<![CDATA[Trần Kỳ Trung]]> http://trankytrung.com/index.php vi http://trankytrung.com/read.php?949 <![CDATA[MỘT BÀI VIẾT RẤT HAY CỦA TÁC GIẢ NGÒI BÚT TỰ DO]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 27 Dec 2016 02:45:41 +0000 http://trankytrung.com/read.php?949  

 

            Bài viết này, tôi không bình luận, vì bình luận là...thừa!

 

Mọi khuynh hướng chính trị của con người luôn chạy giữa hai cực Tả và Hữu. Xa nhất về phía Hữu là chủ nghĩa Phát xít, về phía Tả là chủ nghĩa Cộng sản.
 
Việc nhiều cuộc biểu tình dữ dội vẫn còn nổ ra ở Mỹ cả hơn ba tháng sau kết quả đắc cử của ông Donald Trump, một chính khách cánh hữu điển hình; hay nhiều xúc động quanh cái chết của ông Fidel Castro – nhân vật lịch sử đóng những cái đinh cuối lên quan tài của chủ nghĩa Cộng sản ảo tưởng - nói lên rằng sau 71 năm đoạn tuyệt chủ nghĩa Phát xít, dù đã chứng kiến bao tệ hại mà phe cực Tả gây ra, thời đại này vẫn còn nhiều trở ngại, chưa vượt được qua cơn mê, lú cánh Tả.
 
Cánh hữu nhìn thế giới là một thực thể đa dạng, không thể cào bằng. Các tế bào khác nhau, mỗi cá nhân đến các cộng đồng, quốc gia không đồng đều. Người Do thái chỉ chưa tới 0.02% nhân loại mà là chủ nhân ông của hơn 130 giải Nobel. Trung Hoa chiếm gần 20% dân số toàn cầu mà hôm nay thấy chỉ nổi tiếng về gia công hàng rẻ, hàng nhái, độc hại, trộm cắp sở hữu trí tuệ. Việt Nam gấp 3 lần về số dân mà lãnh thổ chỉ bằng 1/30 Canada….
 
Tư tưởng chính trị cánh Hữu là thuận theo qui luật đào thải tự nhiên. Mạnh được yếu thua. Muốn tồn tại phải mạnh, không trông chờ ỷ lại mà phải tự hành động mà vươn lên. Vì vậy cánh hữu thượng tôn sự phát triển. Vì phát triển, phải mở đường cho kẻ mạnh, tư nhân hoá, tự do cạnh tranh, giảm thuế, giảm sự quản lý điều tiết. Giàu niềm tin vào chính họ nên những người cánh hữu không thể hình tượng hoá quá đà lãnh tụ. Họ có khả năng tự lo tốt rồi nên vai trò của nhà nước trong mắt họ là phải tinh gọn.
 
Ông Donald Trump trong tư tưởng và thực tế cuộc đời là người cánh Hữu điển hình. Đi lên bằng chính mình. Tự thân vận động. Cả đời làm chủ. Tự thành, tự bại. Sự tự tin trong ông đến ngạo nghễ. Qua mặt, phỉ báng cả dàn nhân vật chính trị trụ cột của cả hai đảng Dân Chủ, Cộng Hoà. Lật tẩy giới truyền thông thiên Tả bố láo. Và hơn hết, không thèm hệ luỵ về tài chính vào ai trong suốt cuộc vận động tranh cử Tổng thống vừa qua. Còn gì hợp lý hơn khi một doanh nhân đại thành đạt thành người quản lý xưởng in tiền lớn nhất nhân loại- Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ? Chả lẽ những người chuyên nghề cạo giấy, hô hào xuông, hay cầm súng làm việc này tốt hơn chăng?
 
Vậy mà sự phản đối ông vẫn thật tưng bừng. Nhưng người Mỹ cánh hữu nhận thức quá rõ những gì ông nêu ra là đúng. Chính quyền cánh Tả Obama về đối ngoại sau cả 8 năm vẫn chỉ lái câu chuyện xoay trục Á Châu, TPP toàn… trên giấy. Trong thời đại mà người sản xuất thì ê hề, người mua mới là kẻ nắm quyền quyết định lại cứ để Thượng đế-người tiêu dùng Mỹ- thành con nợ lớn cho kẻ chuyên nghề gia công và gian lận. Bao cấp về an ninh, tài chính, quốc phòng, di dân, viện trợ cho hàng loạt nước mà vẫn bị chê bai và than phiền. Nước Mỹ, để tồn tại, không thể tiếp tục tự thắt cổ mình tiếp như vậy được. Cần phải đưa mọi sự trở lại cuộc chơi công bằng (fair play như lời Donald Trump). May mắn thay với cơ chế bầu cử đại cử tri đoàn, ông- người đại diện cho số ít- nhưng là số ít tỉnh táo và quyết liệt đã giành chiến thắng.
 
Đại diện tiêu biểu của cánh Tả là Karl Marx, người tin rằng các nhà triết học trước ông chỉ làm việc giải thích thế giới, còn ông đề ra cho mình việc cải tạo thế giới. Cưỡng lại qui luật đào thải tự nhiên, tìm kiếm giải pháp công bằng xã hội là xuất phát điểm của cánh Tả. Thượng tôn sự cào bằng nên lời giải về kinh tế của cánh Tả là quốc hữu hoá, độc quyền, tăng thuế người giàu để có nguồn tăng phúc lợi xã hội kéo theo sự cồng kềnh, bao biện của bộ máy nhà nước… Các chính phủ từ lâu đã quá rõ là càng giảm thuế, càng kích thích sự phát triển. Nhưng các chính phủ cánh tả không thể giảm thuế được vì họ luôn chi tiêu bạt mạng cho các chương trình xã hội khổng lồ khiến bộ máy nhà nước ngày càng phình to và không chóng thì chầy kinh tế quốc gia ngày càng lụn bại.
 
Phát triển là khát khao của kẻ mạnh, bình đẳng về cơ bản là mơ ước của kẻ yếu. Tạo hoá tạo ra một rừng kẻ yếu và chỉ vài kẻ mạnh. Thế giới gần 200 nước chỉ có một vài siêu cường, dăm bảy cường quốc. Rừng chỉ có vài cọp. Người giàu, tài giỏi ở bất kỳ quốc gia nào cũng không bao giờ là số đông.
 
Nhân loại ưu ái với cánh Tả một phần vì tính mị dân mà cánh này reo rắc, phần nữa vì phần lớn nhân loại vẫn còn nghèo đói, họ mong ước sự công bằng. Hãy nhìn Lênin, Mao, Hồ Chí Minh, Fidel … Họ luôn đi lên bằng số đông cùng hình ảnh một rừng quần chúng vây quanh. Nhưng khi ở trên đỉnh cao quyền lực thì ngay cả Tổng thống cánh Tả Pháp đương nhiệm Francois Hollande cũng chi cho việc sửa sang mái tóc của mình cả gần 60 ngàn Euro/ một năm từ công quĩ đang thâm hụt của nước Pháp.
 
Hãy nhìn vào kết quả của hành động. Cùng trong khoảng vài chục năm khi ông Fidel Castro và các đồng chí của ông cướp súng ở cửa hàng bán vũ khí ở Havana giành và giữ chính quyền trên nòng súng, đã đánh xập nền kinh tế Cuba- hòn ngọc Caribbean; còn ông Donald Trump kịp xây dựng đế chế giàu có và thành đạt của mình trên hàng loạt quốc gia.
 
Tuy nhiên vì ưu ái phát triển nên sự cầm quyền lâu dài của cánh Hữu sẽ tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng rộng. Sự phát triển nóng dễ dẫn đến mất cân đối và khủng hoảng.
 
Còn của cánh Tả sẽ tạo ra một lớp lãnh đạo hậu sinh ngày càng thua kém tiền bối và một dân chúng có sức sản xuất thấp, ỷ lại, ăn bám và sống mòn. CNXH chưa bao giờ sở hữu một sức sản xuất vượt trội CNTB cả. Bất kỳ chính phủ cánh tả hay thiên Tả nào lên cầm quyền ngay cả ở những nước tư bản phát triển như Canada hay Mỹ là các quỹ phúc lợi xã hội, số người nhận trợ cấp đều vụt tăng.
 
Cao nhất tư tưởng cánh Tả khuyến khích được tinh thần của một lực lượng tinh hoa tiến bộ trong xã hội mong muốn xây dựng xã hội công bằng nhằm giảm thiểu các xung đột. Tệ nhất là khơi dòng xúi dục bản năng thấp hèn vốn có của con người, muốn làm ít, hưởng nhiều, trông chờ xã hội làm cho mình hưởng.
 
Trong các xã hội mà cánh Tả thao túng nghịch lý lại xẩy ra. Hô hào bình đẳng khiến triệt tiêu sức sống, sức sáng tạo của từng cá nhân vô hình chung lại dồn hào quang vào xây dựng nên những đại lãnh tụ, những cá nhân vĩ đại. “Vĩ đại” cho cá nhân họ mà đại họa cho cả dân tộc khi bánh xe lịch sử bị kéo lùi.
 
Tả và hữu khác nhau như nước với lửa. Dù yếu tố địa chính trị của Việt Nam là tối quan trọng ở khu vực, khó có thể hình dung là Tổng thống mới đắc cử Mỹ sẽ hạ cố tiếp ông Nguyễn Phú Trọng tại phòng Bầu dục như người đương nhiệm. Hay ông Justin Trudeau Thủ tướng Canada ca ngợi ông Fidel làm dấy lên nhiều làn sóng chỉ trích và căm giận trên toàn Canada. Mang soi dưới lăng kính này đều có thể hiểu được. Dù hơn kém nhau nhiều về tầm vóc; nhưng về bản chất Obama, Trudeau, Fidel, Nguyễn Phú Trọng đều là chính trị gia cánh tả.
 
Việt Nam
 
Các nước có nền dân chủ phát triển già dặn khi các lực lượng chính trị cánh hữu và cánh tả tương quan lực lượng. Khi đó dù lực lượng nào cầm quyền cũng không thể quá cực đoan. Nhu cầu phát triển, thuộc tính của cánh hữu sẽ song hành cùng nhu cầu cân bằng ổn định, thuộc tính cánh tả. Ở nhiều xứ phát triển, trong nhiều cuộc tranh cử người dân còn thấy khó phân biệt sự khác nhau giữa cương lĩnh tranh cử của đảng cánh hữu và đảng cánh tả.
 
Lịch sử về tổng thể khá công bằng. Khi cánh Hữu tiến vào giai đoạn khốc liệt của tích luỹ tư bản thì phong trào vô sản cánh Tả bùng nổ. Khi các nước đế quốc lao vào cuộc tranh gìanh thuộc địa thì phong trào giải phóng dân tộc ra đời. Diều hâu có giá của diều hâu, bồ câu có giá của bồ câu!
 
Tấn đại bi kịch của Việt Nam mấy thế kỷ nay là dân tộc này sản sinh ra quá ít trí thức, chính trị gia cánh hữu sáng giá như Nguyễn Trường Tộ, Phan Chu Trinh, Ngô Đình Diệm, hay gần đây như Kim Ngọc, Võ Văn Kiệt nhưng lại quá dư thừa các chính trị gia, trí thức tả khuynh.
 
Với một dân chúng tuyệt đại đa số nghèo đói triền miên đâm ảo tưởng, viển vông khát khao chớp mắt thoát nghèo, cánh tả mị dân luôn dễ dàng giành chiến thắng. Và cái sau lại là hệ quả nối dài của cái trước. Cánh tả nắm quyền càng lâu dài thì khoảng cách tụt hậu so với khu vực và thế giới càng rộng.
 
Việt Nam Cộng Hoà đã không thể thắng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khi lực lượng chính trị cánh hữu tại miền Bắc bị triệt tiêu tàn bạo tới tận gốc rễ (tư sản, địa chủ, quan chức chính quyền cũ, phú nông….) Cùng thời điểm đó lại có quá nhiều lực lượng chính trị cánh tả nằm vùng phá nát chính phủ cánh hữu Miền Nam.
 
Hơn Việt Nam, Trung Quốc có Đặng Tiểu Bình một chính khách hữu khuynh tiêu biểu nắm quyền dài hơi. Họ Đặng kịp cân đối lại hàng loạt chính sách quá Tả của Mao và dắt Trung Hoa theo con đường khuynh hữu: hiệu quả là thước đo năng lực (bắt được chuột) đẩy Trung Quốc cất cánh vài thập niên nay.
 
Sao một đảng cầm quyền bê bết về tư cách và năng lực như ĐCSVN còn chưa phân liệt, tan rã hay thay thế? Câu trả lời là lực lượng chính trị khuynh hữu tại Việt Nam chưa lên đến vị thế cần có. Vậy tương lai nào cho Việt nam?
 
Khả năng cao là Việt Nam sớm bước vào nền độc tài quân sự hay cảnh sát trị- giải pháp cực hữu tệ hại. Con đường gấp gáp nhất của một dân tộc quá mệt mỏi, muốn bứt phá khỏi sự khuynh loát cực Tả nhiều thập kỷ nay.
 
Khả năng khác là những chính khách huynh hữu trong ĐCSVN sẽ dần đảm nhiệm những vị trí đáng kể thì bài toán Việt Nam có thể có lời giải trong ôn hoà. Đảng cầm quyền dù thiên Tả nhưng có một chính phủ thiên Hữu là lối thoát khả dĩ cho cả dân tộc cũng như cho đảng. Một Tổng bí thư hay Chủ tịch nước tả khuynh nhưng một chính phủ hữu khuynh cùng nhiều tiếng nói của trí thức cánh hữu trong Quốc Hội sẽ cân bằng lệch lạc, dù chậm, trong quản trị và thúc đẩy phát triển.
 
Cái thế của Việt Nam hôm nay- cạn tiền và trên đường vỡ nợ- đã khiến những cái đầu tả khuynh xơ cứng nhất phải tính tới những giải pháp hữu khuynh trong điều hành như thắt chặt chi tiêu; giảm ôm đồm của nhà nước trong bao cấp các tỉnh thành và hội đoàn, thận trọng, hiệu quả trong đầu tư công, giảm bội chi ngân sách, kiến tạo phát triển, pháp quyền…
 
Tâm lý xã hội Việt hôm nay đang dần chín cho một khuynh hướng thiên hữu. Chẳng phải mô hình chính trị Mỹ, lối sống Mỹ đang là cái được ưa chuộng nhất tại Việt Nam hôm nay? Vì sao các phong trào đòi dân chủ, nhân quyền, tư do, dân oan, xây dựng xã hội dân sự… cứ mãi èo uột, không tạo được sức hút với đông đảo dân chúng Việt Nam? Vì về thực chất các phong trào này một lần nữa lại là các phong trào cánh Tả khi nó đều lên tiếng đòi hỏi sự công bằng. Người Việt, sau nhiều thế hệ mệt mỏi, bội thực Tả khuynh, một cách bản năng, đã dị ứng tổng thể với tất cả các phong trào cánh Tả nói chung. Quay lưng và ngao ngán cái ổn định trong nghèo đói mà cánh Tả dụ dỗ lâu nay. Khát khao thịnh vượng và phát triển, cái luôn nằm ngoài tầm tay cánh Tả.
 
Khi một dân chúng phần lớn không còn niềm tin vào bất kỳ ai ngoài chính họ thì chính là thời điểm của một khuynh hướng chính trị cánh hữu lên ngôi. Cánh hữu trung thành ở ngay những nước tư bản phát triển như Canada và Mỹ là lực lượng tài phiệt, tư pháp, quân đội, cảnh sát, doanh nhân lớn, nhỏ và nông dân. Tất cả những tầng lớp này đều có điểm chung là những người tin vào bản năng, vào sức mình là chính. Hãy nhìn hiện tượng Đoàn Văn Vương. Người nông dân đó chính là một biểu tượng cánh hữu điển hình. Tin vào khả năng mình, dám khai khẩn, cải tạo thiên nhiên, làm giàu cho bản thân và gia đình. Mất niềm tin, chiến đấu chống lại chính quyền thối nát, tham nhũng. Ra tù lại đứng dậy, tiếp tục vùng vẫy và thành công. Cái đáng lưu ý hơn nữa là chưa một vụ mất đất, dân oan, bất đồng chính kiến nào chấn động đến cấp cao nhất của chính quyền như thế khi Thủ tướng, các Thứ, Bộ trưởng công khai vào cuộc. Kẻ cầm quyền quá hiểu sự lay động lòng dân của các biểu tượng cánh hữu đang lên.
 
Không chỉ ở Mỹ, với Việt nam hôm nay người đắc cử vẫn phải là Donald Trump.
 
Hoạ ở chỗ Việt Nam đang không có nổi cả Hillary, nói gì tới Trump!
 
