<![CDATA[Trần Kỳ Trung]]> http://trankytrung.com/index.php vi http://trankytrung.com/read.php?900 <![CDATA[LẼ NÀO CHIẾN THẮNG CỦA CHÍNH CHÚNG TA MÀ CHÚNG TA KHÔNG ĐƯỢC HÒ REO? - Lưu Trọng Văn]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 12 Jul 2016 13:15:54 +0000 http://trankytrung.com/read.php?900  

Lẽ nào Chiến thắng của chính chúng ta mà chúng ta không hò reo?

Phán quyết của Toà Trọng tài quốc tế tại La Hay không chấp nhận Đường lưỡi bò của Trung Quốc và lên án Trung Quốc  vi phạm luật quốc tế ở Biển Đông là chiến thắng vĩ đại về pháp lí của Philippines trước kẻ xâm lăng trắng trợn và trâng tráo Đại Hán.
Người dân Philippines tung cờ hoa tụ hội, đổ ra đường hò reo ăn mừng chiến thắng.
Chính phủ Philippines ra tuyên bố về chiến thắng.
Gã chạnh lòng.
Chạnh lòng đến xót xa.
Những gì liên quan của Đường lưỡi bò khốn kiếp mà bè lũ Đại Hán  áp đặt ở Biển Đông  đối với Philippines không thể so sánh được với Việt Nam.
Những gì liên quan tới những bãi đá, bãi cạn chủ quyền của Philippines chỉ là con số nhỏ với  hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Rõ ràng phán quyết của Toà án Trọng tài ngày hôm nay đối với Việt Nam của gã phải là ngày hội vô cùng lớn vì công lí đã được xác lập trước hết cho Việt Nam.
Vậy mà không thấy Chính phủ ra tuyên bố ngoài một phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao.
Vậy mà  người dân Việt Nam không thấy tung cờ hoa đổ ra đường reo hò chiến thắng.
Gã nghĩ nếu có sự chấp thuận của Chính phủ thì chắc chắn hàng triệu người sẽ đổ ra đường ăn mừng chiến thắng pháp lí này vì dù muốn hay không nó đã đem lại tính chính danh cho cuộc đấu tranh bảo vệ non sông gấm vóc của dân tộc, dù muốn hay không nó đã đem lại niềm tin vào công lí cho cuộc chiến giành lại chủ quyền Biển Đông. dù muốn hay không nó đã và sẽ kết nói Tiếng nói của lương tri nhân loại trước những tham vọng bẩn thỉu của Trung Quốc.
Có sức mạnh của công lí cùng sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc chúng ta không sợ bất cứ kẻ xâm lược hung hăng, tàn bạo nào.
Và chỉ khi có sức mạnh ấy chúng ta mới thoát khỏi nỗi ô nhục khi ngư dân- đồng bào của chúng ta bị tàu Trung Quốc đánh chìm ngay trên vùng biển của tổ quốc chúng ta mà không bị trừng trị.
Chúng ta mới thoát khỏi nỗi căm giận “Ta thường tới bữa quên ăn” như cha ông ta thuở xưa khi bờ cõi của tổ tiên bị bọn xâm lăng coi là ao vườn nhà chúng.
Chạnh lòng.
Chua xót.
Nếu Chiến thắng của chính chúng ta mà chúng ta không được hò reo.
--------------------------
nguon: facebook: luutrongvan
]]>
http://trankytrung.com/read.php?20 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá - Tập II  phần III]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 17:06:44 +0000 http://trankytrung.com/read.php?20  Tập II
Trưởng Thành
Tập II - Phần 2
3
Vài hôm sau, sân đình làng bên, đoàn cải lương Hoa Ban về diễn vở kịch “HÙNG CA CỦA MỘT ANH HÙNG”, anh Cường nói với chị nuôi cho chúng tôi ăn cơm sớm để đi xem. Còn sung sướng nào bằng. Cả trại râm ran bàn tán. Về đây suốt mấy tháng nay, chúng tôi không được xem phim, không có đài công cộng để nghe thời sự và chương trình “Măng non đất nước” mà tôi rất thích. Cứ bảy giờ tối là ai về nhà nấy, trừ mấy đêm trăng còn đùa được, ngoài ra chỉ ngọn đèn dầu tù mù hắt một ánh sáng vàng vọt, buồn đến lạ. Hồi còn ở Sơn Hà, đôi ba lần, chúng tôi đến nhà hát nhân dân ngoài trời xem các đoàn kịch về biểu diễn. Thực tế, hồi ấy xem kịch chỉ là phụ, chúng tôi bày trò trêu mấy ông gác cổng, tìm cách “đột nhập” vào bên trong cứ như “đặc công”... Đến lúc phát hiện được, mấy người gác cổng đó đuổi theo chúng tôi làm náo loạn cả một góc sân, rất vui. Có khi quá vui, thậm chí vào bên trong rồi, chúng tôi lại đi ra, chui lại để trêu tức mấy ông gác cổng. Còn nếu đi cửa chính, chúng tôi bám vào mấy người lớn đi vào không mất tiền, để tiền mua mía, mua kem... Cứ thế, còn thiết gì đến xem?
Còn lần này... Tôi hỏi:
- Hạnh đi xem với bọn mình chứ?
Hạnh lắc đầu:
- Tớ chẳng đi đâu! Đi với các đằng ấy, các đằng ấy lại dọa ma như hôm nọ ấy à?
Tôi cười, trong thâm tâm lại trách cái trò đùa quái ác của thằng Oanh:
- Đấy là thằng Oanh đùa Hạnh và chị Liên chứ không phải mình. Mà nói thật nhé, đi xem phải có con trai đi cạnh, Hạnh mới không bị bắt nạt...
Hạnh thoáng suy nghĩ rồi cũng đồng ý đi với chúng tôi.
Tôi gửi thằng Minh đến nhà ông bà Mẹo rồi cùng chúng bạn đi xem. Đường đi cũng tương đối xa, phải đi qua một rặng nhãn và một bãi tha ma. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện trên đời để bớt sợ. Hạnh vẫn đi cạnh tôi, thỉnh thoảng Hạnh lại cười vì những câu chuyện vui mà tôi hoặc ai đó kể.
Khi chúng tôi đến sân đình, mọi người tập trung xem rất đông, khó tìm được chỗ chen chân. Tôi nắm tay Hạnh, cả hai tìm cách lách vào. Đang chen tìm chỗ như vậy, một người nắm tay tôi định lôi ra: “Đi đây thế này! Còn chỗ đâu mà vào?”. Mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, cả cái mùi... bùn của ai đó chưa rửa sạch, đặc quánh, bay thốc vào mũi. Tôi với Hạnh bị cái nóng hầm hập của hơi người làm ngột ngạt. Đã thế, lúc này, tôi và Hạnh hoàn toàn bị lạc với các bạn cùng đi. Hạnh cố dướn người nhìn lên phía sân khấu. Tôi cũng vậy. Cả hai chúng tôi chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy toàn... gáy với đầu người. Hạnh chán nản nói với tôi:
- Thắng ơi! Mình với bạn ra chỗ khác thôi, ở đây chẳng xem được!
Hai chúng tôi lại đi tìm chỗ khác. Ở đâu cũng thế, khó tìm được một vị trí tốt. May cho tôi và Hạnh, không hiểu sao, chỗ gần sân khấu, tự nhiên mọi người đứng dậy, nhốn nháo. Có tiếng người nào đó kêu lên: “Ối giời ôi! Đứa nào lại chơi cái trò quỷ này!”. Ai đó nghịch ngầm, lấy kim băng cài áo người nữ này với áo người nam kia. Có đến hai, ba đôi bị “dính”, mọi người phải đứng dậy gỡ kim. Tranh thủ lúc ấy còn chỗ trống, tôi kéo Hạnh đến ngồi sát sân khấu. Ở đây chúng tôi nhìn lên sân khấu tương đối rõ.
Trên sân khấu lúc này đang diễn tả một chiến sĩ cách mạng không may bị địch bắt, chúng đem anh ra xử tử. Đứng xung quanh anh là đông đảo quần chúng. Tôi nhìn thấy nét mặt của họ: đau khổ, uất hận, thương xót, căm thù... Chứ chả lẽ trước sự “hy sinh” của anh ấy, dù là trên sân khấu, lại... nhe răng ra cười? Tôi nghe thấy tiếng người diễn viên đóng vai thằng đội Pháp hô to: “Chuẩn bị! Bắn!”. Mấy người diễn viên đóng lính Pháp đứng cách “chiến sĩ cách mạng” độ ba mét giương súng lên. Một loạt tiếng súng nổ, người “chiến sĩ cách mạng” gục xuống. Không! Anh đứng thẳng dậy, giơ cánh tay bị xích ra trước mặt, ca liền một câu vọng cổ thật dài: “Không, không, chúng bay không bắn được ta, cũng không giết được ta, cái chết của ta sẽ là lời hiệu triệu chiến đấu, kêu gọi mọi người chống lại bè lũ xâm lăng, chống lại bè lũ tay sai thối nát. Các đồng chí ơi! Hãy coi cái chết của tôi là một lời nhắn nhủ mọi người đoàn kết, đồng tâm tiêu diệt kẻ thù cho đến ngày thắng lợi, cờ hồng tung bay trên khắp nước non. Cũng nhờ bà con nhắn vợ con tôi rằng, cho đến lúc chết tôi không có điều gì ân hận vì biết mình hy sinh cho sự tự do dân tộc, em hãy nuôi con khôn lớn tiếp bước con đường của... anh... đây...”. Tôi rất phục, phải nói hơi của anh diễn viên ấy dài thật. Anh đổ một câu dài như thế theo một làn điệu của ca cải lương dễ gần đến... mấy phút. Lúc này, lại một tràng súng nữa nổi lên. “Người chiến sĩ cách mạng” vẫn chưa chết. Anh hùng dũng ưỡn ngực tiến về phía “bọn lính” vừa “bắn” anh. “Bọn lính” vừa “bắn” anh hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Lúc đó, “người chiến sĩ cách mạng” mới ngã vào tay đồng bào. Mọi người nâng “xác” người “chiến sĩ cách mạng” lên cao, hô to: “Đả đảo quân khủng bố!”. Bên dưới người xem, xen lẫn tiếng vỗ tay có cả tiếng...cười.Tôi không biết họ cười vì cái gì...
Tôi với Hạnh mải xem thì tiếng kẻng báo động trên chòi gác ở ngọn cây gạo cạnh đấy gõ dồn dập, báo động có máy bay Mỹ. Đèn trên sân khấu tắt phụt. Tiếng loa nhắc nhở: “Đề nghị đồng bào đứng nguyên tại chỗ, không chạy lộn xộn làm lộ bí mật. Máy bay địch bay khỏi, chúng ta lại tiếp tục...”. Tiếng loa mới nhắc được có thế, một chiếc máy bay Mỹ, nó bay rất thấp lướt qua ngay trên đầu, tiếng rít đến rợn người như xé toác màng nhĩ, chẻ bóng đêm ra thành trăm mảnh. Xung quanh tôi, mọi người hoảng loạn thực sự, nháo nhào trong bóng đêm tìm chỗ núp. “Ầm”, cả tôi và Hạnh ngã bổ ngửa vì một bóng đen ngã đè lên mình. Người đó, không nhìn thấy mặt nhưng nghe miệng anh ta nói lắp bắp, ngay cạnh tôi:“ Chết mất... Lạy giời, máy bay ném bom vào chỗ khác, đừng ném trúng con...”. Tiếng máy bay Mỹ rợn óc đó xẹt qua rồi tất cả trở lại yên tĩnh. Tiếng kẻng báo yên trên cây gạo gõ lên, mọi người ai nấy về chỗ cũ để tiếp tục xem kịch. Đèn trên sân khấu bật sáng. Tôi ngỡ ngàng. Người lúc nãy nhảy ngã đè vào tôi và Hạnh không ai khác, chính là anh vừa đóng vai “chiến sĩ cách mạng” bị quân Pháp “xử tử”! Anh ấy nhìn tôi và Hạnh ngượng ngùng rồi trèo lên sân khấu, diễn lại đoạn kịch vừa rồi...
Tôi thấy không thích xem kịch như thế này nữa. Đang định nói với Hạnh, Hạnh lại kéo tay tôi:
- Ta về thôi Thắng ơi! Ở đây tớ sợ ăn bom lắm!
Đúng ý tôi. Cả tôi và Hạnh bỏ dở vở kịch, đi về. Thoát khỏi đám đông, thoát khỏi cả những mùi mồ hôi ngột ngạt, thoát cả cảnh phải nghếch cổ lên xem đến mỏi nhừ, ra đến đường trống, tôi với Hạnh thấy nhẹ cả người.
Trên cao, những ngôi sao lấp lánh, tỏa ánh sáng mờ mờ xuống mặt đất. Gió đồng nội thổi từng cơn, từng cơn mát dịu. Thích nhất là thỉnh thoảng, theo chiều gió, những sợi tóc dài của Hạnh lại bay vờn trước mặt tôi gây ra cảm giác buồn buồn, nhột nhột... Hai chúng tôi đi được một đoạn đường dài mà gần như không nói với nhau câu nào. Hạnh phá cái không khí im lặng đó, nói:
- Thắng kể với Hạnh chuyện gì đi chứ?
Tưởng trả lời thì dễ, thế mà tôi lại lúng túng:
- Hạnh bảo mình kể chuyện gì mới được chứ!
- Thì chuyện nào... Thắng cho là hay, kể đi!
Tôi bực mình vì trí nhớ của mình. Bao nhiêu chuyện anh Cường kể, thế mà giờ thì nó trốn tận ngóc ngách nào trong óc, không thể lôi ra được. Tôi đành thú nhận sự kém cỏi này của mình:
- Nói thật, mình chẳng có chuyện gì...
Hạnh cười:
- Sao Thắng lại nói thế, buồn cười thật đấy! Thế chẳng lẽ ở nhà Thắng chơi với em Minh lại không có chuyện gì nói sao?
Sự gợi ý của Hạnh thật tuyệt vời, chuyện gì chứ chuyện em Minh thì tôi có thể kể cả ngày không hết... tội của nó. Nào là cu cậu chuyên đi dép trái, đánh vào chân tưởng nó nhớ, thế mà một lúc, đi dép trái vẫn hoàn đi dép trái. Lại còn chuyện nó lấy nước đổ vào cái đài của các cô chú cơ quan mẹ, vì theo nó: “Người ta nói nhiều như thế là khát nước!”. Rồi còn chuyện nó lấy bàn chải đánh răng vạch mồm con chó nhà tôi để định đánh răng cho con chó, bị nó đớp cho một miếng... Hạnh nghe chuyện tôi kể, cười ngặt nghẽo rồi nói:
- Thắng kể chuyện em Minh gần giống chuyện Oanh kể chuyện đứa em con ông cậu nhà Oanh...
Tự nhiên tôi thấy tức thằng Oanh. Té ra, nó cũng đã đi chơi với Hạnh, thậm chí còn nói chuyện với Hạnh. Thế mà nó cứ leo lẻo:
- Con Hạnh... hôi nách bỏ mẹ, không thể ngồi gần được.
Thấy tôi tự nhiên im lặng, Hạnh ngạc nhiên:
- Thắng làm sao thế? Kể tiếp chuyện đi...
- Tớ không kể nữa. Mà chẳng có gì để kể nữa...
Hai chúng tôi lầm lũi bước đi, trong đầu tôi tự nhiên cứ ghen tức với thằng Oanh. Vì sao thế nhỉ? Tôi không lý giải được. Tôi cũng bực luôn với Hạnh. Như vậy, Hạnh đâu có chơi thân với tôi, đâu có coi tôi... coi tôi... là “bạn thân”. Thế thì... Tôi vượt lên đi trước Hạnh, không đi với Hạnh nữa. Hạnh thấy tôi đi nhanh quá, vội đuổi theo:
- Thắng ơi! Đợi Hạnh với, sao đi nhanh thế?
Hạnh đuổi sát theo tôi, cầm tay tôi, giữ lại:
- Mình chẳng hiểu thái độ của Thắng đấy! Đang nói chuyện vui như thế lại đùng đùng bỏ mình, đi lên trước...
Tôi vẫn không nguôi tức giận, toan giật tay để đi. Bỗng... Hạnh giật tay tôi, ra hiệu:
- Thắng nhìn kìa! Dưới gốc cây nhãn hình như... có người...
Tôi vội dừng lại, căng mắt ra nhìn. Đúng là dưới gốc cây nhãn to có người thật, không phải một người mà những... hai người. Họ làm cái trò gì thế nhỉ? Tôi ra hiệu cho Hạnh dừng lại để tôi bò đến. Hạnh lắc đầu:
- Đừng để mình ở đây, sợ lắm. Cho mình đi đến đó với!
Trước sự việc nghiêm trọng như thế này, tôi quên hết chuyện bực dọc, nói thì thầm:
- Không được, anh Cường chẳng nói, muốn bắt được kẻ thù phải bí mật, bất ngờ... Đi hai người, lộ mất. Hạnh cứ ngồi đây để mình mò đến xem chúng làm gì. Có gì, mình sẽ báo Hạnh sau.
Hạnh đành bằng lòng, ngồi thụp xuống. Tôi lò dò bò đến, cố làm thật nhẹ nhàng, không đánh động. Hai bóng đen dưới gốc cây nhãn hình như không biết, vẫn say sưa... ôm nhau. Tôi đã nghe tiếng họ thở, rồi cả tiếng người nói:
- Đừng... Đừng... Cường... Đừng... Liên xin Cường đấy... Liên xin Cường...
Tôi choáng váng. Tưởng ai, té ra anh Cường với chị Liên. Tôi vội quay đầu, chẳng hiểu vì sao lại chạy. Vấp phải hòn đất to, tôi ngã sấp nhưng vẫn còn tỉnh táo ngồi ngay dậy, kéo Hạnh phóng đi. Nghe thấy tiếng động, anh Cường với chị Liên buông ngay ra. Hình như hai người cũng bỏ chạy thì phải, nhưng ở hướng ngược với chúng tôi. Đến một chỗ dừng lại thở, Hạnh hỏi:
- Họ làm gì thế? Mà sao Thắng lại chạy?
Tôi không nói, vì còn phải thở. Tự nhiên Hạnh nhìn ra phía sau tôi kêu lên, sợ hãi:
- Thắng ơi, nhìn kìa, có phải ma không?
Theo hướng Hạnh chỉ rõ ràng tôi thấy có ba, bốn đốm lửa xanh lè bay lơ lửng giữa đám đất gần mấy cái mả. Hình như... nó đang nhằm hướng của tôi và Hạnh bay tới. Hết ngạc nhiên này lại đến nỗi sợ hãi khác. Quá hoảng hốt, tôi cầm tay Hạnh, hét tướng lên:
- Chạy!







