả Đà Nẵng và Hội An hiện lên vóc dáng của những thành phố văn hóa, hiện đại, văn minh, đặc biệt nhất, đại bộ phận lòng dân yên. Đạt được tốt điều đó tất nhiên do một tập thể lãnh đạo gồm nhiều vị giỏi, đồng lòng, nhưng không thể không nói đến uy tín của hai vị lãnh đạo này. Cả hai vị, có đặc điểm chung, được đào tạo bài bản, học hàm đàng hoàng, nói ít, làm nhiều. Sướng nhất các vị ấy nói, là nói những lời của dân, không cao siêu, ngoa ngôn, mượn lý. Điều nữa, các vị ấy ở cơ sở rất lâu, bám dân rất chặt, hiểu tâm tư tình cảm của họ để ra quyết sách, hành động. Chẳng gì cả ông Nguyễn Bá Thanh và ông Nguyễn Sự, tính đến thời điểm hiện tại, đã “trụ” ở hai mảnh đất này gần hai chục năm. Chỉ có như thế mới hiểu dân, hiểu đất, hiểu đời mà làm lãnh đạo.
Còn nay chuyển, mai đi, mới làm được nửa nhiệm kỳ rồi chuyển, chưa có kinh nghiệm, học hành không bài bản, cậy thế, dẫu có lên chức to cũng rất dễ có tư duy và lãnh đạo “phá” , dân không tin!!!
Cuộc nói chuyện nào rồi cũng có điểm dừng, xem đồng hồ ông Nguyễn Sự vội đứng lên, giải thích:“ Bây giờ đã hơn mười một giờ trưa, tôi phải về nhà làm đám giỗ cho ông già bên vợ, khách khứa đến từ sáng, nhưng tôi đã hẹn với các ông rồi, nên không thể ở nhà. Bây giờ xin phép các ông, tôi về lo chuyện gia đình. Ra tết, thời gian có, không cập rập, nếu hai bên có điều kiện, chúng ta lại hẹn gặp, nói chuyện nhiều. Gặp nhau, nhớ tặng sách nhé! Tôi chỉ thích thế thôi.”.
Bắt tay khắp lượt, ông tất tả ra chiếc xe Honđa để ở góc sân.
Phóng vội…
 
]]>
http://trankytrung.com/read.php?533 <![CDATA[MÁI NHÀ CỔ HỘI AN - Viết về Hội An]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 20 Jun 2012 04:21:02 +0000 http://trankytrung.com/read.php?533

                   Mái nhà cổ Hội An 

 

MÁI NHÀ CỔ HỘI AN – Viết về Hội An

 

 

           Nói đến tính chịu đựng, không than van, bình lặng,   cố níu kéo thời gian đừng trôi, giữ lại hồn cốt con người…có lẽ chỉ có mái nhà cổ của Hội An làm được việc này.

         Tôi chưa tìm ra được ngôi nhà cổ nào ở Hội An được xây dựng đầu tiên, nhưng có thể khẳng định, ngôi nhà cổ đầu tiên xây dựng đã có mái nhà cổ âm dương. Mấy trăm năm, mái nhà cổ âm dương không thay đổi cho dù đời người mấy lần lặn, nổi trong ngôi nhà cổ ấy. Cứ nhìn mái nhà cổ sẫm màu nâu khô trong mùa hạ, màu nâu sậm, ẩm trong mùa đông mà như nhìn rõ phận trôi nổi của một đời người vất vả. Lúc thư thái, thời tiết thuận, mưa rải đều không gay gắt, nhẹ phớt qua hàng ngói, chỉ non một tháng sau, kỳ lạ trên mái nhà cổ Hội An xuất hiện những hàng cây non nẩy lộc, đâm chồi. Những lá cây non mọc trên mái nhà cổ Hội An xanh trong, nép nhẹ vào nhau, đưa đẩy theo từng cơn gió, không khoe khoang,  bình dị. Cung cách ấy giống như tính cách con người Hội An nơi đây, đi nhẹ nói khẽ. Cũng nhìn những hàng cây lá non mọc trên mái nhà cổ. tôi lại nghĩ, hình như bên trong mái nhà cổ vẫn có một nguồn nhựa sống đến bất tận, cố dâng hiến để nuôi cây, y như mảnh đất Hội An, dẫu khô rang của cát, dẫu gió quật, lụt dữ vẫn tích tụ ngầm những năng lượng văn hóa, nhân phẩm để  con người sống ở đây phát tích.

            Thời tiết của Hội An có hai mùa rõ rệt. Mùa hè nắng gay gắt, nắng như quạt lửa nướng từng viên gạch trên từng mái nhà. Ấy vậy, như một tấm lòng thơm thảo của nàng dâu hiền mới về nhà chồng, mái nhà cổ Hội An cố thu hết những cái bức bách của nóng, chịu thiệt thòi cho mình để bên trong nhà cổ, dưới mái cổ là không gian của mát cho con người cư ngụ. Đến mùa đông, ban đầu là những cơn mưa sầm sập, gay gắt, rồi đến những giọt nước quất thẳng vào mái nhà còn hơn những đòn roi dữ. Mái nhà cổ như tấm lưng của một người cha suốt đời tần tảo cố chịu đựng không một tiếng than van để che chở cho đàn con ở phía dưới. Chẳng thế, mưa có to đến đâu, nếu như ở trong ngôi nhà cổ Hội An, tiếng mưa như nhỏ đi, cái ầm ào của sấm chớp cũng không còn dữ dội mà chỉ thấy một sự vững chắc, tin tưởng, bình an.