Argentina Dec/2017
 

Ngòi bút tự do

------------------

nguon: TTHN

]]>
http://trankytrung.com/read.php?904 <![CDATA[BÀI HAY NÊN ĐỌC]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 20 Sep 2016 00:42:46 +0000 http://trankytrung.com/read.php?904 NHÂN PHẨM CỦA EM ẤY CAO HƠN TƯỚNG MẠO CỦA NHỮNG KẺ ĐẠO ĐỨC GIẢ

          Tôi kinh ngạc. Không hiểu tại sao người ta lại xúm vào xỉ vả một cô gái dùng áo ngực để che miệng thoát thân trong đám cháy ở cái quán bar tại Hà Nội vừa qua? Người ta khinh ghét cô ấy và các cô gái khác cùng làm trong quán ấy vì “cháy nhà mới ra mặt chuột” ư? Và hả hê khi thấy “cái bọn hư đốn” đó gặp tai nạn đáng đời ư?…ỦA

 

Nhân phẩm là một khái niệm chỉ dành cho những người tử tế và lương thiện – những thuộc tính chứng tỏ giá trị của chữ NGƯỜI viết hoa. Một cô gái điếm vẫn có thể có nhân phẩm vì cô ấy là một người tử tế, ví dụ như nàng Fantine tội nghiệp của Victor Hugo. Một kẻ lưu manh bất cần đời như Chí Phèo của Nam Cao vẫn còn nhân phẩm khi biết gào lên trong tuyệt vọng: “Tao muốn làm người lương thiện? Ai cho tao lương thiện?”.

Nhưng trong xã hội ngày nay, có những loại phụ nữ bỗng một bước trở thành bậc phu nhân ăn trên ngồi trốc, hoặc mang nhan sắc đổi chác lại bằng chức tước, tài sản bạc tỷ. Tất nhiên, kẻ nào có thể mua những người phụ nữ đó thì hoặc phải có tiền, hoặc phải có quyền. Mà có được cả hai thì càng tốt! Và vì thế, đi kèm với sự “thành đạt” trơ tráo ấy, luôn là những thế lực nhớp nhúa mà sức mạnh của chúng không hề đến từ trí tuệ hay lòng tự trọng.

Em gái à, với tôi, em còn đáng trọng gấp trăm lần những người đàn bà như vậy! Bởi em thực sự phải làm việc để kiếm sống dưới gầm trời này bằng mồ hôi và cả nước mắt tủi nhục của mình, chứ không đi cướp giật của ai, lại càng không ngửa tay nhận bổng lộc phi nghĩa từ những kẻ sâu dân mọt nước.

Em hãy tự hào rằng dù mình có làm cái nghề bị thiên hạ khinh bỉ, nhưng em không cướp cơm của các em bé nghèo đang đói ăn từng bữa ở nhiều nơi trên đất nước này. Em cũng không trấn lột những đồng bào khốn khổ của mình đến độ cần một chuyến xe cuối cùng cho người thân đã chết được trở về nhà mà cũng không có đủ tiền để thuê.

Em lại càng không bao giờ có thể phởn phơ nhung lụa trong vị trí phu nhân khi mà thịt da của đất nước đang bị những bàn tay bẩn nhám nhúa của tiền và quyền thi nhau cắt xẻo.

Em sẽ chẳng khi nào muốn đạp lên sinh kế của hàng triệu bà con mình ở dọc bờ biển miền Trung cũng như tại nhiều nơi khác để thản nhiên thụ hưởng thứ lợi ích bất nhân bất nghĩa núp dưới cái có tên gọi là “dự án” mang lại…

Và trên hết, em không phải là hạng đạo đức giả. Những kẻ tự xưng là công bộc của dân, luôn trâng tráo vỗ ngực rao giảng về đạo đức nhưng lại tha hóa, biến chất đến độ không còn nhân tính và liêm sỉ, đó mới là hạng đốn mạt đáng bị khinh bỉ nhất em ạ!

Còn anh, anh Chí ơi, không phải chỉ là thời Pháp thuộc đâu! Nếu anh còn sống đến bây giờ, anh có thể cũng vẫn phải uất ức gào lên như thế đó! Mà biết đâu cũng còn nhiều anh Chí khác giờ cũng đang tuyệt vọng giống như anh cách đây 75 năm?

(Viết tổng hợp lại những cảm xúc lộn xộn khi xem các tin tức và hình ảnh trên mạng trong suốt hai tuần qua. Không post 2 bức ảnh minh họa kèm theo vì sự tôn trọng với cô gái trẻ phải dùng áo ngực che miệng để thoát khỏi đám cháy và nghe nói em đang bị sốc nặng sau khi nhận gươm đao thóa mạ của người đời trên mạng. Bức ảnh chở xác người thân bó chiếu bằng xe máy thì quá thương tâm khiến tôi không thể nhìn lại.

Hai ảnh dưới liên quan tới dự án thép Cà Ná, vốn đã quá quen thuộc với dân mạng!).

 

 


FB Nguyễn Thị Oanh

--------------------

NGUON: TTHN

 
 
]]>
http://trankytrung.com/read.php?902 <![CDATA[THỬ XÉT ĐOÁN TÍNH CÁCH CON NGƯỜI QUA NÉT CHỮ CỦA NGÀI TỔNG BÍ THƯ - lLê Anh Hùng]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Mon, 18 Jul 2016 03:56:23 +0000 http://trankytrung.com/read.php?902  

Ông Nguyễn Phú Trọng 

Tôi nghe đồn nhiều chuyện về ông Nguyễn Phú Trọng- Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam,  nhưng bỏ ngoài tai, vì không có bằng chứng.  Nhưng bài viết của tác giả Lê Anh Hùng dưới đây, với tôi, có tính thuyết phục.

 Trên thực tế, tôi vẫn mong, với tư cách một người dân, ông Trọng cương vị cao nhất của độc đảng đang lãnh đạo đất nước,qua bao nhiêu biến cố, nhận rõ lòng dân, nhận rõ kẻ thù, cần có quyết sách đúng đưa đất nước qua cơn khủng hoảng, đảng phải lấy lại lòng tin của dân. Còn dùng những biện pháp nửa chừng, không dám mạnh tay với bọn tham nhũng, hèn với giặc nhưng với dân lại cho công an, quân đội đàn áp khi dân có ý kiến, sẽ đưa đất nước này  lún sâu vào khủng hoảng, đó điều kiện thuận lợi cho kẻ thù bên ngoài xâm lấn.

  Lúc đó không có bất cứ thế lực 'phản động"nào phá hoại, mà trong nội bộ đảng, khủng hoảng ngày càng nặng, dẫn đảng đến chỗ tự tiêu vong.

Thời gian với ông Trọng không còn nhiều, hãy tỉnh táo !

----------------------------------------

Người xưa vẫn có câu “nét chữ, nét người”. Tôi thì không biết gì về thư pháp, và cũng chẳng có chút kinh nghiệm nào về chuyện xét đoán tính cách con người qua nét chữ. Thế nhưng, không hiểu sao lần này, tình cờ bắt gặp bút tích của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi lại cứ muốn thử làm “thầy bói” một lần xem sao.


                                                                

            
Đây là bức ảnh chụp lưu bút của ngài Tổng Bí thư tại lễ viếng và truy điệu 9 quân nhân phi hành đoàn Casa 212 hy sinh khi đang bay tìm kiếm máy bay Su30MK2 ở Hà Nội hôm 30/6 vừa qua:

                                                                
Ảnh: VietNamNet
Và dưới đây là một vài nhận định chủ quan về tính cách con người qua nét chữ của tác giả bản lưu bút.

Thứ nhất, nét chữ trong lưu bút vừa đẹp, vừa đều, vừa ngay ngắn, cho thấy tác giả là một con người chỉn chu, tròn trịa, ưa hình thức, và… không nhiều cá tính.

Thứ hai, trong hai tên địa danh là “Hà Nội” và “Việt Nam”, tác giả chỉ viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất là ‘Hà’ và ‘Việt’, hai chữ đầu âm tiết cuối lại viết thường. Đây là quy tắc chính tả quen thuộc thời ông Nguyễn Phú Trọng còn ngồi trên ghế nhà trường, vốn bắt đầu từ khi chữ quốc ngữ được sử dụng phổ biến ở Việt Nam. Lý do là vì chữ quốc ngữ ra đời từ các ký tự Latin, nên ban đầu các âm tiết trong tên địa danh thường được viết liền nhau và nối với nhau bằng một gạch ngang ở giữa, chẳng hạn như “Việt-nam” hay “Hà-nội”. Theo cách viết đó, chỉ chữ cái đầu của tên địa danh là được viết hoa. Dần dà, theo đà Việt hoá ngày càng sâu sắc, người ta bỏ gạch nối ở giữa để tách các âm tiết trong tên địa danh ra, nhưng vẫn chỉ viết hoa chữ cái đầu của âm tiết thứ nhất, chẳng hạn như “Việt nam” hay “Hà nội”.

Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm 1990 về sau, người ta lại quy ước là các âm tiết trong tên địa danh đều được viết hoa chữ cái đầu, tức là “Việt Nam” thay vì “Việt nam” như trước. Ông Nguyễn Phú Trọng tốt nghiệp Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, trở thành nhà báo chuyên nghiệp, không ngừng thăng tiến trong sự nghiệp cầm bút, trước khi trở thành nhà lý luận số 1 của Đảng CSVN, Chủ tịch Quốc hội rồi Tổng Bí thư. Nghĩa là, hàng chục năm qua ông hoặc là suốt ngày ngồi viết lách, hoặc là luôn tiếp xúc với đủ mọi thứ ấn phẩm: báo chí, báo cáo, văn kiện, cương lĩnh, quyết định, nghị quyết, v.v.

Hơn 1/4 thế kỷ qua, những tên địa danh như “Hà Nội” hay “Việt Nam” khi xuất hiện trước mắt ông đều được viết hoa các chữ đầu âm tiết. Tuy nhiên, ngần ấy thời gian vẫn chưa đủ khiến ông phải thay đổi thói quen chỉ viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất trong tên địa danh. Lối viết này còn thể hiện rõ khi ông viết “Đảng cộng sản” và “Ban chấp hành” thay vì lẽ ra phải là “Đảng Cộng sản” và “Ban Chấp hành” như quy tắc thông dụng hiện nay.

Điều đó cho thấy, ngài Tổng Bí thư của chúng ta là một người rất bảo thủ, cứng nhắc, cũ kỹ, theo lối mòn. Tính cách này rõ ràng là không phù hợp với vai trò lãnh đạo quốc gia trong một thời kỳ mà đất nước phải đối mặt với vô vàn biến động phức tạp và khó lường, cả bên trong lẫn bên ngoài, đòi hỏi tinh thần đổi mới cũng như phong cách quyết đoán của nhà lãnh đạo như hiện nay.

Thứ ba, trong khi những danh từ như “Việt Nam” hay “Hà Nội” ông viết thành “Việt nam” và “Hà Nội” thì danh từ “Tổ quốc” ông lại viết thành “Tổ Quốc”, tức là viết hoa cả 2 ký tự đầu tiên của 2 âm tiết, chứ không như theo quy tắc phải là “Tổ quốc”. Điều này rõ ràng là thể hiện tính cách tuỳ tiện, bất nhất của tác giả. Với một nhà lãnh đạo quốc gia, dẫn dắt cả một dân tộc đến 90 triệu dân, tính cách này quả là tiềm ẩn nhiều hệ luỵ tai hại.

Thứ tư, trước kia người ta chỉ viết hoa chữ đầu tiên trong tên chức vụ, chẳng hạn như “Tổng bí thư” hay “Bí thư”, tương tự như cách ông Trọng viết “Đảng cộng sản” hay “Ban chấp hành” ở trên. Về sau người ta mới chuyển sang viết “Tổng Bí thư”, thay vì “Tổng bí thư” như trước. Thậm chí năm 1998, Văn phòng Chính phủ còn  ban hành một quyết định về quy tắc viết hoa. Và chưa bao giờ tên chức danh lại được viết hoa tất cả các chữ đầu âm tiết, chẳng hạn như “Tổng Bí Thư”.

Vậy nhưng, trong lưu bút của mình, ngài TBT lại nắn nót viết hoa tất cả các chữ đầu âm tiết của hai tên chức danh là “Tổng Bí Thư” và “Bí Thư” [Quân uỷ Trung ương] ở cuối bản lưu bút. Điều này cho thấy tác giả là người có ý thức rất cao về vai trò của bản thân. Thậm chí có thể nói, những chức vị tối cao đó đối với ông dường như là một nỗi đam mê, một sự tôn sùng, và được ông dành cho một tình yêu đặc biệt. Phải chăng là để đạt được tham vọng quyền lực cháy bỏng đó, khi còn là Chủ tịch Quốc hội, ông đã không ngần ngại phát ra những câu như “Tình hình Biển Đông không có gì mới (!)” hòng “ghi điểm” với Bắc Kinh, mặc cho công chúng bêu riếu và sục sôi tức giận?

Hiểu được tâm lý chuộng hình thức, tự tôn, ưa thích cảm giác thấy mình là quan trọng của vị quốc khách phương Nam, nên trong chuyến thăm Trung Quốc từ ngày 7 - 10/4/2015, các ông chủ Trung Nam Hải đã dành người đứng đầu Đảng CSVN những nghi lễ đón tiếp đặc biệt long trọng, hoành tráng, mà tiêu biểu là loạt 21 phát đại bác chào mừng. Và kết quả của chuyến thăm này là một bản Tuyên bố chung Trung - Việt với vô số lợi thế cho Trung Quốc và đẩy hết những nguy cơ tiềm tàng về phía Việt Nam. Ngoài ra, tâm lý đó cũng bộc lộ khi ông hoan hỉ nói về chuyến thăm Anh đầu năm 2013: “Mình phải như thế nào thì người ta mới mời chứ” (!).

Với tính cách như phân tích trên đây, dĩ nhiên ông Nguyễn Phú Trọng sẽ tìm mọi cách để kéo dài thời gian lãnh đạo quốc gia của mình càng lâu càng tốt, bất chấp thực tế ông là một gánh nặng lớn cho chính dân tộc đã sinh thành ra ông hay việc ông từng cao giọng  lên án những kẻ có “tham vọng quyền lực”.

Vậy những ngày tháng cuối cùng của ông trên cương vị Tổng Bí thư liệu có đem lại chút hy vọng nào cho đất nước hay không? Xin thưa là có, dù nhiều ít thì còn phải chờ thời gian trả lời. Với tính cách chỉn chu, ý thức cao độ về bản thân, cộng với những tai tiếng về những hậu quả nặng nề mà ông đã gây ra cho đất nước và (dường như) càng ngày ông càng nhận thức được đầy đủ, ngài TBT hẳn rất muốn làm điều gì đó hầu để lại một hình ảnh tích cực trong lịch sử.

Bất luận thế nào, không ai khác mà chính ông mới là người tự đóng khung hình ảnh của mình trong lịch sử. Ông vẫn còn cơ hội, nhưng thời gian thì không còn nhiều nữa.

Lê Anh Hùng

(Việt Nam Thời Báo)
--------------------------------
nguon:TTHN
 
 

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?901 <![CDATA[MỘT PHÁN QUYẾT LỊCH SỬ - Lãng]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 13 Jul 2016 03:10:42 +0000 http://trankytrung.com/read.php?901

Tòa án The Hague bác bỏ "đường lưỡi bò " trên biển đông của Trung Quốc

Phán quyết lịch sử của Toà trọng tài thường trực (PCA) về đường chín đoạn và một loạt các vấn đề liên quan đến cách diễn giải công ước quốc tế về biển đông đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới đối với vùng biển đông đúc chật hẹp và đầy rẫy tranh chấp này.

Phán quyết 12/07 được công bố tại Lahay đã chấm dứt nhiều thập kỷ thiếu vắng ràng buộc pháp lý tại biển đông. Dù tất cả các nước đưa ra các yêu sách chủ quyền trong vùng biển này đều là thành viên của Công ước quốc tế về luật biển – UNCLOS 1982, nhưng việc diễn giải và áp dụng công ước này lại được thực hiện một cách hết sức tuỳ tiện bởi Trung Quốc, nước mạnh nhất và hung hăng nhất trong các hành động đơn phương trên biển.

Trung Quốc đã phản đối dữ dội phán quyết này, một điều hoàn toàn hợp logic khi hầu hết các đòi hỏi quan trọng nhất của họ đã bị phán quyết của toàn PCA bác bỏ. Họ đã tốn vài năm trời cố tình tìm cách bác bỏ vai trò của phiên toà và hậu quả pháp lý của nó nhưng thất bại. Điều này đặt Trung Quốc trước một tình huống cực kỳ bất lợi: Bất cứ động thái leo thang nào của họ nhằm vi phạm phán quyết và gia tăng căng thẳng ở Biển Đông đều sẽ là trái với luật pháp quốc tế. Đây là thất bại nặng nề không phải chỉ về mặt ngoại giao, mà nó còn để lại những hậu quả hết sức lâu dài đối với chiến lược bành trướng xuyên suốt nhiều thập kỷ của Trung Quốc.