Anh Cường có lệnh phải về ngay Ủy ban để khám nghĩa vụ quân sự. Đích thân anh Khanh xuống tận trại trao quyết định triệu tập anh Cường về khám nghĩa vụ quân sự. Anh Khanh nhìn anh Cường với ánh mắt đắc thắng.
- Đồng chí nhớ ngày, giờ trong giấy triệu tập này mà tập trung đúng giờ, không được viện bất cứ lý do gì để ở nhà. Không chấp hành giấy triệu tập này là chúng tôi sẽ kỷ luật nặng.
Anh Cường cầm giấy triệu tập, nét mặt bình tĩnh, nói một cách từ tốn:
- Anh yên tâm đi, tôi sẽ về khám nghĩa vụ đúng theo yêu cầu của giấy triệu tập này.
Anh Khanh còn làm một việc nữa, tôi không thể chấp nhận. Anh gọi tôi ra một chỗ hỏi nhỏ:
- Dạo này em có thấy anh Cường với chị Liên còn quan hệ thân thiết với nhau không?
Tôi bực mình:
- Chuyện đó thì anh đi hỏi hai người ấy chứ sao lại hỏi em?
- Là vì anh thấy chị Liên có vẻ thân với em.
- Chị Liên thân với em nhưng còn chuyện hai người quan hệ như thế nào, làm sao em biết được?
Anh Khanh có vẻ bực với tôi nhưng chẳng làm gì được vì tôi ở đây còn anh ấy ở Sơn Hà, không thể bắt tôi đi canh “gián điệp” như dạo nào.
Trước khi về lại Sơn Hà khám sức khỏe, anh Cường giao nhiệm vụ cho tôi và Hạnh:
- Hai em ở lại, quản lý trại giúp anh một thời gian. Tí nữa, Hạnh sang anh sẽ bàn giao sổ sách, tem phiếu, tiền... Các em bàn với chị nuôi, cố gắng chi tiêu thật tiết kiệm, nhưng cố gắng có đủ chất cho các bạn trong trại. Còn Thắng, em phải thay anh quản lý giờ giấc học hành, nghỉ ngơi, phải giữ bằng được nội quy của trại. Nhất là với Oanh, em là bạn thân của nó, nên khuyên bảo Oanh không nên nghịch những trò như vừa rồi, không hay...
Tôi ngạc nhiên:
- Chị Liên không ở lại với bọn em sao?
Anh Cường trả lời, giọng nhỏ hẳn lại:
- Chị ấy sẽ đi với anh về Sơn Hà rồi sẽ quay về đây với các em...
Tôi lờ mờ hiểu trong đầu việc chị ấy phải đi với anh Cường. Trong tôi lại hiện lên hình ảnh bố chia tay với mẹ đêm ấy, trước khi ông đi B, có nước mắt, có đầy nỗi buồn... và có cả nỗi sợ hãi không thể nói ra bằng lời.
Anh Cường hỏi tôi:
- Thế Thắng có thích anh đi bộ đội không?
Đi bộ đội đánh nhau ai chẳng thích, nhưng với điều kiện... mình không được chết như trong phim chiến đấu của Trung Quốc hồi ở Sơn Hà tôi hay xem ấy. Nghe tôi nói vậy, anh Cường lắc đầu:
- Làm gì có chuyện đó hả em? Đã đánh nhau là có người chết, người sống chứ!
Tôi, Hạnh và các bạn trong trại tiễn anh Cường về Sơn Hà trong tâm trạng thật buồn. Tôi biết chắc, họ gọi anh Cường về khám sức khỏe cho nó có hình thức thế thôi, chứ nhìn vóc dáng, chiều cao của anh và cả tác phong nhanh nhẹn của anh ấy nữa thì chắc chắn anh Cường sẽ đi bộ đội, cần gì phải khám. Thế là anh Cường phải bỏ học giữa chừng. Tôi tiếc cho anh. Anh Cường học giỏi toàn diện. Tôi có cảm giác không điều gì là anh không làm được. Đứa nào không giải được bài toán khó, lại đến anh. Anh Cường có lối diễn giải gọn, súc tích, dễ hiểu. Anh Cường còn học giỏi các môn xã hội. Cứ chiều chủ nhật, anh và chị Liên hay dẫn chúng tôi đi cắm trại ở ngoài trời. Anh giải thích cho chúng tôi về hiện tượng tự nhiên, những sự tích đền chùa gặp trên đường đi. Những buổi đi chơi như thế không bao giờ chán cả, ngược lại, chúng tôi còn thu được bao nhiêu điều bổ ích...
Chị Liên đi bên anh Cường, nét mặt trĩu nặng âu lo. Tôi nghe chị nói nhỏ điều gì đó, anh Cường lắc đầu: “Không được Liên ạ! Nếu khám đủ sức khỏe thì Cường phải đi thôi. Chẳng có cách gì qua mặt được họ đâu. Còn... như cách Liên nói, lại càng không được. Trốn ở đâu họ cũng có thể bắt được...”. Anh Cường thở dài: “Có người nói đi bộ đội chưa chắc đã bị bắn, bắn chưa chắc đã bị thương, bị thương chưa chắc đã chết...”. Nghe anh Cường nói vậy, chị Liên đấm nhẹ vào vai anh ấy:
- Liên cấm Cường nói gở. Chưa đi bộ đội mà nói đến từ “chết”, Liên nghe sờ sợ thế nào ấy...
Anh Cường, chị Liên đi rồi. Biết là anh, chị đi một thời gian ngắn rồi lại về, đợi giấy gọi nhập ngũ, thế mà tôi thấy nhiều nỗi lo. Thằng Oanh khoái ra mặt. Gặp tôi, nó tự nhận một việc mà chính tôi đang phân vân chưa biết phân công cho ai làm:
- Mày cho tao làm thủ kho, phân phối thực phẩm cho các chị nuôi nấu ăn đi...
Thấy ánh mắt ngạc nhiên của tôi, nó thuyết phục:
- Mày chưa tin tao chứ gì? Xin lỗi, hồi ở nhà, mẹ tao giao cho tao tem phiếu, tiền ăn cả tháng của cả nhà, thế mà có tháng, tao chi tiêu còn thừa tiền đấy. Mẹ tao bảo: “Thằng Oanh khá thật, lớn lên con của mẹ sẽ làm kế toán”.
Không biết nó nói thật hay nói láo nhưng đang thiếu người làm thủ kho mà có người tình nguyện nhận thì tốt quá còn gì. Tôi đồng ý cho Oanh nhận việc đó. Tôi chỉ dặn:
- Mày cứ căn cứ số lượng người ăn trong trại mà phân phối lượng thực phẩm trong ngày cho chị nuôi nấu ăn. Thừa thì không sao, còn thiếu thì mày hoàn toàn chịu trách nhiệm, bỏ túi tiền ra mà đền...
Oanh xoa xoa tay ra chiều hoan hỉ:
- Yên tâm đi, Oanh này phân phối thực phẩm thì cứ gọi là... ăn từ “tươi” đến “tươi”, từ “bổ” đến “bổ”, từ “khoái” đến “khoái”...
- Thôi đi! Đừng có bốc phét. Chưa làm mà nói, tao sợ bước không qua.
Tôi cũng phải giả vờ lên giọng người phụ trách quát vào mặt nó. Thằng Oanh không hề giận, còn cúi người bắt tay tôi một cách thành kính:
- Dạ... dạ... “Binh nhất” xin nghe lời “ Đại úy”! – Chắc nó lại nghĩ đến “chức vụ” mà anh Cường phong cho chúng tôi khi... đánh trận giả xưa kia.
Biết chuyện tôi phân công Oanh làm thủ kho, Hạnh có vẻ không bằng lòng:
- Thắng đã nghĩ kỹ chưa mà phân công Oanh làm việc này. Tính Oanh liều lắm, hết gạo, hết mì, hết cả thực phẩm là khổ cho chúng mình đấy.
Tôi trấn an:
- Thắng cũng biết thế, nhưng Oanh hứa rồi. Mình tin nó sẽ làm tốt. Với lại, có gì còn mình với các bạn cùng kiểm tra nữa mà.
Mấy ngày đầu, quả thật thức ăn có vẻ tươi hẳn lên. Ai cũng nhận thấy rau xào nhiều hẳn mỡ, bóng nhẫy. Cơm đã có tóp mỡ kho với dưa, điều chưa từng thấy ở trại này kể từ hồi đi sơ tán đến giờ. Lại nữa, buổi sáng những nắm mì ăn sáng có vẻ to hơn. Mấy chị nuôi nấu ăn có vẻ vui vì đồ ăn không phải đắn đo khi chia từng suất, cũng không phải khổ vì cái cảnh cuối bữa ăn mấy đứa tranh nhau miếng cơm cháy. Một chị khen thằng Oanh: “Trông cậu Oanh nghịch như thế nhưng cũng giỏi ra trò. Thực phẩm cậu ấy quản lý hôm nào chia cho chúng tôi cũng nhiều, nấu ăn đỡ vất vả”. Mấy đứa ở trại sau bữa ăn bắt tay Oanh có vẻ trịnh trọng:
- Mày làm khá lắm, hơn hẳn chị Liên làm...
Mũi thằng Oanh phập phồng. Thằng Phiến vốn chẳng ưa gì thằng Oanh, mấy bữa được ăn no, có lẽ phởn chí mà hứa với tôi cùng thằng Oanh:
- Tối nay mày có đi tắm ở giếng làng, tao thưởng cho mày với thằng Oanh tắm xà phòng Hoa Lan.
Ở nơi chúng tôi sơ tán, có cái giếng làng to bằng cái miệng ao, xung quanh người ta xây bờ thành bằng đá ong, có bậc lên xuống. Nếu đến đó lấy nước, thay việc thả gầu múc nước thì người dân ở đây họ cứ gánh cả đôi thùng trên vai, đi theo bậc lên xuống, cho chân xuống khỏa nước, rồi vục đôi thùng nước, gánh nước lên. Cũng không giải thích được, giếng xây bên cạnh, dù nước có trong veo, uống nước cũng không ngon bằng giếng làng. Có lần, tôi đã chứng kiến một chị vừa đi làm đồng về, chân còn dính phân chuồng, dính cả bùn nữa, chị chẳng thèm rửa, cứ thế lội xuống giếng múc nước gánh về nấu ăn. Thế mà cơm ăn vẫn cứ ngon như thường, chẳng thấy ai bị đau bụng, kể cũng lạ. Lại nữa, nước ở giếng làng cũng mát hơn vì không phải một lần chúng tôi tắm ở đó...
Tất nhiên vì là giếng nước ăn, dân làng cấm tiệt tắm rửa cạnh giếng, còn vùng vẫy trong giếng thì lại càng nghiêm cấm. Nhưng với chúng tôi, nước mát thì phải vùng vẫy trong đó mới thích. Đã đôi lần, vào những đêm hè, lợi dụng lúc vắng người gánh nước, chúng tôi nhảy tùm xuống, ướt hết quần áo, khoái vô cùng. Còn lần này, thằng Phiến cho xà phòng Hoa Lan thì nhất định phải tắm một trận cho đã.
Buổi tối, khi mọi người đi gánh nước ở giếng làng đã vãn, thằng Oanh đến gọi tôi;
- Mày với tao đến rủ thằng Phiến ra giếng làng tắm, nó hứa cho xà phòng Hoa Lan lúc trưa, nhớ không?
Tất nhiên tôi quên thế nào được. Tôi với Oanh đến gặp Phiến. Phiến biết mình bị hớ khi hứa với chúng tôi là cho xà phòng Hoa Lan. Nó vốn là thằng “đại kiết lỵ”, chưa ai lấy được của nó một xu, thế mà lần này phải cho chúng tôi bôi lên đầu xà phòng Hoa Lan, một loại xà phòng mà trước đây tôi và Oanh chỉ mới sờ với ngửi chứ chưa bao giờ được bôi, chắc cu cậu cũng tiếc lắm. Nhưng biết thế nào được, vì đã hứa rồi. Thằng Phiến vào đầu giường mở hòm sắt ra, lấy bánh xà phòng Hoa Lan được bọc kỹ càng bằng mấy lớp giấy báo. Nhìn trước nhìn sau thấy không có ai, Phiến lấy nước bọt nhổ vào lòng bàn tay rồi nó xoa lên đầu từng thằng một. Tiếp đến, nó lấy miếng xà phòng xát mạnh lên đầu từng đứa. Sau đó, nó lấy giấy báo gói lại miếng xà phòng, cất vào hòm sắt. Nó giải thích:
- Phải tiết kiệm, chúng mày biết không? Mang bánh xà phòng này ra giếng, bọn trong trại biết, chúng nó ùa ra xin tao để bôi lên đầu thì... chỉ một lúc là hết. Tao dùng miếng xà phòng này gần hai tháng rồi đấy, mà gần như... còn nguyên.
Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao mấy lần trước cùng tắm với Phiến, quái lạ, rõ ràng thấy nó đổ nước lên vò đầu, mùi xà phòng bay ra thơm lừng mà để ý thì không thấy Phiến mang xà phòng. Xin Phiến, Phiến trả lời không có! Cả bọn đi tìm, không thấy. Bây giờ tôi mới hiểu cái kiểu bôi xà phòng của thằng Phiến “kiết lỵ” này. Chả trách thằng Oanh ghét nó cũng... đúng thôi!
Cả bọn ra giếng làng. Trăng cuối mùa chênh chếch đầu ngọn tre. Tiết cuối hè, đầu thu, trời lành lạnh. Trong làng, mọi vật yên tĩnh, thỉnh thoảng đâu đó có tiếng chó sủa khan, không gay gắt... Giờ này, bọn tôi yên tâm không có ai ra gánh nước, và thế là...
Đầu tiên, thằng Oanh cởi quần áo, tồng ngồng lội xuống trước. Sau đó đến tôi và thằng Phiến. Nghĩ thế nào, thằng Phiến trèo lên lấy đống áo quần của cả bọn bỏ xuống cạnh chỗ tắm. Nó giải thích: “Không tin được bọn ở đây đâu. Biết đâu thấy bọn mình tắm như thế này, chúng lên đến lấy hết quần áo, thì chỉ có nước... cởi truồng mà đi về”. Thằng này lúc nào cũng chi li từng tí một. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ, thì nó nói cũng có lý, cẩn thận chẳng bao giờ thừa cả.
Chúng tôi đứng trên bậc đá ong, khỏa nước cho đám bèo tây dạt ra. Ánh trăng rọi xuống nước sóng sánh, mát lạnh. Chúng tôi vốc nước lên đầu rồi lấy tay vò tóc, mùi xà phòng bay ra, bọt xà phòng nở ra, một lúc đã thấy trắng cả đầu. Thế này thì đầu của bọn tôi cứ gọi là... sạch nhất trại. Thằng Oanh nói với tôi:
- Tắm vừa thôi, để còn... mùi xà phòng, chứng tỏ là mình là người “ Văn minh”.
Tôi cười:
- Mày nói thế mà cũng gọi là thằng biết tắm xà phòng. Mày nghe tao giải thích đây này. Trên người còn mùi xà phòng tức là mày tắm chưa sạch, còn bẩn, không “ Văn minh”. Hiểu chưa “con”?
Oanh vẫn không chịu:
- Mày nói thế mà cũng nghe được à? Mùi xà phòng là mùi tinh dầu, họ dùng để cho xà phòng thơm chứ đâu phải hết mùi đó mới gọi là tắm sạch?Mày nói...ngu bỏ mẹ!
- Mày ngu thì có!
- Mày ngu.
Chỉ có thế thôi mà hai đứa chúng tôi cãi nhau. Thằng Phiến đứng cạnh, kệ chúng tôi cãi nhau, vẫn mải tắm. Còn hai chúng tôi vẫn hăng tiết “mày ngu”, “tao khôn”. Bỗng... cả hai thằng, tôi và Oanh đều ngưng lại cuộc cãi nhau bởi... có tiếng một bà già:
- Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Phiến sợ quá, nói run run:
- Chết rồi chúng mày ơi! Có người!
Làm sao bây giờ khi cả ba chúng tôi đều đang ở cái thế lên bờ là lộ. Trên bờ, giọng bà già càng gay gắt:
- Quái lạ, tại sao tôi hỏi không ai trả lời thế? Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Oanh ra hiệu cho chúng tôi không được nói, nó nói nhỏ:
- Chúng mày phải nghe lời tao, làm đúng như tao chỉ mới thoát được. Chứ để bà ấy hô hoán, mọi người kéo ra đây là chúng mình chết.
Oanh lấy bèo tây phủ lên đầu cả ba thằng, rễ bèo tây trùm kín mặt, trông cứ như... ma. Thế là “của thiên lại trả địa”, cái đầu vừa đấy sạch bong, thơm lừng mùi xà phòng Hoa Lan, bây giờ lại... tanh om mùi bèo tây. Phủ bèo lên đầu xong, thằng Oanh lấy đống quần áo, bắt thằng Phiến ôm trước ngực. Oanh ra hiệu cho tôi cùng nó khiêng thằng Phiến lên. Phía bên trên, tiếng bà già lẩm bẩm:
- Vừa mới nghe thấy ì oạp ở phía dưới như hai người nói chuyện, giờ sao lại im ắng thế - Tiếng bà già lại vọng xuống – Có ai ở dưới đấy không nhẩy?
Tất cả vẫn im lặng. Bà già xách một cái thùng tôn định lò dò bước xuống thì trước mặt bà một “con ma” đi bốn chân, có ba đầu, tóc tai rũ rượi, cởi truồng nồng nỗng từ dưới giếng bước lên. Cứ nhằm phía bà già, “con ma” thẳng tiến. Bà già quá sợ, ú ớ không thốt nên lời, hoảng hồn ngã lăn ra đất. Rồi bà ngồi bật ngay dậy, quỳ xuống lạy “con ma” như tế sao:
- Lạy thánh Cầu Đông, lạy ông Cầu Gõ, lạy mõ Chùa Hà, lạy bà Đồng Đậu, lạy cậu Vân Gia, phù hộ cho con, ma đừng có bắt, ơn trên độ trì, nam mô di đà...
Thằng Oanh với tôi đang khiêng thằng Phiến, thấy bà già lạy như vậy, buồn cười quá mà cố mím môi, không dám cười. Đi qua bà già một đoạn, tôi và Oanh thả oạch thằng Phiến xuống đất. Phiến la oai oái. Tôi với Oanh mặc kệ nó, ù té chạy...
Thoát nạn, cả bọn hoàn hồn.
... Mấy ngày sau, bữa ăn của chúng tôi, hôm thì có cá rô rán, hôm thì có ốc om chuối, hôm lại có cá diếc kho tương... Chuyện này cả trại chưa bao giờ nghĩ tới. Phải nói sự thông minh của thằng Oanh “phát tiết” dữ thật. Sau chuyện “sáng kiến” giả ma ở giếng làng, đến chính thằng Phiến cũng phải nói:
- Tao nghĩ lại chuyện đó cũng thấy sợ toát mồ hôi hột huống hồ bà già. Không có thằng Oanh nghĩ ra chuyện đó, chẳng biết làm thế nào để thoát.
Bây giớ đến chuyện Oanh lo thực phẩm cho cả trại. Tôi và Hạnh rất ngạc nhiên Oanh lấy đâu ra tiền mà mua lắm thứ thế? Hỏi nó, nó cứ ầm ừ cho qua chuyện:
- Chuyện vặt, chúng mày để ý làm gì? Cứ có cá kho tương, ốc om chuối... ăn được nhiều cơm là được rồi – Nó còn lên giọng ông kễnh – Đừng tò mò nhiều quá, tò mò là không tốt đâu.
- Mày đừng có đi ăn cắp đấy nhé! Chỉ một lần thôi đấy, lần này mà tái phạm, anh Cường và chị Liên về biết được là không tha đâu.
Oanh lấy tay chỉ vào mặt mình;
- Đừng “bỉ” tao nhá! Tao hiểu vấn đề chứ, dại gì làm chuyện đó? Tao chỉ muốn chứng minh một điều là bọn mình lớn cả rồi, có thể lo được mọi chuyện thế thôi.
Nó nói thì đơn giản, nhưng chúng tôi muốn tìm ra sự thật. Nước da nó mấy hôm nay trông có vẻ đen hơn, lại còn chuyện nghỉ học vì lý do “mệt”. Thực ra nó có mệt gì đâu. Tôi truy mãi, rồi Oanh cũng phải thú nhận:
- Tao nghĩ rồi, đến hai ba tháng nay, cả trại chúng mình có bao giờ được ăn bữa cơm no, được ăn bữa rau xào nào có tóp mỡ. Tranh thủ chị Liên, anh Cường đi vắng, tao cho cả trại ăn thả dàn vài bữa. Còn sau đó, mày biết tao làm thế nào không? Tao lấy lý do “mệt” nghỉ học rồi đi tát cá. Còn nữa, giữa trưa, tao nghĩ ra cách mang rổ đến mấy đám bèo tây trong mấy cái ao, hứng ở dưới, lấy gậy đập ở trên. Nước nóng, lũ cua đang bám vào rễ bèo rơi vào rổ. Đấy, chăm chỉ một tí cả trại có cái ăn thôi.
Nghe Oanh nói, chúng tôi rất thương nó. Thì ra trong con người của nó vẫn ẩn chứa những tình thương đồng loại mà trước đây tôi không phát hiện ra. Tính cách của thằng Oanh cũng có mặt xấu, nhưng cũng có mặt tốt. Nó không phải là một đứa chỉ nghĩ ra những trò nghịch ngợm hay ăn cắp vặt. Nếu biết động viên, tin tưởng Oanh, Oanh sẽ làm được nhiều việc tốt. Tuy thế tôi lại nghĩ, Oanh có thể làm một, hai ngày thì được, chứ làm sao như vậy cả tuần. Tôi nói với nó:
- Tất nhiên việc mày làm là tốt, nhưng một mình mày làm sẽ ảnh hưởng đến việc học và sức khỏe của mày, rồi chúng tao lại mang tiếng là ăn bám vào mày. Thế này nhé, từ giờ trở đi, đi tát cá hoặc vớt cua bám bèo, mày gọi chúng tao đi cùng, cùng làm với mày, hay hơn...
Từ hôm đó, bà con trong xóm không khỏi ngạc nhiên thấy đám trẻ thành phố về sơ tán cứ trưa trưa lại cắp rổ đến các ao bèo giũ cua bám rễ bèo hoặc chiều chiều lại ra mấy chỗ ruộng xâm xấp nước tát cá. Họ thán phục;
- Con trai thành phố mà chăm không khác mấy đứa trẻ ở nông thôn.
Chúng tôi vui với lời khen đó, mà vui nhất là thằng Oanh.