           Tôi thích mái nhà cổ Hội An đêm trăng, ánh trăng viên mãn thanh tao treo lơ lửng giữa bầu trời, rải đều sắc vàng nhẹ khắp mái nhà cổ. Những mái nhà cổ nằm dọc theo dãy phố lớp trước,  lớp sau cùng những hàng gạch xếp đều, ngay ngắn, không chen lấn như muốn mái nhà nào, viên gạch nào cũng được tận hưởng sắc vàng nhẹ của ánh trăng viên mãn ấy. Mái nhà cổ lúc ấy sao trông hiền lành, gần gũi thân thương đến lạ. Mái nhà cổ Hội An chỉ cao hơn tầm với của con người một tý, cứ như nếu mái nhà cổ ấy thấp một chút nữa là có thể chạm vào  người đi dưới đường, để như muốn nghe những lời tâm sự. Đã bao lần trong đêm khuya thanh vắng, chỉ còn những ánh đèn vàng vọt hắt trên mặt đường, mái nhà cổ đã chứng kiến chuyện nhỏ to của những người con gái, con trai mới yêu. Hay trưa hè, chắc mái nhà cổ đã nghe, đã thấy hình ảnh bác xích lô cùng chiếc xe nằm nghỉ dưới mái hiên trong giấc ngủ trưa cùng tiếng thở mệt nhọc. Rồi mùa lụt, nước lũ dâng cao, gần đến mái. Những con thuyền đi qua phố cổ, trong nhà có tiếng người nói vọng ra cầu cứu. Lấy cái gì để làm chỗ tựa bấu víu cứu người? Nếu không phải là mái nhà cổ. Mũi thuyền quay ngang, người lái đò chìa tay bám vào mái nhà cổ. Mái nhà cổ Hội An cũng như một “cánh tay” nhân đức, rắn chắc bám lấy tay người lái đò kéo con thuyền vào tận cửa để người trong nhà bước lên. Người cùng thuyền đi đên chỗ an toàn, còn mái nhà cổ kia trụ lại, giữ nhà, mấy viên ngói âm dương lợp sát hiên như ánh mắt buồn của người thương ngóng theo con thuyền chở người thân theo dòng nước đi xa…

         Từ miền trung vào nam, nếu là ngôi nhà cổ, đại bộ phận đều lợp nói âm dương. Ai nghĩ ra cách lợp ngói kiểu này? Ở đâu tôi không biết, nhưng ở Hội An, mái ngói âm dương, tôi nghĩ, chắc phải do người phụ nữ nghĩ ra. Vì sao tôi nghĩ thế ? Cứ nhìn hai hàng gạch nắm úp vào nhau trên mái nhà, khăng khít đến tận cùng, không muốn rời. Khăng khít đến nỗi, những hàng gạch âm dương ấy nếu không may có một chỗ dột trong ngày mưa, dòng nước theo chỗ dột ấy xê xịch đi chỗ khác, rất khó tìm. Nhìn đâu đó trên mái nhà, tụ nhiên có một chỗ rỉ nước, dòng nước nhẹ, bò chậm, vẽ ngoằn nghèo trên bức tường. Bên ngoài trời vẫn sấm chớp, mưa gió đùng đùng, nhìn giọt nước nhỏ đang chảy xuống như giọt nước mắt của người thương. Mái nhà cổ như con người hiểu mình, thương mình. Bên ngoài ngửa mặt cương cường mặc cho gió mưa quất táp, nhưng bên trong lại vô cùng yếu đuối, chỉ có khóc muốn san sẻ nhọc nhằn khi đứng bên cạnh người mình thương yêu. Nếu lấy biểu tượng chung thủy, theo tôi, hãy lấy biểu tượng mái ngói âm dương của mái nhà cổ Hội An. Trên mái nhà cổ, những hàng ngói âm, dương như nét mặt của hai người nam, nữ giáp nhau với những “nụ hôn” siết chặt, bất chấp thời gian, bất chấp năm tháng. Đến lúc vỡ không còn nguyên lành trở về với đất cát gần như chúng hòa vào làm một . Sống thủy chung, đến chết cũng chung thủy như thế  chỉ có thể so sánh với tình nghĩa vợ chồng. Ở Hội An còn lưu truyền nhiều câu chuyện về tính thủy chung của những người vợ có chồng đi xa. Một câu chuyện có người kể với tôi, sở dĩ có Chùa Cầu ở Hội An là vì, ngày ấy lũ lên to quá, nước đổ cuồn cuộn, chồng đánh bắt cá ngoài xa, vợ ở nhà quá lo lắng, một mình, một ghe mà dám chèo ra sông mong tiếp sức cho chồng. Hai vợ chồng gặp nhau cũng là lúc con sóng lớn ập đến, hai người ôm chặt lấy nhau chết giữa sông… Chuyện ấy động đến trời đất, con sông tự động thu hai bên bờ nhỏ lại. Nhân dân dựng cầu có mái che để những đôi vợ chồng gặp nhau dễ dàng…Đã là truyền thuyết có thể đúng, có thể sai nhưng tính thủy chung của người phụ nữ Hội An, giống như hàng ngói âm dương trên mái nhà cổ kia, là một. Nên thế, những lò gạch ở Cẩm Hà hồi còn nhả khói, làm ngói âm dương, tôi vẫn thấy vai trò của người phụ nữ là chủ yếu. Những viên gạch lợp mái ngói nhà cổ đỏ hồng, sờ vào hơi ráp nhưng không cảm giác xa lạ, vẫn thấy hơi ấm của những người phụ nữ Hội An tần tảo.