Phán quyết pháp lý quan trọng nhất và có tác động lớn nhất đối với biển đông của PCA là việc bác bỏ hoàn toàn đường lưỡi bò – Vốn là một tuyên bố chủ quyền phi lý và hoang đường nhất trong các tranh chấp biển hiện hữu trên thế giới. Điều này củng cố những chứng lý quan trọng nhất để đàm phán ranh giới biển giữa các nước có tham gia tranh chấp như Vietnam, Philipin, Indonesia, Malaysia, Bruney trước các đòi hỏi của Trung Quốc. Nó cũng mở đường cho các cường quốc bên ngoài dễ dàng can thiệp vào khu vực khi phán quyết mở ra những ranh giới rất rõ về các vùng biển lưu thông tự do.

Tuy nhiên, chính phán quyết thứ hai về các đảo và bãi đá tại Trường Sa mới là phần bổ sung quan trọng nhất để giải quyết các tranh chấp trong phiên toà lịch sử này: PCA tuyên bố xét cả về hoàn cảnh lịch sử lẫn điều kiện tự nhiên, các đảo và đá tại Trường Sa đều thiếu vắng sự hiện diện thường xuyên, liên tục của đời sống kinh tế dân sự thông thường. Việc hiện diện của các lực lượng công vụ của các quốc gia tranh chấp trên các hòn đảo tại đây không phải là căn cứ và không tạo cơ sở cho sự hiện diện kinh tế đơn thuần. Do đó, các đảo này không tạo ra yêu sách về lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế. Đây là một nội dung hết sức quan trọng của phán quyết. Nó tạo cơ sở cho việc đàm phán chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế của tất cả các quốc gia đang có tranh chấp ở Trường Sa. Quyền chiếm hữu các đảo và đá của mỗi nước có thể tiếp tục duy trì, nhưng quyền về vùng đặc quyền kinh tế thì không còn phụ thuộc vào chúng nữa. Đây là lối thoát cho tất cả các nước trong hoà bình.

Với riêng Việt Nam, nội dung phán quyết thứ hai này cũng mở ra cơ hội cho việc giải quyết các tranh chấp tại quần đảo Hoàng Sa. Một số đảo tại Hoàng Sa có kích thước lớn (Ví dụ Phú Lâm) và đã được Trung Quốc củng cố và tôn tạo nhiều thập niên sau khi chiếm đóng sau cuộc chạm súng khốc liệt với hải quân Việt Nam Cộng Hoà. Cho đến nay, với các phương tiện chiến tranh TQ đưa ra Hoàng Sa, gồm chiến đấu cơ, các hệ thống phòng không và tên lửa đối hải, cộng với lực lượng hải quân khiến việc tiếp cận của Việt Nam với Hoàng Sa hầu như vô vọng. Cùng với đường lưỡi bò, Trung Quốc dựa vào các yêu sách pháp lý đối với vùng đặc quyền kinh tế của các đảo tạo Hoàng Sa để đòi hỏi rất sâu vào vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Ngay từ lúc này, Việt Nam cần nghiên cứu rất kỹ phán quyết 12/07 của PCA và cân nhắc một vụ kiện tương tự với tình trạng các đảo tại Hoàng Sa. Nếu vô hiệu hoá được quyền yêu sách lãnh hải của các đảo này thì dù Trung Quốc có tiếp tục duy trì quyền chiếm đóng Hoàng Sa, nhưng Việt Nam sẽ cải thiện được tình trạng tranh chấp chênh vênh ở vùng biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam.

Trung Quốc là nước chịu nhiều bất lợi nhất sau phán quyết này. Điều đó khá dễ hiểu vì họ là nước đưa ra những đòi hỏi chủ quyền phi lý nhất, nó hầu như chỉ dựa trên sức mạnh và sự ngang ngược chứ không dựa trên bất cứ một căn cứ phù hợp đạo lý nào. Phán quyết của PCA có lẽ sẽ không làm giảm sự hung hăng của Trung Quốc trong ngắn hạn, thậm chí trung hạn, nhưng nó đánh dấu sự thất bại chiến lược của Trung Quốc và nước này sớm muộn sẽ phải tái định hình lại chính sách của mình. Mỹ và phương tây sẽ có những bước tiến dài trên biển đông vì hành lang pháp lý giờ đây đã rõ ràng hơn cho các hoạt động của họ.

Người ta nói nhiều đến các động thái cực đoan của Trung Quốc, như việc gọi tái ngũ lực lượng hải quân, hoặc các tuyên bố bác bỏ lớn lối của Trung Quốc đối với phán quyết, nhưng đó chỉ có thể là những động thái hình thức bên ngoài. Thất bại của họ mang tính chiến lược. Và bài học nước Nga tại Crimea cho thấy phát động một cuộc chiến xâm lăng thì dễ, thậm chí là đạt được quyền chiếm hữu cũng không phải quá khó khăn với các cường quốc, nhưng rút chân ra khỏi nó và khắc phục các hậu quả lâu dài là điều không hề dễ dàng. Nhất là trên biển đông, có nhiều nước tham gia và không thiếu gì quốc gia cứng cổ.

Ngày 12/07/2016 là một ngày lành ở biển đông. Đó cũng là một ngày lành với riêng anh Lãng.

Lãng

-----------------------
nguon- Facebook lang
]]>
http://trankytrung.com/read.php?899 <![CDATA[NHÌN LẠI VỤ ÁN ÔN NHƯ HẦU]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 12 Jul 2016 12:30:59 +0000 http://trankytrung.com/read.php?899

Trụ sở số 7 - phố Ôn Như Hầu ( nay là phô Nguyễn Gia Thiều) - ( Ảnh minh họa)

   Còn nhớ, khi giảng dạy bộ môn lịch sử Việt Nam hiện đại, ở khoa Sử - Chính trị, trường ĐHSP Quy Nhơn (cũ), dựa vào tư liệu có lúc bấy giờ ( Chủ yếu là tư liệu công khai, được phép sử dụng khi đã được  thông qua sự kiểm duyệt của các cơ quan truyền thông của đảng và chính phủ Việt Nam, như vậy chỉ có cái nhìn phiến diện, không khách quan,)  tôi có nói với các bạn sinh viên đây là thắng lợi của lực lượng an ninh Việt Nam trong buổi đầu của chính phủ VNDCCH, đập tan một âm mưu định đảo chính lật đổ chính phủ Hồ Chí Minhcủa lực lượng phản động do Quốc Dân Đảng cầm đầu ngay tại Hà Nội

    . Bây giờ do tư liệu nhiều, lượng thông tin phong phú có thể cho ta, qua một sự kiện, có thể nhìn từ nhiều phía. Tôi nghĩ, vụ án Ôn Như Hầu cũng nên công khai tất cả về bằng chứng, cũng như tư liệu. Từ đó có những  đánh giá chính xác.

Một sự kiện lịch sử được đánh giá đúng, khách quan, chân thực sẽ giúp cho các thế hệ sau này , nhất là những người nghiên cứu lịch sử có sự nhìn nhận khoa học, không phiến diện, trả lại những giá trị nhân văn, giúp cho các em học sinh yêu môn lịch sử hơn, đặc biệt những người lãnh đạo, qua những bài học lịch sử chân thực được rút ra, sẽ có thêm phương pháp  lãnh đạo, tránh đi những sai lầm không đáng có.

Với vụ án Ôn Như Hầu, trankytrung.com đăng lại bài viết này, với mục đích trên.

----------------------------------------

          Tròn 70 năm kể từ ngày lực lượng Việt Minh tấn công hàng loạt các cơ sở của Quốc dân đảng trên toàn quốc vào ngày 12 tháng 7 năm 1946, trong đó có nhà số 7 phố Ôn Như Hầu, Hà Nội. Quốc dân đảng bị buộc tội âm mưu đảo chính. Hình ảnh Quốc dân đảng trong các tài liệu trong nước là một hình ảnh không tốt. Sau đây là ghi nhận ý kiến từ một phía khác về sự kiện Ôn Như Hầu, cũng như di sản của Quốc dân đảng ngày nay.

Vụ Ôn Như Hầu

Tài liệu được công bố của đảng cộng sản Việt Nam nói rằng tại số 7 Ôn Như Hầu, Hà Nội, có nhiều căn hầm dùng làm nơi giam giữ và tra tấn với nhiều dụng cụ còn dính máu. Khai quật trong vườn chuối có nhiều xác người mà Quốc dân đảng đã thủ tiêu.
Người cộng sản họ dựng nên vụ án, rồi nói rằng trong đó có vũ khí với tra tấn, làm sao mà một cái nhà giữa thành phố Hà Nội lại như vậy. Chuyện đó hoàn toàn không phải là sự thật. - Ông Trần Tử Thanh
Trả lời về thông tin này, ông Trần Tử Thanh, hiện là Chủ tịch Hội đồng đại biểu Quốc dân đảng, hiện sống tại Virginia, Hoa Kỳ cho rằng:

“Lúc đó Việt Nam quốc dân đảng chúng tôi mới nhận trụ sở Ôn Như Hầu mới có vài tháng thôi. Người nhà thầu đến sửa sang trụ sở đó cho Quốc dân đảng làm việc, sau này có kể lại là khi ông ta vào làm việc thì thấy trong khu vười chuối có vài ngôi mộ, hỏi ra thì mới biết là mộ đó của những người Trung Hoa quốc gia họ sang đây bị bệnh chết, rồi chôn ở đó. Dựa vào đó người cộng sản họ dựng nên vụ án, rồi nói rằng trong đó có vũ khí với tra tấn, làm sao mà một cái nhà giữa thành phố Hà Nội lại như vậy. Chuyện đó hoàn toàn không phải là sự thật.”

Ông Thanh còn thuật một câu chuyện là đêm hôm trước công an Việt Minh có đến lấy một số tử thi ở nhà xác thành phố, và sau đó đem đến số 7 Ôn Như Hầu, nói là do Quốc dân đảng giết hại.

Cũng theo tài liệu chính thức của Việt Nam thì vụ tấn công trụ sở Quốc dân đảng ở số 7 Ôn Như Hầu, cũng như hàng loạt cơ sở khác là nhằm để đập tan một âm mưu đảo chính lật đổ chính phủ.

Ông Trần Tử Thanh không đồng ý:

“Vụ đảo chánh lật đổ chính phủ thì chính ngay ông Võ Nguyên Giáp cũng đã liên hệ với một sĩ quan của Pháp để chính thức xin yểm trợ cho ông ta một số vũ khí tối tân, cũng như một số sĩ quan Pháp, để ông ta tấn công vào các cơ sở của Việt Nam Quốc dân đảng. Thì như vậy làm sao nói Việt Nam Quốc dân đảng liên hệ với Pháp được, tài liệu của những người cộng sản sau này cũng có đề cập đến vấn đề đó.”


                                                                
6357514042773703491.JPG
Lệnh bắt những người ở số 7 phố Ôn Như Hầu, ngày 12 tháng 7 năm 1946.
 
Trong giai đoạn 1945-1946, chính phủ Việt Nam tại Hà Nội là một chính phủ có nhiều đảng phái, trong đó có lực lượng Việt Minh do người cộng sản làm nòng cốt. Kết luận về vụ án Ôn Như Hầu, ông Trần Tử Thanh cho rằng nguyên nhân chính là Việt Minh của đảng cộng sản muốn độc chiếm quyền lãnh đạo chính trị:

Chủ nghĩa cộng sản hay con người cộng sản thì khi họ đưa bất cứ vấn đề gì ra thì chúng ta cũng cần phải xét lại. Chắc chắn vụ Ôn Như Hầu phải được sự chuẩn thuận của ông Hồ Chí Minh và bộ tham mưu của ông ta, và đây hoàn toàn là dàn dựng. Ông Hồ Chí Minh đã ký một hiệp định sơ bộ với Pháp, đồng ý cho 15 ngàn quân Pháp trở lại Việt Nam. Và chính phủ Pháp sẽ công nhận ông ta là người chính thức đại diện cho người Việt Nam. Và người Pháp nói là để cho Việt Nam tự do trong Liên hiệp Pháp. Ông Hồ Chí Minh tham quyền hành, muốn đảng cộng sản nắm hết quyền, và khi chính phủ liên hiệp quốc gia và cộng sản được thành lập, ông ta dần dần loại bỏ các thành phần quốc gia, trong đó có các thành viên Quốc dân đảng, Đại Việt, cũng như Việt Nam cách mạng đồng minh hội của cụ Nguyễn Hải Thần. Tức là loại bỏ các thành phần quốc gia ra khỏi chính phủ bằng cách gây nên một vụ án.”

Di sản Quốc dân đảng

Quốc dân đảng Việt Nam được ông Nguyễn Thái Học thành lập năm 1927 nhằm mục tiêu lật đổ chế độ thực dân Pháp bằng bạo lực. Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái 1930 bị thất bại, ông Nguyễn Thái Học và nhiều đồng chí bị Pháp xử tử, hơn 300 người bị bắt đày biệt xứ sang Guyana thuộc địa Pháp tại Nam Mỹ.

Sự thành lập Quốc dân đảng Việt nam cũng được cho là lấy cảm hứng từ Quốc dân đảng Trung Quốc do Tôn Trung Sơn thành lập. Trên trang Web của Quốc dân đảng Việt Nam hiện nay người ta thấy khẩu hiệu Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, và đó là nội dung của chủ nghĩa Tam Dân mà Tôn Dật Tiên cổ súy.

Sau sự kiện Ôn Như Hầu, Quốc dân đảng và đảng cộng sản trở thành thù nghịch nhau, nhưng trong số đảng viên cộng sản cũng có một số người từng là đảng viên Quốc dân đảng. Theo ông Trần Tử Thanh, ông Trần Huy Liệu, một cán bộ Việt Minh tiếp nhận chiếu thoái vị của Vua Bảo Đại vào năm 1945 từng là đảng viên Quốc dân đảng. Một người khác là ông Văn Tiến Dũng, một thời là ủy viên Bộ chính trị đảng cộng sản, và đảm trách Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cũng có nhà nghiên cứu cho rằng câu khẩu hiệu rất đặc biệt nằm trên các giấy tờ hành chính của nước Việt nam ngày nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, độc lập tự do hạnh phúc cũng lấy từ chính tinh thần của chủ nghĩa Tam dân của Quốc dân đảng.
Chắc chắn vụ Ôn Như Hầu phải được sự chuẩn thuận của ông Hồ Chí Minh và bộ tham mưu của ông ta, và đây hoàn toàn là dàn dựng. - Ông Trần Tử Thanh
Sau năm 1954, Việt Nam Quốc dân đảng hoạt động công khai tại miền Nam Việt Nam. Sau năm 1975, nhiều thành viên Quốc dân đảng bị đi tù cải tạo, trong đó có hai ông Vũ Hồng Khanh và Trần Văn Tuyên, từng phụ trách những vị trí quan trọng trong chính phủ liên hiệp tại Hà Nội trong giai đoạn 1945-1946.

Năm 2008, báo Tuổi trẻ ở Việt Nam đăng một loạt bài về nhà tù biệt xứ của những tù chính trị Việt Nam bị đưa sang Guyana, trong số đó có hơn 300 đảng viên Quốc dân đảng. Báo địa phương của Guyana, trong số ra ngày 17 tháng 11 năm 2008 có tường thuật buổi đặt biển đồng tưởng niệm các tù nhân với sự có mặt của một nhà báo đến từ Việt Nam là ông Đào Danh Đức.

Trang Việt Quốc của Quốc dân đảng cho biết là vào đầu năm 2010 tổ chức Quốc dân đảng ở Bắc Mỹ và châu Âu hợp lực dựng một tấm bảng đồng thứ hai để tưởng niệm những người đã hy sinh tại Guyana. Song ông Trần Tử Thanh cho biết là tấm bảng này đã bị hư hại, và có nhiều nghi ngờ cho rằng những người cộng sản Việt Nam đã tìm cách phá hoại. Tuy nhiên theo ý kiến của một nhà nghiên cứu độc lập trong nước thì Hà Nội không làm chuyện này, vì họ đã cho phép đăng công khai loạt bài tưởng nhớ các liệt sĩ Quốc dân đảng vào năm 2008.

Tại Việt Nam cũng như hải ngoại tên tuổi Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí của ông như Nguyễn Khắc Nhu, Đoàn Trần Nghiệp, Cô Giang, Phó Đức Chính đều được trân trọng. Nhưng vụ án Ôn Như Hầu thì không có sự đồng ý như vậy.