4

Anh Cường đi bộ đội đã được hai tháng. Nghe đâu ânh cùng đơn vị huấn luyện ở tận Hải Dương, chuẩn bị vào chiến trường ở miền nam. Mới đó tôi và mẹ tiễn bố vào chiến trường cũng hơn hai năm rồi. Bố vào chiến trường, nói sẽ gửi thư ra, mà gia đình tôi cũng chẳng thấy tin tức gì? Em Minh thỉnh thoảng lại nhớ bố, nó hay hỏi mẹ:“ Mẹ ơi! Bố đi bao giờ về ? Con nhớ bố lắm.”. Mẹ ôm thằng Minh vào lòng, nước mắt chảy dài. Thương nhất có lúc mẹ nói: “ Lạy giời! Bố của hai con đừng chết, về với gia đình mình, có que, cụt, mù mắt... khổ mấy mẹ cũng nuôi được.”. Với chị Liên, từ ngày anh Cường lên đường đi bộ đội, nét mặt của chị trông ưu tư hẳn. Chúng tôi không còn nghe thấy tiếng cười hồn nhiên vô tư của chị như hồi anh Cường còn ở nhà. Không phải chỉ riêng tôi mà tất cả bọn trẻ của trại sơ tán Liên Cơ đều biết chị Liên và anh Cường chơi thân với nhau. Mọi việc ở trại hai người đều trao đổi với nhau, đi đâu cũng có hai người. Tôi còn có cảm giác hai người yêu nhau nữa kia. Không phải vì chuyện tôi và Hạnh bắt gặp hai người hôm đi xem cải lương về mà tình cảm của chị Liên dành cho anh Cường khác với mọi người. Khi anh Cường đi khám nghĩa vụ quân sự, chị Liên đi cùng anh ấy về Sơn Hà trong tâm trạng thấp thỏm. Những ngày chờ quyết định của thị đội, nét mặt chị Liên rất buồn, anh Cường cứ phải động viên suốt. Rồi đến ngày anh Cường lên đường, đó là ngày nặng nề của chị. Trông nét mặt chị Liên già hẳn. Anh Cường nhập ngũ, mọi việc ở trại dồn lên hai vai chị. Trừ những buổi đi học, thời gian còn lại chị Liên lo cho chúng tôi , từ chuyện đi mua gạo, thực phẩm đến chuyện học hành, ốm đau...của từng đứa. Thương chị, tôi và Hạnh cũng cố giúp chị. Thằng Oanh cũng bớt nghịch, nó hiểu mọi việc hơn, có ý thức những việc làm của mình.
Còn chuyện tôi với Hạnh.
Không hiểu sao, lúc nào tôi cũng muốn giúp Hạnh, để hai đứa được gần nhau. Hôm tôi thấy Hạnh chuẩn bị rổ rá đi vớt bèo cho lợn hộ bà chủ nhà, tôi vội sốt sắng bỏ tất cả để cùng đi với Hạnh. Hạnh rất ngạc nhiên:
- Sao Thắng không ở nhà học bài? Đi nhặt bèo với Hạnh bẩn lắm.
- Thắng học bài xong rồi! Để Thắng giúp Hạnh nhặt bèo cho nhanh – Tôi chỉ trả lời có vậy, rồi sợ Hạnh không đồng ý, tôi giằng lấy cái rổ trên tay Hạnh, kéo Hạnh cùng đi với mình. Cái ruộng bèo cạnh rìa làng cạn nước, bèo nằm phơi trên mặt bùn. Chân tôi và chân của Hạnh lồi bì bõm. Có chỗ bùn nhão, lún đến tận trên bắp chân. Đưa tay cho Hạnh nắm, tôi cố sức kéo Hạnh lên. Quá đà, chỉ một chút nữa là Hạnh ngã cả người vào người của tôi. Chỉ có thế thôi, mà sao tôi có cảm giác vui vui. Mặt trời lên cao, rổ bèo cũng gần đầy, mồ hôi hai đứa nhễ nhại, không biết lúc đó nét mặt của tôi ra sao ? Còn Hạnh, một khuôn mặt đỏ hồng với ánh mắt long lanh. Tôi nhìn Hạnh chăm chú, Hạnh có vẻ ngượng:
- Thắng đừng nhìn Hạnh như thế nữa, trông chán lắm. Cứ y như hôm Hạnh ngồi trong lớp bị Thắng nhìn ấy...
Ở lớp, Hạnh ngồi gần bàn cuối, còn tôi ngồi ở phía trên, cách bàn của Hạnh mấy dãy. Không hiểu sao, hôm ấy tôi đứng lên, quay xuống phía dưới, bắt gặp khuôn mặt của Hạnh, nhất là ánh mắt, cái ánh mắt như hút hồn, như không cho tôi quay mặt sang hướng khác. Thấy tôi nhìn chăm chăm vào mình, Hạnh buồn cười quá, nhắc tôi:
- Thắng ơi! Ngồi xuống đi...
Tôi giật mình, ngồi xuống, ngượng ngùng.
Bây giờ Hạnh nhắc lại chuyện này. Hôm đó đúng là tôi ngượng, còn hôm nay tôi mạnh mồm:
- Thắng thích thế đấy, Hạnh cấm à !
Hạnh lấy tay đấm khẽ vào lưng tôi:
- Thắng đừng nhìn như thế, Hạnh không thích đâu.
Tôi hỏi Hạnh:
- Hạnh có thích Thắng làm giúp không ?
Hạnh cười, nhìn tôi với ánh mắt rất lạ:
- Không hiểu sao Thắng hỏi Hạnh câu ấy nhỉ? Với lại ...- Hạnh quay mặt đi chỗ khác – Mọi việc Hạnh đều tự làm được. Lúc nào khó, Hạnh sẽ nhờ Thắng. Ở trại, Hạnh thấy Thắng còn bận bao nhiêu việc giúp chị Liên.
Nghe Hạnh nói như vậy, máu tự ái trong người tôi nổi dậy. À ! Nói như thế hả, đây cũng cóc cần. Cũng đừng tưởng đấy là cái gì ghê gớm. Bình thường thôi!Người ta “ quý” mới đến giúp. Còn không cần, đây cũng chẳng dại cầu xin.
Nghĩ như vây, tôi đùng đùng bỏ về, mặc cho chân lội bùn thụt lên, thụt xuống. Bùn bắn lên đến tận mặt, tôi cũng mặc kệ. Hạnh thấy tôi không nói, không rằng tự nhiên bỏ về, gọi với theo:
- Ơ! Thắng ơi, giúp Hạnh bê rổ bèo này về với.
Tôi như không nghe thấy, cứ thế bỏ đi thẳng.
Về nhà, bình tâm, ngồi nghĩ lại, thấy suy nghĩ và hành động của mình cũng vô lý. Hạnh nói thế cũng là bình thường , nào ý gì khinh mình đâu. Hơn nữa, Hạnh nói đúng quá rồi còn gì. Thì cũng giống mình, khi nào có những việc không thể một mình làm được mới đi nhờ người khác. Như hôm nọ, áo tôi bục một đường chỉ, thực ra tôi còn xé ...cho đường chỉ bục to hơn, không khâu được. Tôi mang chiếc áo bị bục đường chỉ đó đến nhờ Hạnh khâu hộ. Hạnh khâu lại cho tôi rất cẩn thận, đâu có từ nan. Mọi chuyện Hạnh nói đúng, đơn giản, có lý tôi lại biến nó thành “ phức tạp”, đi tự ái, quả là vô lý. Tôi phải đến xin lỗi Hạnh.
Tôi đi tìm Hạnh, nghe mấy bạn trong trại nói, Hạnh đã bê rổ bèo về đến nhà rồi. Tôi vội sang đó, trong đầu hình thành những câu nói sao cho nó có tình, có lý nhất để Hạnh hiểu, tha lỗi cho tôi. Cũng coi như đây là một lần để tôi rút kinh nghiệm. Nghĩ trong đầu như thế, nhưng đến ngõ nhà mà Hạnh đang ở, cái gì đập vào mắt tôi thế kia? Thằng Oanh đang ngồi cùng Hạnh thái bèo. Nó với Hạnh nói chuyện gì mà trông có vẻ rôm rả lắm, Hạnh cười ngất. Tôi nép vào bên cống quan sát thấy hết tất cả. Trong người tôi lúc ấy, sự tức giận dâng lên không thể tưởng. Hạnh phải là của tôi, Hạnh không được nói chuyện với bất kỳ ai khác, ngoài tôi. Tại sao Hạnh có thể cợt nhả với thằng Oanh được nhỉ? Chính Hạnh cũng từng có lần khuyên tôi không nên chơi thân quá mức với Oanh, vì tính Oanh còn trẻ con lắm. Hạnh nói với tôi như thế, sao giờ đây Hạnh lại có thể ngồi nói chuyện được với Oanh? Còn chuyện gì thế kia nữa? Thằng Oanh thái bèo bị dao cứa đứt tay. Ối giời! Chảy có tý máu mà làm ra vẻ! Thằng Oanh ôm ngón tay, nét mặt nhăn nhó. Nét mặt lo lắng, Hạnh chạy vội vào trong nhà lấy cái bát điếu của ông chủ nhà quay ra ngay, lẫy bã thuốc lào đắp vào chỗ Oanh bị đứt tay. Trông Hạnh và Oanh có vẻ tình tứ. Thế kia thì...thôi, thế là Hạnh đã phản bội tôi, không còn chơi thân với tôi nữa. Những suy nghĩ ban đầu của tôi về Hạnh đâu có sai. Tôi phải dạy cho Hạnh và cả thằng Oanh nữa một bài học. Đang cùng sôi sục với những suy nghĩ đó, bàn tay tôi bám vào thành cổng bóp vụn những mảng tường vôi bở. Ông chủ nhà dắt con bò đến gần lúc nào mà tôi không hay:
- Cháu làm gì ở đây? Sao không vào nhà?
Tiếng của ông chủ nhà hỏi làm tôi giật mình:
- Không ạ! Cháu...cháu... chờ bạn...
Tôi tìm cách chống chế, rồi không kịp chào ông ấy, tôi quay đầu đi thẳng.
Cả mấy hôm liền, tôi học bài không vào. Thằng Oanh có hỏi, tôi cũng không muốn trả lời. Hạnh lo lắng cho tôi:
- Thắng ốm à?
Tôi im lặng, có cảm giác tủi thân, nhưng tôi cố kìm không muốn thể hiện ra bên ngoài. Sau buổi học, tôi hay tha thẩn dọc bờ mương với một nỗi buồn không thể giải thích được.
Tôi gặp chị Liên, mong ở chị một lời khuyên và hy vọng, biết đâu lại giải tỏa nỗi buồn.
Đêm ấy, trăng sáng lắm. Trăng thu hắt một ánh sáng vàng nhẹ khắp cả cánh đồng. Tôi và chị Liên ngồi trên một vệ cỏ nhìn ra xa. Phía ấy, có ánh chớp liên hồi, sau đó có tiếng nổ ì ầm, rồi tiếng máy bay văng vẳng... Nơi ấy đang bị máy bay Mỹ ném bom. Không biết bao giờ chiến tranh mới chấm dứt. Nỗi buồn này liên tiếp với nỗi buồn khác. Chị Liên hỏi tôi:
- Nào, em có điều gì muốn tâm sự với chị?
Tôi thấy lúng túng thật sự. Chị Liên giục:
- Nói đi em!
Tôi hỏi chị Liên:
- Chị Liên ơi, thế nào là... tình yêu?
Chị Liên hỏi lại tôi:
- Tại sao em lại hỏi chị câu ấy? Năm nay Thắng bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?
- Em mười sáu.
Chị Liên im lặng. Tôi cũng không hiểu chị hỏi tuổi của mình để làm gì. Chị Liên thở dài, tiếng thở dài như nuối tiếc, rồi chị bảo:
- Bằng tuổi của em, chị với anh Cường cùng các em đi sơ tán. Mới đó đã hơn hai năm rồi. Nhưng hồi đó, chị và anh Cường cũng chỉ chơi với nhau thôi, chứ không phải yêu...
- Nhưng em muốn hỏi chị thế nào là tình yêu cơ mà...
- Tình yêu... – Chị Liên nói gần như thì thầm – Có lẽ với tuổi em cũng là hơi sớm, cả với tuổi của chị nữa, có khi chị cũng chưa hiểu hết hai từ đó đâu. Nhưng... tình yêu là... hai người phải thực sự thương nhau, hiểu nhau, không giấu nhau một điều gì cả và đặc biệt đi xa phải nhớ nhau... Nó như thế này, cũng một tối giống như đêm nay, em ngồi cạnh chị, có khác tối ấy là anh Cường. Anh Cường nói với chị nhiều điều lắm. Đến bây giờ chị nhớ như in, thậm chí, chị có cảm giác... hơi ấm của bàn tay anh Cường tối ấy nắm tay chị vẫn còn ấm đến tận giờ. Nhớ ghê gớm như thế. Chị tin anh Cường cũng rất nhớ chị... – Chị Liên nhìn vào tôi – Em có nhớ người ta không?
- Em cũng không hiểu nữa, vì em có xa người ta đâu? Nhưng... – Tôi cố gắng diễn giải – Em chơi thân với người đó, người đó nói chuyện với em vui lắm. Thế sao người ấy cũng lại chơi thân với người khác... giống như chơi thân với em?
Chị Liên giải thích:
- Đó không phải là yêu, em ạ. Mà tại sao em lại cấm người ta chơi thân với người khác cơ chứ? Em nói là mới “chơi thân”, thế người ta đã là gì của em đâu. Hơn nữa, đến khi đã yêu, theo chị nghĩ, cũng không thể nào bắt người kia phải lệ thuộc vào mình, không được chơi với ai. Như vậy là ích kỷ.
- Nhưng... – Tôi cố gắng bảo vệ ý kiến của mình – đã chơi thân với em lại chơi thân với người khác nữa, thế không phải là...là... là bạn tốt...
- Em nhầm, em nghĩ về tình bạn như vậy đã sai, tình yêu lại càng sai. Thôi em ạ, bao giờ em lớn em sẽ hiểu. Tuổi em bây giờ là phải học thật tốt. À, chị hỏi em, bạn thân của em là... ai vậy?
Tôi không nói. Tôi sợ nói cho chị Liên, Hạnh biết được sẽ giận tôi. Chị Liên thấy tôi có vẻ khó xử, xoa đầu tôi:
- Thôi, cậu bé ạ! Cậu còn trẻ con lắm, chưa đến tuổi yêu đâu. Nói thật nhé, tôi cũng biết bạn thân của cậu là ai rồi... Đứng dậy về đi, sương rơi nhiều quá, ở đây lạnh đấy. Em nhớ phải học giỏi đã, đừng yêu sớm như chị, khổ lắm.
Hai chị em tôi trở về trại.
Trong trại còn đôi ba đứa chụm đầu vào nhau học dưới ánh đèn dầu leo lét. Thằng Oanh nằm cạnh giường tôi ngủ vùi. Tôi biết chắc nó ngủ say bởi chiều nay đội bóng của trại đá với đội bóng trong làng, Oanh là thằng tiền đạo, nó chạy nhiều nhất. Mà hình như Oanh cũng chẳng để ý đến nỗi buồn của tôi. Nó hỏi, tôi không nói, nó vẫn vô tư, không để ý, không giận, vẫn chơi với Hạnh, vẫn đá bóng, thỉnh thoảng lại nói đứa này hôi nách, đứa kia thối mồm, đứa nọ đầu đầy chấy, trong đó có cả Hạnh. Khiếp bỏ mẹ! Ấy vậy mà tôi lại túc với Oanh khi nó chơi với Hạnh. Kể cũng ...vô lý to đùng đùng!
Tôi đi qua chỗ Hạnh thường ngồi học, ngạc nhiên không thấy Hạnh ở đó. Tất nhiên tôi biết rất rõ lúc này Hạnh không đi nói chuyện với Oanh rồi. Vậy Hạnh đi đâu? Tự nhiên tôi muốn đi tìm để nói chuyện với Hạnh. Khi tức giận, rất dễ mất bình tĩnh, lúc ấy mọi lỗi lầm tôi cứ nghĩ chỉ do Hạnh, lúc bình tĩnh trở lại mới thấy lỗi đó lại do mình. Không biết chuyện này có ai giống tôi không ? Đi khỏi trại một đoạn, trên con đường làng thưa vắng bóng người, chỉ có đom đóm bay lập lòe trước mặt lúc xa, lúc gần và vài cơn gió lạnh thổi từng đợt, từng đợt. Bỗng tôi thấy một bóng đen đi ngược chiều với mình, dáng rất vội vã. Nhìn kỹ, hóa ra là Hạnh. Tôi chưa kịp hỏi, Hạnh đã hỏi luôn:
- Thắng phải không ? Thắng có thấy chị Liên ở đâu không?
Mọi chuyện định nói chuyện với Hạnh tan biến. Mà hình như Hạnh cũng không để ý đến chuyện giận dỗi của tôi thì phải. Tôi trả lời với Hạnh trong tâm trạng hoàn toàn thỏa mái:
- Chị Liên vừa ngồi nói chuyện với Thắng xong. Hình như chị ghé lại chỗ mấy chị nuôi...
- Thắng đi với mình, có chuyện gấp lắm! – Hạnh kéo tay tôi đi, vừa đi vừa nói có vẻ chuyện đang xảy ra rất trầm trọng- Chuyện này chỉ có thể nói với Thắng thôi...
- Sao Hạnh không nói chuyện đó với Oanh? – Tôi vẫn chưa nguôi chuyện cũ.
-Tính Oanh bộp chộp lắm, không giữ được bí mật đâu. Hạnh chỉ tin Thắng thôi – Hạnh giải thích cho tôi.
Tôi nghe Hạnh trả lời như vậy, thở ra một cách nhẹ nhõm. Thấy mọi việc trở nên dễ dàng biết bao nhiêu. Mọi chuyện đã rõ ràng, sao tôi cứ tự hành hạ mình, nghĩ Hạnh thế này, thế nọ. Lúc này Hạnh có rủ tôi đi lên trời tôi cũng cũng đi. Tôi hỏi Hạnh:
- Có việc gì mà gấp thế ? Hạnh nói cho Thắng biết đi.
Cả hai chúng tôi dừng lai. Hạnh nói thì thầm :
- Anh Cường trốn đơn vị về thăm trại mình và...chị Liên. Mình đi tìm chị Liên suốt từ tối đến giờ.
- Anh Cường đào ngũ! – Tôi sửng sốt.
Hạnh vội lấy tay bịt miệng tôi lại:
- Sao Thắng nói to thế. Không phải anh Cường đào ngũ mà là, như anh ấy nói ...nhớ chúng mình ...nhớ chị Liên quá...Anh ấy về thăm ít hôm rồi sẽ quay về lại đơn vị...
- Sao anh Cường không xin phép đơn vị mà phải trốn? – Tôi vẫn thắc măc.
- Hôm nay Hạnh thấy Thắng thật lạ, hỏi lắm thế ? Làm sao chuyện đó Hạnh biết được? Nhưng có lẽ anh ấy xin về ...thăm chúng mình mà họ... không cho, nên anh tìm cách trốn...
Hạnh dẫn tôi đến gặp anh Cường, anh ấy đang ngồi thu lu trong góc sân đình làng. Đình làng này ban ngày vốn là lớp học của chúng tôi. Anh Cường gặp tôi mừng lắm, còn tôi khỏi phải nói, cứ muốn ôm rít lấy anh. Mới có hơn một tháng xa anh Cường, mà sao tôi thấy lâu là vậy. Tôi nói với anh Cường, anh cứ ngồi đây, để tôi đi tìm chị Liên, còn Hạnh sẽ đi tìm cái ăn cho anh ấy.Anh Cường cho chúng tôi biết, anh phải đi bộ từ ba giờ sáng, mà đi toàn đường tắt, không dám đi đường lớn sợ bị bắt. Từ sáng đến giờ chưa có cái gì vào bụng, trừ mấy củ khoai lang non anh móc ở ruộng, uống vội mấy ngụm nước lã. Nghe anh Cường nói vậy, tôi thương quá. Không biết sau này mình đi bộ đội, rồi cũng yêu, có dám làm như anh Cường không ?
Tôi tìm được chị Liên, bí mật báo tin này cho chị biết. Khỏi phải nói chị Liên mừng đến độ nào. Trên con đường làng lồi thụt lỗ chân trâu ấy, tôi chạy đôi khi còn vấp ngã mà chị Liên chạy, thật lạ, chẳng vấp ngã gì cả, cứ như bay thì đúng hơn...
Khi chị Liên gặp anh Cường, Hạnh kéo tay tôi ra hiệu đi ra ngoài để cho hai người nói chuyện tự nhiên. Hạnh nhắc khéo tôi:
- Thắng chẳng tế nhị một chút nào. Bây giờ không phải như hai đứa mình đi xem cải lương về gặp hai người đâu.
Tôi cười trừ, nhận lỗi, đi theo Hạnh. Phải công nhận những chuyện như thế này bao giờ con gái cũng xử lý khéo hơn con trai. Hạnh cho tôi biết:
- Hạnh đến bác chủ nhà mà hồi trước anh Cường ở cho bác biết là anh Cường đã về. Thế là bác gái cùng mình bê cả nồi cơm và mang cả bát cá rô kho tương ra cho anh Cường. Cả gia đình bác ấy thương anh Cường ghê.
Nghe Hạnh nói vậy, tôi giật mình:
- Sao Hạnh làm thế, lộ ra là chết!
- Anh Cường nói với mình đến đó đấy! – Hạnh giải thích – Nhà bác ấy cũng có con đi bộ đội, bác ấy hiểu. Hồi anh Cường ở đấy, hai bác thương anh ấy như con...
Chuyện anh Cường trốn đơn vị về thăm trại, chỉ hôm sau, cả trại biết. Làm sao mà dấu mọi người được, nhưng chúng tôi thống nhất một cách tuyệt đối là không cho người ngoài biết. Sự thống nhất của chúng tôi đã có một tác dụng không thể tưởng tượng nổi.
Hai hôm sau, kể từ tối anh Cường trốn đơn vị về thăm chúng tôi, anh Khanh dẫn hai anh bộ đội, một anh đeo súng ngắn, còn anh kia trẻ hơn, khoác một khẩu súng dài, về trại chúng tôi để truy tìm anh Cường. Đã rất lâu chúng tôi không gặp anh Khanh, mà trong trí nhớ của từng đứa, có khi chúng tôi cũng quên anh ấy rồi. Bây giờ nghe đâu anh Khanh đã lên chức Phó bí thư Đảng ủy khu phố Lê Lợi, phụ trách công tác tuyển quân. Thế nên anh ấy mới đi truy tìm anh Cường. Anh Khanh tập hợp hết chúng tôi lại ở giữa sân hợp tác, lên giọng:
- Trong khi cả dân tộc đang dồn sức chống xâm lược Mỹ thì tên Cường, một quân nhân, đã đào ngũ. Tên Cường biểu hiện hèn nhát, sợ chết, đầu hàng trốn về phía sau làm hoen ố truyền thống kiên cường cách mạng của khu phố chúng ta. Các em có trách nhiệm giúp các anh đây - Anh Khanh chỉ hai anh bộ đội đứng bên cạnh - Bắt bằng được tên Cường, đưa Cường ra tòa án quân sự để xử. Mấy hôm nay các em có thấy tên Cường về đây không ? - Anh Khanh hỏi chúng tôi.
Chúng tôi đều trả lời là không thấy. Hôm ấy anh Khanh cùng hai anh bộ đội đi lùng anh Cường khắp mọi chỗ, hỏi rất nhiều người, trong đó có cả hai bác chủ nhà, nơi anh Cường đã ở. Mọi người đều nói, không biết, không thấy. Trước khi về lại Sơn Hà, anh Khanh gọi tôi ra , dặn dò, giọng có vẻ uất lắm:
- Thế này Thắng ạ! Việc tên Cường đào ngũ, anh thấy nhục quá. Làm sao ở một khu phố chúng ta lại có một thằng hèn như vậy. Vì thế, em thấy Cường lảng vảng quanh đây, phải lập tức báo ngay cho người lớn biết, bắt tại chỗ. Em làm tốt nhiệm vụ này, anh sẽ khen.
Tôi im lặng, không trả lời.
Tội cho anh Cường, mấy ngày anh bí mật về thăm trại mang tiếng là “ đào ngũ”, điều anh lo nhất là mấy cái hầm trú ẩn quanh trại. Anh nói: “ Các em đắp đất mỏng như thế này làm sao mà chống được với bom bi? Phải đắp đất dày lên.”.Anh cùng chúng tôi không kể sáng tối, đắp đất thành hầm thật cật lực. Anh làm như sợ không đủ thời gian. Anh bàn với chị Liên nên tranh thủ lúc mọi người gặt lúa trại nên xin một ít rạ lợp lại mái nhà tập thể. Có mấy tối anh ở lại với chúng tôi, anh Cường bắt mấy đứa dốt toán nhất mang vở ra cho anh ấy kiểm tra. Chúng tôi không muốn anh Cường đi xa.Không thể có điều đó, anh Cường là người có tự trọng. Trước lúc về lại đơn vị, anh Cường gọi tôi, Hạnh với thằng Oanh cùng mấy đứa nữa, lớn tuổi nhất trong trại đến để anh dặn dò:
- Anh phải về lại đơn vị. Anh không phải là một thằng “ hèn” như anh Khanh đánh giá – Anh nói với chúng tôi như một lời tâm sự của người anh với mấy đứa em – Anh thấy kiểu huấn luyện vừa rồi chắc sắp đi chiến đấu ở Quảng Trị, khó có thể về thăm các em và chị Liên. Xin về, chắc chắn họ không cho, anh đành liều vì nhớ các em và chị Liên quá. Về lại lần này rồi không biết còn có thể gặp lại các em nữa không ? Còn có ngày nhìn thấy nhau nữa không ?- Anh Cường ôm từng đứa vào lòng – Các em sống ở đây phải thương lấy nhau, đừng làm việc gì xấu để bố, mẹ , chị, em và các bác, các cô ở đây buồn phiền. Phải biết nhường nhịn, học thật giỏi, có đạo đức thế là anh mừng. Dù ở phương trời nào anh vẫn rất nhớ các em.
Anh Cường không khóc, nhưng mắt anh đỏ hoe. Hạnh và chị Liên khóc thành tiếng. Còn tôi, thằng Oanh và mấy đứa khác đứng chết lặng.
Anh Cường tạm biệt chúng tôi, bước mạnh ra phía trước, để lại cho tất cả một nỗi trống vắng không thể tả...