        Mái nhà cổ Hội An đến lúc thân, kể mãi không hết chuyện.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?529 <![CDATA[BÃI TẮM AN BÀNG - Viết về Hội An]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 08 Jun 2012 05:49:15 +0000 http://trankytrung.com/read.php?529  

         Bãi tắm An Bàng

 

BÃI TẮM AN BÀNG

 

             Tôi cũng không biết ai đã đặt tên cho bãi tắm này của Hội An? Một bãi tắm an lành, tuyệt vời.

           Chỉ cách nội thị Hội An khoảng 4 cây số đường nhựa, mỗi sáng có thể thấy rất nhiều người dân chạy bộ ra biển. Một quãng đường trống, hai bên là những khoảng không, bên dưới là những đám ruộng xanh mướt, đọng hơi sương, bên trên là khoảng xanh mênh mông vô tận của bầu trời. Không khí thoáng đãng có cảm giác hình như mình đang hít thở mùi sương đang phảng phất chưa tan, mùi lúa ngậm đòng, mùi hoa sen đang nở…tất cả rõ ràng, hiện hữu… Chạy như thế, cả một đoạn đường dài những mùi hương ấy cứ bao lấy xung quanh như không thấy mệt.

          Ra được đến An Bàng, nếu là người lần đầu đến, tôi đảm bảo sẽ ngỡ ngàng. Một bãi cát mịn, mịn đến đến độ cảm như mình đang đi trên dải bột vàng mới phơi hút tầm mắt. Phía xa, mờ nhạt trong đường chân trời, đảo Cù Lao Chàm hiện lên như vóc dáng của một cô gái nằm khỏa thân phơi hết nét đẹp ngà ngọc. Cái sóng biển của An Bàng cũng lạ, thường như đùa với với người mới đến, mơn man, ào một chút, rồi lẫn đi như một cuộc chơi trốn tìm làm người đứng trên bờ ngập ngừng, nửa muốn bước xuống, nửa muốn bước lên. Còn người đã đến An Bàng thân quen, vừa đến biển đã muốn ào xuống, vùng vẫy, cuống quýt cứ như sợ nước biển theo sóng dạt ra tít tận phía đằng xa, bỏ lại mình. Làn nước trong xanh, nhìn tận đáy, không hiểu sao, tôi vẫn cố nhìn, nhìn thật lâu như muốn tìm hiểu sau lớp đáy cát kia biển An Bàng còn những gì nữa mà níu kéo con người đến thế?

       Hai cha con tôi tắm biển An Bàng thường muộn, khoảng gần 6 giờ sáng mới ra. Chẳng phải lười, cũng không phải do ngủ muộn mà một điều đơn giản, ra bãi tắm lúc này thường vắng người, mặt trời cũng vừa lên, muốn tận hưởng tất cả những gì mà An Bàng đã có. Sướng lắm! Đầu tiên là những người giữ xe đạp, xe máy ở đây. Thân thương như người nhà, bỏ xe máy đấy, không cần lấy vé xe. Lúc về cả tắm tráng nước ngọt và tiền giữ xe cho hai cha con tôi, họ lấy giá ba nghìn. Giá tráng nước ngọt và giữ xe như thế này có lẽ rẻ nhất nước… Lúc này ở An Bàng mọi người đã về gần hết, kẻ đi chợ, người đi làm, trẻ em đi học… nên bãi biển thưa người, trả lại vẻ đẹp nguyên sơ. Cả một bãi cát dài chỉ có mấy đứa bé nhẫn nại dùng cọng dừa đi bắt còng. Cọng dừa đập dập đầu, đưa xuống hang sâu do còng đào, ngoáy ngoáy, đảo qua, đảo lại…một lúc sau nghe động, kéo lên. Đầu cọng dừa một chú còng bụ bẫm, hai càng bám chặt. Chịu khó một tý, là có đủ một bọc còng để nướng, để nấu canh. Không có đâu, ít lắm có trò bắt còng thú vị này. Trẻ con An Bàng vô tư, hồn nhiên như sóng, đến trò chơi bắt còng của các em nhìn thấy thương, thấy quý đến lạ. Tôi còn thương còn quý nữa hai người phụ nữ thường thấy trên bãi biển này, mỗi sáng. Một chiếc cào, một người người cào rác, một người nhặt, đi nhẫn nại, làm nhẫn nại, cứ tha thẩn như thế đi cho hết bãi biển cũng rộng đến hai, ba cây số nhặt cho hết rác của khách đi tắm biển bỏ lại, một việc bình thường nhưng rất phi thường. Dễ ai đã làm như hai người phụ nữ này. Nhặt rác giữ bãi biển sạch, phụ cấp của phưởng trả không bao nhiêu, chẳng đủ đắp điếm qua ngày, nhưng sao hai người phụ nữ này vẫn làm? Họ trả lời với tôi: “ Có giữ bãi biển sạch khách mới đến,  con cháu mới có việc làm.”. Thương con cháu, có lẽ nếu so sánh, cũng chỉ bằng tình thương của hai người phụ nữ dọn rác, trên bãi biển An Bàng. Biển An Bàng xanh trong, mát, hiền, hình như cũng bị ảnh hưởng bởi tính nết của con người ở đây, tôi nghĩ thế! Ở An Bàng, đừng hy vọng tìm ra những món ăn cao lương mỹ vị của những kẻ nhiều tiền. Tắm ở ở đây là những người công chức nghèo Hội An, lương ba cọc, ba đồng, những người đạp xích lô phơi mình, phơi lưng suốt một ngày đội nắng, tắm mưa chở khách, cố kiếm đủ ăn trong một ngày, những người dân buôn thúng, bán bưng, đầu tắt, mặt tối áo đẫm mô hôi của thức khuya, dậy sớm, của những em học sinh đồng phục mặc phai mầu, đạp chiếc xe đạp cũ, xích líp xe khô dầu kêu lạo xạo dưới chân… những con người như thế làm gì có nhiều tiền. Ở An Bàng tôi thấy có một điều hôm nào cũng mới, cũng hồn nhiên như thể đó là những con người “ giàu”, không lo đời sống có “của ăn, của để”, đó là tiếng cười, tiếng chào hỏi nhau của mỗi buổi sáng, buổi chiều khi những người Hội An ra bãi tắm. Tiếng cười như trộn vào sóng bể bất tận, dồn dào cho đến tận khuya. Tất cả phiền muội bỏ lại sau lưng, vì trước mặt là bát ngát của biển, của mát, của sự tẩy sạch bụi trần, của sự no đủ đúng nghĩa, hợp với người nghèo …  Nên thế, ở An Bàng sau khi thỏa sức với sóng biển lên bờ có những gánh hàng ăn mà ai cũng có thể thưởng thức không phận biệt sang hèn. Kia là người bán khoai lang luộc, năm nghìn, ba củ. Còn phía xa kia là gánh cháo nghêu, giá cũng chỉ mười nghìn, một tô. Một bà già lưng lọm khọm ngồi quạt than nướng những bánh tráng chấm tương ớt. Mua năm nghìn, hai người ăn lai rai cũng hết một buổi chiều. Còn muốn no, mua những chiếc bánh chưng của người công nhân nét mắt khắc khổ, vừa đi làm về rao bán dọc bãi biển, giá tiền cũng không đáng bao nhiêu…