Kính Hòa

(RFA)

-----------------------------------

nguon: TTHN

 
 

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?897 <![CDATA[NHÌN LẠI NHÂN VẬT NGUYỄN HUỆ - Nguyễn Gia kiểng]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sat, 09 Jul 2016 04:05:20 +0000 http://trankytrung.com/read.php?897  

Hình ảnh vua Quang Trung do họa sỹ nhà Thanh - Trung Quốc vẽ (Ảnh minh họa)

      Lịch sử phải khách quan, đáng giá đúng, không thiên lệch hoặc ngược lại,  đề cao, hay chụp mũ một cách vô căn cứ. Có như vậy hậu thế rút ra được những bài học, không mắc vào sai lầm. Trước mắt, các em học sinh mới thích học môn lịch sử. Với vua Quang Trung, một triều đại phong kiến không kéo dài trong lịch sử Việt Nam, triều đại đó có những chiến công hiểm hách bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, nhưng nếu không khách quan, không có những bằng chứng lịch sử cụ thể, chúng ta sẽ không giải thích nổi, vì sao triều đại có chiến công hiểm hách chống ngoại xâm, sau khi vua Quang Trung chết, lại không được người dân ủng hộ, sụp đổ nhanh chóng.

          Bài viết của tác giả Nguyễn Gia Kiểng có thể lý giải phần nào nguyên nhân đó.

           Một bài viết ,theo tôi nghĩ, những người yêu thích môn lịch sử nên đọc.

-------------------------------------

      Di sản tinh thần của một dân tộc thể hiện rõ nhất qua các anh hùng. Các anh hùng dân tộc là thuốc thử màu bộc lộ tâm lý của một dân tộc. Qua cách chọn lựa và tôn vinh các anh hùng, các dân tộc tiết lộ những giá trị mà mình ôm ấp. Nếu chúng ta thay đổi cách nhận định anh hùng dân tộc thì đồng thời chúng ta cũng thay đổi các giá trị nền tảng của xã hội ta, chúng ta sẽ thay đổi cách suy nghĩ và hành động và do đó thay đổi số phận của chúng ta.

Đối với đại đa số người Việt, Nguyễn Huệ không phải chỉ là một anh hùng mà còn là một thần tượng. Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, mà tôi rất ái mộ, đã ca tụng Nguyễn Huệ và chiến thắng Đống Đa bằng những vần thơ nồng nàn trong một bài thơ rất dài mà tôi xin trích hầu độc giả hai câu:

Muôn chiến công một chiến công dồn lại
Một tấm lòng muôn vạn tấm lòng mang.

Chúng ta đã được huấn luyện ngay từ buổi đầu đời, từ ghế trường tiểu học để sùng bái Nguyễn Huệ. Như vậy Nguyễn Huệ vừa là thần tượng vừa là mối tình đầu của trí tuệ Việt nam, đụng tới ông là đụng tới cả một tín ngưỡng và một đam mê.

Ở đây xin mở một dấu ngoặc đơn ngắn. Có một cái gì rất không ổn trong cách mà thanh thiếu niên Việt nam được giáo dục để đánh giá các anh hùng dân lộc. Nước ta có nhiều anh hùng nhưng có ba vị có công lớn nhất: Lý Công Uẩn mở ra đất nước có kỷ cương, văn hiến; Trần Hưng Đạo đánh đuổi quân Nguyên giúp chúng ta giữ được bờ cõi tránh được sự dầy đạp của quân Mông Cỗ hung bạo; Nguyễn Hoàng mở ra miền Nam trù phú. Cả ba đều là nhưng con người đức độ, đem phồn vinh cho dân chúng. Thế mà chỉ có Trần Hưng Đạo được nhắc tới thường xuyên, nhưng cũng rất xa sau Nguyễn Huệ; Lý Công Uẩn thì họa hiếm; còn Nguyễn Hoàng thì không bao giờ.

 

Cần phải trở lại trường hợp Nguyễn Huệ bởi vì đó là một sai lầm đã kéo dài quá lâu và đã gây quá nhiều tác hại. Tôi không phải là sử gia, cũng không phải là một nhà nghiên cứu mà là một người hoạt động chính trị. Người hoạt động chính trị nói những điều cần nói, có bổn phận phải nói trung thực, dựa vào những sự kiện nghiêm túc và lý luận một cách lương thiện. Nhưng người hoạt động chính trị nếu không có thì giờ như trường hợp của tôi, không có bổn phận phải ghi chú dữ kiện lấy từ sách nào, chương nào, trang nào, v.v… Đó là công việc của nhà nghiên cứuNhững dữ kiện mà tôi dựa vào để bàn về Nguyễn Huệ là có thực, các sử gia đều có. Trước hết là một vài nhận định về chiến thắng Đống Đa. 

 

Nguyễn Huệ được tôn sùng nhờ trận Đống Đa mùa Xuân Kỷ Dậu 1789. Những công đức và thành tích khác của ông chỉ là phụ họa, đôi khi thêm thắt và thêu dệt. Theo ký ức tập thể của chúng ta trong trận này Nguyễn Huệ đã chỉ trong một đêm phá tan hai mươi vạn (hai trăm ngàn) quân Thanh, tránh cho chúng ta ách Bắc thuộc. Thực ra các tài liệu của nhà Thanh cho thấy một cách rất rõ rệt là vua Càn Long không có ý định đánh chiếm nước ta. Không những thế vua Càn Long còn cấm Tôn Sĩ Nghị giao chiến. Nhà Thanh can thiệp vì có sự cầu cứu của mẹ vua Lê Chiêu Thống và đám quần thần nhà Lê, nhưng ý đồ của họ chỉ là dọa để Nguyễn Huệ thần phục Lê Chiêu Thống, và ngay cả nếu Nguyễn Huệ cứng đầu không chịu cũng chỉ giúp Lê Chiêu Thống có thanh thế mà chiêu tập lực lượng để chia đất với Nguyễn Huệ mà thôi. Dĩ nhiên nếu Việt nam tự nguyện sát nhập vào Trung Quốc thì nhà Thanh sẽ rất hài lòng nhưng họ không chấp nhận trả một giá nào cả.

Con số hai chục vạn quân Thanh cũng rất sai sự thực. Tôn Sĩ Nghị sang bằng đường bộ, mà đường bộ thì bị vách núi dầy đặc ngăn cách không thể di chuyển một số quân khổng lồ như vậy. Trong những lần xâm chiếm qui mô Việt nam, quân Trung Quốc đều chủ yếu xâm lăng bằng đường thủy qua cửa Bạch Đằng hay Nghệ An. Thành phố Hà Nội hồi đó có bao nhiêu dân cư? Mười ngàn, mười lăm ngàn, hay hai chục ngàn là cùng. Không cần hai trăm ngàn, chỉ cần năm chục ngàn thôi thì cũng đã là cả một sự tràn ngập không còn chỗ đứng, chưa nói tới việc quân Thanh kéo nhau đi chợ mua bán như sử chép. Các tài liệu còn giữ lại chỉ nói quân Thanh đóng đồn ở vài làng nhỏ cạnh Hà Nội.

Niềm tự hào dân tộc của tôi bị thương tổn lần đầu tiên vào khoảng năm 1958. Tôi đọc báo về cuộc thuyết trình của giáo sư Tưởng Quân Chương, một chuyên gia người Đài Loan về Việt nam, tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Sự hiểu biết rất non nớt của tôi lúc đó cũng đủ để tôi ý thức rằng ông hơn hẳn nhiều trí thức Việt nam ngay về chính lịch sử và văn hóa Việt nam. Ông lập luận chắc chắn, dẫn chứng tài liệu đầy đủ về văn học Việt nam, từng tác phẩm, từng tác giả. Đề cập đến trận Đống Đa, Tưởng Quân Chương dẫn tài liệu của Thanh triều, nói rằng Tôn Sĩ Nghị tổng đốc Lưỡng Quảng đã đem sáu ngàn kỵ binh sang Việt nam để phô trương thanh thế và làm lễ thụ phong cho Lê Chiêu Thống nhưng đã bị Nguyễn Huệ đánh bất ngờ, thua chạy về và bị cách chức. Con số này theo tôi là hợp lý. Tôn Sĩ Nghị từ Trung Quốc sang Việt nam trong một hai tuần lễ thì chắc chắn là sang bằng ky binh rồi, mà ky binh thì sáu ngàn đã là nhiều lắm đối với hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây, muốn hơn cũng không có. Nên nhớ là nhà Thanh lúc đó yên bình đã mấy trăm năm nên không còn giữ quân đội hùng hậu nữa. Tôi chưa thấy sử gia Việt nam nào bác bỏ sự kiện của ông Tưởng Quân Chương.

Một tài liệu do người Việt nam viết về trận Đống Đa là cuốn Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái, một cuốn sách khá thuận cho Tây Sơn. Theo cuốn sách này thì khi quân Thanh đến, Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm bàn với nhau rằng đánh quân Thanh không được vì dân chúng Bắc Hà ủng hộ quân Thanh và ghét quân Tây Sơn, họ sẽ chỉ chỗ, dẫn đường, tiếp sức quân Thanh. (Đây cũng là một sự kiện rất quan trọng chứng tỏ dân chúng không ngưỡng mộ Nguyễn Huệ như một số tác giả viết). Ngô Văn Sở quyết định bỏ Thăng Long lui về giữ đèo Tam Diệp, nhưng đô đốc Phan Văn Lân không chịu, đòi Ngô Văn Sở cấp cho một ngàn quân (xin nhắc lại là một ngàn quân) ra giáp chiến. Phan Văn Lân đến bờ sông Như Nguyệt thì gặp quân Thanh đóng ở bên kia sông. Lúc đó tiết trời lạnh giá nhưng Phan Văn Lân nhất định bắt quân lội qua sông đánh quân Thanh. Quân Tây Sơn chết đuối khá nhiều, số còn lại qua bên kia sông lạnh cóng nên bị quân Thanh tiêu diệt, Phan Văn Lân một mình một ngựa chạy về. Thử hỏi nếu quân Thanh đông tới mười ngàn người thôi liệu Phan Văn Lân có dám liều lĩnh như vậy không?

Còn một nguồn tài liệu khác về trận Đống Đa. Đó là những lá thư mà các giáo sĩ có mặt tại đó gởi về cho bạn bè tại Pháp. Những lá thư này được tập trung trong một tài liệu có tên là Những lá thư kỳ lạ và xúc tích của Sứ Bộ Truyền Giáo Viễn Đông (Lettres curieuses ét édifiantes de la Mission apostolique en Extrême Orient) còn lưu giữ tại Pháp. Đây là những lá thư riêng, không phổ biến, do đó chúng không có mục đích tuyên truyền. Các giáo sĩ nói thẳng là họ bênh vực nhà Tây Sơn vì lý do cả chúa Trịnh lẫn chúa Nguyền đều cấm đạo trong khi Tây Sơn không để ý đến tôn giáo. Một giáo sĩ mô tả trận Ngọc Hồi (Đống Đa), trận đánh gay go nhất và có thể nói là duy nhất trong đêm hôm đó. Theo ông, quân Tây Sơn tiến vào bị quân Thanh đánh bật ra, hàng ngũ rối loạn. Lúc đó đích thân Nguyễn Huệ từ dưới xông lên, múa gươm chém chết mấy chục quân Thanh, làm chúng hoảng sợ bỏ chạy. Theo cách mô tả đó thì trận Đống Đa không thể là lớn được. Hoàng Lê Nhất Thống Chí cũng nói quân Tây Sơn tiến sau hai mươi tấm mộc, đằng sau mỗi tám là ba mươi người. Như vậy tổng số quân Tây Sơn tham chiến ở Ngọc Hồi là sáu trăm người. Hoàng Lê Nhất Thống Chí còn nói thêm là khi nghe tin Ngọc Hồi có biến, Tôn Sĩ Nghị sai một bộ tướng đem hai chục ky binh đi giải cứu cùng với một đám nghĩa quân của vua Lê. Những dữ kiện này chứng tỏ trận Đống Đa chỉ là một trận nhỏ.

Mặt khác, cũng không nên quên là quân Thanh bị bất ngờ hoàn toàn nên rối loạn, lo chạy hơn là đánh lại. Vả lại cũng chỉ có một nửa quân Thanh sang sông vào Thăng Long, nửa kia vẫn ở bên tả ngạn và bỏ chạy khi đám quân sang sông bị đánh tan. Cần minh định một điều để tránh tranh cãi. Số quân Thanh chết (chủ yếu là chết đuối khi xô lấn nhau sang sông làm sập cầu nổi) có thể nhiều hơn hẳn số quân từ Trung Quốc sang vì rất nhiều người Hoa sinh sống tại Việt nam lúc đó cũng ỷ thế quân Thanh lộng hành tự coi như lính của nhà Thanh, rồi hoảng sợ bỏ chạy khi ky binh của Tôn Sĩ Nghị bị đánh tan. Ký ức dân gian và các tài liệu đều nói đến việc người ngựa chen nhau trên cầu. Cảnh này phù hợp với những gì vừa nói: quân cưỡi ngựa là quân Tôn Sĩ Nghị, đám chạy bộ là bọn a dua. Chúng ta đều biết trước khi ra Thăng Long đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ dừng lại ở Tam Diệp để mộ quân. Các giáo sĩ thuật cách mộ quân của Nguyễn Huệ: các tướng của Quang Trung, tất cả đều mang chức đô đốc, tới gần các làng, cưỡi ngựa lên một gò cao nhìn vào làng theo số nóc nhà mà ước lượng số quân mỗi làng phải nộp ra lệ hễ thiếu một người là họ tàn sát cả làng. Dân chúng hãi hùng đến nỗi làng nào không đủ con trai phải bắt con gái giả làm trai đem nộp cho Nguyễn Huệ. Những nông dân tuyền chọn như vậy thực ra là những tù binh chỉ có vai trò khuân vác, làm mộc đỡ tên và lấy số đông áp đảo tinh thần quân Thanh mà thôi, chủ lực của Quang Trung chỉ là số quân Tây Sơn mà ông đem từ Phú Xuân ra. Đánh xong trận Đống Đa, ông bỏ mặc số quân tân tuyển này, họ phải xin ăn dọc đường tìm về quê quán.

Nguyễn Huệ là con người như thế nào?

Theo sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Nguyễn Huệ là con ông Hồ Phi Phúc, người gốc Nghệ An, nhưng từ ba đời trước bị chúa Nguyễn bắt vào lập nghiệp tại làng Tây Sơn, thuộc tỉnh Bình Định. Đến đời các con thì đổi ra họ Nguyễn để dễ tiến thân. Họ Hồ dần dần trở nên khá giả, đến đời Hồ Phi Phúc thì lại mở sòng bạc nên càng giàu có.

Nguyễn Huệ như vậy không phải xuất thân là một nông dân áo vải như Việt nam Sử lưọc viết. Về anh em Tây Sơn, cũng như về trận Đống Đa, Trần Trọng Kim dựa vào Hoàng Lê Nhất Thống Chí, nhưng lại thêm bớt theo chiều hướng có lợi cho Nguyễn Huệ. Tại sao? Chúng ta sẽ trả lời sau. Ba anh em Nhạc, Lữ và Huệ lớn lên đi ăn cướp. Khởi đầu Nguyễn Nhạc kết nạp được một đám thủ hạ đi cướp bóc trong vùng, sau khi thế lực đã mạnh mới về lập đồn ở ngay làng mình công khai chống chúa Nguyễn. Có lẽ vì họ hoành hành khá lâu tại vùng Tây Sơn nên sau này, khi họ làm vua, người ta vẫn gọi họ là nhà Tây Sơn. Ba anh em liên kết với hai đám cướp biển người Trung Hoa là Tập Đình và Lý Tài và cũng chiêu mộ nhiều người Thượng. Trong các thư từ gởi cho nhau, các giáo sĩ thắc mắc không hiểu tại sao các tướng của Tây Sơn, dù là tướng đánh bộ đi nữa, đều xưng là đô dốc: đô đốc Sở, đô đốc Long, đô đốc Tuyết, đô đốc Lộc, đô đốc Lân, v.v. Đó là vì quân Tây Sơn do đám cướp biển huấn luyện, và đối với bọn cướp biển chức đô đốc là một ước mơ.

Một sự kiện nổi bật mà các sử gia cố tình làm ngơ là quân Tây Sơn chỉ thuần túy là giặc cướp. Từ lúc dấy lên cho đến lúc tiêu diệt cả họ Trịnh và họ Nguyễn trong hai mươi năm trời, họ không đưa ra bất cứ một chủ trương dựng nước nào; không hề có một tờ hịch nào để hiệu triệu quốc dân, hay ngay cả một tờ kể tội họ Trịnh và họ Nguyễn. Họ chỉ đánh phá và cướp bóc mà thôi, không nhân danh một chính nghĩa nào. (ở miền Bắc, Nguyễn Hữu Cằu khi nỗi loạn chống nhà Trịnh ít nhất còn xưng là Bảo Dân Đại Tướng Quân).