Mùa đông năm ấy không hiểu sao tiết trời lại lạnh một cách ghê gớm như thế. Ngoài trời, gió bấc thổi hun hút, mấy tàu chuối lá chuối cạnh trại rách tơi tả, rũ rượi mặc cho gió muốn làm gì thì làm. Đã vậy, còn có những cơn mưa phùn dầm dề làm cho cái lạnh thấm vào người thật tái tê. Mấy cái áo bông mẹ gửi cho tôi và em Minh mặc cũng không đủ ấm. Ngồi trong lớp với ánh sáng tù mù, tay tôi cầm bút, hơi lạnh thấm vào làm cho các ngón tay cứ như bị khô cứng cả lại. Những tối về ngủ, cả bọn bên giường con trai cố quấn chặt vào nhau, thằng nào cũng muốn len vào giữa. Bên con gái cũng thế, không đứa nào chịu nằm bên ngoài. Chị Liên phải đứng ra làm trọng tài để xếp chỗ...
Từ chiều đến giờ, tôi đang có một nỗi lo cháy ruột: Không hiểu sao Hạnh và một số bạn nữa, được chị Liên phân công đi mua gạo cho trại đến bây giờ vẫn chưa về? Trời lạnh thế này, đường quê lại khó đi, không đèn đóm, mang vác nặng, không biết Hạnh và mấy bạn sẽ xoay xở ra sao? Lẽ ra, tôi và Oanh làm việc này, nhưng có việc đột xuất nhà trường phân công, nên không đi được, chị Liên phân công Hạnh và mấy bạn nữa, đi thay. Cứ nghĩ, độ bốn, năm giờ chiều là Hạnh và các bạn có mặt ở nhà, thế mà đến bây giờ hơn bảy giờ tối, chẳng thấy mọi người đâu. Cơm canh để phần cũng nguội lạnh hết cả rồi.
Tôi ăn cơn cùng mấy bạn không hề có cảm giác, cố ăn nhanh để đứng lên. Nhìn sang mâm cơm để phần cho Hạnh cùng mấy bạn mà tôi tưởng tượng ra đủ thứ chuyện. Có lẽ gạo bị đổ, hoặc các bạn đi lạc, cũng có khi... các bạn bị bọn xấu cướp hết tiền, tem phiếu. Tôi đã nghe một câu chuyện tương tự xảy ra ở xã bên.
Thấy tôi cứ bồn chồn hết ra lại vào thỉnh thoảng lại hỏi chị Liên làm chị Liên cũng sốt ruột. Chị gọi tôi với Oanh lại:
- Không biết vì sao bây giờ mà Hạnh cùng với mấy bạn vẫn chưa về. Chị cũng cảm thấy lo lo. Hai em thử đi xem tình hình như thế nào? Lẽ ra chị sẽ đi cùng các em, nhưng ở trại có hai bạn đang cấp cứu vì sốt, chị phải ở lại. Có chuyện gì thì một trong hai em phải về đây ngay báo cho chị biết.
Nói xong, chị Liên giục tôi và Oanh mặc thêm áo ấm, khoác áo mưa, tay mỗi đứa cầm thêm một cái gậy đi ngay trong đêm.
Đêm mùa đông đen kịt như đặc quánh lại. Oanh đi trước tôi có nửa mét mà chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe ở phía trước tiếng sột soạt của áo mưa, tiếng nước mưa rơi xuống mặt đường tí tách, tiếng gió thổi rít bên tai. Có lẽ cảm nhận rõ nhất là cái lạnh ngắt của mặt đất thấm vào gan bàn chân. Oanh quay lại dặn tôi:
- Mày cố bám sát vào tao, đi gần sát nhau cũng có khi cũng bớt lạnh. Tao nghe một số người nói như thế.
Bớt lạnh thì chưa chắc, nhưng bớt sợ, bớt đi nỗi cô quạnh thì đúng hơn. Hai chúng tôi vẫn lầm lũi đi. Mưa rây nặng hạt, chưa có dấu hiệu ngừng. Gió vẫn thổi lúc nhẹ, lúc mạnh. Hai tay tôi tê cứng bởi một tay nắm chặt hai mép áo mưa vào nhau. Còn tay kia nắm chặt cây gậy chống chọi với đường trơn và gió.
Dọc đường, hầu như chúng tôi chẳng gặp ai đi ngược chiều để hỏi chuyện. Giời lạnh thế này, có phát rồ mới ra đường. Khi Tôi và Oanh đến cửa hàng gạo mà trại thường mua, xung quanh đóng cửa im ỉm, trước cửa hàng lạnh ngắt không một bóng người. Tìm mãi, mới thấy ở góc cửa hàng có một ánh đèn dầu le lói. Tôi với Oanh lò dò tiến đến chỗ có ánh sáng của ngọn đèn dầu đó. Tiếp chúng tôi là một người đàn ông, nghe tiếng nói có thể đó là một người trung niên, không biết béo hay gầy vì ông ta khoác trên mình một tấm chăn chiên to xù. Chúng tôi chào người ấy và hỏi có thấy mấy bạn chúng tôi đến đây mua gạo không ?Người đàn ông này cho biết:
- Cửa hàng này hết gạo và hết mỳ gần một tuần nay. Muốn mua gạo và mỳ phải đi sang cửa hàng gạo đóng ở Minh Trung, cách đây gần hai chục cây số, có lẽ mấy em ở trại Liên Cơ đi sang đó mua gạo rồi.
Chỉ có thể như thế thôi nên Hạnh và các bạn đi bây giờ mới chưa về. Một tình huống tôi và Oanh không tính đến. Tôi và Oanh chào người đàn ông rồi đi ra. Phải đi tìm bằng được Hạnh và mấy bạn. Hai chúng tôi bàn với nhau. Oanh sẽ quay về trại báo tin này cho chị Liên biết để chị cử thêm người tiếp viện, còn tôi sẽ đi sang Minh Trung giúp Hạnh và các bạn.
Oanh quay về, còn tôi, một tay cầm gậy chống, một tay tiếp tục túm chặt tấm ni lông, lần theo con đường cái sang Minh Trung.
Hạnh ơi! Bạn ở chỗ nào? Bạn có biết bây giờ Thắng lo cho bạn và các bạn cùng đi, nhiều như thế nào không ? Lẽ ra, cửa hàng hết gạo các bạn quay về báo cho chị Liên và bọn mình biết, làm sao thân con gái, bạn liều như thế?
Mưa hình như mỗi lúc một nhiều hơn, gió thổi mỗi lúc cũng như mạnh hơn. Lúc nãy đi cạnh Oanh, có lúc tôi cũng thấy sờ sợ khi nhìn ra xung quanh. Nhưng không hiểu sao bây giờ tôi chẳng sợ một điều gì cả. Xung quanh tôi, vẫn đồng không, mông quạnh, không một bóng người, tiêng côn trùng rỉ rả.. .sao tôi lại thấy bình thường, cố nhìn ở phía trước, mong phát hiện ra Hạnh và các bạn.
Trời vẫn mưa.
Gió vẫn thổi.
Có lẽ tôi đã đi được một đoạn đường cũng khá xa. Mệt, lạnh và cả sốt ruột nữa. Tôi tựa vào một thân cây đứng ven đường, nghỉ một chút lấy sức. Tự nhiên có tiếng người lao xao ở phía trước làm cho tôi bừng tỉnh, mọi mỏi mệt như tan biến. Có thể Hạnh và các bạn đang về! Đúng như suy nghĩ của tôi, đúng là nhóm của Hạnh đang vác gạo trở về.
Gặp tôi, các bạn reo lên mừng rỡ. Tôi vội đỡ ngay chiếc ba lô đựng gạo của của Hạnh. Hạnh ngăn lại, lắc đầu:
- Thắng vác gạo hộ cho Tiến đi. Bạn ấy mệt lắm rồi. Hạnh còn sức, còn đi được!
Sức vóc của Tiến không được khỏe vẫn xung phong đi vác gạo, giờ đã mệt. Tôi đỡ bao gạo cho Tiến, quay lại trách nhẹ Hạnh:
- Không có gạo ở cửa hàng chúng mình hay mua, thì Hạnh cho các bạn quay về có sao đâu, để ngày mai mua cũng được. Sao Hạnh với các bạn liều thế!
Hạnh giải thích:
- Thắng không biết sao? Các kho gạo chỉ bán từ ba giờ chiều trở đi thôi vì họ sợ máy bay Mỹ ném bom. Hơn nữa, phải tranh thủ đi ngay mà mua, trại của chúng mình cũng sắp hết gạo rồi. Đến lúc trại mình không còn lương thực, ở đây cũng hết gao, cửa hàng bên Minh Trung cũng hết gạo, bọn mình lấy cái gì mà ăn? Nghĩ thế, cả bọn quyết tâm sang luôn Minh Trung mua gạo.
- Mua gạo với mỳ xong thì gửi đấy rồi về báo cho chúng mình biết để cả trại đi lấy gạo có tốt hơn không ?
- Mình cũng định thế - Hạnh nói – Nhưng từ trại mình sang Minh Trung đâu có gần, mỗi người cố một tý để đỡ vất vả lần sau.
Trong khó khăn, chúng tôi đã sống vì nhau, vì cái tập thể nhỏ nhoi này. Gần như mỗi người trong chúng tôi đều quên hết những vất vả của bản thân, mội người như gần lại nhau hơn, thân nhau hơn. Riêng với Hạnh, tôi không thể dấu dược tình cảm của mình. Tôi chủ định đi lùi phía sau Hạnh, lấy hai tay nâng ba lô của Hạnh lên, cho Hạnh thấy bớt nặng. Hạnh hiểu động cơ của tôi, quay lại phía sau, nói nhỏ:
- Thắng ơi! Đừng lo cho Hạnh nhiều. Hạnh còn sức mà. Thắng giúp mấy bạn khác đi.
Hạnh nói thế nhưng tôi biết Hạnh rất mệt.Tiếng thở của Hạnh nghe có vẻ nặng nhọc. Thỉnh thoảng Hạnh phải đứng lại xốc ba lô gạo, nếu không có tôi đỡ, Hạnh dễ ngã lắm.
Khi chúng tôi gặp chị Liên, Oanh và gần như tất cả các bạn trong trại Liên Cơ thì đã gần nửa đêm. Tất cả ôm nhau, mừng mừng, tủi tủi. Sao lúc đó chúng tôi thân nhau đến thế.
Sau buổi đi lấy gạo về, tưởng Hạnh hoặc ai đó sẽ sốt chứ không phải tôi. Ấy vậy mà ngược lại, tôi lại sốt. Có lẽ tôi nhiễm nước mưa, bị cảm lạnh. Những ngày tôi đau, Hạnh luôn luôn ở bên cạnh, lúc giúp tôi nấu nồi nước xông, lúc giặt hộ bộ quần áo, chăm sóc em Minh thay tôi. Nhìn Hạnh tất bật với bao công việc của trại, giúp chị Liên phân chia thực phẩm, giúp các em học tổ, nay lại còn lo cho tôi ... Tôi nghĩ, khỏi sốt tôi sẽ nói cho Hạnh biết tình cảm của mình. Tôi rất tin, Hạnh sẽ đáp lại tình cảm của tôi.
Nghĩ thì dễ như thế, nhưng đến lúc nói thì cực kỳ khó. Không biết Hạnh có hiểu tình cảm của tôi dành cho Hạnh không? Cứ nghĩ đến Hạnh, tôi học không vào. Nhìn thấy Hạnh trong lớp, cùng sinh hoạt trong trại... đâm quá quen. Tôi phải đi đâu đó, vắng Hạnh có một buổi đã nhớ quay quắt rồi lại liên tưởng, suy diễn ra đủ thứ chuyện. Tôi muốn nói thực suy nghĩ của mình để Hạnh mãi mãi thuộc về tôi. Nghĩ mãi, một tối, sau buổi học nhóm, tôi nói với Hạnh:
- Hạnh có thể đi với Thắng ra ngoài này, Thắng muốn nói với Hạnh một chuyện, được không ?
Đắn đo một lúc rồi Hạnh đi theo tôi.
Hai chúng tôi đi ra rìa làng, đúng cái chỗ mà tôi và chị Liên đã từng ngồi. Hai chúng tôi ngồi xuống. Hạnh hỏi:
- Thắng định nói chuyện gì với mình mà phải ra đây?Trời tối đen thế này, mình sợ quá. – Hạnh xích lại gần tôi một chút nữa.
Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập, nghe rõ cả tiếng con dế nấp dưới bụi cỏ đang kêu, nghe rõ cả tiếng lá tre khô rơi. Nghe rõ tất cả. Hạnh lại giục:
- Thắng nói đi, sao lại im lặng như thế ?
Nói như thế nào nhỉ ?Tôi thấy tức thở, cố tìm một từ để diễn đạt, sao lúc này thấy khó thế:
- Mình muốn nói với Hạnh là ... là... thế này. Hai đứa mình chơi thân...chơi thân... thân với nhau...
Hạnh cười nho nhỏ:
- Thì mình với Thắng vẫn chơi thân với nhau đấy chứ!
Tôi đã lấy được bình tĩnh:
- Nhưng... mình với Hạnh...thân khác với kiểu thân của mọi người.
- Hạnh có thấy cái gì khác đâu, tình bạn của mình với Thắng giống như các tình bạn khác, khó khăn cùng giúp nhau, có niềm vui cùng hưởng chung. Thắng nói khác chỗ nào? – Hình như Hạnh cố tình chọc tức tôi.
Tôi hơi tự ái;
- Thế Hạnh không hiểu tình cảm của Thắng dành cho Hạnh à ?
Hạnh lắc đầu:
- Hạnh thấy tình cảm của Thắng dành cho Hạnh cũng giống như dành cho mọi người khác, có gì khác đâu!
Hạnh nói thế làm sao tôi chịu được. Không thể giữ được bình tĩnh, tôi nói liền một hơi:
- Hạnh có hiểu Thắng lo cho Hạnh nhiều như thế nào không? Hạnh hơi mệt, Thắng cũng lo. Đấy, như buổi Hạnh đi lấy gạo vừa rồi, ở nhà thấy Hạnh về muộn không biết lý do, là Thắng không chịu được. Cứ nghĩ, Hạnh có bị làm sao thì hình như trong chuyện đó, Thắng có lỗi, vì chuyện nặng nhọc như thế, Thắng phải đi chứ. Rồi còn chuyện chị Liên phân công quản lý trại, bao giờ Thắng cũng nhận phần hơn, vì nghĩ Hạnh quá vất vả, không nên để Hạnh làm nhiều. Cho đến tận bây giờ, Thắng vẫn nghĩ sẽ ở cạnh Hạnh, phải giúp Hạnh làm mọi việc để việc đến với Hạnh sẽ nhẹ nhàng hơn, dễ làm hơn...- Tôi nắm lấy tay Hạnh – Hạnh có biết ...Thắng ...Thắng cần Hạnh như thế nào không ?
Hạnh rút tay ra khỏi tay tôi, mà hình như Hạnh cũng ngồi lùi ra xa tôi một chút, không cho hai người chạm vào nhau.
- Thắng nói hết chưa ?
Tôi im lặng. Có lẽ Hạnh nhìn tôi, một lúc sau Hạnh nói thật bình tĩnh, đủ cho tôi nghe rõ:
- Hạnh rất cảm ơn những điều Thắng đã giúp Hạnh bấy lâu nay. Còn từ bây giờ, Thắng đừng giúp Hạnh như thế nữa, Hạnh đều tự làm được. Hạnh tưởng Thắng rủ Hạnh ra đây nói điều gì chứ, chứ những điều Thắng vừa nói với Hạnh, Hạnh hiểu, sắp tới Hạnh sẽ phải làm gì để trả ơn lòng tốt của Thắng. Thắng tin đi, bao giờ Hạnh cũng là bạn tốt của bạn. Còn bây giờ...Thắng ạ! Mình phải về thôi, khuya rồi...
- Hạnh! Hai chúng mình phải nói chuyện một lúc nữa chứ. – Tôi có cảm giác mình sắp đánh mất một thứ gì đó vô cùng quý giá – Hạnh mà bỏ về, Thắng vẫn ngồi đây đấy!
- Không ! – Thái độ Hạnh vẫn rất cương quyết, tôi chưa từng thấy – Thắng có ngồi đây, Hạnh cũng về. Về để chuẩn bị bài vở ngày mai đi học.
Tôi nghĩ, chắc Hạnh chỉ dọa tôi thôi, đường tối đen thế kia, lại là thân con gái, không có tôi bên cạnh, có cho kẹo Hạnh cũng không dám về. Lúc nãy Hạnh còn sợ cơ mà! Tôi đã lầm. Hạnh hỏi lại tôi một lần nữa :
- Thắng có về không ?
- Không! Thắng muốn ngồi đây một lúc nữa – Tôi trả lời.
- Thế thì...Thắng ngồi lại nhé ! Chào Thắng, Hạnh về trước.
Và Hạnh về thật. Hạnh bước mạnh bạo, không hề sợ hãi. Bóng Hạnh vừa đấy đã mất hút.
Những bước chân của Hạnh, tôi nghe xa dần.
Tôi ngồi lại, cảm nhận một thất bại ê chề. Chưa bao giờ tôi khóc, thế mà tối đó, tôi đã khóc....




HẾT TẬP II – PHẦN II

]]>
http://trankytrung.com/read.php?19 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá - Tập II  phần II]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 17:05:42 +0000 http://trankytrung.com/read.php?19 Tập II
Trưởng Thành

Tập II - Phần 2
3

Vài hôm sau, sân đình làng bên, đoàn cải lương Hoa Ban về diễn vở kịch “HÙNG CA CỦA MỘT ANH HÙNG”, anh Cường nói với chị nuôi cho chúng tôi ăn cơm sớm để đi xem. Còn sung sướng nào bằng. Cả trại râm ran bàn tán. Về đây suốt mấy tháng nay, chúng tôi không được xem phim, không có đài công cộng để nghe thời sự và chương trình “Măng non đất nước” mà tôi rất thích. Cứ bảy giờ tối là ai về nhà nấy, trừ mấy đêm trăng còn đùa được, ngoài ra chỉ ngọn đèn dầu tù mù hắt một ánh sáng vàng vọt, buồn đến lạ. Hồi còn ở Sơn Hà, đôi ba lần, chúng tôi đến nhà hát nhân dân ngoài trời xem các đoàn kịch về biểu diễn. Thực tế, hồi ấy xem kịch chỉ là phụ, chúng tôi bày trò trêu mấy ông gác cổng, tìm cách “đột nhập” vào bên trong cứ như “đặc công”... Đến lúc phát hiện được, mấy người gác cổng đó đuổi theo chúng tôi làm náo loạn cả một góc sân, rất vui. Có khi quá vui, thậm chí vào bên trong rồi, chúng tôi lại đi ra, chui lại để trêu tức mấy ông gác cổng. Còn nếu đi cửa chính, chúng tôi bám vào mấy người lớn đi vào không mất tiền, để tiền mua mía, mua kem... Cứ thế, còn thiết gì đến xem?
Còn lần này... Tôi hỏi:
- Hạnh đi xem với bọn mình chứ?
Hạnh lắc đầu:
- Tớ chẳng đi đâu! Đi với các đằng ấy, các đằng ấy lại dọa ma như hôm nọ ấy à?
Tôi cười, trong thâm tâm lại trách cái trò đùa quái ác của thằng Oanh:
- Đấy là thằng Oanh đùa Hạnh và chị Liên chứ không phải mình. Mà nói thật nhé, đi xem phải có con trai đi cạnh, Hạnh mới không bị bắt nạt...
Hạnh thoáng suy nghĩ rồi cũng đồng ý đi với chúng tôi.
Tôi gửi thằng Minh đến nhà ông bà Mẹo rồi cùng chúng bạn đi xem. Đường đi cũng tương đối xa, phải đi qua một rặng nhãn và một bãi tha ma. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện trên đời để bớt sợ. Hạnh vẫn đi cạnh tôi, thỉnh thoảng Hạnh lại cười vì những câu chuyện vui mà tôi hoặc ai đó kể.
Khi chúng tôi đến sân đình, mọi người tập trung xem rất đông, khó tìm được chỗ chen chân. Tôi nắm tay Hạnh, cả hai tìm cách lách vào. Đang chen tìm chỗ như vậy, một người nắm tay tôi định lôi ra: “Đi đây thế này! Còn chỗ đâu mà vào?”. Mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, cả cái mùi... bùn của ai đó chưa rửa sạch, đặc quánh, bay thốc vào mũi. Tôi với Hạnh bị cái nóng hầm hập của hơi người làm ngột ngạt. Đã thế, lúc này, tôi và Hạnh hoàn toàn bị lạc với các bạn cùng đi. Hạnh cố dướn người nhìn lên phía sân khấu. Tôi cũng vậy. Cả hai chúng tôi chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy toàn... gáy với đầu người. Hạnh chán nản nói với tôi:
- Thắng ơi! Mình với bạn ra chỗ khác thôi, ở đây chẳng xem được!
Hai chúng tôi lại đi tìm chỗ khác. Ở đâu cũng thế, khó tìm được một vị trí tốt. May cho tôi và Hạnh, không hiểu sao, chỗ gần sân khấu, tự nhiên mọi người đứng dậy, nhốn nháo. Có tiếng người nào đó kêu lên: “Ối giời ôi! Đứa nào lại chơi cái trò quỷ này!”. Ai đó nghịch ngầm, lấy kim băng cài áo người nữ này với áo người nam kia. Có đến hai, ba đôi bị “dính”, mọi người phải đứng dậy gỡ kim. Tranh thủ lúc ấy còn chỗ trống, tôi kéo Hạnh đến ngồi sát sân khấu. Ở đây chúng tôi nhìn lên sân khấu tương đối rõ.
Trên sân khấu lúc này đang diễn tả một chiến sĩ cách mạng không may bị địch bắt, chúng đem anh ra xử tử. Đứng xung quanh anh là đông đảo quần chúng. Tôi nhìn thấy nét mặt của họ: đau khổ, uất hận, thương xót, căm thù... Chứ chả lẽ trước sự “hy sinh” của anh ấy, dù là trên sân khấu, lại... nhe răng ra cười? Tôi nghe thấy tiếng người diễn viên đóng vai thằng đội Pháp hô to: “Chuẩn bị! Bắn!”. Mấy người diễn viên đóng lính Pháp đứng cách “chiến sĩ cách mạng” độ ba mét giương súng lên. Một loạt tiếng súng nổ, người “chiến sĩ cách mạng” gục xuống. Không! Anh đứng thẳng dậy, giơ cánh tay bị xích ra trước mặt, ca liền một câu vọng cổ thật dài: “Không, không, chúng bay không bắn được ta, cũng không giết được ta, cái chết của ta sẽ là lời hiệu triệu chiến đấu, kêu gọi mọi người chống lại bè lũ xâm lăng, chống lại bè lũ tay sai thối nát. Các đồng chí ơi! Hãy coi cái chết của tôi là một lời nhắn nhủ mọi người đoàn kết, đồng tâm tiêu diệt kẻ thù cho đến ngày thắng lợi, cờ hồng tung bay trên khắp nước non. Cũng nhờ bà con nhắn vợ con tôi rằng, cho đến lúc chết tôi không có điều gì ân hận vì biết mình hy sinh cho sự tự do dân tộc, em hãy nuôi con khôn lớn tiếp bước con đường của... anh... đây...”. Tôi rất phục, phải nói hơi của anh diễn viên ấy dài thật. Anh đổ một câu dài như thế theo một làn điệu của ca cải lương dễ gần đến... mấy phút. Lúc này, lại một tràng súng nữa nổi lên. “Người chiến sĩ cách mạng” vẫn chưa chết. Anh hùng dũng ưỡn ngực tiến về phía “bọn lính” vừa “bắn” anh. “Bọn lính” vừa “bắn” anh hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Lúc đó, “người chiến sĩ cách mạng” mới ngã vào tay đồng bào. Mọi người nâng “xác” người “chiến sĩ cách mạng” lên cao, hô to: “Đả đảo quân khủng bố!”. Bên dưới người xem, xen lẫn tiếng vỗ tay có cả tiếng...cười.Tôi không biết họ cười vì cái gì...
Tôi với Hạnh mải xem thì tiếng kẻng báo động trên chòi gác ở ngọn cây gạo cạnh đấy gõ dồn dập, báo động có máy bay Mỹ. Đèn trên sân khấu tắt phụt. Tiếng loa nhắc nhở: “Đề nghị đồng bào đứng nguyên tại chỗ, không chạy lộn xộn làm lộ bí mật. Máy bay địch bay khỏi, chúng ta lại tiếp tục...”. Tiếng loa mới nhắc được có thế, một chiếc máy bay Mỹ, nó bay rất thấp lướt qua ngay trên đầu, tiếng rít đến rợn người như xé toác màng nhĩ, chẻ bóng đêm ra thành trăm mảnh. Xung quanh tôi, mọi người hoảng loạn thực sự, nháo nhào trong bóng đêm tìm chỗ núp. “Ầm”, cả tôi và Hạnh ngã bổ ngửa vì một bóng đen ngã đè lên mình. Người đó, không nhìn thấy mặt nhưng nghe miệng anh ta nói lắp bắp, ngay cạnh tôi:“ Chết mất... Lạy giời, máy bay ném bom vào chỗ khác, đừng ném trúng con...”. Tiếng máy bay Mỹ rợn óc đó xẹt qua rồi tất cả trở lại yên tĩnh. Tiếng kẻng báo yên trên cây gạo gõ lên, mọi người ai nấy về chỗ cũ để tiếp tục xem kịch. Đèn trên sân khấu bật sáng. Tôi ngỡ ngàng. Người lúc nãy nhảy ngã đè vào tôi và Hạnh không ai khác, chính là anh vừa đóng vai “chiến sĩ cách mạng” bị quân Pháp “xử tử”! Anh ấy nhìn tôi và Hạnh ngượng ngùng rồi trèo lên sân khấu, diễn lại đoạn kịch vừa rồi...
Tôi thấy không thích xem kịch như thế này nữa. Đang định nói với Hạnh, Hạnh lại kéo tay tôi:
- Ta về thôi Thắng ơi! Ở đây tớ sợ ăn bom lắm!
Đúng ý tôi. Cả tôi và Hạnh bỏ dở vở kịch, đi về. Thoát khỏi đám đông, thoát khỏi cả những mùi mồ hôi ngột ngạt, thoát cả cảnh phải nghếch cổ lên xem đến mỏi nhừ, ra đến đường trống, tôi với Hạnh thấy nhẹ cả người.
Trên cao, những ngôi sao lấp lánh, tỏa ánh sáng mờ mờ xuống mặt đất. Gió đồng nội thổi từng cơn, từng cơn mát dịu. Thích nhất là thỉnh thoảng, theo chiều gió, những sợi tóc dài của Hạnh lại bay vờn trước mặt tôi gây ra cảm giác buồn buồn, nhột nhột... Hai chúng tôi đi được một đoạn đường dài mà gần như không nói với nhau câu nào. Hạnh phá cái không khí im lặng đó, nói:
- Thắng kể với Hạnh chuyện gì đi chứ?
Tưởng trả lời thì dễ, thế mà tôi lại lúng túng:
- Hạnh bảo mình kể chuyện gì mới được chứ!
- Thì chuyện nào... Thắng cho là hay, kể đi!
Tôi bực mình vì trí nhớ của mình. Bao nhiêu chuyện anh Cường kể, thế mà giờ thì nó trốn tận ngóc ngách nào trong óc, không thể lôi ra được. Tôi đành thú nhận sự kém cỏi này của mình:
- Nói thật, mình chẳng có chuyện gì...
Hạnh cười:
- Sao Thắng lại nói thế, buồn cười thật đấy! Thế chẳng lẽ ở nhà Thắng chơi với em Minh lại không có chuyện gì nói sao?
Sự gợi ý của Hạnh thật tuyệt vời, chuyện gì chứ chuyện em Minh thì tôi có thể kể cả ngày không hết... tội của nó. Nào là cu cậu chuyên đi dép trái, đánh vào chân tưởng nó nhớ, thế mà một lúc, đi dép trái vẫn hoàn đi dép trái. Lại còn chuyện nó lấy nước đổ vào cái đài của các cô chú cơ quan mẹ, vì theo nó: “Người ta nói nhiều như thế là khát nước!”. Rồi còn chuyện nó lấy bàn chải đánh răng vạch mồm con chó nhà tôi để định đánh răng cho con chó, bị nó đớp cho một miếng... Hạnh nghe chuyện tôi kể, cười ngặt nghẽo rồi nói:
- Thắng kể chuyện em Minh gần giống chuyện Oanh kể chuyện đứa em con ông cậu nhà Oanh...
Tự nhiên tôi thấy tức thằng Oanh. Té ra, nó cũng đã đi chơi với Hạnh, thậm chí còn nói chuyện với Hạnh. Thế mà nó cứ leo lẻo:
- Con Hạnh... hôi nách bỏ mẹ, không thể ngồi gần được.
Thấy tôi tự nhiên im lặng, Hạnh ngạc nhiên:
- Thắng làm sao thế? Kể tiếp chuyện đi...
- Tớ không kể nữa. Mà chẳng có gì để kể nữa...
Hai chúng tôi lầm lũi bước đi, trong đầu tôi tự nhiên cứ ghen tức với thằng Oanh. Vì sao thế nhỉ? Tôi không lý giải được. Tôi cũng bực luôn với Hạnh. Như vậy, Hạnh đâu có chơi thân với tôi, đâu có coi tôi... coi tôi... là “bạn thân”. Thế thì... Tôi vượt lên đi trước Hạnh, không đi với Hạnh nữa. Hạnh thấy tôi đi nhanh quá, vội đuổi theo:
- Thắng ơi! Đợi Hạnh với, sao đi nhanh thế?
Hạnh đuổi sát theo tôi, cầm tay tôi, giữ lại:
- Mình chẳng hiểu thái độ của Thắng đấy! Đang nói chuyện vui như thế lại đùng đùng bỏ mình, đi lên trước...
Tôi vẫn không nguôi tức giận, toan giật tay để đi. Bỗng... Hạnh giật tay tôi, ra hiệu:
- Thắng nhìn kìa! Dưới gốc cây nhãn hình như... có người...
Tôi vội dừng lại, căng mắt ra nhìn. Đúng là dưới gốc cây nhãn to có người thật, không phải một người mà những... hai người. Họ làm cái trò gì thế nhỉ? Tôi ra hiệu cho Hạnh dừng lại để tôi bò đến. Hạnh lắc đầu:
- Đừng để mình ở đây, sợ lắm. Cho mình đi đến đó với!
Trước sự việc nghiêm trọng như thế này, tôi quên hết chuyện bực dọc, nói thì thầm:
- Không được, anh Cường chẳng nói, muốn bắt được kẻ thù phải bí mật, bất ngờ... Đi hai người, lộ mất. Hạnh cứ ngồi đây để mình mò đến xem chúng làm gì. Có gì, mình sẽ báo Hạnh sau.
Hạnh đành bằng lòng, ngồi thụp xuống. Tôi lò dò bò đến, cố làm thật nhẹ nhàng, không đánh động. Hai bóng đen dưới gốc cây nhãn hình như không biết, vẫn say sưa... ôm nhau. Tôi đã nghe tiếng họ thở, rồi cả tiếng người nói:
- Đừng... Đừng... Cường... Đừng... Liên xin Cường đấy... Liên xin Cường...
Tôi choáng váng. Tưởng ai, té ra anh Cường với chị Liên. Tôi vội quay đầu, chẳng hiểu vì sao lại chạy. Vấp phải hòn đất to, tôi ngã sấp nhưng vẫn còn tỉnh táo ngồi ngay dậy, kéo Hạnh phóng đi. Nghe thấy tiếng động, anh Cường với chị Liên buông ngay ra. Hình như hai người cũng bỏ chạy thì phải, nhưng ở hướng ngược với chúng tôi. Đến một chỗ dừng lại thở, Hạnh hỏi:
- Họ làm gì thế? Mà sao Thắng lại chạy?
Tôi không nói, vì còn phải thở. Tự nhiên Hạnh nhìn ra phía sau tôi kêu lên, sợ hãi:
- Thắng ơi, nhìn kìa, có phải ma không?
Theo hướng Hạnh chỉ rõ ràng tôi thấy có ba, bốn đốm lửa xanh lè bay lơ lửng giữa đám đất gần mấy cái mả. Hình như... nó đang nhằm hướng của tôi và Hạnh bay tới. Hết ngạc nhiên này lại đến nỗi sợ hãi khác. Quá hoảng hốt, tôi cầm tay Hạnh, hét tướng lên:
- Chạy!