          Đến An Bàng, như thấy một xã hội trong sạch thu nhỏ, nghèo mà không tự ti, tình cảm con người là bằng hữu, không mặc cảm, không khoảng cách, gặp ai cũng có thể chào, như thân quen của nhà liền vách.  

           Cha con tôi tắm biển An Bàng đã lâu, rất lạ, chưa hề nghe thấy sự to tiếng, chứ đừng nói đến tiếng chửi. Đến An Bàng tắm biển mà như tìm lại được sự thư thái của tâm hồn, sự tĩnh tại của thế đứng mỗi con người trong một xã hội đầy rẫy sự xô bồ…

            Rất sướng!

            Không tin, bạn hãy một lần đến bãi biển An Bàng.              

        

]]>
http://trankytrung.com/read.php?494 <![CDATA[CHỊ TY BÁN CƠM GÀ ]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Mon, 02 Apr 2012 03:14:22 +0000 http://trankytrung.com/read.php?494

Chùa cầu Hội An

 

 

 

CHỊ TY BÁN CƠM GÀ

 

         Quán cơm gà của chị Ty đầu ngõ nhỏ, cạnh nhà tôi. Nhà chị nghèo, cái nghèo của sự chật chội, tần tảo, thức khuya, dậy sớm.

          Sớm, khoảng năm giờ đã thấy chị dọn gánh cháo gạo lức. Nồi cháo gạo lức đặc sệt, đặt cạnh một nồi nhỏ cá kho dưa. Hai nghìn cũng bán, ba ngàn cho đến năm ngàn cũng bán… chén cháo của người nghèo, lam lũ. Nghèo và lam lũ cả người bán lẫn người mua. Bán hết gánh cháo may ra lãi được mấy chục ngàn. Chị nói với tôi: “ Em dậy từ ba giờ sáng để nấu, cố gần năm giờ là xong để dọn hàng…”. Nếu nói thế thôi, cũng chẳng có gì phải ngạc nhiên, điều tôi ngạc nhiên là cứ đến khoảng năm giờ chiều là chị cùng chồng và mấy đứa con hì hục sắp ghế, bưng bàn, để nồi …dọn hàng bán cơm gà đầu ngõ, bán cho đến hết hàng. Hôm nào sớm cũng phải hơn tám giờ tối. Còn có hôm ế khách, cũng phải đến gần mười một giờ khuya mới xong. Cả gia đình như xoay, như vần với công việc, cắm cúi, không một tiếng nhỏ, không một tiếng to. Nhiều lúc tôi cứ nghĩ, không biết chị và gia đình nghèo này lấy thời gian đâu để ngủ!

          Không gian đầu ngõ cũng chật, chỉ đủ để vừa một dãy bàn khoảng ba, bốn cái. Hôm nào đông khách, lại thấy gia đình chị kê thêm mấy chiếc bàn cho khách ở phòng trong, nơi gia đình chị sinh hoạt, để bưng bê, chạy ra, chạy vào đến khổ. Ấy thế, cái gia đình này lạ, tôi ở cạnh đấy suốt mấy năm trời, chưa bao giờ nghe thấy một tiếng nhỏ, tiếng to, than vãn về sự vất vả, về sự nghèo khó. Vẫn nhẹ từ lời ăn tiếng nói đến bước chân. Nói không ngoa, ở gia đình chị chỉ  thấy nụ cười, tiếng chào thân quen để nhiều lúc tôi cứ ngỡ như gia đình tôi với gia đình chị là họ hàng…