Từ năm 1771, anh em Tây Sơn lập đồn trại, bành trướng thêm lực lượng, đánh chiếm Qui Nhơn rồi tiến lên mạn Bắc đánh chúa Nguyễn. Lúc đó, dù mới mười tám tuổi, Nguyễn Huệ đã bắt đồng đảng và dân chúng gọi mình là Đức ông Tám. Cái lối tự xưng xấc xược này cũng là một đặc tính của đám thảo khấu. Cơ nghiệp chúa Nguyễn đã tan tác vì Trương Phúc Loan chuyên quyền nên quân Tây Sơn đánh đâu được đấy, hầu như không có kháng cự. Họ Trịnh ở ngoài Bắc lại nhân cơ hội vào chiếm Thuận Hóa. Quân Nguyễn phía Nam bị Tây Sơn đánh lên, phía Bắc bị quân Trịnh đánh xuống nên tan rã nhanh chóng. Chúa Định Vương nhà Nguyễn phải bỏ chạy vào Gia Định để Đông Cung Thế Tử ở lại. Nguyễn Nhạc bắt được Đông Cung, gả con gái cho, giả hòa với chúa Nguyễn ở Gia Định, nhưng lại ngấm ngầm liên kết với họ Trịnh xin làm tiên phong đánh chúa Nguyễn. Năm 1778 anh em Tây Sơn chiếm nốt Gia Đình, tiêu diệt chúa Nguyễn. Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Đình Vương ở Gia Đình và Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương giữ mặt Bắc. Nguyễn Huệ là một tướng giỏi, nhiều công trận lại giữ mặt Bắc phòng họ Trịnh nên nắm phần lớn quân Tây Sơn trong tay.

Năm 1786, nhân lúc nhà Trịnh tan tác vì lính Tam Phủ làm loạn Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ ra đánh chiếm Thuận Hóa, trước đây của chúa Nguyễn nhưng mới bị họ Trịnh chiếm. Nguyễn Huệ chiến thắng dễ dàng rồi theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh, một tướng của họ Trịnh vì bất mãn mà bỏ vào theo Tây Sơn, tiến ra Thăng Long diệt họ Trịnh, dù không có lệnh của Nguyễn Nhạc. Lúc đó họ Trịnh đã suy sụp toàn bộ nên Nguyễn Huệ chiếm Tháng Long như vào chỗ không người. Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông gả con gái là công chúa Ngọc Hân và ở lại Thăng Long gần hai tháng cho đến lúc Nguyễn Nhạc từ trong Nam ra gọi về. Khi vua Lê Hiển Tông chết, Nguyễn Huệ định không cho Lê Chiêu Thống lên kế vị, thân thích nhà Lê phải nhờ Ngọc Hân xin Nguyễn Huệ mới cho. Sau đó hai anh em Nhạc và Huệ đột ngột về Nam giữa đêm, bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại với dụng ý để dân Bắc Hà giết Chỉnh vì tội đã đem quân Tây Sơn ra Bắc. Nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh chạy thoát vào Nghệ An ra mắt Nguyễn Huệ. Tuy thất vọng vì Nguyễn Hữu Chỉnh không chết nhưng Nguyễn Huệ vẫn cấp cho Chỉnh một số vàng và vũ khí lấy được ở Thăng Long để Chỉnh lập nghiệp lại Nghệ An. Nguyễn Hữu Chỉnh tự tuyển quân chiếm giữ Nghệ An.

Vua Lê Chiêu Thống lúc đó chỉ có vài quan văn và khoảng mười lính hầu. Phe đảng họ Trịnh lại trở về Thăng Long tái lập nghiệp chúa. Lê Chiêu Thống không chịu cho họ Trịnh áp bức nữa nên vời Nguyễn Hữu Chỉnh ra. Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp được dư đảng họ Trịnh và được Lê Chiêu Thống phong tước Bằng Trung Công nắm giữ binh quyền. Trong khi Nguyền Hữu Chỉnh ra Bắc đánh dư đảng họ Trịnh thì Nguyễn Huệ lại đem quân vào Nam đánh Nguyễn Nhạc. Nhạc phải khóc lóc năn nỉ Huệ mới tha. Sau khi về Phú Xuân, Nguyễn Huệ ra lệnh cho Vũ Văn Nhậm là phó tướng của mình và cũng là rể của Nguyễn Nhạc, đem quân ra đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Vũ Văn Nhậm bắt được Chỉnh đem giết đi. Vua Lê Chiêu Thống bỏ chạy lưu lạc khắp nơi, chiêu tập lực lượng chống Tây Sơn. Nguyễn Huệ ra Thăng Long bất ngờ, Vũ Văn Nhậm đang ngủ trưa bị lôi ra chém. Nguyễn Huệ đặt Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Ngô Thời Nhiệm ở lại trấn giữ rồi rút quân về Nam. Quần thần và tôn thất nhà Lê sang Trung Hoa cầu cứu. Tôn Sĩ Nghị sang, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, tiến ra Thăng Long đánh bại Tôn Sĩ Nghị. Nguyễn Huệ chỉ mới làm vua được bốn năm, đang chuẩn bị đánh Trung Hoa chiếm hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây thì mất năm 1792. Mười năm sau nhà Tây Sơn bị Nguyễn ánh tiêu diệt.

Nguyền Huệ là một con người hung bạo đánh tất cả mọi người, đó là một sự thực. Nguyễn Huệ liên kết với hai tướng cướp Tập Đình và Lý Tài đánh chúa Nguyễn rồi lại đánh Tập Đình và Lý Tài, liên kết với chúa Trịnh rồi đánh chúa Trịnh, dùng Nguyễn Hữu Chỉnh rồi bỏ Chỉnh cho dân Bắc Hà giết. Nguyền Hữu Chỉnh không chết mà lại phất lên được thì sai Vũ Văn Nhậm đem quân đánh giết Nguyễn Hữu Chỉnh, tiện thể lấy luôn Bắc Hà. Rồi lại giết Vũ Văn Nhậm. Đến cả Nguyền Nhạc đối vơi Huệ vừa có nghĩa vua tôi vừa có nghĩa anh em, Huệ cũng đánh. Sau này hòa với nhà Thanh, rồi lại kết nạp bọn cướp biển đi đánh phá nhà Thanh và còn định đem quân đánh nhà Thanh. Nguyễn Huệ dùng bạo lực và sự tráo trở trong mọi trường hợp đối với bất cứ ai có khả năng trở thành một đối thủ. Việc Huệ đánh Nhạc chỉ vì hai anh em xích mích với nhau chuyện phân chia kho tàng lấy được ở Thăng Long là một hành động phản trắc và vô đạo. Nguyễn Huệ cũng rất tàn ác, các giáo sĩ thời đó dù bênh Tây Sơn cũng ghê sợ về sự tàn ác của Nguyễn Huệ và gọi ông là một thứ Attila mới trong những thư họ viết cho nhau. Họ kể lại khá chi tiết những việc làm dữ tợn của Nguyễn Huệ, mà khuôn khổ cuốn sách không cho phép tôi nhắc lại hết. Sau khi diệt nhà Trịnh và nói là một tấc đất của nhà Lê cũng không lấy, Huệ vẫn chiếm Nghệ An, vua Lê Chiêu Thống sai danh sĩ Trần Công Sán, mà Nguyễn Huệ biết tiếng và phục tài, cùng với hoàng thân Lê án, vừa là chú vừa là thày của công chúa Ngọc Hân, mang quốc thư vào xin lại Nghệ An và cam kết hàng năm nộp toàn bộ thuế của tỉnh cho Nguyễn Huệ, nhưng Nguyễn Huệ đã không cho còn hạ ngục và gông cổ cả phái đoàn rồi đem ra biển nhận thuyền cho chết. Nhiều người trách Nguyễn ánh nhỏ mọn quật mồ Nguyễn Huệ sau khi đã giết con cháu, mà quên rằng hành động thô bạo này chỉ là để báo thù một hành động thô bạo trước đó: Nguyễn Huệ đã tàn sát cả họ Nguyễn và đã đào mả tổ tiên Nguyễn ánh đem vất đi. Một lần trong một chuyến đánh phá Gia Định, một tướng Tây Sơn bị phục binh giết chết. Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nỗi giận ra lệnh tàn sát tất cả dân chúng trong vùng, bất luận già trẻ, lớn bé, trai gái. Cuộc tàn sát đã kinh hoàng đến độ dân chúng các vùng phụ cận sau đó không dám ăn tôm cá vì sợ tôm cá ăn thịt những xác chết trôi đầy sông.

Một thí dụ khác là trận Đống Đa. Sau khi đã đánh tan quân Thanh và sợ quân Thanh quay lại phản ứng, Nguyễn Huệ ra lệnh cho dân chúng Thăng Long phải đắp xong trong vòng ba ngày một chiến lũy chung quanh để phòng thủ. Các giáo sĩ có mặt tại đó không thể nào tưởng tượng dân chúng Thăng Long có thể làm được điều đó. Nhưng họ đã làm được, họ đã làm tới kiệt sức, vì sợ bị Nguyền Huệ tàn sát, họ biết Nguyền Huệ không hề do dự trước sự chém giết. Tường xây lên xong các giáo sĩ kinh hoàng, họ đặt tên cho Nguyễn Huệ là Attila mới từ đó. Các tài liệu của các giáo sĩ, và nhiều nhân chứng phương Tây có mặt tại Việt nam lúc đó, về anh em Tây Sơn hiện vẫn còn lưu giữ trong nhiều thư viện tại Pháp. Một sử gia Việt nam, ông Tạ Chí Đại Trường, đã sưu tập một số đáng kể trong cuốn sách Lịch Sử Nội Chiến 1771-1802 của ông. Đây là một cuốn sách nên đọc cho những ai muốn tìm hiểu về nhà Tây Sơn.

Khả năng nhìn xa trông rộng của Nguyễn Huệ cũng rất giới hạn. Nguyễn Huệ đem binh đánh làm suy yếu Nguyễn Nhạc, rồi làm ngơ để Nguyễn ánh tiêu diệt dần lực lượng của Nhạc và Lữ ở trong Nam. Cứ bỏ qua sự tàn nhẫn với hai người anh đi thì đây cũng là một tính toán chiến lược rất chủ quan và phiêu lưu. Nguyễn ánh còn đang bành trướng thế lực ở trong Nam thì Nguyễn Huệ đã nghĩ đến việc đánh Trung Hoa. Thật là một ý đồ điên đại, chứng tỏ Nguyễn Huệ không có một hiểu biết chiến lược nào cả. Nếu Nguyễn Huệ còn sống để mà gây chiến với nước Tàu thì quả là đại hoạ cho nước ta. Cứ giả thử vua Càn Long cho không Nguyễn Huệ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tày thì ngày nay nước ta cũng đã bị xóa bỏ rồi.Cũng nên tương đối hóa tài dùng binh của Nguyễn Huệ. Nhà Nguyễn và nhà Trịnh đánh nhau cả thảy bảy lần trong gần nửa thế kỷ, từ 1627 đến 1674, làm cho đất nước, nhất là miền Bắc suy kiệt và dân chúng chán ghét chiến tranh. Đây cũng là giai đoạn mà đạo Công Giáo và tư tưởng Thiên Chúa Giáo, sau một thế kỷ du nhập, đã phát triển mạnh, làm lung lay tư tưởng Khổng Giáo, nền tảng chính đáng của chế độ. Quần chúng Việt nam không còn nhìn các vua chúa như những đại diện của Trời mà họ phải phục tùng vô điều kiện nữa. Cả hai họ Trịnh Nguyễn đều suy thoái, việc binh bị bị bỏ rơi, người dân vừa không phục, vừa bớt sợ.

 

Chúa Nguyễn còn lo đánh dẹp, mở mang bờ coi nên người dân bỏ vào miền đất hoang phía Nam lập nghiệp tránh bị bắt lính rất nhiều. Lực lượng của chúa Nguyễn vừa suy yếu vừa bị trải rộng, dần dần mất thực chất. Các băng đảng cướp lộng hành khắp nơi. Đã thế, từ thời Võ Vương (1765) trở đi, Trương Phúc Loan lại chuyên quyền làm cho triều đình tan nát. Anh em Tây Sơn, nhờ tập hợp được một sổ băng đảng, nổi lên tiêu diệt chúa Nguyễn mà không cần đánh một trận đáng kể nào.

Quân Tây Sơn đã thắng dễ dàng vì thế lực của chúa Nguyễn đã hoàn toàn tan rã chứ không phải vì lực lượng của họ mạnh. Năm 1778, lúc Tây Sơn đã diệt chúa Nguyễn và chiếm Gia Định, thế lực lên đến cao điểm làm kinh động cả nước, toàn quyền Anh tại ấn Độ cử một chuyên viên là Chapman sang quan sát tình hình Việt nam. Chapman làm quen được với anh em Tây Sơn và được đi thăm viếng quan sát tỉ mỉ khắp nơi. Chapman báo cáo rằng thế lực của quân Tây Sơn chẳng có gì đáng kể, chỉ cần một đạo quân một trăm người mà có kỷ luật cũng đủ để đánh tan toàn bộ quân Tây Sơn một cách nhanh chóng. Xin nhấn mạnh con số một trăm và cũng xin nhấn mạnh rằng Chapman chỉ nói tới kỷ luật chứ không hề nói tới nhu cầu vũ khí tối tân. ở ngoài Bắc, hồi đó gọi là đàng ngoài, tình thế còn bi đát hơn.

Đời sống cơ cực và cương thường đảo lộn (họ Trịnh phế lập và giết vua Lê một cách rất tùy tiện) nên cả uy quyền chính trị lẫn uy quyền đạo đức đều tan. Giặc giã nỗi lên khắp nơi. Trịnh Sâm vừa tạm dẹp xong giặc thì lại say mê tửu sắc, bỏ trưởng lập thứ gây loạn ngay tại triều đình. Điều cần đặc biệt lưu ý là họ Trịnh lúc đó không còn quân đội. Chỉ một đám lính Tam Phủ, vài ngần tên không người chỉ huy, mà muốn phá nhà ai, giết quan nào cũng được. Khi chúng nổi loạn, Quận Huy Hoàng Tế Lý trên nguyên tắc cầm mọi binh quyền, phải một mình cưỡi voi ra đánh nhau với chúng rồi bị giết. Các tướng mỗi người trấn giữ một phương, mỗi người chỉ có vai chục gia nhân, rồi dựa vào đám gia nhân này mà đi bắt lính. Có khi họ bắt được cả ngần quân nhưng những quân đội ấy chỉ là những nông dân tội nghiệp không biết chiến đấu và cũng không muốn chiến đấu, hễ gặp quân địch là rã hàng bỏ chạy có khi còn đâm chết tướng để dễ chạy. Sách Hoàng Lê Nhất Thong Chí mô tả khá rõ xã hội miền Bắc lúc đó. Các sứ quân đã không có thực lực mà còn hiềm khích với nhau và chẳng tuân lệnh ai. Dân gian thì hễ ai khỏe mạnh ăn cướp được là đi ăn cướp, rất ghét quân Tây Sơn nhưng gặp quan nhà Lê là bắt nộp cho Tây Sơn để lãnh thưởng. (Sau này cũng chính dân chúng bát vua Cảnh Thịnh và các tướng Tây Sơn nộp cho Nguyễn ánh). Nguyễn Hữu Chỉnh bị anh em Tây Sơn bỏ rơi lên thuyền chạy về Nghệ An với mấy chục gia nhân, đến nơi không dám lên bộ. Vậy mà rời cũng đi bắt lính và thành lập được một đạo quân. Với cái quân đội ô hợp đó mà Nguyễn Hữu Chỉnh vào được Thăng Long như chỗ không người vì các quân đội khác còn ô hợp hơn nữa. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh hoành hành ở miền Bắc, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm ra đánh, quân Nguyễn Hữu Chỉnh chưa đánh đã tan. Trong một bối cảnh như vậy, Nguyễn Huệ trấn áp được thiên hạ nhờ có được một đạo quân tinh nhuệ là điều dễ hiểu. Lý do thành công của Nguyễn Huệ là ông có một đạo quân thực sự trong khi các đối thủ của ông không có. Những chiến thắng như vậy không đòi hỏi một tài dùng binh nào.

ở trong Nam có trận thủy chiến tại Cần Giờ là đáng kề. Nguyễn Huệ chỉ huy gần một trăm chiến thuyền, như vậy cũng là vài ngần thủy quân, còn quân Nguyễn ánh không biết bao nhiêu. Nguyễn Huệ cũng phá được quân Xiêm. Trần Trọng Kim trong Việt nam Sử lược nói rằng quân Xiêm đông tới hai vạn người. Nếu đúng như vậy thì quả là một đạo quân rất lớn vào thời đó, nhưng quân Xiêm vừa tới nước ta thì đã rã hàng, đi cướp bóc khắp nơi chàng còn đội ngũ gì cả. Nếu có một đạo quân đàng hoàng thì đánh tan chúng không khó.

Cả ba trận Cần Giờ, Mân Thít và Đống Đa đều ở rất dưới tầm cỡ của những trận đánh thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyễn, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh. Tài dùng binh của Nguyễn Huệ là có thực nhưng chưa được chứng minh ở tầm cỡ của các danh tướng thời Trần Hưng Đạo hay Lê Lợi.