Anh Cường có lệnh phải về ngay Ủy ban để khám nghĩa vụ quân sự. Đích thân anh Khanh xuống tận trại trao quyết định triệu tập anh Cường về khám nghĩa vụ quân sự. Anh Khanh nhìn anh Cường với ánh mắt đắc thắng.
- Đồng chí nhớ ngày, giờ trong giấy triệu tập này mà tập trung đúng giờ, không được viện bất cứ lý do gì để ở nhà. Không chấp hành giấy triệu tập này là chúng tôi sẽ kỷ luật nặng.
Anh Cường cầm giấy triệu tập, nét mặt bình tĩnh, nói một cách từ tốn:
- Anh yên tâm đi, tôi sẽ về khám nghĩa vụ đúng theo yêu cầu của giấy triệu tập này.
Anh Khanh còn làm một việc nữa, tôi không thể chấp nhận. Anh gọi tôi ra một chỗ hỏi nhỏ:
- Dạo này em có thấy anh Cường với chị Liên còn quan hệ thân thiết với nhau không?
Tôi bực mình:
- Chuyện đó thì anh đi hỏi hai người ấy chứ sao lại hỏi em?
- Là vì anh thấy chị Liên có vẻ thân với em.
- Chị Liên thân với em nhưng còn chuyện hai người quan hệ như thế nào, làm sao em biết được?
Anh Khanh có vẻ bực với tôi nhưng chẳng làm gì được vì tôi ở đây còn anh ấy ở Sơn Hà, không thể bắt tôi đi canh “gián điệp” như dạo nào.
Trước khi về lại Sơn Hà khám sức khỏe, anh Cường giao nhiệm vụ cho tôi và Hạnh:
- Hai em ở lại, quản lý trại giúp anh một thời gian. Tí nữa, Hạnh sang anh sẽ bàn giao sổ sách, tem phiếu, tiền... Các em bàn với chị nuôi, cố gắng chi tiêu thật tiết kiệm, nhưng cố gắng có đủ chất cho các bạn trong trại. Còn Thắng, em phải thay anh quản lý giờ giấc học hành, nghỉ ngơi, phải giữ bằng được nội quy của trại. Nhất là với Oanh, em là bạn thân của nó, nên khuyên bảo Oanh không nên nghịch những trò như vừa rồi, không hay...
Tôi ngạc nhiên:
- Chị Liên không ở lại với bọn em sao?
Anh Cường trả lời, giọng nhỏ hẳn lại:
- Chị ấy sẽ đi với anh về Sơn Hà rồi sẽ quay về đây với các em...
Tôi lờ mờ hiểu trong đầu việc chị ấy phải đi với anh Cường. Trong tôi lại hiện lên hình ảnh bố chia tay với mẹ đêm ấy, trước khi ông đi B, có nước mắt, có đầy nỗi buồn... và có cả nỗi sợ hãi không thể nói ra bằng lời.
Anh Cường hỏi tôi:
- Thế Thắng có thích anh đi bộ đội không?
Đi bộ đội đánh nhau ai chẳng thích, nhưng với điều kiện... mình không được chết như trong phim chiến đấu của Trung Quốc hồi ở Sơn Hà tôi hay xem ấy. Nghe tôi nói vậy, anh Cường lắc đầu:
- Làm gì có chuyện đó hả em? Đã đánh nhau là có người chết, người sống chứ!
Tôi, Hạnh và các bạn trong trại tiễn anh Cường về Sơn Hà trong tâm trạng thật buồn. Tôi biết chắc, họ gọi anh Cường về khám sức khỏe cho nó có hình thức thế thôi, chứ nhìn vóc dáng, chiều cao của anh và cả tác phong nhanh nhẹn của anh ấy nữa thì chắc chắn anh Cường sẽ đi bộ đội, cần gì phải khám. Thế là anh Cường phải bỏ học giữa chừng. Tôi tiếc cho anh. Anh Cường học giỏi toàn diện. Tôi có cảm giác không điều gì là anh không làm được. Đứa nào không giải được bài toán khó, lại đến anh. Anh Cường có lối diễn giải gọn, súc tích, dễ hiểu. Anh Cường còn học giỏi các môn xã hội. Cứ chiều chủ nhật, anh và chị Liên hay dẫn chúng tôi đi cắm trại ở ngoài trời. Anh giải thích cho chúng tôi về hiện tượng tự nhiên, những sự tích đền chùa gặp trên đường đi. Những buổi đi chơi như thế không bao giờ chán cả, ngược lại, chúng tôi còn thu được bao nhiêu điều bổ ích...
Chị Liên đi bên anh Cường, nét mặt trĩu nặng âu lo. Tôi nghe chị nói nhỏ điều gì đó, anh Cường lắc đầu: “Không được Liên ạ! Nếu khám đủ sức khỏe thì Cường phải đi thôi. Chẳng có cách gì qua mặt được họ đâu. Còn... như cách Liên nói, lại càng không được. Trốn ở đâu họ cũng có thể bắt được...”. Anh Cường thở dài: “Có người nói đi bộ đội chưa chắc đã bị bắn, bắn chưa chắc đã bị thương, bị thương chưa chắc đã chết...”. Nghe anh Cường nói vậy, chị Liên đấm nhẹ vào vai anh ấy:
- Liên cấm Cường nói gở. Chưa đi bộ đội mà nói đến từ “chết”, Liên nghe sờ sợ thế nào ấy...
Anh Cường, chị Liên đi rồi. Biết là anh, chị đi một thời gian ngắn rồi lại về, đợi giấy gọi nhập ngũ, thế mà tôi thấy nhiều nỗi lo. Thằng Oanh khoái ra mặt. Gặp tôi, nó tự nhận một việc mà chính tôi đang phân vân chưa biết phân công cho ai làm:
- Mày cho tao làm thủ kho, phân phối thực phẩm cho các chị nuôi nấu ăn đi...
Thấy ánh mắt ngạc nhiên của tôi, nó thuyết phục:
- Mày chưa tin tao chứ gì? Xin lỗi, hồi ở nhà, mẹ tao giao cho tao tem phiếu, tiền ăn cả tháng của cả nhà, thế mà có tháng, tao chi tiêu còn thừa tiền đấy. Mẹ tao bảo: “Thằng Oanh khá thật, lớn lên con của mẹ sẽ làm kế toán”.
Không biết nó nói thật hay nói láo nhưng đang thiếu người làm thủ kho mà có người tình nguyện nhận thì tốt quá còn gì. Tôi đồng ý cho Oanh nhận việc đó. Tôi chỉ dặn:
- Mày cứ căn cứ số lượng người ăn trong trại mà phân phối lượng thực phẩm trong ngày cho chị nuôi nấu ăn. Thừa thì không sao, còn thiếu thì mày hoàn toàn chịu trách nhiệm, bỏ túi tiền ra mà đền...
Oanh xoa xoa tay ra chiều hoan hỉ:
- Yên tâm đi, Oanh này phân phối thực phẩm thì cứ gọi là... ăn từ “tươi” đến “tươi”, từ “bổ” đến “bổ”, từ “khoái” đến “khoái”...
- Thôi đi! Đừng có bốc phét. Chưa làm mà nói, tao sợ bước không qua.
Tôi cũng phải giả vờ lên giọng người phụ trách quát vào mặt nó. Thằng Oanh không hề giận, còn cúi người bắt tay tôi một cách thành kính:
- Dạ... dạ... “Binh nhất” xin nghe lời “ Đại úy”! – Chắc nó lại nghĩ đến “chức vụ” mà anh Cường phong cho chúng tôi khi... đánh trận giả xưa kia.
Biết chuyện tôi phân công Oanh làm thủ kho, Hạnh có vẻ không bằng lòng:
- Thắng đã nghĩ kỹ chưa mà phân công Oanh làm việc này. Tính Oanh liều lắm, hết gạo, hết mì, hết cả thực phẩm là khổ cho chúng mình đấy.
Tôi trấn an:
- Thắng cũng biết thế, nhưng Oanh hứa rồi. Mình tin nó sẽ làm tốt. Với lại, có gì còn mình với các bạn cùng kiểm tra nữa mà.
Mấy ngày đầu, quả thật thức ăn có vẻ tươi hẳn lên. Ai cũng nhận thấy rau xào nhiều hẳn mỡ, bóng nhẫy. Cơm đã có tóp mỡ kho với dưa, điều chưa từng thấy ở trại này kể từ hồi đi sơ tán đến giờ. Lại nữa, buổi sáng những nắm mì ăn sáng có vẻ to hơn. Mấy chị nuôi nấu ăn có vẻ vui vì đồ ăn không phải đắn đo khi chia từng suất, cũng không phải khổ vì cái cảnh cuối bữa ăn mấy đứa tranh nhau miếng cơm cháy. Một chị khen thằng Oanh: “Trông cậu Oanh nghịch như thế nhưng cũng giỏi ra trò. Thực phẩm cậu ấy quản lý hôm nào chia cho chúng tôi cũng nhiều, nấu ăn đỡ vất vả”. Mấy đứa ở trại sau bữa ăn bắt tay Oanh có vẻ trịnh trọng:
- Mày làm khá lắm, hơn hẳn chị Liên làm...
Mũi thằng Oanh phập phồng. Thằng Phiến vốn chẳng ưa gì thằng Oanh, mấy bữa được ăn no, có lẽ phởn chí mà hứa với tôi cùng thằng Oanh:
- Tối nay mày có đi tắm ở giếng làng, tao thưởng cho mày với thằng Oanh tắm xà phòng Hoa Lan.
Ở nơi chúng tôi sơ tán, có cái giếng làng to bằng cái miệng ao, xung quanh người ta xây bờ thành bằng đá ong, có bậc lên xuống. Nếu đến đó lấy nước, thay việc thả gầu múc nước thì người dân ở đây họ cứ gánh cả đôi thùng trên vai, đi theo bậc lên xuống, cho chân xuống khỏa nước, rồi vục đôi thùng nước, gánh nước lên. Cũng không giải thích được, giếng xây bên cạnh, dù nước có trong veo, uống nước cũng không ngon bằng giếng làng. Có lần, tôi đã chứng kiến một chị vừa đi làm đồng về, chân còn dính phân chuồng, dính cả bùn nữa, chị chẳng thèm rửa, cứ thế lội xuống giếng múc nước gánh về nấu ăn. Thế mà cơm ăn vẫn cứ ngon như thường, chẳng thấy ai bị đau bụng, kể cũng lạ. Lại nữa, nước ở giếng làng cũng mát hơn vì không phải một lần chúng tôi tắm ở đó...
Tất nhiên vì là giếng nước ăn, dân làng cấm tiệt tắm rửa cạnh giếng, còn vùng vẫy trong giếng thì lại càng nghiêm cấm. Nhưng với chúng tôi, nước mát thì phải vùng vẫy trong đó mới thích. Đã đôi lần, vào những đêm hè, lợi dụng lúc vắng người gánh nước, chúng tôi nhảy tùm xuống, ướt hết quần áo, khoái vô cùng. Còn lần này, thằng Phiến cho xà phòng Hoa Lan thì nhất định phải tắm một trận cho đã.
Buổi tối, khi mọi người đi gánh nước ở giếng làng đã vãn, thằng Oanh đến gọi tôi;
- Mày với tao đến rủ thằng Phiến ra giếng làng tắm, nó hứa cho xà phòng Hoa Lan lúc trưa, nhớ không?
Tất nhiên tôi quên thế nào được. Tôi với Oanh đến gặp Phiến. Phiến biết mình bị hớ khi hứa với chúng tôi là cho xà phòng Hoa Lan. Nó vốn là thằng “đại kiết lỵ”, chưa ai lấy được của nó một xu, thế mà lần này phải cho chúng tôi bôi lên đầu xà phòng Hoa Lan, một loại xà phòng mà trước đây tôi và Oanh chỉ mới sờ với ngửi chứ chưa bao giờ được bôi, chắc cu cậu cũng tiếc lắm. Nhưng biết thế nào được, vì đã hứa rồi. Thằng Phiến vào đầu giường mở hòm sắt ra, lấy bánh xà phòng Hoa Lan được bọc kỹ càng bằng mấy lớp giấy báo. Nhìn trước nhìn sau thấy không có ai, Phiến lấy nước bọt nhổ vào lòng bàn tay rồi nó xoa lên đầu từng thằng một. Tiếp đến, nó lấy miếng xà phòng xát mạnh lên đầu từng đứa. Sau đó, nó lấy giấy báo gói lại miếng xà phòng, cất vào hòm sắt. Nó giải thích:
- Phải tiết kiệm, chúng mày biết không? Mang bánh xà phòng này ra giếng, bọn trong trại biết, chúng nó ùa ra xin tao để bôi lên đầu thì... chỉ một lúc là hết. Tao dùng miếng xà phòng này gần hai tháng rồi đấy, mà gần như... còn nguyên.
Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao mấy lần trước cùng tắm với Phiến, quái lạ, rõ ràng thấy nó đổ nước lên vò đầu, mùi xà phòng bay ra thơm lừng mà để ý thì không thấy Phiến mang xà phòng. Xin Phiến, Phiến trả lời không có! Cả bọn đi tìm, không thấy. Bây giờ tôi mới hiểu cái kiểu bôi xà phòng của thằng Phiến “kiết lỵ” này. Chả trách thằng Oanh ghét nó cũng... đúng thôi!
Cả bọn ra giếng làng. Trăng cuối mùa chênh chếch đầu ngọn tre. Tiết cuối hè, đầu thu, trời lành lạnh. Trong làng, mọi vật yên tĩnh, thỉnh thoảng đâu đó có tiếng chó sủa khan, không gay gắt... Giờ này, bọn tôi yên tâm không có ai ra gánh nước, và thế là...
Đầu tiên, thằng Oanh cởi quần áo, tồng ngồng lội xuống trước. Sau đó đến tôi và thằng Phiến. Nghĩ thế nào, thằng Phiến trèo lên lấy đống áo quần của cả bọn bỏ xuống cạnh chỗ tắm. Nó giải thích: “Không tin được bọn ở đây đâu. Biết đâu thấy bọn mình tắm như thế này, chúng lên đến lấy hết quần áo, thì chỉ có nước... cởi truồng mà đi về”. Thằng này lúc nào cũng chi li từng tí một. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ, thì nó nói cũng có lý, cẩn thận chẳng bao giờ thừa cả.
Chúng tôi đứng trên bậc đá ong, khỏa nước cho đám bèo tây dạt ra. Ánh trăng rọi xuống nước sóng sánh, mát lạnh. Chúng tôi vốc nước lên đầu rồi lấy tay vò tóc, mùi xà phòng bay ra, bọt xà phòng nở ra, một lúc đã thấy trắng cả đầu. Thế này thì đầu của bọn tôi cứ gọi là... sạch nhất trại. Thằng Oanh nói với tôi:
- Tắm vừa thôi, để còn... mùi xà phòng, chứng tỏ là mình là người “ Văn minh”.
Tôi cười:
- Mày nói thế mà cũng gọi là thằng biết tắm xà phòng. Mày nghe tao giải thích đây này. Trên người còn mùi xà phòng tức là mày tắm chưa sạch, còn bẩn, không “ Văn minh”. Hiểu chưa “con”?
Oanh vẫn không chịu:
- Mày nói thế mà cũng nghe được à? Mùi xà phòng là mùi tinh dầu, họ dùng để cho xà phòng thơm chứ đâu phải hết mùi đó mới gọi là tắm sạch?Mày nói...ngu bỏ mẹ!
- Mày ngu thì có!
- Mày ngu.
Chỉ có thế thôi mà hai đứa chúng tôi cãi nhau. Thằng Phiến đứng cạnh, kệ chúng tôi cãi nhau, vẫn mải tắm. Còn hai chúng tôi vẫn hăng tiết “mày ngu”, “tao khôn”. Bỗng... cả hai thằng, tôi và Oanh đều ngưng lại cuộc cãi nhau bởi... có tiếng một bà già:
- Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Phiến sợ quá, nói run run:
- Chết rồi chúng mày ơi! Có người!
Làm sao bây giờ khi cả ba chúng tôi đều đang ở cái thế lên bờ là lộ. Trên bờ, giọng bà già càng gay gắt:
- Quái lạ, tại sao tôi hỏi không ai trả lời thế? Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Oanh ra hiệu cho chúng tôi không được nói, nó nói nhỏ:
- Chúng mày phải nghe lời tao, làm đúng như tao chỉ mới thoát được. Chứ để bà ấy hô hoán, mọi người kéo ra đây là chúng mình chết.
Oanh lấy bèo tây phủ lên đầu cả ba thằng, rễ bèo tây trùm kín mặt, trông cứ như... ma. Thế là “của thiên lại trả địa”, cái đầu vừa đấy sạch bong, thơm lừng mùi xà phòng Hoa Lan, bây giờ lại... tanh om mùi bèo tây. Phủ bèo lên đầu xong, thằng Oanh lấy đống quần áo, bắt thằng Phiến ôm trước ngực. Oanh ra hiệu cho tôi cùng nó khiêng thằng Phiến lên. Phía bên trên, tiếng bà già lẩm bẩm:
- Vừa mới nghe thấy ì oạp ở phía dưới như hai người nói chuyện, giờ sao lại im ắng thế - Tiếng bà già lại vọng xuống – Có ai ở dưới đấy không nhẩy?
Tất cả vẫn im lặng. Bà già xách một cái thùng tôn định lò dò bước xuống thì trước mặt bà một “con ma” đi bốn chân, có ba đầu, tóc tai rũ rượi, cởi truồng nồng nỗng từ dưới giếng bước lên. Cứ nhằm phía bà già, “con ma” thẳng tiến. Bà già quá sợ, ú ớ không thốt nên lời, hoảng hồn ngã lăn ra đất. Rồi bà ngồi bật ngay dậy, quỳ xuống lạy “con ma” như tế sao:
- Lạy thánh Cầu Đông, lạy ông Cầu Gõ, lạy mõ Chùa Hà, lạy bà Đồng Đậu, lạy cậu Vân Gia, phù hộ cho con, ma đừng có bắt, ơn trên độ trì, nam mô di đà...
Thằng Oanh với tôi đang khiêng thằng Phiến, thấy bà già lạy như vậy, buồn cười quá mà cố mím môi, không dám cười. Đi qua bà già một đoạn, tôi và Oanh thả oạch thằng Phiến xuống đất. Phiến la oai oái. Tôi với Oanh mặc kệ nó, ù té chạy...
Thoát nạn, cả bọn hoàn hồn.
... Mấy ngày sau, bữa ăn của chúng tôi, hôm thì có cá rô rán, hôm thì có ốc om chuối, hôm lại có cá diếc kho tương... Chuyện này cả trại chưa bao giờ nghĩ tới. Phải nói sự thông minh của thằng Oanh “phát tiết” dữ thật. Sau chuyện “sáng kiến” giả ma ở giếng làng, đến chính thằng Phiến cũng phải nói:
- Tao nghĩ lại chuyện đó cũng thấy sợ toát mồ hôi hột huống hồ bà già. Không có thằng Oanh nghĩ ra chuyện đó, chẳng biết làm thế nào để thoát.
Bây giớ đến chuyện Oanh lo thực phẩm cho cả trại. Tôi và Hạnh rất ngạc nhiên Oanh lấy đâu ra tiền mà mua lắm thứ thế? Hỏi nó, nó cứ ầm ừ cho qua chuyện:
- Chuyện vặt, chúng mày để ý làm gì? Cứ có cá kho tương, ốc om chuối... ăn được nhiều cơm là được rồi – Nó còn lên giọng ông kễnh – Đừng tò mò nhiều quá, tò mò là không tốt đâu.
- Mày đừng có đi ăn cắp đấy nhé! Chỉ một lần thôi đấy, lần này mà tái phạm, anh Cường và chị Liên về biết được là không tha đâu.
Oanh lấy tay chỉ vào mặt mình;
- Đừng “bỉ” tao nhá! Tao hiểu vấn đề chứ, dại gì làm chuyện đó? Tao chỉ muốn chứng minh một điều là bọn mình lớn cả rồi, có thể lo được mọi chuyện thế thôi.
Nó nói thì đơn giản, nhưng chúng tôi muốn tìm ra sự thật. Nước da nó mấy hôm nay trông có vẻ đen hơn, lại còn chuyện nghỉ học vì lý do “mệt”. Thực ra nó có mệt gì đâu. Tôi truy mãi, rồi Oanh cũng phải thú nhận:
- Tao nghĩ rồi, đến hai ba tháng nay, cả trại chúng mình có bao giờ được ăn bữa cơm no, được ăn bữa rau xào nào có tóp mỡ. Tranh thủ chị Liên, anh Cường đi vắng, tao cho cả trại ăn thả dàn vài bữa. Còn sau đó, mày biết tao làm thế nào không? Tao lấy lý do “mệt” nghỉ học rồi đi tát cá. Còn nữa, giữa trưa, tao nghĩ ra cách mang rổ đến mấy đám bèo tây trong mấy cái ao, hứng ở dưới, lấy gậy đập ở trên. Nước nóng, lũ cua đang bám vào rễ bèo rơi vào rổ. Đấy, chăm chỉ một tí cả trại có cái ăn thôi.
Nghe Oanh nói, chúng tôi rất thương nó. Thì ra trong con người của nó vẫn ẩn chứa những tình thương đồng loại mà trước đây tôi không phát hiện ra. Tính cách của thằng Oanh cũng có mặt xấu, nhưng cũng có mặt tốt. Nó không phải là một đứa chỉ nghĩ ra những trò nghịch ngợm hay ăn cắp vặt. Nếu biết động viên, tin tưởng Oanh, Oanh sẽ làm được nhiều việc tốt. Tuy thế tôi lại nghĩ, Oanh có thể làm một, hai ngày thì được, chứ làm sao như vậy cả tuần. Tôi nói với nó:
- Tất nhiên việc mày làm là tốt, nhưng một mình mày làm sẽ ảnh hưởng đến việc học và sức khỏe của mày, rồi chúng tao lại mang tiếng là ăn bám vào mày. Thế này nhé, từ giờ trở đi, đi tát cá hoặc vớt cua bám bèo, mày gọi chúng tao đi cùng, cùng làm với mày, hay hơn...
Từ hôm đó, bà con trong xóm không khỏi ngạc nhiên thấy đám trẻ thành phố về sơ tán cứ trưa trưa lại cắp rổ đến các ao bèo giũ cua bám rễ bèo hoặc chiều chiều lại ra mấy chỗ ruộng xâm xấp nước tát cá. Họ thán phục;
- Con trai thành phố mà chăm không khác mấy đứa trẻ ở nông thôn.
Chúng tôi vui với lời khen đó, mà vui nhất là thằng Oanh.