Chị Ty và quán cơm gà 23 - Phan Chu Trinh - Hội An

              Tối ấy, cũng khuya rồi, hàng quán xung quanh dọn dẹp, đèn đường đã tắt, thưa bóng xe máy qua lại, như mọi lần, tôi đi ra ngõ khóa vòi nước máy. Bất chợt!... Điều gì đang xảy ra? Tôi im lặng quan sát mà như không tin ở mắt mình. Cả gia đình chị Ty đang hỳ hục khiêng một chiếc xe máy đắt tiền. Chồng trước, vợ sau, hai đứa con đi hai bên cố nhấc chiếc xe máy từng bước, từng bước để đưa vào nhà mình. Họ làm cẩn thận có phần rón rén. Tại sao có việc này? Chiếc xe máy của ai? Ở đâu mà gia đình chị ấy khiêng về đây? Nhất là giọng của chồng chị: “ Cái xe khóa cổ thế này, không dắt được, nếu dắt được thì rất nhanh - Rồi anh nói với chị Ty cùng các con -  có nặng cũng cố khiêng, đừng kêu to, để hàng xóm còn ngủ!”. nghe thấy thế, trong tôi, hình ảnh đẹp về gia đình chị có từ bấy lâu nay cũng có phần bị nhạt nhòa. Chẳng lẽ, những việc mình nghĩ về chị Ty và cả gia đình chị là không đúng sao? Mà có nghèo đến đâu, ai lại làm thế? Làm xấu Hội An, một môi trường thân thiện và mến khách. Tôi lắc đầu, chán nản, thế ngẫm ra các cụ nói cấm có sai: “ Thức lâu mới biết đêm dài..”. Tôi định bụng, hẵng cứ biết thế, sáng mai sẽ hỏi cho ra ngọn ngành, nếu gia đình chị Ty không chịu nhận chuyện xấu này, tôi sẽ báo cho tổ trưởng khu phố và công an khu vực xử lý…

           Sáng sau, vợ chồng tôi chưa kịp chuẩn bị đi tập thể dục thì nghe thấy tiếng chị Ty hớt hải gọi tôi ngay đầu nhà: “ …Anh Trung ơi! Anh Trung. Dậy chưa! Ra đây em nhờ chút việc!” Việc gì mà chị ấy gọi sớm thế nhỉ? Vợ chồng tôi chạy ra.

            Trước mặt vợ chồng tôi là chị Ty đứng cạnh một ông người Tây mắt xanh, mũi lõ. Cạnh ông người Tây này là chiếc xe máy hôm qua tôi thấy gia đình chị Ty hỳ hục khiêng vào. Chị Ty nói với vợ chồng tôi: “ nhờ anh, chị dịch cho ông Tây này biết là em không thể lấy tiền, giúp nó thôi. Nó nói xì lô xì là, rồi dúi tiền vào cho em, em không lấy, nó không chịu đi!” Thấy tôi như không hiểu, chị Ty giải thích: “ …Tối hôm qua, bán cơm gà xong mãi đến hơn mười một giờ, vợ chồng em dọn hàng vẫn thấy chiếc xe máy này cùng hai mũ bảo hiểm để ở vỉa hè bên kia đường. Biết là có người bỏ quên rồi, chắc do say rượu, em huy động cả gia đình ra khiêng vào cất hộ. Sáng nay ông Tây này đến, bọn em trả lại, ông ấy nhận xe mà nói vô thiêng hồi, em chẳng hiểu gì cả, lại còn đưa tiền nữa. Gia đình em lấy tiền của ông ấy làm gì. Không lấy tiền, ông ấy không chịu đi. Anh, chị dịch hộ em, gia đình em không lấy tiền đâu, giúp ông ấy thôi! Nhớ lần sau đừng quên như thế nữa. Người cho thuê xe bắt đền thì hết tiền đến du lịch Hội An…”.

         Thế là tôi hiểu nguyên nhân vì sao gia đình chị khiêng chiếc xe máy này vào cất. Tôi ân hận về suy nghĩ của mình tối qua.

          Quá ân hận!

          Vợ tôi biết tiếng Anh, giải thích cho ông Tây quên xe kia biết lý do chị Ty không nhận tiền trả ơn.

           Ông người Tây nọ nghe ra, ánh mắt nhìn chị Ty hàm ơn nói được mấy câu tiếng Việt ngọng nghịu: “ Ngươi Hoi An tot lam! Cam ơn nhieu!”( người Hội An tốt lắm! Cảm ơn nhiều.)

]]>
http://trankytrung.com/read.php?86 <![CDATA[HỒN HÀ NỘI TRONG PHỐ CỔ HỘI AN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 23 Mar 2011 08:43:59 +0000 http://trankytrung.com/read.php?86 Tôi dẫn một bác lớn tuổi quê gốc Hà Nội, dạo phố cổ Hội An, đúng lúc trăng rằm, lúc đó cũng tầm gần nửa đêm, những ngôi nhà nằm im vùi vào giấc ngủ say, đường lẻ loi một, hai hình bóng người với những bước chân chậm rãi. Mà hình như cảnh ấy muốn tạo cho người tĩnh tâm để nhìn, ngắm trăng. Cái ánh trăng sáng viên mãn, vàng nhẹ trong đêm, trông tinh khiết đến lạ lùng. Con trăng ấy nhìn xa cứ như mơn man, trôi theo trên từng nóc nhà cổ. Bác lớn tuổi, quê gốc Hà Nội nhìn cảnh đó, đứng sững lại, nắm tay tôi, nói cảm động:
- Trời ơi! Sao nó giống ánh trăng của Hà Nội thời của bác sống thế hả cháu!