Cần nhấn mạnh để đánh tan một hiểu lầm đã kéo dài quá lâu và đã là nguyên nhân cho nhiều giải thích lịch sử gượng ép: đó là quân Tây Sơn không mạnh mà cũng không tổ chức giỏi; họ đã thắng được các chính quyền Trịnh và Nguyễn bởi vì các chính quyền này đã đi tới cuối tiến trình phân rã. Nguyên nhân sâu xa của tiến trình phân rã này là cả hai chế độ Trịnh Nguyễn đã không ý thức được rằng nền tảng của xã hội Việt nam đã thay đổi sau hơn hai thế kỷ tiếp xúc với người phương Tây, và cứ cố tiếp tục duy trì lối cai trị cũ trên một xã hội đã đổi mới.

Nguyễn Huệ chỉ mới làm vua được gần bốn năm thì mất nên tài trị nước của ông không thể bàn đến. Một việc triều đình của ông làm thường được ca tụng là hay dùng chữ Nôm. Nhưng chữ Nôm thời đó đá phát triển lắm rồi. Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán đã ra đời trước đó và đã có Nguyễn Du. Chính Nguyễn ánh cũng đã dùng chữ Nôm trong một số văn thư. Cũng có người nhắc đến dụ Khuyến Nông của Nguyễn Huệ, nhưng đó chỉ là một dụ bình thường lặp lại những gì các vị vua trước đó đã nói. Một biện pháp làm khổ dân chúng rất nhiều là dùng Tín Bài, một thứ thẻ căn cước, để kiềm soát dân chúng, trong mục đích bắt lính chuẩn bị đánh Trung Hoa. Biện pháp này làm dân chúng bị tham quan ô lại sách nhiễu đến nói nhiều người phải trốn vào rừng sinh sống để tị nạn Tây Sơn. Vả lại làm vua một nước đã kiệt quệ vì chiến tranh, vừa mới được một hai năm yên bình đã lo chuyện đánh nhau với một nước lớn gấp bội mình là điều mà một vị vua sáng suốt không thể làm.

Nhà Tây Sơn tuy chỉ kéo dài một thời gian ngắn nhưng đã anh hưởng rất lớn lên lịch sử nước ta và dịa lý chính trị trong vùng.

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chặn đứng hẳn sự bành trướng của lãnh thổ Việt nam vào đất Cam-bốt. Năm 1771, khi anh em Tây Sơn bắt đầu tấn công chúa Nguyễn cũng là năm cuối cùng mà một phần đất Cam-bốt được sát nhập vào Việt nam. Lúc đó đất Cam-bốt gần như vô chủ, các chúa Nguyễn dồn dập mở rộng lãnh thổ, nhưng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã làm họ sụp đổ và cuộc Tây tiến của Việt nam chấm dứt. Nếu không có anh em Tây Sơn chắc chắn nước Cam-bốt không còn.

Việc thôi bành trướng về phía Tây Nam, tùy cách nhìn, không nhất thiết là một sự thiệt thòi cho chúng ta. Nhưng anh em Tây Sơn đã làm một việc khác rất lớn, rất tai hại cho chúng ta và đã khiến chúng ta là chúng ta ngày nay: đó là phá tan và chấm dứt hơn hai thế kỷ tiếp xúc và giao thương đầy hứa hẹn với thế giới bên ngoài, nhất là phương Tây.

Chúng ta bắt đầu tiếp xúc với phương Tây từ đầu thế kỷ 16, các giao thương tăng dần với thời gian. Đầu thế kỷ 18 đã có những trung tâm thương mại lớn. Ngoài Bắc có Hà Nội và Phố Hiến (thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phổ Hiến). Trong Nam có Hội An. Hội An có địa vị đặc biệt quan trọng, đó là trái tim của mọi hoạt động kinh tế của Đàng Trong. Quân Tây Sơn đi đến đâu cướp phá và đem chết chóc đến đó. Tệ hại nhất là việc cướp phá Hội An. Các thương nhân bỏ chạy trong kinh hoàng và mọi hoạt động kinh tế sụp đổ. Miền Trung rơi vào nạn đói chưa từng thấy, người chết vô kể, có nơi mẹ ăn xác con. Khi quân Tây Sơn ra ngoài Bắc thì Kinh Kỳ và Phố Hiến cũng tiêu tan. Cũng như tại Hội An, doanh nhân nước ngoài bỏ chạy trong kinh hoàng và không bao giờ trở lại Việt nam nữa. Cánh cửa của chúng ta khép lại với thế giới bên ngoài. Xã hội ta trở lại với bóng tối của sự lạc hậu. Kinh nghiệm Việt nam đã đen tối đến độ các thương nhân không trở lại nữa ngay cả sau khi nhà Tây Sơn đã đổ. Phần đông những người phương Tây đến sau này chỉ là các giáo sĩ.

Trần Trọng Kim là một học giả có công soạn ra bộ sử công phu đầu tiên cho nước ta. Đây là một đóng góp rất lớn cần được ghi nhận một cách xứng đáng. Trước ông lịch sử nước ta chỉ được chép một cách sơ sài và không trung thực. Điều khó tưởng tượng đối với thế hệ trẻ ngày nay là cho tới thế chiến II người Việt nam không học sử nước mình. Người học trường Pháp thì học sử Pháp, người học trường Nam thì không học sử nào cả. Tập Việt nam Sử lược ra đời đầu thập niên 1930, thường được sử dụng như một cuốn sách để học quốc văn, đã có tác dụng rất lớn. Nó đã giúp người Việt nam hiểu quá khứ của mình và tạo ra một ý thức quốc gia dân tộc. Việt nam Sử lược sau này được lấy làm cơ bản cho các sách giáo khoa sử ở cấp trung và tiểu học. ý thức về lịch sử của người Việt nam nói chung vấn chưa vượt quá Việt nam Sử lược.

Tuy nhiên, vì không viết sách với mục đích giảng dạy, ông Trần Trọng Kim đã không cảm thấy có bổn phận phải tuyệt đối khách quan và, đặc biệt là đối với nhân vật Nguyễn Huệ, ông đã để nhiều tâm tình và thiên kiến vào đó. Ông dựng đứng ra chuyện Nguyễn Huệ ra Bắc phù Lê diệt Trịnh để ca tụng Nguyễn Huệ dứt họ Trịnh, tôn vua Lê, đem lại cương thường cho rõ ràng. ấy là có sức mạnh mà biết làm việc nghĩa vậy (sic). Thật là đổi trắng thay đen! Trong khi khởi chiến thì người ta thường hay mượn một danh nghĩa, điều nay chẳng có gì là lạ. Điều lạ là Nguyễn Huệ đã ngang ngược không thèm mượn một danh nghĩa nào cả. Nguyễn Huệ vâng lệnh Nguyễn Nhạc tiến ra Bắc với mục đích chiếm Thuận Hóa, rồi thấy dễ tiến luôn ra chiếm Thăng Long, không nhân danh gì cả. Nguyễn Huệ vào Thăng Long cướp kho tàng rồi rút về chỉ vì chưa nắm vững tình hình, mặc dầu cũng chiếm đất Nghệ An. Việc phù Lê chỉ là câu nói ngoài miệng sau khi diệt xong họ Trịnh và thấy tình thế chưa chín muồi để chiếm miền Bắc mà thôi. Nếu thực sự phù Lê thì Nguyễn Huệ đã không hống hách đòi quyết định việc kể lập vua Lê và đã không cướp kho, lấy đất như vậy.

Ông Trần Trọng Kim cũng dựng đứng ra con số hai chục vạn quân Thanh, không có trong một sử liệu nào, để thổi phòng tầm vóc của trận Đống Đa và ca tụng Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. (Trong hịch của Tôn Sĩ Nghị có nói lới năm chục vạn, nhưng đó, theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí chỉ là tờ truyền đơn mà mục đích là hù dọa làm mất tinh thần quân Tây Sơn. Chính Nguyễn Huệ cũng biết đây chỉ là chuyện hù dọa). ở một điểm Trần Trọng Kim giấu cả sự kiện. Toàn bộ việc thuật lại trận Đống Đa của ông dựa theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Nhưng trong khi Hoàng Lê Nhất Thống Chí chép rằng quân Nguyễn Huệ đi sau các bức mộc bia, cứ ba mươi người đàng sau một bức, tất cả là hai mươi bức, thì Trần Trọng Kim bỏ đi câu tất cả là hai mươi bức , vì như thế chứng tỏ quân Tây Sơn chỉ có sáu trăm người, mâu thuẫn với tầm vóc hai chục vạn quân Thanh mà ông gán cho trận Đống Đa.

Ông Trần Trọng Kim cũng kể công Nguyễn Huệ cứu nước khỏi tay quân Thanh. Thực ra chính Nguyễn Huệ đã là nguyên nhân đưa tới việc quân Thanh can thiệp. Vả lại ở đoạn trên chúng ta đã thấy vào giai đoạn đó nhà Thanh hoàn toàn không có ý định đánh chiếm nước ta, chính vì thế mà sau trận Đống Đa họ đã bỏ nhà Lê mà hòa với Nguyễn Huệ. Ngược lại nếu Nguyễn Huệ còn sống để mà gây chiến với nhà Thanh thì rất có thể nước ta đã tan hoang và mất về tay quân Tàu.

Nhờ Việt nam Sử lược mà Nguyễn Huệ được ca tụng như một đại anh hùng làm vẻ vang cho dân tộc, nhưng thực ra Nguyễn Huệ chẳng quan tâm gì đến thề diện quốc gia. Đó là một ý niệm phức tạp của giới văn học mà một người sinh ra và lớn lên trong một môi trường đặc biệt như Nguyễn Huệ không quan tâm. Ông chấp nhận sang chầu vua Thanh, lạy phục xuống đất và hôn chân vua Càn Long. Sợ nhà Thanh phản trắc hãm hại, ông cho một người giả làm mình đi thay. Nhưng dù Nguyễn Huệ thật hay Nguyễn Huệ giả thì trên danh nghĩa vẫn là vua Việt nam lạy và hôn chân vua Trung Hoa. Nguyễn Huệ cũng thường làm những tờ bẩm gởi cho Phúc An Khang (người thay Tôn Sĩ Nghị làm tổng đốc Lưỡng Quảng) trong đó ông tự xưng là tiểu phiên. Trừ trường hợp Mạc Đăng Dung, chưa có vua Việt nam nào hạ mình đến thế.

Thái độ bênh Nguyễn Huệ của ông Trần Trọng Kim có nguyên nhân sâu xa. Gần hai thế kỷ phân tranh đã tạo ra theo tị hiềm giữa miền Nam và miền Bắc. Người miền Bắc vốn không ưa chúa Nguyễn, vua Gia Long sau khi đắc thắng lại trả thù báo oán, giết hại công thần khiến sĩ phu Bắc Hà càng ghét hơn. Các vua nhà Nguyễn không nể nang mà cũng chẳng đoái hoài gì đến miền Bắc, họ chỉ dùng bạo lực để thống trị mà thôi. Việc thi cử làm sĩ phu Bắc Hà rất phân nộ. Bắc Hà tự hào là đất văn học nhưng nhà Nguyễn chỉ cho Bắc Hà một số cử nhân, tiến sĩ thấp hơn miền Trung. Kể từ khi Pháp chiếm Việt nam thì không cứ gì sĩ phu Bắc Hà mà sĩ phu cả nước trách nhà Nguyễn bất lực làm mất nước, nhưng sĩ phu Bắc Hà thì mạt sát nhà Nguyễn ra mặt. Ông Trần Trọng Kim là một sĩ phu Bắc Hà và sách của ông chủ yếu viết cho sĩ phu Bắc Hà, trong đó tâm lý thù ghét nhà Nguyễn rất mạnh. Nguyễn Huệ là kẻ thù của nhà Nguyễn, vừa là hung thủ vừa là nạn nhân của nhà Nguyễn. Kẻ thù của kẻ thù là bạn. Ca tụng Nguyễn Huệ chỉ là một cách để chống nhà Nguyễn. Sự thù ghét nhà Nguyễn của ông Trần Trọng Kim rất rõ rệt.

Trong Việt nam Sử lược, ông mở đầu chương nói về Tây Sơn bằng một cuộc tranh luận công khai với nhà Nguyễn về nhà Tây Sơn, ông thẳng thắn nói lý của nhà Nguyễn không phải là lý của dân tộc. Ông Hoàng Xuân Hãn còn kể rằng khi ông vâng mệnh vua Bảo Đại mời ông Trần Trọng Kim vào gặp vua Bảo Đại để lập chính phủ, ông Kim mới đầu gạt phắt đi: Cái thằng Bảo Đại gặp nó làm gì. Lúc đó vua Bảo Đại chưa thoái vị. Trần Trọng Kim là một nhà nho, thường thường đối xử rất khiêm cũng, phải thù ghét lắm ông mới gọi vua bằng thằng.

Từ 1945 trở đi khi cuộc tương tranh quốc-cộng nổ ra, Nguyễn Huệ lại được thêm một đồng minh mới, mạnh hơn nhiều lần ông Trần Trọng Kim: Đảng cộng Sản Việt nam. Đảng cộng sản ca tụng Nguyễn Huệ đủ điều (một cuốn sách do chính quyền cộng sản xuất bản để ca tụng Nguyễn Huệ có tựa đề là Dòng Gươm Nhân ái ) và đã dồn nỗ lực đưa hình ảnh Nguyễn Huệ anh hùng áo vải vào quần chúng vì mục đích tuyên truyền. Tôn vinh Nguyễn Huệ là phủ nhận nhà Nguyễn, mà vua Bảo Đại của nhà Nguyễn lại đứng đầu phe quốc gia cho nên tôn vinh Nguyễn Huệ cũng là hạ nhục phe quốc gia. Hình ảnh áo vải cờ đào (cờ đào thì có nhưng áo vải thì không) cũng rất thuận lợi cho cuộc cách mạng vô sản. Nguyễn Huệ cũng tiêu biểu cho những giá trị nền tảng của đảng cộng sản: bạo lực và chiến tranh. Cả Nguyễn Huệ lẫn đảng cộng sản đều đã làm khổ dân chúng và làm đất nước suy kiệt, sự chính đáng của cả hai chỉ dựa trên nhưng chiến thắng quân sự. Các đô đốc của Nguyễn Huệ cũng thuộc thành phần cơ bản, nghĩa là cũng không thuộc giới văn học như các cán bộ nòng cốt của đảng cộng sản. Nguyễn Huệ cũng hành động như đảng cộng sản. Cũng dựa vào một thiểu số có đội ngũ để khống chế cả nước, cũng thẳng tay tiêu diệt mọi phần tử có thể trở thành đối thủ, cũng bất chấp mọi đau khổ của dân chúng và những đổ vở cho đất nước, cũng tráo trở và lật lọng với cả đồng minh và đối thủ. Chừng nào Nguyễn Huệ còn là thần tượng của người Việt nam chừng đó đảng cộng sản vẫn không thể bị phủ nhận dứt khoát, dù có bị thù ghét đến đâu đi nữa. Hình ảnh Nguyễn Huệ đã đóng góp rất nhiều cho thắng lợi của đảng cộng sản và vẫn còn giúp đảng cộng sản duy trì một chỗ đứng nào đó trong lòng người Việt nam. Sau 1975, các lãnh tụ lớn của đảng cộng sản đều đến làng Tây Sơn trồng một cây để tỏ lòng tôn kính với Nguyễn Huệ mà họ coi gần như một thánh tổ của đảng.

Tôn thất và triều thần nhà Nguyễn đã không thể tranh cãi về Nguyễn Huệ vì nếu tranh cãi về Nguyễn Huệ thì cũng phải bàn đến vua Gia Long và những hành động không đẹp của ông. Sau Bảo Đại ông Ngô Đình Diệm cũng tránh đề cập đến các vấn đề lịch sử vì thân thế của chính ông. Ông là bày tôi nhà Nguyễn và thuộc dòng dõi bày tôi nhà Nguyễn, và hơn nữa ông làm quan dưới chế độ Pháp thuộc chứ không tham gia đấu tranh giành độc lập. Ông không có thế đứng mạnh để tranh cãi về lịch sử và có lẽ cũng chẳng hiểu biết gì về lịch sử. Các tướng tá cầm quyền sau ông Diệm đều là những người không có chỗ đứng lịch sử vẻ vang vì trong đại bộ phận họ đã từng ở trong quân đội Pháp. Vả lại họ hoàn toàn không quan tâm đến văn hóa và lịch sử. Nói chung phe quốc gia không nhìn thấy cả một chiến dịch tâm lý chiến của phe cộng sản đằng sau việc thổi phồng và tôn sùng Nguyễn Huệ.

Còn các sử gia? Phải tiếc rằng họ đã có đủ tài liệu, mà đôi khi họ cũng đưa ra một cách lẻ tẻ, nhưng họ đã không có can đảm đính chính một sai lầm lịch sử, mặc dầu sai lầm này đã có tác dụng rất độc hại trên số phận của dân tộc.