4

Anh Cường đi bộ đội đã được hai tháng. Nghe đâu ânh cùng đơn vị huấn luyện ở tận Hải Dương, chuẩn bị vào chiến trường ở miền nam. Mới đó tôi và mẹ tiễn bố vào chiến trường cũng hơn hai năm rồi. Bố vào chiến trường, nói sẽ gửi thư ra, mà gia đình tôi cũng chẳng thấy tin tức gì? Em Minh thỉnh thoảng lại nhớ bố, nó hay hỏi mẹ:“ Mẹ ơi! Bố đi bao giờ về ? Con nhớ bố lắm.”. Mẹ ôm thằng Minh vào lòng, nước mắt chảy dài. Thương nhất có lúc mẹ nói: “ Lạy giời! Bố của hai con đừng chết, về với gia đình mình, có que, cụt, mù mắt... khổ mấy mẹ cũng nuôi được.”. Với chị Liên, từ ngày anh Cường lên đường đi bộ đội, nét mặt của chị trông ưu tư hẳn. Chúng tôi không còn nghe thấy tiếng cười hồn nhiên vô tư của chị như hồi anh Cường còn ở nhà. Không phải chỉ riêng tôi mà tất cả bọn trẻ của trại sơ tán Liên Cơ đều biết chị Liên và anh Cường chơi thân với nhau. Mọi việc ở trại hai người đều trao đổi với nhau, đi đâu cũng có hai người. Tôi còn có cảm giác hai người yêu nhau nữa kia. Không phải vì chuyện tôi và Hạnh bắt gặp hai người hôm đi xem cải lương về mà tình cảm của chị Liên dành cho anh Cường khác với mọi người. Khi anh Cường đi khám nghĩa vụ quân sự, chị Liên đi cùng anh ấy về Sơn Hà trong tâm trạng thấp thỏm. Những ngày chờ quyết định của thị đội, nét mặt chị Liên rất buồn, anh Cường cứ phải động viên suốt. Rồi đến ngày anh Cường lên đường, đó là ngày nặng nề của chị. Trông nét mặt chị Liên già hẳn. Anh Cường nhập ngũ, mọi việc ở trại dồn lên hai vai chị. Trừ những buổi đi học, thời gian còn lại chị Liên lo cho chúng tôi , từ chuyện đi mua gạo, thực phẩm đến chuyện học hành, ốm đau...của từng đứa. Thương chị, tôi và Hạnh cũng cố giúp chị. Thằng Oanh cũng bớt nghịch, nó hiểu mọi việc hơn, có ý thức những việc làm của mình.
Còn chuyện tôi với Hạnh.
Không hiểu sao, lúc nào tôi cũng muốn giúp Hạnh, để hai đứa được gần nhau. Hôm tôi thấy Hạnh chuẩn bị rổ rá đi vớt bèo cho lợn hộ bà chủ nhà, tôi vội sốt sắng bỏ tất cả để cùng đi với Hạnh. Hạnh rất ngạc nhiên:
- Sao Thắng không ở nhà học bài? Đi nhặt bèo với Hạnh bẩn lắm.
- Thắng học bài xong rồi! Để Thắng giúp Hạnh nhặt bèo cho nhanh – Tôi chỉ trả lời có vậy, rồi sợ Hạnh không đồng ý, tôi giằng lấy cái rổ trên tay Hạnh, kéo Hạnh cùng đi với mình. Cái ruộng bèo cạnh rìa làng cạn nước, bèo nằm phơi trên mặt bùn. Chân tôi và chân của Hạnh lồi bì bõm. Có chỗ bùn nhão, lún đến tận trên bắp chân. Đưa tay cho Hạnh nắm, tôi cố sức kéo Hạnh lên. Quá đà, chỉ một chút nữa là Hạnh ngã cả người vào người của tôi. Chỉ có thế thôi, mà sao tôi có cảm giác vui vui. Mặt trời lên cao, rổ bèo cũng gần đầy, mồ hôi hai đứa nhễ nhại, không biết lúc đó nét mặt của tôi ra sao ? Còn Hạnh, một khuôn mặt đỏ hồng với ánh mắt long lanh. Tôi nhìn Hạnh chăm chú, Hạnh có vẻ ngượng:
- Thắng đừng nhìn Hạnh như thế nữa, trông chán lắm. Cứ y như hôm Hạnh ngồi trong lớp bị Thắng nhìn ấy...
Ở lớp, Hạnh ngồi gần bàn cuối, còn tôi ngồi ở phía trên, cách bàn của Hạnh mấy dãy. Không hiểu sao, hôm ấy tôi đứng lên, quay xuống phía dưới, bắt gặp khuôn mặt của Hạnh, nhất là ánh mắt, cái ánh mắt như hút hồn, như không cho tôi quay mặt sang hướng khác. Thấy tôi nhìn chăm chăm vào mình, Hạnh buồn cười quá, nhắc tôi:
- Thắng ơi! Ngồi xuống đi...
Tôi giật mình, ngồi xuống, ngượng ngùng.
Bây giờ Hạnh nhắc lại chuyện này. Hôm đó đúng là tôi ngượng, còn hôm nay tôi mạnh mồm:
- Thắng thích thế đấy, Hạnh cấm à !
Hạnh lấy tay đấm khẽ vào lưng tôi:
- Thắng đừng nhìn như thế, Hạnh không thích đâu.
Tôi hỏi Hạnh:
- Hạnh có thích Thắng làm giúp không ?
Hạnh cười, nhìn tôi với ánh mắt rất lạ:
- Không hiểu sao Thắng hỏi Hạnh câu ấy nhỉ? Với lại ...- Hạnh quay mặt đi chỗ khác – Mọi việc Hạnh đều tự làm được. Lúc nào khó, Hạnh sẽ nhờ Thắng. Ở trại, Hạnh thấy Thắng còn bận bao nhiêu việc giúp chị Liên.
Nghe Hạnh nói như vậy, máu tự ái trong người tôi nổi dậy. À ! Nói như thế hả, đây cũng cóc cần. Cũng đừng tưởng đấy là cái gì ghê gớm. Bình thường thôi!Người ta “ quý” mới đến giúp. Còn không cần, đây cũng chẳng dại cầu xin.
Nghĩ như vây, tôi đùng đùng bỏ về, mặc cho chân lội bùn thụt lên, thụt xuống. Bùn bắn lên đến tận mặt, tôi cũng mặc kệ. Hạnh thấy tôi không nói, không rằng tự nhiên bỏ về, gọi với theo:
- Ơ! Thắng ơi, giúp Hạnh bê rổ bèo này về với.
Tôi như không nghe thấy, cứ thế bỏ đi thẳng.
Về nhà, bình tâm, ngồi nghĩ lại, thấy suy nghĩ và hành động của mình cũng vô lý. Hạnh nói thế cũng là bình thường , nào ý gì khinh mình đâu. Hơn nữa, Hạnh nói đúng quá rồi còn gì. Thì cũng giống mình, khi nào có những việc không thể một mình làm được mới đi nhờ người khác. Như hôm nọ, áo tôi bục một đường chỉ, thực ra tôi còn xé ...cho đường chỉ bục to hơn, không khâu được. Tôi mang chiếc áo bị bục đường chỉ đó đến nhờ Hạnh khâu hộ. Hạnh khâu lại cho tôi rất cẩn thận, đâu có từ nan. Mọi chuyện Hạnh nói đúng, đơn giản, có lý tôi lại biến nó thành “ phức tạp”, đi tự ái, quả là vô lý. Tôi phải đến xin lỗi Hạnh.
Tôi đi tìm Hạnh, nghe mấy bạn trong trại nói, Hạnh đã bê rổ bèo về đến nhà rồi. Tôi vội sang đó, trong đầu hình thành những câu nói sao cho nó có tình, có lý nhất để Hạnh hiểu, tha lỗi cho tôi. Cũng coi như đây là một lần để tôi rút kinh nghiệm. Nghĩ trong đầu như thế, nhưng đến ngõ nhà mà Hạnh đang ở, cái gì đập vào mắt tôi thế kia? Thằng Oanh đang ngồi cùng Hạnh thái bèo. Nó với Hạnh nói chuyện gì mà trông có vẻ rôm rả lắm, Hạnh cười ngất. Tôi nép vào bên cống quan sát thấy hết tất cả. Trong người tôi lúc ấy, sự tức giận dâng lên không thể tưởng. Hạnh phải là của tôi, Hạnh không được nói chuyện với bất kỳ ai khác, ngoài tôi. Tại sao Hạnh có thể cợt nhả với thằng Oanh được nhỉ? Chính Hạnh cũng từng có lần khuyên tôi không nên chơi thân quá mức với Oanh, vì tính Oanh còn trẻ con lắm. Hạnh nói với tôi như thế, sao giờ đây Hạnh lại có thể ngồi nói chuyện được với Oanh? Còn chuyện gì thế kia nữa? Thằng Oanh thái bèo bị dao cứa đứt tay. Ối giời! Chảy có tý máu mà làm ra vẻ! Thằng Oanh ôm ngón tay, nét mặt nhăn nhó. Nét mặt lo lắng, Hạnh chạy vội vào trong nhà lấy cái bát điếu của ông chủ nhà quay ra ngay, lẫy bã thuốc lào đắp vào chỗ Oanh bị đứt tay. Trông Hạnh và Oanh có vẻ tình tứ. Thế kia thì...thôi, thế là Hạnh đã phản bội tôi, không còn chơi thân với tôi nữa. Những suy nghĩ ban đầu của tôi về Hạnh đâu có sai. Tôi phải dạy cho Hạnh và cả thằng Oanh nữa một bài học. Đang cùng sôi sục với những suy nghĩ đó, bàn tay tôi bám vào thành cổng bóp vụn những mảng tường vôi bở. Ông chủ nhà dắt con bò đến gần lúc nào mà tôi không hay:
- Cháu làm gì ở đây? Sao không vào nhà?
Tiếng của ông chủ nhà hỏi làm tôi giật mình:
- Không ạ! Cháu...cháu... chờ bạn...
Tôi tìm cách chống chế, rồi không kịp chào ông ấy, tôi quay đầu đi thẳng.
Cả mấy hôm liền, tôi học bài không vào. Thằng Oanh có hỏi, tôi cũng không muốn trả lời. Hạnh lo lắng cho tôi:
- Thắng ốm à?
Tôi im lặng, có cảm giác tủi thân, nhưng tôi cố kìm không muốn thể hiện ra bên ngoài. Sau buổi học, tôi hay tha thẩn dọc bờ mương với một nỗi buồn không thể giải thích được.
Tôi gặp chị Liên, mong ở chị một lời khuyên và hy vọng, biết đâu lại giải tỏa nỗi buồn.
Đêm ấy, trăng sáng lắm. Trăng thu hắt một ánh sáng vàng nhẹ khắp cả cánh đồng. Tôi và chị Liên ngồi trên một vệ cỏ nhìn ra xa. Phía ấy, có ánh chớp liên hồi, sau đó có tiếng nổ ì ầm, rồi tiếng máy bay văng vẳng... Nơi ấy đang bị máy bay Mỹ ném bom. Không biết bao giờ chiến tranh mới chấm dứt. Nỗi buồn này liên tiếp với nỗi buồn khác. Chị Liên hỏi tôi:
- Nào, em có điều gì muốn tâm sự với chị?
Tôi thấy lúng túng thật sự. Chị Liên giục:
- Nói đi em!
Tôi hỏi chị Liên:
- Chị Liên ơi, thế nào là... tình yêu?
Chị Liên hỏi lại tôi:
- Tại sao em lại hỏi chị câu ấy? Năm nay Thắng bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?
- Em mười sáu.
Chị Liên im lặng. Tôi cũng không hiểu chị hỏi tuổi của mình để làm gì. Chị Liên thở dài, tiếng thở dài như nuối tiếc, rồi chị bảo:
- Bằng tuổi của em, chị với anh Cường cùng các em đi sơ tán. Mới đó đã hơn hai năm rồi. Nhưng hồi đó, chị và anh Cường cũng chỉ chơi với nhau thôi, chứ không phải yêu...
- Nhưng em muốn hỏi chị thế nào là tình yêu cơ mà...
- Tình yêu... – Chị Liên nói gần như thì thầm – Có lẽ với tuổi em cũng là hơi sớm, cả với tuổi của chị nữa, có khi chị cũng chưa hiểu hết hai từ đó đâu. Nhưng... tình yêu là... hai người phải thực sự thương nhau, hiểu nhau, không giấu nhau một điều gì cả và đặc biệt đi xa phải nhớ nhau... Nó như thế này, cũng một tối giống như đêm nay, em ngồi cạnh chị, có khác tối ấy là anh Cường. Anh Cường nói với chị nhiều điều lắm. Đến bây giờ chị nhớ như in, thậm chí, chị có cảm giác... hơi ấm của bàn tay anh Cường tối ấy nắm tay chị vẫn còn ấm đến tận giờ. Nhớ ghê gớm như thế. Chị tin anh Cường cũng rất nhớ chị... – Chị Liên nhìn vào tôi – Em có nhớ người ta không?
- Em cũng không hiểu nữa, vì em có xa người ta đâu? Nhưng... – Tôi cố gắng diễn giải – Em chơi thân với người đó, người đó nói chuyện với em vui lắm. Thế sao người ấy cũng lại chơi thân với người khác... giống như chơi thân với em?
Chị Liên giải thích:
- Đó không phải là yêu, em ạ. Mà tại sao em lại cấm người ta chơi thân với người khác cơ chứ? Em nói là mới “chơi thân”, thế người ta đã là gì của em đâu. Hơn nữa, đến khi đã yêu, theo chị nghĩ, cũng không thể nào bắt người kia phải lệ thuộc vào mình, không được chơi với ai. Như vậy là ích kỷ.
- Nhưng... – Tôi cố gắng bảo vệ ý kiến của mình – đã chơi thân với em lại chơi thân với người khác nữa, thế không phải là...là... là bạn tốt...
- Em nhầm, em nghĩ về tình bạn như vậy đã sai, tình yêu lại càng sai. Thôi em ạ, bao giờ em lớn em sẽ hiểu. Tuổi em bây giờ là phải học thật tốt. À, chị hỏi em, bạn thân của em là... ai vậy?
Tôi không nói. Tôi sợ nói cho chị Liên, Hạnh biết được sẽ giận tôi. Chị Liên thấy tôi có vẻ khó xử, xoa đầu tôi:
- Thôi, cậu bé ạ! Cậu còn trẻ con lắm, chưa đến tuổi yêu đâu. Nói thật nhé, tôi cũng biết bạn thân của cậu là ai rồi... Đứng dậy về đi, sương rơi nhiều quá, ở đây lạnh đấy. Em nhớ phải học giỏi đã, đừng yêu sớm như chị, khổ lắm.
Hai chị em tôi trở về trại.
Trong trại còn đôi ba đứa chụm đầu vào nhau học dưới ánh đèn dầu leo lét. Thằng Oanh nằm cạnh giường tôi ngủ vùi. Tôi biết chắc nó ngủ say bởi chiều nay đội bóng của trại đá với đội bóng trong làng, Oanh là thằng tiền đạo, nó chạy nhiều nhất. Mà hình như Oanh cũng chẳng để ý đến nỗi buồn của tôi. Nó hỏi, tôi không nói, nó vẫn vô tư, không để ý, không giận, vẫn chơi với Hạnh, vẫn đá bóng, thỉnh thoảng lại nói đứa này hôi nách, đứa kia thối mồm, đứa nọ đầu đầy chấy, trong đó có cả Hạnh. Khiếp bỏ mẹ! Ấy vậy mà tôi lại túc với Oanh khi nó chơi với Hạnh. Kể cũng ...vô lý to đùng đùng!
Tôi đi qua chỗ Hạnh thường ngồi học, ngạc nhiên không thấy Hạnh ở đó. Tất nhiên tôi biết rất rõ lúc này Hạnh không đi nói chuyện với Oanh rồi. Vậy Hạnh đi đâu? Tự nhiên tôi muốn đi tìm để nói chuyện với Hạnh. Khi tức giận, rất dễ mất bình tĩnh, lúc ấy mọi lỗi lầm tôi cứ nghĩ chỉ do Hạnh, lúc bình tĩnh trở lại mới thấy lỗi đó lại do mình. Không biết chuyện này có ai giống tôi không ? Đi khỏi trại một đoạn, trên con đường làng thưa vắng bóng người, chỉ có đom đóm bay lập lòe trước mặt lúc xa, lúc gần và vài cơn gió lạnh thổi từng đợt, từng đợt. Bỗng tôi thấy một bóng đen đi ngược chiều với mình, dáng rất vội vã. Nhìn kỹ, hóa ra là Hạnh. Tôi chưa kịp hỏi, Hạnh đã hỏi luôn:
- Thắng phải không ? Thắng có thấy chị Liên ở đâu không?
Mọi chuyện định nói chuyện với Hạnh tan biến. Mà hình như Hạnh cũng không để ý đến chuyện giận dỗi của tôi thì phải. Tôi trả lời với Hạnh trong tâm trạng hoàn toàn thỏa mái:
- Chị Liên vừa ngồi nói chuyện với Thắng xong. Hình như chị ghé lại chỗ mấy chị nuôi...
- Thắng đi với mình, có chuyện gấp lắm! – Hạnh kéo tay tôi đi, vừa đi vừa nói có vẻ chuyện đang xảy ra rất trầm trọng- Chuyện này chỉ có thể nói với Thắng thôi...
- Sao Hạnh không nói chuyện đó với Oanh? – Tôi vẫn chưa nguôi chuyện cũ.
-Tính Oanh bộp chộp lắm, không giữ được bí mật đâu. Hạnh chỉ tin Thắng thôi – Hạnh giải thích cho tôi.
Tôi nghe Hạnh trả lời như vậy, thở ra một cách nhẹ nhõm. Thấy mọi việc trở nên dễ dàng biết bao nhiêu. Mọi chuyện đã rõ ràng, sao tôi cứ tự hành hạ mình, nghĩ Hạnh thế này, thế nọ. Lúc này Hạnh có rủ tôi đi lên trời tôi cũng cũng đi. Tôi hỏi Hạnh:
- Có việc gì mà gấp thế ? Hạnh nói cho Thắng biết đi.
Cả hai chúng tôi dừng lai. Hạnh nói thì thầm :
- Anh Cường trốn đơn vị về thăm trại mình và...chị Liên. Mình đi tìm chị Liên suốt từ tối đến giờ.
- Anh Cường đào ngũ! – Tôi sửng sốt.
Hạnh vội lấy tay bịt miệng tôi lại:
- Sao Thắng nói to thế. Không phải anh Cường đào ngũ mà là, như anh ấy nói ...nhớ chúng mình ...nhớ chị Liên quá...Anh ấy về thăm ít hôm rồi sẽ quay về lại đơn vị...
- Sao anh Cường không xin phép đơn vị mà phải trốn? – Tôi vẫn thắc măc.
- Hôm nay Hạnh thấy Thắng thật lạ, hỏi lắm thế ? Làm sao chuyện đó Hạnh biết được? Nhưng có lẽ anh ấy xin về ...thăm chúng mình mà họ... không cho, nên anh tìm cách trốn...
Hạnh dẫn tôi đến gặp anh Cường, anh ấy đang ngồi thu lu trong góc sân đình làng. Đình làng này ban ngày vốn là lớp học của chúng tôi. Anh Cường gặp tôi mừng lắm, còn tôi khỏi phải nói, cứ muốn ôm rít lấy anh. Mới có hơn một tháng xa anh Cường, mà sao tôi thấy lâu là vậy. Tôi nói với anh Cường, anh cứ ngồi đây, để tôi đi tìm chị Liên, còn Hạnh sẽ đi tìm cái ăn cho anh ấy.Anh Cường cho chúng tôi biết, anh phải đi bộ từ ba giờ sáng, mà đi toàn đường tắt, không dám đi đường lớn sợ bị bắt. Từ sáng đến giờ chưa có cái gì vào bụng, trừ mấy củ khoai lang non anh móc ở ruộng, uống vội mấy ngụm nước lã. Nghe anh Cường nói vậy, tôi thương quá. Không biết sau này mình đi bộ đội, rồi cũng yêu, có dám làm như anh Cường không ?
Tôi tìm được chị Liên, bí mật báo tin này cho chị biết. Khỏi phải nói chị Liên mừng đến độ nào. Trên con đường làng lồi thụt lỗ chân trâu ấy, tôi chạy đôi khi còn vấp ngã mà chị Liên chạy, thật lạ, chẳng vấp ngã gì cả, cứ như bay thì đúng hơn...
Khi chị Liên gặp anh Cường, Hạnh kéo tay tôi ra hiệu đi ra ngoài để cho hai người nói chuyện tự nhiên. Hạnh nhắc khéo tôi:
- Thắng chẳng tế nhị một chút nào. Bây giờ không phải như hai đứa mình đi xem cải lương về gặp hai người đâu.
Tôi cười trừ, nhận lỗi, đi theo Hạnh. Phải công nhận những chuyện như thế này bao giờ con gái cũng xử lý khéo hơn con trai. Hạnh cho tôi biết:
- Hạnh đến bác chủ nhà mà hồi trước anh Cường ở cho bác biết là anh Cường đã về. Thế là bác gái cùng mình bê cả nồi cơm và mang cả bát cá rô kho tương ra cho anh Cường. Cả gia đình bác ấy thương anh Cường ghê.
Nghe Hạnh nói vậy, tôi giật mình:
- Sao Hạnh làm thế, lộ ra là chết!
- Anh Cường nói với mình đến đó đấy! – Hạnh giải thích – Nhà bác ấy cũng có con đi bộ đội, bác ấy hiểu. Hồi anh Cường ở đấy, hai bác thương anh ấy như con...
Chuyện anh Cường trốn đơn vị về thăm trại, chỉ hôm sau, cả trại biết. Làm sao mà dấu mọi người được, nhưng chúng tôi thống nhất một cách tuyệt đối là không cho người ngoài biết. Sự thống nhất của chúng tôi đã có một tác dụng không thể tưởng tượng nổi.
Hai hôm sau, kể từ tối anh Cường trốn đơn vị về thăm chúng tôi, anh Khanh dẫn hai anh bộ đội, một anh đeo súng ngắn, còn anh kia trẻ hơn, khoác một khẩu súng dài, về trại chúng tôi để truy tìm anh Cường. Đã rất lâu chúng tôi không gặp anh Khanh, mà trong trí nhớ của từng đứa, có khi chúng tôi cũng quên anh ấy rồi. Bây giờ nghe đâu anh Khanh đã lên chức Phó bí thư Đảng ủy khu phố Lê Lợi, phụ trách công tác tuyển quân. Thế nên anh ấy mới đi truy tìm anh Cường. Anh Khanh tập hợp hết chúng tôi lại ở giữa sân hợp tác, lên giọng:
- Trong khi cả dân tộc đang dồn sức chống xâm lược Mỹ thì tên Cường, một quân nhân, đã đào ngũ. Tên Cường biểu hiện hèn nhát, sợ chết, đầu hàng trốn về phía sau làm hoen ố truyền thống kiên cường cách mạng của khu phố chúng ta. Các em có trách nhiệm giúp các anh đây - Anh Khanh chỉ hai anh bộ đội đứng bên cạnh - Bắt bằng được tên Cường, đưa Cường ra tòa án quân sự để xử. Mấy hôm nay các em có thấy tên Cường về đây không ? - Anh Khanh hỏi chúng tôi.
Chúng tôi đều trả lời là không thấy. Hôm ấy anh Khanh cùng hai anh bộ đội đi lùng anh Cường khắp mọi chỗ, hỏi rất nhiều người, trong đó có cả hai bác chủ nhà, nơi anh Cường đã ở. Mọi người đều nói, không biết, không thấy. Trước khi về lại Sơn Hà, anh Khanh gọi tôi ra , dặn dò, giọng có vẻ uất lắm:
- Thế này Thắng ạ! Việc tên Cường đào ngũ, anh thấy nhục quá. Làm sao ở một khu phố chúng ta lại có một thằng hèn như vậy. Vì thế, em thấy Cường lảng vảng quanh đây, phải lập tức báo ngay cho người lớn biết, bắt tại chỗ. Em làm tốt nhiệm vụ này, anh sẽ khen.
Tôi im lặng, không trả lời.
Tội cho anh Cường, mấy ngày anh bí mật về thăm trại mang tiếng là “ đào ngũ”, điều anh lo nhất là mấy cái hầm trú ẩn quanh trại. Anh nói: “ Các em đắp đất mỏng như thế này làm sao mà chống được với bom bi? Phải đắp đất dày lên.”.Anh cùng chúng tôi không kể sáng tối, đắp đất thành hầm thật cật lực. Anh làm như sợ không đủ thời gian. Anh bàn với chị Liên nên tranh thủ lúc mọi người gặt lúa trại nên xin một ít rạ lợp lại mái nhà tập thể. Có mấy tối anh ở lại với chúng tôi, anh Cường bắt mấy đứa dốt toán nhất mang vở ra cho anh ấy kiểm tra. Chúng tôi không muốn anh Cường đi xa.Không thể có điều đó, anh Cường là người có tự trọng. Trước lúc về lại đơn vị, anh Cường gọi tôi, Hạnh với thằng Oanh cùng mấy đứa nữa, lớn tuổi nhất trong trại đến để anh dặn dò:
- Anh phải về lại đơn vị. Anh không phải là một thằng “ hèn” như anh Khanh đánh giá – Anh nói với chúng tôi như một lời tâm sự của người anh với mấy đứa em – Anh thấy kiểu huấn luyện vừa rồi chắc sắp đi chiến đấu ở Quảng Trị, khó có thể về thăm các em và chị Liên. Xin về, chắc chắn họ không cho, anh đành liều vì nhớ các em và chị Liên quá. Về lại lần này rồi không biết còn có thể gặp lại các em nữa không ? Còn có ngày nhìn thấy nhau nữa không ?- Anh Cường ôm từng đứa vào lòng – Các em sống ở đây phải thương lấy nhau, đừng làm việc gì xấu để bố, mẹ , chị, em và các bác, các cô ở đây buồn phiền. Phải biết nhường nhịn, học thật giỏi, có đạo đức thế là anh mừng. Dù ở phương trời nào anh vẫn rất nhớ các em.
Anh Cường không khóc, nhưng mắt anh đỏ hoe. Hạnh và chị Liên khóc thành tiếng. Còn tôi, thằng Oanh và mấy đứa khác đứng chết lặng.
Anh Cường tạm biệt chúng tôi, bước mạnh ra phía trước, để lại cho tất cả một nỗi trống vắng không thể tả...