http://kytrungtran.com/images/images85.jpg
Rồi bác lớn tuổi quê gốc Hà Nội ấy hối hả kể với tôi cứ như sợ kỷ niệm kia do ánh trăng ngẫu hứng nhìn thấy trong đêm phố cổ Hội An trôi vụt mất. Trăng đẹp nhất là đúng rằm ở đường Cổ Ngư nhìn ra mặt hồ Tây. Trăng vằng vặc treo trên cao, trông xa như lấy gậy khều được, ngắm trăng mà như muốn ôm trăng. Rồi cũng ánh trăng ấy, lên mặt đê nhìn ra sông Hồng. Trăng tròn trĩnh, lơ lửng giữa dòng sông, hắt ánh vàng xuống bên dưới khiến cả dòng sông như một tấm lụa vàng khổng lồ đang dệt. Bác lại kể cho tôi nghe những năm tháng Hà Nội trước năm một chín bảy ba. Trong thời kỳ chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, thời kỳ ấy Hà Nội hay mất điện, mà mất điện đúng đêm trăng rằm thì Hà Nội lại hiện lên, đẹp một cách lạ lùng. Không tiếng súng, không tiếng bom ì ầm, rất ít tiếng động cơ xe, đường phố thoang thoảng mùi hoa sấu dọc mấy đường phố lớn, mùi hoa lan dìu dịu lan tỏa từ những ban công của mấy ngôi nhà tầng. Trăng ở Hà Nội chỗ nào cũng thấy. Những mái nhà biệt thự cổ của đường Phan Đình Phùng, dưới ánh trăng, ẩn hiện qua hàng cây sấu như lay động, giống y như nóc nhà cổ trong phố cổ Hội An đêm nay. Đi trong lòng phố cổ Hội An đúng đêm rằm, gợi nhớ về Hà Nội những ngày tháng thanh khiết, thấy Hà Nội không xa mà rất gần, tôi nghĩ thế. Bác nói tiếp: “ Lạ thật cháu ạ! Vẫn ánh trăng ấy, nếu ở nơi khác mình ít để ý, không dễ gợi cho ta hoài niệm, nhưng ở Hội An, như đêm nay, lại gợi nhớ đến quê hương mình nhiều đến thế! Chính Hội An đang giữ hồn Hà Nội”. Nghe bác người gốc Hà Nội mói vậy tôi lại nhớ một chuyện.
Tháng 6 năm 1975, vẫn bộ quân phục màu xanh Quân giải phóng, tôi theo gia đình về lại Hội An, nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời. Buổi chiều, thắp hương ở nhà thờ tộc xong, sáng sau tôi theo Ba ra chợ.
Chợ Hội An nằm ngay trung tâm phố cổ, đúng cảnh “ trên bến, dưới thuyền” , người mua, kẻ bán tấp nập. Tôi ngỡ ngàng với tiếng nói của quê hương, mình quen sống ở Hà Nội ngót hai mươi năm, tuy là mang tiếng người Hội An, nhưng tiếng nói, thậm chí cả tính cách của tôi, đậm chất Hà Thành, khó lẫn. Vì thế, khi về lại quê, tiếng nói của tôi, đâm ra… lạc lõng. Nhiều người dân Hội An nghe tôi nói, họ ngạc nhiên bởi tiếng nói như “ tiếng chim” như một lần Ngoại của tôi nhận xét. Đến một gian hàng bán đồ thực phẩm, đang định nhờ Ba hỏi giá, thì bất ngờ người đàn ông bán hàng cất giọng đặc “ Hà Nội” hỏi tôi:
- Thưa anh giải phóng! Anh là người Hà Nội ?
Tôi giật mình. Từ hôm qua đến giờ, mình như bị ngào lẫn trong ngôn ngữ của đất Quảng, cụ thể là ngôn ngữ của người Hội An, bất chợt, nghe lại tiếng nói Hà Nội trong veo, rõ ràng, không thể lẫn… làm cho tôi lúng túng. Tôi vội giải thích với người đàn ông đó:
- Dạ, thưa! Quê tôi ở đây, nhưng từ nhỏ… theo gia đình tập kết ra bắc. Tôi sống ở Hà Nội nên nói tiếng Hà Nội. Vì thế mà ông tưởng…
Người đàn ông nói tiếng Hà Nội kia hình như không để ý đến lời giải thích của tôi, giọng Hà Nội nguyên vẹn xoắn xuýt, thân như thể không thể thân hơn:
- Mời anh về nhà tôi chơi, nhà gần đây thôi. Anh đến kể về Hà Nội cho cả nhà tôi nghe đi. Tôi và nhà tôi xa Hà Nội hơn hai mươi năm rồi. Nhớ Hà Nội lắm!
Tôi đến thăm nhà của người đàn ông nói tiếng Hà Nội ấy. Căn nhà nằm trong một hẻm nhỏ trong lòng phố cổ, bình dị, bên ngoài có giàn hoa giấy. Điều đặc biệt, làm cho tôi ngạc nhiên, cả nhà vẫn giữ tiếng Hà Nội gốc.Vẫn gọi “ bát” thay “ chén” ,vẫn “ con mời mợ xơi cơm”, vẫn “ Con chào cậu, mợ ạ!”….và điều đặc biệt hơn, trong gia đình ấy, vẫn giữ nếp gia phong mà tôi đã thấy ở một số gia đình người Hà Nội khi đến thăm. Trẻ nhỏ đi ngang qua người lớn đang ngồi nói chuyện thì khoanh tay, cúi đầu. Ở trong nhà không ăn to, nói lớn, giọng nhỏ nhẹ, dung hòa. Cách tiếp khách rất lịch sự, chủ ra chủ, khách ra khách không bỗ bã mà vẫn thân mật… Tôi ngạc nhiên nhận xét điều đó với người đàn ông gốc Hà Nội. Ông gật gật đầu, giải thích:
- Dân di cư Hà Nội năm năm tư vào đây nói riêng, và cả dân Bắc nói chung, nói với anh, toàn là dân giàu có, có học, nhận xét phải, trái phân minh, điều gì tốt, ta theo. Dân Hà Nội, anh ở Hà Nội biết rồi, văn hóa lắm. Cái thanh lịch của người Tràng An không dễ có đâu… chúng tôi sợ mất, nên mới vào nam, vào nam để giữ. May cho tôi, ở Hội An, những điều đó nó hợp, nên những gì gia đình tôi đã có ở Hà Nội, giờ vẫn còn…