Người Việt chúng ta có một đặc tính là bất cứ điều gì dù sai đến đâu mà được chấp nhận trong một thời gian cũng trở thành một chân lý khó lay chuyển. Không những chấp nhận mà chúng ta còn khó chịu khi có người đặt lại vấn đề. Chúng ta cũng có tâm lý dĩ hòa vi quí, hễ điều gì bất luận đúng hay sai mà mọi người đã cho là đúng thì đừng nên cãi nữa, chỉ gây bất hòa vô ích. Đôi khi sự gắn bó với thành kiến còn đi đôi với thái độ bất dung, hằn học đối với những người đề nghị xét lại một thành kiến. Và như thế sự sai lầm cứ tồn tại.

Tôi đặt lại vấn đề Nguyễn Huệ bởi vì sự tôn sùng ông đã có ảnh hưởng lớn trên số phận dân tộc và vẫn còn đang ngăn cản một chuyển biến tư tưởng cần thiết. Nguyễn Huệ tiêu biểu cho nhưng giá trị mà chúng ta cần đánh đổ: võ biền, độc đoán, hung bạo, lật lọng và trái ngược với những giá trị mà ta cần phát huy: hòa bình, bao dung, hòa giải, lương thiện. Tôn sùng Nguyễn Huệ là một tâm lý rất tai hại mà ta cần chấm dứt. Hơn thế nửa, nhân vật Nguyễn Huệ thực sự lại không phải như vậy. Nguyễn Huệ, Nguyễn ánh, Lê Chiêu Thống, v.v… Đều là tổ tiên chúng ta cả. Chúng ta phải chấp nhận họ như là quá khứ và cội nguồn của chính chúng ta. Không ai lựa chọn tổ tiên, phủ nhận tổ tiên là phủ nhận chính mình, nhưng bóp méo lịch sử là một chuyện khác. Lịch sử vừa là tấm gương soi chân dung của một dân tộc vừa là một kho kinh nghiệm để học hỏi và quyết định những chọn lựa cho tương lai. Bóp méo lịch sử chúng ta sẽ không còn biết mình là ai và sẽ phải làm việc với những tài liệu sai. Không, tôi không có ý định làm ngược lại điều mà ông Trần Trọng Kim và đảng cộng sản đã làm, nghĩa là đả phá Nguyễn Huệ vì một dị ứng hay một mục đích chính trị. Nguyễn Huệ như thế nào chúng ta cứ chấp nhận ông như thế Chúng ta có một nhân vật Nguyễn Huệ đã nổi loạn, gây nhiều máu lửa và tang tóc, đã chiến thắng các đối thủ, đã lên làm vua, rồi chết sớm và con cháu bị tiêu diệt. Đó là sự kiện. Nhưng thần tượng Nguyễn Huệ thiên tài quân sự, anh minh sáng suốt và nhân nghĩa chỉ là một sự xuyên tạc lịch sử có dụng ý.

Không nên nghĩ rằng các vấn đề văn hóa và lịch sử không gắn bó mật thiết với vận mệnh của một dân tộc. Qua Nguyễn Huệ chúng ta đã dung túng một số giá trị độc hại góp phần quan trọng tạo ra số phận bi đát hiện nay của đất nước. Cách đây năm nghìn năm, sắc dân Phénicien đã là những người tiến bộ nhất. Họ đã là người đầu tiên chinh phục biển cả, chế ngự cả vùng Địa Trung Hải và lập ra cả một nền văn minh thương nghiệp. Nhưng họ thờ thần Ham mon, thần chiến tranh và bạo lực. Sự hung bạo đã khiến họ tự hủy diệt và bị tiêu diệt sau đó. Tôi đã thăm di tích Carthage. Chỉ còn lại những bức tường đổ nát và những dấu vết của những tập quán ghê rợn. Thay đổi biểu tượng là thay đổi các giá trị nền tảng của xã hội, là thay đổi cách ứng xử, và cuối cùng thay đổi số phận của một dân tộc. Đối với những quốc gia đang bế tắc vì đã là nạn nhân của những giá trị độc hại đó cũng là một bắt buộc.
 
Trích tác phẩm Tổ quốc ăn năn)
-------------------
nguon : nghiencuulichsu
 


 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?896 <![CDATA[MỘT BÀI THƠ NÓI VỀ THỰC TRẠNG SINH VIÊN TỐT NGHIỆP Ở VIỆT NAM . ĐỌC THẤY...THƯƠNG!]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 06 Jul 2016 12:23:29 +0000 http://trankytrung.com/read.php?896

Em có tìm được việc không? ( Ảnh minh họa)

 

THỰC TRẠNG SINH VIÊN TỐT NGHIÊP

 

Đầu đường Xây dựng bơm xe
Cuối đường Kinh tế bán chè đậu đen
Ngoại thương mời khách ăn kem
Các anh Nhạc viện thổi kèn đám ma
*
Ngân hàng ngồi dập đô la
In giấy vàng mã, sống qua từng ngày
Sư phạm trước tính làm thày
Giờ thay kế toán, hàng ngày tính lô.
*
Điện lực chẳng dám bô bô,
Giờ đang lầm lũi phụ hồ trên cao.
Lập trình chả hiểu thế nào,
Mở hàng trà đá, thuốc lào...cho vui
*
Nông nghiệp hỏi đến ngậm ngùi
"Số em chắc chỉ tiến lùi theo trâu"
Nhìn quanh, Thương mại đi đâu?
Hóa ra là đã nhảy tàu đi buôn.....
*
Ngoại ngữ vẻ mặt thoáng buồn
Đang ngồi viết sớ, kiêm luôn bói bài.
Báo chí buôn bán ve chai
Giao thông đi chở thuê ngoài Đồng Xuân.
*
Bách khoa cũng gặp đôi lần
Buôn đồ điện hỏng, kiếm cân dây đồng
Mỹ thuật thì đang chổng mông
Đục khắc bia mộ, cũng mong lên đời
*
Mỏ địa chất mới hỡi ôi
Sáng thồ hai sọt, chào mời mua than
Thuỷ sản công việc an nhàn
Sáng cân mớ cá, cuối làng ngồi rao...!
*
Hàng hải ngồi gác chân cao
Bao giờ trúng số mua tàu ra khơi
Bác sĩ, y tá có thời
Học xong về huyện được mời chích heo...

H.M.N

----------------

nguon: TTHN

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?895 <![CDATA[LƯU QUANG VŨ VÀ CÁI NHÌN CUỘC CHIẾN - Phạm Xuân nguyên]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 05 Jul 2016 09:48:31 +0000 http://trankytrung.com/read.php?895  

Nhà thơ, nhà viết kịch LƯU QUANG VŨ

Cuộc chiến Việt Nam trước năm 1975, đẩy cả dân tộc vào một cuộc chém giết kinh hoàng. Đau nhất, không phải ai cũng nhận ra điều đó. Cả hai bên tham chiến, đều nhân danh những lý tưởng "đẹp đẽ", " cao thượng"... để nổ súng. Lưu Quang Vũ, người sinh ra cùng thời với giai đoan này hơn nhiều nhà thơ ,nhà văn cùng tuổi về sự mẫm cảm, tinh tường, sớm hiểu bản chất thật của cuộc chiến nên anh sáng tác nhiều bài thơ,  những bài thơ đó không đứng về phía phi nhân bản.

Những bài thơ hiểu, thương, đau cho những giá trị nhân phẩm đang bị giả dối chà đạp.

 

Những bài thơ khao khát tình yêu đồng loại, đề cao giá trị con người, sống chân thật.

Những năm đó, không phải ai cũng hiểu thơ Lưu Quang Vũ. 

Với thời gian, thời gian càng lùi xa, thơ của Lưu Quang Vũ càng sáng, càng trong, càng đẹp

Đọc bài viết của nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên ta càng hiểu nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ hơn.

-------------------------------------

Những câu thơ âm thầm
Muốn nói hết sự thực
Về đất nước của mình

(L. Q. V)

Thơ phản kháng mà mềm như khóc
(Lê Xuân Đố)

Anh sinh năm 1948, và như mọi thanh niên thế hệ mình, anh nhập ngũ ở độ tuổi hai mươi, khi đất nước có chiến tranh. Thời Vũ nhập ngũ là giữa những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.
Thời đoạn 1968 – 1972 ở Việt Nam là gì? Là chiến tranh. Chiến tranh ở hồi bi kịch nhất và bi tráng nhất. Nhưng Vũ, như các chàng trai cùng thời, khi mới nhập ngũ là vào bộ đội - trường học lớn của cách mạng, là đi đánh Mỹ, là tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thơ của anh khi mới khoác bộ quân phục màu xanh lên mình là mang chở nhận thức và tình cảm chung của thời cuộc hồi đầu.

Công sự pháo
Phủ đầy ngụy trang xanh
Trong những chùm cây dại
Có vài cành bưởi cành chanh

Cả quê nhà 
Cùng ta chiến đấu
Từng viên đạn lắp vào nòng pháo
Bồi hồi nghe hưởng bưởi lá chanh

(Lá bưởi lá chanh, 1965)

Cám ơn thời gian cám ơn hôm nay
Người chiến đấu mang nụ cười đẹp nhất
Ngày ấy ta chưa thấy hết tầm đất nước
Ngày ấy ta chưa hiểu rõ lòng ta
Anh chưa biết yêu em như bây giờ

(Ngày ấy..., 1967)

Thơ Tố Hữu ngày ấy từng viết: “Hoan hô anh giải phóng quân! Kính chào anh con người đẹp nhất!”. 
Thời cuộc hồi sau khắc nghiệt hơn, tàn nhẫn hơn. Giai đoạn “vào bộ đội” chuyển nhanh sang giai đoạn “đi lính”. Người lính Lưu Quang Vũ trải đời quân ngũ và cuộc chiến đã thấy ra “Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều / Rách tan cả những làn sương đẹp phủ”. Không phải từ những bi kịch đời riêng của Vũ mà anh có cái nhìn sẽ bị coi là “u ám, đen tối” như vậy về đất nước, nhân dân. Đọc hết thơ anh thì thấy có một cái gì đấy từ thẳm sâu trong anh đã khiến anh sớm và nhanh nhìn cuộc đời ở phía “viển vông, cay đắng, u buồn”. Nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, một người bạn cùng thời Vũ, trong một bài viết có nhắc lại câu thơ như đã thất lạc của Vũ: “tuổi hai mươi khốn khổ của tôi ơi / tuổi tai ương dằng dặc trận mưa dài”. Cuộc chiến với sự chết chóc đổ vỡ của nó chỉ mài sắc và đào sâu thêm nhiều nữa, mạnh nữa cảm quan ấy trong anh và của anh. Từ đây, với Vũ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã là cuộc chiến tranh Việt Nam mà đối tượng bị tàn phá là đất nước Việt Nam và nạn nhân là con người Việt Nam. Lưu Quang Vũ đã đi lính và đã bỏ lính. Tôi không muốn nghĩ đó là một hành động đảo ngũ đơn giản. Tôi nghĩ đó là một thái độ phản chiến từ trong tâm thức. Đọc thơ anh thấy khẳng định điều này. Những bài thơ lạc thời cuộc chiến được viết ra để bày tỏ một cách nhìn, một thái độ, biết là không thể đăng được nhưng không thể nào không viết ra, chúng tập hợp thành một di cảo để khi đưa ra dưới ánh mặt trời phát lộ một điều là Lưu Quang Vũ đã thay đổi nhận thức và tình cảm của mình khi đi qua cuộc chiến. Đất nước nhân dân trở thành cảm hứng lớn của thơ Lưu Quang Vũ thời chiến, được anh trình bày dưới cái nhìn thời chiến đầy khắc khoải đau đớn, tuyệt vọng và bi quan. Điều quan trọng đáng nói ở đây là anh viết những điều đó ngay khi đang trong cuộc chiến, và ngay ở tuổi đời rất trẻ.
Anh gọi những người trẻ nối nhau ra trận là “những đứa trẻ buồn ướt lạnh”. Họ đi với tâm trạng “lòng chỉ muốn yêu thương / mà cứ phải suốt đời căm giận”, cho nên “giết xong quân giặc / chẳng thấy lòng thảnh thơi nhẹ nhõm / chỉ nỗi buồn trĩu nặng / dâng lên như đá trên mồ”. Và trong mắt những đứa trẻ buồn cầm vũ khí giết người ấy kẻ thù hiện ra thế này:

xác ngụy nằm ruồi muỗi bâu đầy
những đôi mắt bệch màu hoa dại
những gương mặt trẻ măng xanh tái
những bàn tay đen đủi chai dầy
các anh ơi, đừng trách chúng tôi
các bà mạ, tha thứ cho chúng tôi
chúng tôi chẳng thể làm khác được
quả đồi cháy như một phần quả đất
bao đời người ta đã giết nhau
với các anh tôi oán hận gì đâu
nhưng còn có cách nào khác được

Đó chính là nỗi buồn có thực đau buốt ngực Vũ. Và dù anh có nói theo truyền thông thời cuộc là phải bắn giết nhau thế để “con người được làm con người trở lại” thì thực chất anh đã hiểu khác: “nhưng mãi mãi chẳng bao giờ sống dậy / những tháng năm đã mất / những nhịp cầu gẫy gục / những toa tàu đã sụp đổ tan hoang”. Sau đổ máu, tất cả đã nhuốm máu.
Cùng thời gian Lưu Quang Vũ viết những câu thơ để trong sổ tay này, ở bên kia chiến tuyến có một người lính và một nhà thơ là Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, trong đó có những câu thơ đồng vọng tâm tưởng với Vũ: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước / Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi”. Cũng cùng thời gian này, Tố Hữu có tập thơ “Ra trận”: “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận / Có Đảng ta đây, có Bác Hồ”.
Từ Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh Việt Nam 1973 đến kết thúc chiến tranh Việt Nam 1975, thơ Lưu Quang Vũ vừa trần trụi hiện thực vừa mong manh dự cảm. “Hòa bình đến mong manh / Nhiều tin đồn mà chẳng có gì ăn”. Trong một bài thơ viết năm 1973 nhan đề “Nơi tận cùng”, Vũ viết:

Nơi tận cùng mọi con đường
Một chiếc mũ rách
Úp trên nấm mồ sỏi cát
Nơi tận cùng mọi con đường
Pho tượng đá cụt đầu đứng sững
Nơi tận cùng hoàng hôn
Trên vỏ chai trống rỗng

Trước đó, Vũ đã lập hồ sơ mùa hạ 1972, đã dựng một Guernica bằng thơ về Khâm Thiên dưới bom B52. Cái năm 1972 kinh hoàng, một mùa hè đỏ lửa. Bản hồ sơ ngày đó của anh đến hôm nay vẫn còn là một tài liệu lịch sử của tư tưởng và tâm hồn, không chỉ của một con người, một nhà thơ, mà còn của một thời đại, một giống nòi.

những siêu nhân vĩ đại
những tư tưởng lớn lao nghe đến kinh người
những thần tượng tiêu vong những đứa trẻ ra đời
bóng tối nắm tay nhau, tình yêu chưa hợp lại
thế giới lo âu đầy xấu xa phản bội
ngày càng ít những điều đáng để ta tôn trọng
nền văn minh lạ lùng của những trái bom
những đám mây gây mưa những mìn nổ từ trường
dân tộc mấy mươi năm giết và bị giết
mỗi phút sống của tôi đều có người đang chết

Anh sẽ nói lại những điều này trong phiên tòa anh muốn lập ra để xét xử những kẻ đã gây ra thảm họa Khâm Thiên 1972.

những kẻ nào đã gây ra tội ác 
những kẻ nào để tội ác gây ra
những chính khách những nhà thơ
những bộ óc chế súng bom hủy diệt
các tư tưởng cầm quyền các nước
lãnh tụ tối cao của mọi đảng trên đời
các ông kêu: vì hạnh phúc con người
nay con người chết đi
cái phúc ấy ai dùng được nữa!
chục chiếc B-52
không đổi được một trẻ nghèo Ngõ Chợ
không thể nhân danh bất-cứ-cái-gì
bắt máu vạn dân lành phải đổ