Mùa đông năm ấy không hiểu sao tiết trời lại lạnh một cách ghê gớm như thế. Ngoài trời, gió bấc thổi hun hút, mấy tàu chuối lá chuối cạnh trại rách tơi tả, rũ rượi mặc cho gió muốn làm gì thì làm. Đã vậy, còn có những cơn mưa phùn dầm dề làm cho cái lạnh thấm vào người thật tái tê. Mấy cái áo bông mẹ gửi cho tôi và em Minh mặc cũng không đủ ấm. Ngồi trong lớp với ánh sáng tù mù, tay tôi cầm bút, hơi lạnh thấm vào làm cho các ngón tay cứ như bị khô cứng cả lại. Những tối về ngủ, cả bọn bên giường con trai cố quấn chặt vào nhau, thằng nào cũng muốn len vào giữa. Bên con gái cũng thế, không đứa nào chịu nằm bên ngoài. Chị Liên phải đứng ra làm trọng tài để xếp chỗ...
Từ chiều đến giờ, tôi đang có một nỗi lo cháy ruột: Không hiểu sao Hạnh và một số bạn nữa, được chị Liên phân công đi mua gạo cho trại đến bây giờ vẫn chưa về? Trời lạnh thế này, đường quê lại khó đi, không đèn đóm, mang vác nặng, không biết Hạnh và mấy bạn sẽ xoay xở ra sao? Lẽ ra, tôi và Oanh làm việc này, nhưng có việc đột xuất nhà trường phân công, nên không đi được, chị Liên phân công Hạnh và mấy bạn nữa, đi thay. Cứ nghĩ, độ bốn, năm giờ chiều là Hạnh và các bạn có mặt ở nhà, thế mà đến bây giờ hơn bảy giờ tối, chẳng thấy mọi người đâu. Cơm canh để phần cũng nguội lạnh hết cả rồi.
Tôi ăn cơn cùng mấy bạn không hề có cảm giác, cố ăn nhanh để đứng lên. Nhìn sang mâm cơm để phần cho Hạnh cùng mấy bạn mà tôi tưởng tượng ra đủ thứ chuyện. Có lẽ gạo bị đổ, hoặc các bạn đi lạc, cũng có khi... các bạn bị bọn xấu cướp hết tiền, tem phiếu. Tôi đã nghe một câu chuyện tương tự xảy ra ở xã bên.
Thấy tôi cứ bồn chồn hết ra lại vào thỉnh thoảng lại hỏi chị Liên làm chị Liên cũng sốt ruột. Chị gọi tôi với Oanh lại:
- Không biết vì sao bây giờ mà Hạnh cùng với mấy bạn vẫn chưa về. Chị cũng cảm thấy lo lo. Hai em thử đi xem tình hình như thế nào? Lẽ ra chị sẽ đi cùng các em, nhưng ở trại có hai bạn đang cấp cứu vì sốt, chị phải ở lại. Có chuyện gì thì một trong hai em phải về đây ngay báo cho chị biết.
Nói xong, chị Liên giục tôi và Oanh mặc thêm áo ấm, khoác áo mưa, tay mỗi đứa cầm thêm một cái gậy đi ngay trong đêm.
Đêm mùa đông đen kịt như đặc quánh lại. Oanh đi trước tôi có nửa mét mà chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe ở phía trước tiếng sột soạt của áo mưa, tiếng nước mưa rơi xuống mặt đường tí tách, tiếng gió thổi rít bên tai. Có lẽ cảm nhận rõ nhất là cái lạnh ngắt của mặt đất thấm vào gan bàn chân. Oanh quay lại dặn tôi:
- Mày cố bám sát vào tao, đi gần sát nhau cũng có khi cũng bớt lạnh. Tao nghe một số người nói như thế.
Bớt lạnh thì chưa chắc, nhưng bớt sợ, bớt đi nỗi cô quạnh thì đúng hơn. Hai chúng tôi vẫn lầm lũi đi. Mưa rây nặng hạt, chưa có dấu hiệu ngừng. Gió vẫn thổi lúc nhẹ, lúc mạnh. Hai tay tôi tê cứng bởi một tay nắm chặt hai mép áo mưa vào nhau. Còn tay kia nắm chặt cây gậy chống chọi với đường trơn và gió.
Dọc đường, hầu như chúng tôi chẳng gặp ai đi ngược chiều để hỏi chuyện. Giời lạnh thế này, có phát rồ mới ra đường. Khi Tôi và Oanh đến cửa hàng gạo mà trại thường mua, xung quanh đóng cửa im ỉm, trước cửa hàng lạnh ngắt không một bóng người. Tìm mãi, mới thấy ở góc cửa hàng có một ánh đèn dầu le lói. Tôi với Oanh lò dò tiến đến chỗ có ánh sáng của ngọn đèn dầu đó. Tiếp chúng tôi là một người đàn ông, nghe tiếng nói có thể đó là một người trung niên, không biết béo hay gầy vì ông ta khoác trên mình một tấm chăn chiên to xù. Chúng tôi chào người ấy và hỏi có thấy mấy bạn chúng tôi đến đây mua gạo không ?Người đàn ông này cho biết:
- Cửa hàng này hết gạo và hết mỳ gần một tuần nay. Muốn mua gạo và mỳ phải đi sang cửa hàng gạo đóng ở Minh Trung, cách đây gần hai chục cây số, có lẽ mấy em ở trại Liên Cơ đi sang đó mua gạo rồi.
Chỉ có thể như thế thôi nên Hạnh và các bạn đi bây giờ mới chưa về. Một tình huống tôi và Oanh không tính đến. Tôi và Oanh chào người đàn ông rồi đi ra. Phải đi tìm bằng được Hạnh và mấy bạn. Hai chúng tôi bàn với nhau. Oanh sẽ quay về trại báo tin này cho chị Liên biết để chị cử thêm người tiếp viện, còn tôi sẽ đi sang Minh Trung giúp Hạnh và các bạn.
Oanh quay về, còn tôi, một tay cầm gậy chống, một tay tiếp tục túm chặt tấm ni lông, lần theo con đường cái sang Minh Trung.
Hạnh ơi! Bạn ở chỗ nào? Bạn có biết bây giờ Thắng lo cho bạn và các bạn cùng đi, nhiều như thế nào không ? Lẽ ra, cửa hàng hết gạo các bạn quay về báo cho chị Liên và bọn mình biết, làm sao thân con gái, bạn liều như thế?
Mưa hình như mỗi lúc một nhiều hơn, gió thổi mỗi lúc cũng như mạnh hơn. Lúc nãy đi cạnh Oanh, có lúc tôi cũng thấy sờ sợ khi nhìn ra xung quanh. Nhưng không hiểu sao bây giờ tôi chẳng sợ một điều gì cả. Xung quanh tôi, vẫn đồng không, mông quạnh, không một bóng người, tiêng côn trùng rỉ rả.. .sao tôi lại thấy bình thường, cố nhìn ở phía trước, mong phát hiện ra Hạnh và các bạn.
Trời vẫn mưa.
Gió vẫn thổi.
Có lẽ tôi đã đi được một đoạn đường cũng khá xa. Mệt, lạnh và cả sốt ruột nữa. Tôi tựa vào một thân cây đứng ven đường, nghỉ một chút lấy sức. Tự nhiên có tiếng người lao xao ở phía trước làm cho tôi bừng tỉnh, mọi mỏi mệt như tan biến. Có thể Hạnh và các bạn đang về! Đúng như suy nghĩ của tôi, đúng là nhóm của Hạnh đang vác gạo trở về.
Gặp tôi, các bạn reo lên mừng rỡ. Tôi vội đỡ ngay chiếc ba lô đựng gạo của của Hạnh. Hạnh ngăn lại, lắc đầu:
- Thắng vác gạo hộ cho Tiến đi. Bạn ấy mệt lắm rồi. Hạnh còn sức, còn đi được!
Sức vóc của Tiến không được khỏe vẫn xung phong đi vác gạo, giờ đã mệt. Tôi đỡ bao gạo cho Tiến, quay lại trách nhẹ Hạnh:
- Không có gạo ở cửa hàng chúng mình hay mua, thì Hạnh cho các bạn quay về có sao đâu, để ngày mai mua cũng được. Sao Hạnh với các bạn liều thế!
Hạnh giải thích:
- Thắng không biết sao? Các kho gạo chỉ bán từ ba giờ chiều trở đi thôi vì họ sợ máy bay Mỹ ném bom. Hơn nữa, phải tranh thủ đi ngay mà mua, trại của chúng mình cũng sắp hết gạo rồi. Đến lúc trại mình không còn lương thực, ở đây cũng hết gao, cửa hàng bên Minh Trung cũng hết gạo, bọn mình lấy cái gì mà ăn? Nghĩ thế, cả bọn quyết tâm sang luôn Minh Trung mua gạo.
- Mua gạo với mỳ xong thì gửi đấy rồi về báo cho chúng mình biết để cả trại đi lấy gạo có tốt hơn không ?
- Mình cũng định thế - Hạnh nói – Nhưng từ trại mình sang Minh Trung đâu có gần, mỗi người cố một tý để đỡ vất vả lần sau.
Trong khó khăn, chúng tôi đã sống vì nhau, vì cái tập thể nhỏ nhoi này. Gần như mỗi người trong chúng tôi đều quên hết những vất vả của bản thân, mội người như gần lại nhau hơn, thân nhau hơn. Riêng với Hạnh, tôi không thể dấu dược tình cảm của mình. Tôi chủ định đi lùi phía sau Hạnh, lấy hai tay nâng ba lô của Hạnh lên, cho Hạnh thấy bớt nặng. Hạnh hiểu động cơ của tôi, quay lại phía sau, nói nhỏ:
- Thắng ơi! Đừng lo cho Hạnh nhiều. Hạnh còn sức mà. Thắng giúp mấy bạn khác đi.
Hạnh nói thế nhưng tôi biết Hạnh rất mệt.Tiếng thở của Hạnh nghe có vẻ nặng nhọc. Thỉnh thoảng Hạnh phải đứng lại xốc ba lô gạo, nếu không có tôi đỡ, Hạnh dễ ngã lắm.
Khi chúng tôi gặp chị Liên, Oanh và gần như tất cả các bạn trong trại Liên Cơ thì đã gần nửa đêm. Tất cả ôm nhau, mừng mừng, tủi tủi. Sao lúc đó chúng tôi thân nhau đến thế.
Sau buổi đi lấy gạo về, tưởng Hạnh hoặc ai đó sẽ sốt chứ không phải tôi. Ấy vậy mà ngược lại, tôi lại sốt. Có lẽ tôi nhiễm nước mưa, bị cảm lạnh. Những ngày tôi đau, Hạnh luôn luôn ở bên cạnh, lúc giúp tôi nấu nồi nước xông, lúc giặt hộ bộ quần áo, chăm sóc em Minh thay tôi. Nhìn Hạnh tất bật với bao công việc của trại, giúp chị Liên phân chia thực phẩm, giúp các em học tổ, nay lại còn lo cho tôi ... Tôi nghĩ, khỏi sốt tôi sẽ nói cho Hạnh biết tình cảm của mình. Tôi rất tin, Hạnh sẽ đáp lại tình cảm của tôi.
Nghĩ thì dễ như thế, nhưng đến lúc nói thì cực kỳ khó. Không biết Hạnh có hiểu tình cảm của tôi dành cho Hạnh không? Cứ nghĩ đến Hạnh, tôi học không vào. Nhìn thấy Hạnh trong lớp, cùng sinh hoạt trong trại... đâm quá quen. Tôi phải đi đâu đó, vắng Hạnh có một buổi đã nhớ quay quắt rồi lại liên tưởng, suy diễn ra đủ thứ chuyện. Tôi muốn nói thực suy nghĩ của mình để Hạnh mãi mãi thuộc về tôi. Nghĩ mãi, một tối, sau buổi học nhóm, tôi nói với Hạnh:
- Hạnh có thể đi với Thắng ra ngoài này, Thắng muốn nói với Hạnh một chuyện, được không ?
Đắn đo một lúc rồi Hạnh đi theo tôi.
Hai chúng tôi đi ra rìa làng, đúng cái chỗ mà tôi và chị Liên đã từng ngồi. Hai chúng tôi ngồi xuống. Hạnh hỏi:
- Thắng định nói chuyện gì với mình mà phải ra đây?Trời tối đen thế này, mình sợ quá. – Hạnh xích lại gần tôi một chút nữa.
Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập, nghe rõ cả tiếng con dế nấp dưới bụi cỏ đang kêu, nghe rõ cả tiếng lá tre khô rơi. Nghe rõ tất cả. Hạnh lại giục:
- Thắng nói đi, sao lại im lặng như thế ?
Nói như thế nào nhỉ ?Tôi thấy tức thở, cố tìm một từ để diễn đạt, sao lúc này thấy khó thế:
- Mình muốn nói với Hạnh là ... là... thế này. Hai đứa mình chơi thân...chơi thân... thân với nhau...
Hạnh cười nho nhỏ:
- Thì mình với Thắng vẫn chơi thân với nhau đấy chứ!
Tôi đã lấy được bình tĩnh:
- Nhưng... mình với Hạnh...thân khác với kiểu thân của mọi người.
- Hạnh có thấy cái gì khác đâu, tình bạn của mình với Thắng giống như các tình bạn khác, khó khăn cùng giúp nhau, có niềm vui cùng hưởng chung. Thắng nói khác chỗ nào? – Hình như Hạnh cố tình chọc tức tôi.
Tôi hơi tự ái;
- Thế Hạnh không hiểu tình cảm của Thắng dành cho Hạnh à ?
Hạnh lắc đầu:
- Hạnh thấy tình cảm của Thắng dành cho Hạnh cũng giống như dành cho mọi người khác, có gì khác đâu!
Hạnh nói thế làm sao tôi chịu được. Không thể giữ được bình tĩnh, tôi nói liền một hơi:
- Hạnh có hiểu Thắng lo cho Hạnh nhiều như thế nào không? Hạnh hơi mệt, Thắng cũng lo. Đấy, như buổi Hạnh đi lấy gạo vừa rồi, ở nhà thấy Hạnh về muộn không biết lý do, là Thắng không chịu được. Cứ nghĩ, Hạnh có bị làm sao thì hình như trong chuyện đó, Thắng có lỗi, vì chuyện nặng nhọc như thế, Thắng phải đi chứ. Rồi còn chuyện chị Liên phân công quản lý trại, bao giờ Thắng cũng nhận phần hơn, vì nghĩ Hạnh quá vất vả, không nên để Hạnh làm nhiều. Cho đến tận bây giờ, Thắng vẫn nghĩ sẽ ở cạnh Hạnh, phải giúp Hạnh làm mọi việc để việc đến với Hạnh sẽ nhẹ nhàng hơn, dễ làm hơn...- Tôi nắm lấy tay Hạnh – Hạnh có biết ...Thắng ...Thắng cần Hạnh như thế nào không ?
Hạnh rút tay ra khỏi tay tôi, mà hình như Hạnh cũng ngồi lùi ra xa tôi một chút, không cho hai người chạm vào nhau.
- Thắng nói hết chưa ?
Tôi im lặng. Có lẽ Hạnh nhìn tôi, một lúc sau Hạnh nói thật bình tĩnh, đủ cho tôi nghe rõ:
- Hạnh rất cảm ơn những điều Thắng đã giúp Hạnh bấy lâu nay. Còn từ bây giờ, Thắng đừng giúp Hạnh như thế nữa, Hạnh đều tự làm được. Hạnh tưởng Thắng rủ Hạnh ra đây nói điều gì chứ, chứ những điều Thắng vừa nói với Hạnh, Hạnh hiểu, sắp tới Hạnh sẽ phải làm gì để trả ơn lòng tốt của Thắng. Thắng tin đi, bao giờ Hạnh cũng là bạn tốt của bạn. Còn bây giờ...Thắng ạ! Mình phải về thôi, khuya rồi...
- Hạnh! Hai chúng mình phải nói chuyện một lúc nữa chứ. – Tôi có cảm giác mình sắp đánh mất một thứ gì đó vô cùng quý giá – Hạnh mà bỏ về, Thắng vẫn ngồi đây đấy!
- Không ! – Thái độ Hạnh vẫn rất cương quyết, tôi chưa từng thấy – Thắng có ngồi đây, Hạnh cũng về. Về để chuẩn bị bài vở ngày mai đi học.
Tôi nghĩ, chắc Hạnh chỉ dọa tôi thôi, đường tối đen thế kia, lại là thân con gái, không có tôi bên cạnh, có cho kẹo Hạnh cũng không dám về. Lúc nãy Hạnh còn sợ cơ mà! Tôi đã lầm. Hạnh hỏi lại tôi một lần nữa :
- Thắng có về không ?
- Không! Thắng muốn ngồi đây một lúc nữa – Tôi trả lời.
- Thế thì...Thắng ngồi lại nhé ! Chào Thắng, Hạnh về trước.
Và Hạnh về thật. Hạnh bước mạnh bạo, không hề sợ hãi. Bóng Hạnh vừa đấy đã mất hút.
Những bước chân của Hạnh, tôi nghe xa dần.
Tôi ngồi lại, cảm nhận một thất bại ê chề. Chưa bao giờ tôi khóc, thế mà tối đó, tôi đã khóc....