Lúc đó, tôi thực sự chưa hiểu hết những điều người đàn ông gốc Hà Nội kia nói, giờ ngộ ra rất nhiều điều. Người đàn ông Hà Nội ấy hỏi tôi về tiếng “leng keng” tàu điện ở Hà Nội từ Cầu Giấy vào trung tâm sau năm năm tư có còn “ leng keng” như trước đó không ? Đường Cổ Ngư, Hàng Khoai, Hàng Dầu, Hàng Bột…có còn như cũ không? Rồi cả tiếng rao “ lạc rang húng lìu” của mấy ông già Tàu ôm hòm gỗ đi dọc phố… còn không? Cả những gánh phở khuya nữa? ngồi lúp xúp dưới hàng hiên trong cơn mưa phùn vừa ăn phở, vừa hít hà mùi nước phở thơm lừng bên bếp lửa nóng …có còn không? Tôi nói với ông: “ Tất cả vẫn còn ông ạ! Mà sao ông nhớ những kỷ niệm ấy ghê thế? ”. Người đàn ông nói cảm động: “ Ở Hội An, hôm nào anh đi với tôi. Những điều Hà Nội có, thời tôi đã sống, Hội An cũng có, thậm chí nó còn sống động hơn, nhắc với tôi hằng đêm. Như vậy làm sao tôi không nhớ Hà Nội…”.
Và quả như người đàn ông gốc Hà Nội kia nói. Hàng đêm, giữa đêm khuya thật tịch vắng, dọc phố cổ, vẫn tiếng rao “ trứng vịt lộn”, “ Chế mà phù”, “ Chè xanh đánh”… lảnh lót ngân xa cùng tiếng guốc gỗ gõ xuống nền đường mạch lạc, rồi xa dần rất dễ gợi cho người ta về một kỷ niệm trong đời đã một lần gặp, một lần thấy. Huống hồ, với người đàn ông gốc Hà Nội kia đã từng “ tắm” trong những kỷ niệm đó.
Sau này, cũng đến hơn hai mươi năm sau, khi tôi đã về hưu. Một lần đang ngồi trong nhà cổ, có người dẫn một người thanh niên Việt Kiều đến gặp tôi: “ Có một thanh niên mới ở Mỹ về muốn gặp anh ?”. Tôi nhìn anh thanh niên Việt Kiều kia hơi ngạc nhiên. Người thanh niên đó nhìn tôi, nói với giọng Hà Nội rõ ràng:
- Cháu là con của ông…Hồi mới giải phóng Hội An, ông có đến nhà cháu chơi, nói chuyện với bố của cháu về Hà Nội.
Thế là tôi nhớ rồi, nhớ đến người đàn ông bán hàng ở chợ Hội An người gốc Hà Nội, nói giọng Hà Nội, dạo nào bất chợt tôi gặp. Người thanh niên Việt Kiều ấy cho tôi biết. Người cha của mình, người đàn ông gốc Hà Nội ấy, sau này phải ra nước ngoài sống. Người đàn ông gốc Hà Nội ấy cùng gia đình mình, lại một lần nữa hành hương về một phương trời xa ngái, như ông ấy nói với mấy người con: “ Đi để giữ…”, giữ lấy hồn Hà Nội. Đến một phương trời đầy gió với bão, ngôn ngữ bất đồng, cuộc sống gần như phải làm lại từ đầu, muốn hòa nhập phải chấp nhận…thế nhưng, người đàn ông ấy lại dạy con cái phải giữ gốc mình là người Hà Nội, ai cho mình ơn, mình phải nhớ. Với tôi, chỉ là một người gợi lại cho ông những tháng ngày Hà Nội nguyên sơ, gợi cho ông nhớ một mảnh đất thấm hồn người, vậy là ông nhớ. Trước lúc lâm chung, dặn con trai nếu có về lại Hội An cố thăm tôi, một người đã thương và nhớ Hà Nội giống như ông. Người Hà Nội như ông, mới thật Hà Nội. Cảm ơn Hội An đã giữ cho Hà Nội một mảng văn hóa lớn như thế!
Vừa rồi, tôi có xem triển lãm của một họa sỹ trẻ , sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nay định cư ở Hội An gần mười năm, họa sỹ Vũ Trọng Anh. Phải nói tranh của Vũ Trọng Anh đẹp, nhất là tranh sơn mài. Dù tôi không phải là người am tường hội họa, nhưng nhìn tranh của Vũ Trọng Anh rất thích. Những bức tranh sơn mài khổ lớn vẽ phố cổ Hội An trầm mặc, pha phất buồn, thưa bóng người nhưng không có nét đơn côi… Nhà thơ Phùng Tấn Đông, một người rất am tường về văn hóa Hội An đã có nhận xét về tranh của Vũ Trọng Anh : “ …Chậm rãi nhưng nhiệt thành. Tranh Trọng Anh kể câu chuyện bất tận về vẻ đẹp phố. Vẫn là phố cổ đó thôi nhưng phố của Trọng Anh dường như khơi gợi ở người xem một nguồn mỹ cảm mới. Vẫn những phố ấy, nhà ấy, những xô lệch mới mẻ ấy, trong một sớm mưa trưa, một chiều nắng quái, phố như được tắm trong sắc màu óng ả của nắng ,của gió ngày hội mở. Vẫn phố ấy, nhà ấy, những đường nét, một chút sắc màu, được họa sỹ “ bố cục” lại trong mối giao cảm lạ lùng giữa người và thiên nhiên, tạo vật”. Đấy là lời nhận xét của một người hiểu Hội An. Riêng tôi, khi xem tranh sơn mài của Vũ Trọng Anh vẽ phố cổ Hội An tôi hay liên tưởng đến những bức ảnh chụp Hà Nội đầu thế kỷ, mái nhà dọc phố cổ lúp xúp, những người đi chân đất, đội nón rộng vành, áo nâu, quần nâu, gánh những sọt hàng từ bến sông lên, cả những chiếc xe kéo nữa… cho dẫu tôi chưa một lần chứng kiến tận mắt chỉ xem qua phim, ảnh nhưng sao tôi lại như thấy hiện hữu, qua tranh của Vũ Trọng Anh. Tôi đồng tình với lời nhận xét của Nghệ sỹ nhiếp ảnh Vũ Công Điền: “ Có một chàng trai Hà Nội hay ngắm nhìn từng góc phố Hội An cổ kính rêu phong, hoặc rong ruổi về vùng ngoại ô phố cổ, nơi có những cánh rừng dừa nước nghiêng mình soi bóng, cánh đồng rau, lúa xanh rờn… Cảm xúc trước cái đẹp của quê hương có hai di sản Văn hóa thế giới, trong nhiều năm qua Vũ Trọng Anh cho ra đời những tác phẩm hội họa sơn mài, sơn dầu đậm chất Hà Nội. Hội An luôn đông vui nhưng tranh của anh vẫn thể hiện sự lặng lẽ, êm đềm…Trọng Anh luôn lấy gam màu nóng làm chủ đạo. Nếu người nào tinh ý sẽ nhận ra qua từng bức tranh đều có chút bóng dáng phố cổ Hà Nội. Đặc biệt dòng tranh sơn mài về phố cổ trầm mặc, già nua trong nắng sớm hoặc chiều tà, làm người xem phải nao lòng…”.