Tôi trích thơ nhiều. Nhưng không có gì hùng hồn và thuyết phục hơn những câu thơ Lưu Quang Vũ tự nói lên những suy tư nhà thơ đã nung nấu dằn vặt từ trong cuộc chiến, nói lên ở thời tuổi trẻ không còn là trẻ nữa khi đã cầm khẩu súng lên tay và bóp cò.
Tất cả nỗi đau đớn của anh cho dân tộc dồn lại trong hai tiếng gọi tên đất nước: Việt Nam! Âm hưởng tiếng gọi này trong thơ Vũ không phải ngợi ca mà là xót xa. Có phải câu thơ anh kết bài thơ “Tiếng Việt” nguyên là “Tiếng Việt ơi, tiếng Việt xót xa tình” chứ không phải “thiết tha tình”? Tố Hữu ngợi ca: “Ôi Việt Nam tổ quốc thương yêu / Trong khổ đau người đẹp hơn nhiều”. Chế Lan Viên ngợi ca: “Ta mọc dậy trước mắt nhìn nhân loại / Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng”. Lưu Quang Vũ thì xót xa: “Nước Việt thân yêu nước Việt của ta / sao người phải chịu nhiều đau đớn thế / thân quằn quại mọi tai ương rách xé”. Anh kêu lên “Việt Nam ơi” với cõi lòng rách nát khi thấy tổ quốc mình bị trở thành miếng mồi cho các thế lực xâu xé, băm vằm. “Tất cả sẽ ra sao / Mảnh đất nghèo máu ứa? / Người sẽ đi đến đâu / Hả Việt Nam khốn khổ? / Đến bao giờ bông lúa / Là tình yêu của Người?”. Những câu hỏi của anh không chỉ đặt ra trong cuộc chiến, khi chúng được đọc hôm nay. Bởi từ tháng 5. 1975 Lưu Quang Vũ đã tỉnh táo, rất tỉnh táo, giữa cơn nồng nàn cảm xúc chứng kiến cuộc chiến cuối cùng cũng đã chấm dứt, dự báo công việc thời hậu chiến: “Sắp tới là những ngày khó nhất”. Khó, vì sau đổ vỡ phải dựng xây, sau ngăn cách phải hàn gắn, và nhất là sau máu đổ không được để nhạt máu, “máu con người không phải thứ bán mua”.
Lưu Quang Vũ nhìn cuộc chiến như vậy là với tất cả tinh thần công dân và thi sĩ. Người công dân trong anh không cho anh lảng tránh sự thật đau thương của đất nước mình. Người thi sĩ trong anh không cho anh viết những câu thơ nhàn nhạt, dửng dưng trước nỗi đau của nhân dân mình. Thơ Vũ nồng nàn, có lúc là nồng nã, nhưng ở những bài thơ viết trực diện cuộc chiến giọng thơ anh đã nhiều khi nấc lên, uất nghẹn và uất hận. Anh có một tâm hồn nhạy cảm và dễ tổn thương, “anh muốn ác mà không sao ác được / cứ yêu thương chờ đợi ích gì không?”. Trong cuộc chiến, hơn một lần, anh thú nhận trong thơ mình bất lực không cách gì che chở, cứu đỡ được cho đất nước, nhân dân trước cơn đổ máu không biết để làm gì. Nhưng anh xác nhận tư cách nhà thơ của mình là người đập cửa, người đi mở những cánh cửa, cho con người đến với/đến bên con người, không hận thù chia cắt.
Người nổi gió. Người đập cửa. Người mở cửa. Đó chính là Lưu Quang Vũ. Sứ mệnh của nhà thơ anh đã xác định cho mình từ những ngày chiến tranh:

anh hãy đập vào ngực mình giục giã
hãy nổi gió cho cánh người rộng mở
và mai sau, sẽ có những nhà thơ
đứng trên tầng cao ta ao ước bây giờ
họ sẽ vẫn không ngừng đập cửa
không ngừng lo âu không ngừng phẫn nộ
bởi vô biên là khát vọng của con người

Hai mươi năm sau ngày anh mất ở tuổi bốn mươi, đọc những bài thơ anh viết tuổi hai mươi thấm đầy máu và lửa, tôi gọi Lưu Quang Vũ là nhà thơ nhân dân, nhà thơ yêu nước. Danh hiệu này không dễ gọi cho nhiều nhà thơ.

Hà Nội 15. 8. 2008

 

------------------------------------------

nguon - facebook : phamxuannguyen

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?894 <![CDATA[VONG LUẨN QUẨN - Thủy Ngân]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Mon, 04 Jul 2016 06:16:27 +0000 http://trankytrung.com/read.php?894  

Chẳng biết có đỗ không? Rồi ra trường có việc làm? ( Ảnh minh họa)

 

VÒNG LẨN QUẨN - MONG ƯỚC ĐỔI ĐỜI VỚI TẤM BẰNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM - Thủy Ngân

Cuộc sống vốn dĩ nhiều bất trắc, chẳng ai nói trước được ngày mai sẽ ra sao nhất là trong xã hội Việt Nam. Cho nên bổn phận những người làm cha mẹ đều mong muốn vun đắp cho con cái mình có một nền tảng vững chắc trong tương lai. Các nhà nông càng thấm thía hơn cái cực khổ, bấp bênh và bạc bẽo của nghề nông, mất mùa hay được mùa cũng khóc ròng bởi không có một chính sách nào để hỗ trợ giúp đỡ bà con nông dân phát triển lâu dài. Chính vì vậy mà cứ mỗi năm, các gia đình ở quê có điều kiện đều ráng sức cho con mình vào đại học, để mong sau này kiếm được công việc văn phòng, ở lại chốn thành thị văn minh, thoát được cảnh chân lấm tay bùn, một nắng hai sương, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, trăm bề đắng cay, khổ cực.

Mỗi dịp thi đại học, dòng người đổ về các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng mỗi năm một tăng. Vô hình chung tăng thêm sự quá tải cho các thành phố từ lâu đã chật chội, đông đúc. Đáng nói ở đây không chỉ có thí sinh mà còn có cả người nhà của thí sinh, có khi lên đến ba bốn người hộ tống một em thí sinh. Nhiều gia đình khó khăn phải cùng con lang thang vật vạ ngoài đường, ăn uống nghỉ ngơi cũng ở ngoài đường, sau khi thi xong dắt díu nhau về quê.

Như năm ngoái, sau những ngày thi cử căng thẳng, phụ huynh cùng thí sinh lại tiếp tục kẻ khóc người cười vì cái chương trình chấm điểm đổi mới tào lao của mấy ông trên bộ giáo dục. Công bố điểm thi hồi hộp như chơi chứng khoán. Những em có điểm thi cao, chắc chắn đậu thì tự nhiên rớt. Rồi quy trình nộp hồ sơ xét tuyển lại thông báo gấp rút, làm cho ai nấy nháo nhào ù té chạy cho kịp. Năm ngoái là năm bộ giáo dục tuyên bố thành công trong khi người nhà cùng thí sinh mếu máo. Tóm lại ở Việt Nam, người dân là những con rối trong tay các ông quan.

Năm nay chưa biết có thí điểm, đổi mới gì nữa không nhưng những ngày thi vừa qua cũng khiến cho nhiều gia đình mệt mỏi căng thẳng lắm. Tại sao chúng ta luôn luôn tự hào cái gì cũng xuất chúng ưu việt, mà cái kỳ thi vô lý này lại cố giữ, dù bao nhiêu bất cập, và đày đọa bao nhiêu gia đình khốn khổ?

Đã bắt người ta đóng tiền, không hỗ trợ cái gì hết thì tại sao không để cho con em học sinh có quyền lựa chọn? Như ở Mỹ, trẻ học xong trung học thích học gì thì ghi danh học. Người ta chỉ xét thành tích học tập ở lớp dưới thôi, không cần phải thi đậu vào. Còn những người đi định cư mới qua Mỹ, khi ghi danh học, cũng chỉ làm một bài kiểm tra xem trình độ tiếng Anh đến đâu để chuyên viên tư vấn xếp lớp cho phù hợp. Có bao giờ thấy cảnh “lều chõng lên kinh ứng thí” cực khổ như ở Việt Nam.

Chưa kể, cái kỳ vọng của phụ huynh vô tình tạo thêm áp lực không đáng có cho các em học sinh. Vốn đã bị áp lực quá tải bởi số lượng bài vở ở Việt Nam. Khiến cho các em luôn trong tình trạng lo sợ và đối phó, học tủ, học gạo, học để thi chứ không phải học để có kiến thức áp dụng cho cuộc sống.

Nhiều em lo lắng đến nỗi gần như phát điên, bởi chúng ta đã nhồi vào đầu các em “Đại học là cánh cửa duy nhất để thành công,” nếu rớt đại học, các em sẽ làm gia đình thất vọng, bạn bè cười chê, bản thân là kẻ thất bại… Rất nhiều em cho rằng rớt đại học coi như cuộc đời chấm hết, một suy nghĩ hết sức tiêu cực, nguy hiểm.

Trong khi có một thực tế, nhiều người tốt nghiệp đại học ở Việt Nam vẫn thất nghiệp, đi làm những công việc chân tay hoặc làm những công việc khác chuyên môn mình được học. Bởi vì có nhiều trường hợp tuy đã tốt nghiệp đại học nhưng kiến thức chuyên môn mù mờ, kinh nghiệm thực tế không có, không có khả năng để thích ứng với yêu cầu công việc.

Như cách đây vài năm, ngân hàng HSBC Việt Nam vì nhu cầu mở rộng kinh doanh phía Nam đã mở hội chợ việc làm với các vị trí ở khắp các phòng ban. Sau ba vòng tuyển lựa với mấy ngàn ứng viên cho vị trí nhân viên kinh doanh, cũng chỉ chọn được có hơn ba mươi người và phải trải qua khóa huấn luyện trước khi bắt đầu công việc chính thức.

Đúng như ông giám đốc nhà máy LG tại Hải phòng đã từng nhận xét :

“Chương trình giáo dục của Việt Nam không giúp được nhiều cho sinh viên sau khi ra trường.” Ông nói tiếp, “Sau chương trình đại học, sinh viên đa phần chỉ có kiến thức tổng quát, việc biến khối kiến thức ấy trở nên hữu dụng trong công việc lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.” Việc học đi đôi với hành là vấn đề nan giải tại Việt Nam.

Tuy tấm bằng đại học đã giúp cho không ít người thay đổi cuộc sống, nhưng cũng khiến không ít người lao đao. Nên thiết nghĩ, đó đâu phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công, đã có rất nhiều người vẫn có được thành tựu trong sự nghiệp đâu cần tấm bằng đại học. Bởi người xưa có câu “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh,” giỏi trong một ngành nghề hay một lĩnh vực nào đó cũng giúp ta có được thành công.

 

Kỳ thi đại học này cũng là minh chứng, phụ huynh học sinh cũng ăn mắm ăn cá nhưng nhà nước công bố cá chết do Formosa mà có ai quan tâm đâu, vì đang mắc lo dắt nhau đi thi đại học. Cá có chết, biển có chết thì vẫn phải cố thi đậu đại học. Một vòng lẩn quẩn không lối thoát!

 

--------------------------

 

nguon: Facebook :lehung

]]>
http://trankytrung.com/read.php?893 <![CDATA[CHÚNG NÓ HIỂU CẢ ĐẤY, SAO CÓ NGƯỜI LẠI ...SỢ!]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sun, 03 Jul 2016 11:48:56 +0000 http://trankytrung.com/read.php?893 Trên trang mạng Quân sự Trung Quốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với 4 lý do cốt tử, gần như chắc chắn Trung Quốc sẽ phải gánh chịu thất bại nếu gây chiến với Việt Nam.

 

Căng thẳng trên biển Hoa Đông giữa Trung Quốc với Nhật Bản hay trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc càng trở nên căng thẳng hơn nữa và kêu gọi gây chiến không chỉ bởi những quyết sách thâm hiểm từ các cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc, mà còn bởi một bộ phận người Trung Quốc thiếu hiểu biết, mang tư tưởng chủ nghĩa dân tộc cực đoan "Đại Hán" luôn cổ vũ cho những hành động mang tính chất ngang ngược vô đạo đối với các nước láng giềng.

Nhưng bên cạnh đó cũng những người Trung Quốc hiểu và biết rằng, nếu bây giờ Trung Quốc gây chiến với các nước láng giềng họ sẽ tự chuốc lấy họa.

Trên trang mạng Quân sự Trung Quốc (Military.china.com) ngày 3/7 có bài viết cho rằng với tình hình hiện tại Trung Quốc không thể gây chiến.

Theo đó lý do thứ nhất là sự lão luyện thiện chiến của quân đội Việt Nam. Bài viết cho rằng, không phải lãnh đạo Trung Quốc không dám gây chiến, nhưng với những hạn chế hiện tại của Trung Quốc, thi Trung Quốc không thể tiến hành gây ra một cuộc chiến tranh với bất kỳ quốc gia láng giềng nào.

Nếu Trung Quốc gây chiến với Việt Nam, Trung Quốc sẽ rơi vào cái bẫy, những bài học từ cuộc chiến với Việt Nam năm 1979 đã cho thấy sự hao tiền tốn của và sinh mạng như thế nào, chỉ riêng trong trận Lão Sơn, mỗi tuần Trung Quốc tiêu hao gần 200.000 quả đạn pháo, nhưng lại thiệt hại từ 4.000 đến 8.000 quân.

Quân đội Việt Nam sử dụng chiến thuật chiến tranh du kích rất lão luyện, họ sẽ đánh bại chúng ta bằng cuộc chiến tiêu hao từ từ cho đến khi chúng ta thất bại, chúng ta không thể khinh thường họ. Người Mỹ đã hết sức sai lầm khi tuyên bố "đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá" và Việt Nam đã đáp lại bằng câu nói rằng "chúng tôi đã bước vào thời kỳ đồ nhôm" (xác máy bay Mỹ)... Vì vậy Trung Quốc không thể chiến thắng bằng cách gây ra chiến tranh, bài học về các lực lượng không quân và hải quân bị tiêu diệt vẫn còn giá trị.

Thứ hai, đó là môi trường chính trị quốc tế, khi gây ra cuộc chiến tranh với Việt Nam, Trung Quốc đầu tiên sẽ phải đối mặt với sự lên án một cách gay gắt từ dư luận phương Tây và Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản.

Không những thế, gây chiến với Việt Nam sẽ làm cho Trung Quốc không còn chỗ đứng trên trường quốc tế, các nước trên thế giới sẽ lên án Trung Quốc vì sức mạnh truyền thông nằm trong tay các nước phương Tây, và trong cuộc chiến truyền thông thì Trung Quốc hoàn toàn bị động. Cuộc chiến sẽ làm cho Trung Quốc mất dần sức mạnh và suy yếu, các lực lượng thù địch Trung Quốc sẽ thừa cơ can thiệp vào trung Quốc.

Thứ ba, Trung Quốc phải đối mặt với vấn đề thù trong giặc ngoài. Trong khi chính trong nội bộ lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn tồn tại những vấn đề rất lớn thì bên ngoài Trung Quốc lại đang phải đối diện với một vòng vây chữ C của các nước.

Nếu Trung Quốc sử dụng những lực lượng tinh nhuệ nhất, hiện đại nhất để đối phó với Việt Nam thì ở những khu vực khác của Trung Quốc lực lượng sẽ yếu và mỏng đi, Trung Quốc sẽ đối mặt với điều cấm kỵ trong binh pháp đó là cùng một lúc phải đối mặt với hai mặt trận. Có thể dự đoán khi Trung Quốc khai chiến với Việt Nam thì Đài Loan sẽ tuyên bố độc lập ngay tức khắc, lúc đó Trung Quốc không thế nào chiến thắng được trên mặt trận Đài Loan vì Hoa Kỳ sẽ đứng sau hậu thuẫn.

Tiếp theo là Nhật Bản sẽ kiểm soát hoàn toàn quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, Trung Quốc sẽ đánh mất cơ hội kiểm soát Bắc Triều Tiên, Ấn Độ đánh chiếm khu vực tranh chấp và thôn tính miền Nam Tây Tạng...

Việc Trung Quốc không thể lấy bài học của Hoa Kỳ tại Lybia hay bài học của Nga tại Georgia bởi vì không chỉ là sức mạng quốc gia của họ mạnh hơn Trung Quốc mà với các cuộc chiến trên thì Nga và Mỹ họ đều có sự thuận lợi về yếu tố địa chính trị, họ không có những vấn đề lớn phức tạp với các nước láng giềng và sự ổn định cơ bản trong nội bộ đất nước, do đó họ không phải lo lắng từ áp lực của bên ngoài và nội bộ để có thể dành chiến thắng.

Và điểm cốt lõi quan trọng nhất trong cuộc chiến Iraq, Afghanistan bởi họ là những quốc gia sa mạc, Không quân Mỹ có thể dễ dàng oanh kích kẻ thù, trong khi đó Georgia vốn chỉ là một đồng bằng chỉ cách ba mươi sáu cây số từ Nga, vì vậy lực lượng cơ giới Nga có thể ngay lập tức cơ động đánh chiếm.

Hải quân đánh bộ Việt Nam diễn tập sẵn sàng chiến đấu.(Ảnh minh họa)

Nhưng với Việt Nam thì khác, những bài học trên không thể áp dụng được, Việt Nam được bao bọc bởi đồi và núi, Pháp, Hoa Kỳ và cả Trung Quốc đã phải nếm trải những thất bại đau đớn tại đây, một cuộc chiến với Việt Nam sẽ hết sức khó khăn, Việt Nam rất lão luyện trong chiến tranh du kích, do đó việc sử dụng tên lửa, máy bay chiến đấu là một sự ngu ngốc! Các đơn vị cơ giới sẽ bị chặn lại bởi các dãy núi, vì vậy chắc chắn chúng ta sẽ rơi vào một cuộc chiến tranh tiêu hao kéo dài, nó không phải là giữa những hy vọng của đối phương cho nó!

 

Hồ Trung Nghĩa

------------------------

nguon : Baomoi.com

]]>