Hồn Hà Nội hòa quyện với phố cổ Hội An là như vậy.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?85 <![CDATA[BÀI 3 - KỶ NIỆM MỘT CHUYẾN THỰC TẾ HỘI AN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 23 Mar 2011 08:43:04 +0000 http://trankytrung.com/read.php?85 ĐINH THỊ MỸ
(SƯ PHẠM VĂN K30)

Chuyến sưu tầm Văn học Dân Gian của lớp Sư phạm Văn k30 đã kết thúc và chúng tôi trở về trường học được một tuần lễ rồi nhưng dư âm của chuyến đi ấy vẫn còn in đậm trong tôi.Với chuyến đi này chúng tôi đã sưu tầm được nhiều tác phẩm, tuy kết quả chưa được là bao so với kho tàng Văn Học Dân Gian đồ sộ. Nhưng có lẽ kết quả không nhỏ mà chúng tôi đạt được đó là dành được tình cảm của những người dân mà chúng tôi đến. Giờ đã trở lại trường học tiếp tục nhiệm vụ của mình nhưng trong tôi luôn mang một ấn tượng khó phai về mảnh đất, phong cảnh, con người của phường Cẩm Nam -Phố Hội An -tỉnh Quảng Nam- nơi mà đoàn chúng tôi sưu tầm. Những thắng cảnh đẹp ngất ngây lòng người ở đây cũng như vẻ đẹp tâm hồn của họ vậy , thực đã để lại trong tôi bao kỉ niệm.
............
]]>
http://trankytrung.com/read.php?83 <![CDATA[HỘI AN - VỚI KHOA VĂN ĐẠI HỌC QUY NHƠN]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 23 Mar 2011 08:41:48 +0000 http://trankytrung.com/read.php?83 Vừa qua, Khoa Văn - Trường Đại Học Quy Nhơn, ngôi trường tôi đã từng công tác, có tổ chức cho các bạn sinh viên đi thực tế tại Hội An.

Với Hội An, chỉ có một quãng thời gian không dài, đã để lại cho các bạn nhiều kỷ niệm đẹp. Đặc biệt, cũng qua đợt thực tế, các bạn đã có những nhận xét rất chính xác, đồng thời cũng tạo cho các bạn những xúc cảm khó quên.

Những nhận xét và xúc cảm đó, các bạn đã viết, đã ghi thành những dòng chữ thấm  đậm tình cảm với người và cảnh Hội An.

Tôi cũng rất cảm ơn các tác giả đã cho phép tôi đăng những bài văn này trên kytrungtran.com

Mời các bạn đón đọc.


............
]]>