HẾT TẬP II – PHẦN II

]]>
http://trankytrung.com/read.php?18 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá - Tập II]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 17:03:23 +0000 http://trankytrung.com/read.php?18 TẬP II

Trưởng Thành
Tập 2 – Phần 1
1
Giữa hè năm ấy, chúng tôi được lệnh đi sơ tán vì máy bay Mỹ đã ném bom rất gần thị xã. Chúng tôi không được sinh hoạt tập trung nữa, phải phân tán thành từng tổ. Những trò chơi như đá bóng, cắm trại... mà mùa hè trước chúng tôi hay tổ chức, giờ đã trở thành những ước mơ. Cũng không còn những cánh diều thả lưng chừng trời để chúng tôi nhìn lên trong ánh mắt hân hoan mỗi buổi chiều, cũng mất hẳn những trò chơi đánh trận giả hằng đêm... Trong thị xã, mọi hoạt động, nhất là về ban đêm, trầm lắng hẳn, thật buồn. Rạp chiếu phim đóng cửa, những tấm biển quảng cáo không còn đề tên phim mới, chữ phấn nhạt nhòa, không ai buồn đọc. Ban đêm, cả thị xã không một ánh đèn điện, các căn nhà đều leo lét những ánh đèn dầu. Đã thế, đèn đầu ánh sáng leo lét phải che, không cho hắt ra bên ngoài, sợ máy bay Mỹ thấy. Cả thị xã ngủ mà như thức. Chỉ một tiếng ì ì rất xa, còi báo động cất lên, tất cả mọi người vội lao ra hầm, tâm trạng chờ đợi cực kỳ căng thẳng...
Mọi thứ thực phẩm trong thời kỳ này đều rất quý. Có cái gì gọi là ăn được, nhà nào nhà nấy cố tích lũy, nhất là gạo và mì sợi. Khổ nhất đối với chúng tôi, có bao nhiêu quần áo trắng hoặc màu nổi nổi một tí đều phải nhuộm thành màu xanh tất. Mà loại áo quần kiểu ấy, tôi với thằng Oanh cũng có kha khá, nếu như mang đến cửa hàng nhuộm ở chợ thì mất nhiều tiền, xót ruột lắm. Phải có cách nào chứ? Cạnh chợ có một dãy hàng quán bán thịt lợn, bán bún chả, bán bánh kẹo... trong đó có cả cửa hàng nhuộm quần áo nữa. Thằng Oanh bỏ cả một buổi quan sát cửa hàng nhuộm của bà Béo, rồi nó nói với tôi:
- Tao với mày khỏi phải xin tiền mẹ để nhuộm áo quần rồi Thắng ạ! Tao phát hiện bà Béo để nước nhuộm màu xanh vào cái chảo ở góc bếp của cửa hàng bà ấy, ngày mai bà dùng cái nước ấy nhuộm hàng cho khách. Tối nay, khoảng mười giờ, tao với mày ôm đống áo quần, đột nhập đằng sau, nhúng quần áo vào đó thành màu xanh rồi ôm về giặt lại, đỡ tốn tiền, tiền đó để mua thứ khác.
- Đúng thế không?
- Hôm qua tao đã nhìn kỹ lắm rồi, tối nay cứ thế thực hiện thôi –Thằng Oanh nói khẳng định với tôi.
Tối ấy, cả khu chợ tối như hũ nút, trời lại mưa lâm râm xung quanh tịch bóng người. Tôi cùng thằng Oanh ôm đống quần áo chui được qua một hàng rào dựng lên bằng dây thép gai rỉ, đến được cửa hàng nhuộm của bà béo. Tôi cứ đinh ninh thằng Oanh đã quan sát kỹ. Vì từng đường đi, nước bước có vẻ nó chỉ cho tôi rành rẽ lắm. Chúng tôi đột nhập được vào trong. Đến gần một cái chảo to có úp cái vung làm bằng tôn bên trên, tôi hỏi lại thằng Oanh:
- Chắc chắn cái chảo này chứ?
- Đúng quá còn gì! – Nó giục tôi – nhấc nắp vung lên cho quần áo vào đi!
Trong đêm tối, hai thằng tôi mò mẫm, lịch kịch nhấc nắp vung tôn lên, ấn vội đống quần áo vào bên trong cái chảo... Vội vàng, lại không nhìn rõ nữa, khi đống quần áo ấn vào thì một mùi chua chua, nồng nồng xộc thẳng vào mũi hai đứa. Tôi thò hẳn tay vào bên trong. Cái gì thế này? Không có nước mà là cái gì đó sền sệt, nằng nặng... bết lấy tay tôi. Tôi đưa tay lên mũi ngửi. Chết cha tôi rồi! Tôi và Oanh đã nhúng quần áo vào cái chảo họ... nấu cám lợn!
Tôi hốt hoảng:
- Oanh ơi! Đây là chảo người ta nấu cám cho lợn ăn, sao mày lại bảo là chảo đựng nước nhuộm quần áo? Làm sao bây giờ.
Thằng Oanh cũng hốt hoảng không kém tôi:
- Tao quan sát kỹ lắm rồi cơ mà, tại sao thế nhỉ? – Nó lọ mọ ra góc nhà bếp rồi thốt lên – Bỏ mẹ, đây mới là chảo đựng thuốc nhuộm, họ lại bỏ xuống đặt cái chảo đựng cám lợn lên thay.
Tôi quá tức giận:
- Mày là thằng hậu đậu, lẽ ra phải nhìn cho kỹ chứ...
Oanh “phản pháo”:
- Họ thay chảo, làm sao tao biết được? Có giỏi mày đi làm thay tao đi...
- Mày chỉ được cái to mồm...
- Mày có hơn gì tao, cũng to mồm...
- Mày nói cái gì? Nhìn kìa, cả đống áo quần giờ thì thành cám lợn.
Cũng vừa lúc ấy, bên ngoài có ánh đèn pin chiếu loang loáng, rồi tiếng người hỏi:
- Ai trong quán đấy nhỉ, nói gì thế? Có ra ngoài này không?
Thôi chết rồi, tiếng ông Tự bảo vệ chợ. Tôi và Oanh hồn vía lên mây. Ông Tự đến cửa hàng bà Béo mở chốt cửa , chiếu đèn pin vào hai đứa. Thấy tôi và Oanh đứng như trời chồng, ông Tự giật mình:
- Hai cháu làm gì ở đây?
Ông lia ánh đèn pin vào chảo nấu cám lợn thấy lều bều một đống áo quần, ông càng ngạc nhiên:
- Các cháu định làm cái trò gì thế này?
Không còn cách nào khác, chúng tôi đành thú thật mọi chuyện. Ông Tự lắc đầu, bắt chúng tôi vớt quần áo ra, mang về nhà giặt lại. Nhìn chúng tôi khổ sở vớt quần áo dính be bét trong cái chảo cám lợn ra, ông Tự ngán ngẩm, lắc đầu:
- Thế mà ông cứ tưởng bắt được quân... ăn trộm. Ai dè “ bắt” được hai ông tướng có sáng kiến nhuộm quần áo bằng cám lợn...
Suốt hè năm ấy, nhiều đứa bạn gặp tôi và Oanh hay đề nghị:
- Bao giờ chúng mày đi nhuộm quần áo bằng cám lợn, cho chúng tao đi với. Mà này, sau khi nhuộm bằng kiểu ấy thì quần áo sẽ ra màu gì chúng mày nhỉ?
Rõ là một phút không cẩn thận để thành một bài học nhớ đời.




Không khí chiến tranh tràn ngập thị xã. Không ngày nào là không nghe thấy tiếng bom nổ, ban đêm nhìn lên, đạn bắn lên đỏ cả một góc trời. Chỉ thị của trên là phải cho tất cả học sinh đi sơ tán gấp.
Thế là chúng tôi lên đường.
Mẹ cho hết áo quần, chăn màn của tôi và em Minh vào một cái bọc vải to đùng. Mẹ lấy thịt nạc giã làm ruốc để ăn dần. Trước khi anh em tôi đi sơ tán, mẹ còn đưa mấy phong lương khô Trung Quốc. Mẹ dặn tôi:
- Mấy phong lương khô này chỉ dùng khi nào thật cần thiết, nghĩa là không còn cái gì, con với em Minh mới được mang ra ăn. Đi sơ tán, hai anh em không được nghịch ngợm. Thứ bảy, thu xếp được, mẹ sẽ lên thăm...
Không hiểu với người khác thế nào chứ đi sơ tán về lại vùng nông thôn, tôi khoái lắm. Bao nhiêu kỷ niệm hồi ở Quốc cứ lần lượt hiện về. Sẽ có trò đi tát cá, có cả trò đi chăn trâu bắt dế để nướng, rồi thả diều nữa...Tôi sẽ chứng tỏ cho thằng Oanh biết.
Tất cả bọn tôi được tập trung thành một đoàn, cũng không đông lắm. Chịu trách nhiệm chung là anh Cường và chị Liên, đúng theo ý nguyện của chúng tôi mà cũng đúng theo ý nguyện của hai người - Đó là suy nghĩ của tôi. Anh Khanh phải ở lại phụ trách dân quân và công tác tuyển quân cho khu phố. Lúc anh Cường đứng cạnh chị Liên phổ biến những nội quy khi đi sơ tán, tôi để ý thấy anh Khanh nhìn anh Cường với ánh mắt rất tức tối. Tôi biết chắc anh Khanh không thích anh Cường gần chị Liên, nhưng không biết làm sao.
Nơi chúng tôi đến là một nơi thật xa thị xã, đạp xe đạp cũng phải mất gần một ngày... Bọc quanh làng là những hàng tre xanh ngát. Ngay rìa làng bên này là một cái đầm sen lớn, chúng tôi đến đúng lúc sen nở, nhìn đến hút tầm mắt chỉ thấy những cánh sen hồng đung đưa theo gió, hương thơm dìu dịu. Rìa bên kia làng là một nhánh của con sông lớn, mùa này nước cạn, rất trong, chúng tôi không cần bơi mà có thể lội qua, lội về không sợ chết đuối. Tôi khoái ra mặt. Nhìn con sông, tôi nhớ hồi ở Quốc tắm ao với chúng bạn. Tưởng sẽ không còn bao giờ được vùng vẫy trong làn nước trong xanh nữa...
Trước mắt, do chưa làm được trại tập thể, anh Cường và chị Liên phân chúng tôi ra thành từng nhóm nhỏ tỏa về các gia đình trong làng. Anh em tôi được phân về ở với gia đình ông Mẹo.
Vợ chồng ông Mẹo có hai người con, người con trai nghe đâu làm tận Hòn Gai - Móng Cái, một năm về nhà đôi ba lần, còn người con gái của ông bà lấy chồng ở tỉnh bên, thỉnh thoảng có đưa con về thăm ông bà ngoại. Chúng tôi được ông, bà coi như cháu con trong nhà. Khi anh Cường đưa hai anh em tôi đến, ông bà mừng lắm. Ông Mẹo ra tận cổng đón chúng tôi, đưa cả hai vào nhà, chỉ một tấm phản rộng kê ở góc nhà, nói xởi lởi:
- Hai cháu nằm đây. Ăn cơm với nhà ông cũng được. Ông có sẵn hai chum cà muối, cứ gọi là ăn cả năm cũng không hết...
Anh Cường có vẻ vui vì không khí thân mật của gia đình ông Mẹo:
- Thưa ông, tạm thời chưa có trại nên chúng cháu gửi hai em đến ở tạm nhà ông bà, khi nào trại làm xong, chúng cháu sẽ đón hai em về. Các em còn nhỏ tuổi, có điều gì không phải, mong hai ông bà cứ chỉ bảo.
Bà Mẹo nói vui:
- Không nghe là tôi lấy roi quật quắn đít ấy chứ! Ấy, bà nói vui thế thôi – Bà xoa đầu em Minh – Trông kháu khỉnh thế này, nỡ nào bà đánh cháu, có phải không nào?
Tối đầu tiên ngủ trong nhà lạ, em Minh nhớ mẹ, khóc thút thít. Tôi không ngủ được, nhớ mẹ, nhớ bố. Giờ này, không biết bố đã ở tận đâu? Còn mẹ chắc cũng nhớ anh em tôi, không ngủ được. Tôi lại nhớ cái thị xã nhỏ nhoi của tôi, nhớ đến từng gốc cây bàng, nhớ những tối cùng Oanh đi bắt ve, rồi chiều nào hai đứa vác một cái sào dài ngoẵng, một đầu dính nhựa mít đi lang thang bắt chuồn chuồn... Khuôn mặt tôi nhớ nhất là thằng Bình. Giá như nó còn sống, biết đâu nó cũng đi sơ tán với chúng tôi. Nó là thằng chịu khó, ở hoàn cảnh này, nó sẽ bày cho chúng tôi bao nhiêu trò...
Tôi đang miên man với bao kỷ niệm thì từ trong buồng bà Mẹo bước ra, tay cầm ngọn đèn dầu. Bà lại gần chỗ anh em tôi nằm. Có lẽ tiếng khóc của em Minh làm bà thức giấc. Bà hỏi tôi:
- Thắng ngủ chưa cháu?
- Dạ, cháu chưa ngủ! – Tôi trả lời.
- Thế sao em Minh lại khóc? – Bà Mẹo để cái đèn dầu lên bàn, vén màn đến ngồi cạnh em Minh.
- Có lẽ em nhớ mẹ, bà ạ. Anh em cháu chẳng bao giờ xa mẹ như thế này.
- Ờ, ờ... bà hiểu rồi. Sư bố thằng Mỹ, làm cho cháu của bà phải xa bố, mẹ.
Rồi bà Mẹo dỗ dành thằng Minh bằng tiếng ru:
À... ơi...
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều...
À... ơi...
Con ơi, con nhớ câu này
Công cha, nghĩa mẹ đều dày như nhau
Có sống đến muôn ngày sau
Ơn trả, nghĩa đáp chẳng bao giờ bằng...
Cứ thế, bà Mẹo ru hết câu này đến câu khác. Em Minh và cả tôi nữa chìm vào giấc ngủ say lúc nào không hay...
Tôi nhập vào gia đình ông bà Mẹo rất nhanh. Mót lúa tôi cũng làm được, phơi rơm đối với tôi không hề xa lạ, cắt cỏ cho trâu, tôi từng quen tay.
Bà Mẹo khen:
- Bà phục cháu đấy! Con trai thành thị mà làm chẳng thua mấy đứa ở thôn quê. Ai dạy mà cháu làm giỏi thế?
Bà Mẹo có biết đâu tôi đã có một thời kỳ dài ở nông thôn. Hảo đi đâu, tôi đi đấy, Hảo làm cái gì, tôi làm cái nấy, thạo hết tất cả các công việc. Nghe bà Mẹo hỏi thế, tôi chỉ cười, không trả lời.
Đến giờ thì thằng Minh cũng quen nơi ở mới. Nó giống tôi, coi ông bà Mẹo như ông bà của mình. Bà Mẹo tội lắm, có củ khoai nướng cũng để dành cho anh em tôi. Đi làm đồng bắt được con cà cuống, bà cũng lấy rơm buộc cánh về đưa cho em Minh... Mẹ tôi lên thăm hai anh em, thấy tình cảm của ông bà Mẹo như vậy, có vẻ yên tâm. Bà Mẹo nói với Mẹ:
- Cô cứ để hai cháu ở đây, tôi trông cho. Chú ấy vì nước phải đi bộ đội, còn cô lại bận công tác nhà nước phân công, toàn là việc vất vả...
Mẹ tôi nói mà rơm rớm nước mắt:
- Con biết ơn bố mẹ lắm...
Hàng ngày, tôi và em Minh lên trại sinh hoạt đội do anh Cường và chị Liên chỉ huy. Buổi trưa và buổi chiều thì hai anh em tôi đến bếp ăn cơm, còn buổi tối chỉ điểm danh rồi về từng gia đình ngủ. Tối có trăng là tôi thích nhất, có thể đùa thoải mái mà chẳng ai cấm đoán. Bọn trẻ trong làng cũng rất thích đùa với chúng tôi. Từ ngày trại sơ tán về đây, không khí ồn ào hơn. Ở đây có những bãi cỏ rộng tít tắp, đêm trăng chia phe đánh trận giả thích ơi là thích. Chúng tôi có thể chơi đến tận khuya. Chơi xong, nếu đói, bọn trẻ trong làng lại rủ chúng tôi lội qua sông, đến các bãi ngô của mấy xã bên ăn trộm mang về nhà luộc.
Tối hôm ấy, mấy đứa ở trong thôn cùng bọn tôi quyết định sang bên kia sông ăn trộm ngô. Chúng tôi phân công mấy đứa con gái ở bên này bờ trông quần áo, còn bọn con trai bí mật lội qua sông. Sông cạn, nước chỉ đến lưng chừng bụng, bọn tôi nhón chân đi thật khẽ, cố không để phát ra tiếng động, đầu cố cúi thật thấp, thần kinh căng thẳng, mắt không chớp, cố phát hiện ra những điều bất trắc, tai tập trung lắng nghe mọi tiếng động. Thật lòng, tôi khoái cảm giác này. Cứ như các chú bộ đội đi trinh sát đồn địch. Cánh đồng ngô, ngô đang lên bắp, ken dày. Dưới ánh trăng, bãi ngô như được tráng một lớp mỡ mỏng, lấp lóa thật đẹp. Bọn trẻ trong làng cho tôi biết, chúng cũng đã mấy lần ăn cắp ngô trót lọt. Còn lần này...
Chúng tôi tiến lại gần bờ, nhìn quanh thấy im ắng, hơi yên tâm, toan tiến vào gần tí nữa. Bỗng từ đâu, đất ném ra tới tấp, có những tiếng hét:
- Ném mạnh vào! Bọn thành phố đến ăn cắp ngô, chúng mày ơi!
Bọn tôi hoảng quá, vội quay ngược trở lại. Đất vẫn thi nhau choảng xuống. Thằng đi cạnh tôi nói:
- Mày phải lặn xuống nước mà đi. Hở đầu lên, chúng thấy là ném trúng đấy!
Tôi vội làm theo lời nó. Cũng còn may, sông cạn, hai bờ hẹp, chỉ mấy bước, chúng tôi sang được bên bờ bên này, hoàn hồn...
Sáng sau, anh Cường biết chuyện, lôi chúng tôi ra kiểm điểm một trận ra trò. Cũng sợ những trò chơi dại dột, chị Liên góp ý với tôi:
- Sang năm, các em học lên cấp ba rồi, không còn là trẻ nhỏ nữa, làm thế nào để mọi người nhìn vào thấy chúng ta là người có văn hóa...
Bình tâm, tôi mới hiểu lời góp ý của chị Liên. Có lẽ không nên có những trò chơi như vậy nữa...
Cũng nhờ về lại thôn quê, tôi biết được bao nhiêu điều mới. Như chuyện uống trà chẳng hạn. Tôi cứ nghĩ việc pha trà quá đơn giản. Mỗi lần về phép, ăn cơm xong, bố thường tự pha trà. Bố súc cái ấm thật sạch, cho vào nhúm trà, rót nước sôi, mang ra bàn, vừa đọc báo Nhân Dân, vừa xỉa răng tanh tách, đợi trà ngấm, rót nước trà ra cái chén mẻ miệng... Đấy là tôi kể dài dòng chứ có hôm, còn đơn giản hơn nhiều.
Nhưng với ông Mẹo, việc uống trà là cả một quá trình, như ông nói: “Đó là thể hiện một cách sống, cháu ạ!”.
Như tôi nói ở trên, rìa làng này có một đầm sen rộng. Cứ khoảng chín giờ rưỡi tối, ông Mẹo lại rủ tôi đi ra đầm sen bằng một cái thuyền nan nhỏ. Trên thuyền, ông để một gói trà. Đi thuyền ban đêm giữa mùa hè trên đầm sen cũng có cái thú. Trên giời, sao chi chít như người ta phơi thóc. Hai ông cháu bơi thuyền trong không gian thật yên tĩnh, chỉ còn nghe tiếng mái chèo động vào mặt nước. Hơi nước bốc lên mát lạnh. Thuyền len lỏi giữa cả một rừng hoa sen. Hương thơm của hoa như quyện với không khí, thấm vào hơi thở làm cho tôi thấy khoan khoái lạ. Đã vậy, cánh hoa mềm, chạm vào chỗ nào cũng thấy buồn buồn, thinh thích. Thỉnh thoảng, có tiếng cá đớp mồi, nghe rất gần mà không biết ở chỗ nào.
Đi thuyền ban đêm như thế mà chẳng bao giờ ông Mẹo lầm. Tay ông luôn chọn được những bông sen nở to. Ông cho trà vào bông sen đó rồi buộc túm lại. Tiếp theo, ông cho thuyền đi dọc đầm, trải những lá sen thật rộng để đón sương đêm. Xong mọi việc cũng phải gần tiếng đồng hồ, ông mới đưa tôi về nhà.
Khoảng năm giờ sáng, ông Mẹo đã gọi tôi dậy, theo ông ra lại đầm sen. Trên chiếc thuyền nan, ông đặt một niêu đất để hứng nước sương rơi trong những lá sen mà ông trải đêm qua. Sương mờ lan tỏa khắp mặt hồ, hơi nước bốc lên lành lạnh. Tôi cầm hai mái chèo chỉ to bản hơn chiếc đòn gánh một chút cố gắng lái chiếc thuyền theo sự chỉ bảo của ông Mẹo ngồi trước mũi. Có lúc tôi điều khiển chiếc thuyền, nhưng cũng có lúc ông Mẹo dùng tay khỏa nước hoặc vít lấy cành sen để thuyền đi theo hướng mình muốn. Ông Mẹo nhớ từng vị trí mấy bông sen tối qua ủ trà. Chẳng mấy chốc, trà ủ trong hoa sen được ông Mẹo gói gọn vào một lá sen non để trước mặt. Xong mọi việc, hai ông cháu bơi thuyền tiếp tục lấy nước đọng từ sương. Mỗi lá sen chỉ đọng lại độ một phần ba ly nước trong veo, mát lạnh. Ông Mẹo lấy hai tay nâng nhẹ lá sen lên, hơi nghiêng đi cho những giọt nước tinh khiết đó chảy vào niêu đất. Ông làm cẩn thận, không muốn một giọt nước nào rơi ra ngoài. Chiếc thuyền đi vòng một lượt, trong niêu đất, nước sương đêm vừa đủ pha một ấm trà.
Tôi với ông Mẹo về đến nhà, xung quanh đã có tiếng người gọi nhau ra đồng. Khói lam bốc lên từ những mái rạ, nồng nồng. Đặt niêu đất hứng nước sương lên một cái kiềng ba chân, ông Mẹo bắt đầu đun bằng những cây dâu tằm phơi khô, lửa cháy xanh, không khói.
Trong lúc ông Mẹo đun nước, bà Mẹo đi súc ấm, rửa chén. Cái ấm da lươn chỉ to hơn nắm tay, mấy cái chén chỉ to hơn hạt mít một chút mà bà Mẹo rửa lâu lắm. Rửa xong mấy cái chén đó, bà Mẹo đặt ấm chén ấy lên một chiếc chõng tre để dưới gốc cây bưởi đang trổ hoa.
Nước sôi, ông Mẹo nói với bà cho trà vào ấm, còn ông vào nhà mặc một chiếc áo dài the màu đen. Trang trọng, cầm ba cây hương, ônglạy trời đất một cách thành kính, rồi ông mới ra chõng tre, ngồi xếp bằng, rót nước trà ra chén. Ông nâng chén trà lên bằng hai tay. Chẳng có ai ngồi uống với ông mà sao nét mặt ông có vẻ vui và thư thả đến thế.




2.

Chiến tranh phá hoại của Mỹ lan rộng, chúng tôi ăn uống có phần kham khổ hơn. Không còn bánh mì ăn sáng, thay vào đó, cơm độn nhiều ngô, sắn. Chỉ hôm nào gia đình sớm tiếp tế thì chúng tôi được ăn cơm độn mì sợi. Thức ăn của chúng tôi giờ đây toàn rau muống luộc chấm nước muối. Chúng tôi thèm thịt, nhưng kiếm đâu ra? Một tối, thằng Oanh đến tìm tôi:
- Mày có thích ăn thịt gà không?
Tôi hơi ngạc nhiên nhưng nhìn ánh mắt có phần lém lỉnh tự nhiên của nó, tôi tin là Oanh có thể cho tôi ăn thịt gà lúc này:
- Mày kiếm được à!
- Tất nhiên rồi, nhưng muốn ăn thịt gà, phải có lòng dũng cảm.
- Mày nói tao chẳng hiểu gì cả.
Nó ghé sát tai tôi nói nhỏ:
- Bắt trộm gà. Mày còn nhớ cái trò làm cho gà sợ không? Cái trò mà thằng Bình nó kể cho chúng mình nghe ấy!
Tôi nhớ ra rồi. Hồi ấy, thằng Bình kể chuyện, có lần bà dì không cho nó ăn cơm. Nó tức quá, tối đến, kiếm một đọt khoai ngứa đem nướng. Thò đọt khoai ngứa đã nướng ấy vào chuồng gà, lũ gà tưởng rắn, rụt hết cả cổ. Thế là nó nhẹ nhàng tóm từng con, không một tiếng động. Bài học này thằng Oanh ghi lòng, nay tính đem ra áp dụng. Nhưng tôi sờ sợ:
- Tao sợ... Họ mà bắt được thì chết, như chuyện ăn cắp ngô vừa rồi ấy. Anh Cường với chị Liên biết chuyện, không tha đâu.
- Sao mày nhát thế? Đã làm thì không sợ bị bắt chứ! Mà họ bắt mình thế quái nào được? Tao tính toán hết cả rồi. Có mấy thằng nữa cũng tán thành với tao việc này. Chuyện ăn cắp ngô vừa rồi là mình a dua theo bọn trong thôn, chúng nó dốt lắm. Mày không làm, bọn tao làm, chỉ yêu cầu mày im lặng thôi.
Trước khi bỏ đi, nó nói đúng một câu:
- Mày là một thằng hèn!
Được, tôi sẽ chứng tỏ cho nó biết. Tôi đồng ý đi ngay với nó. Nó vừa nhìn tôi “căm thù” là vậy mà giờ lại toe toét, tay khoác vai tôi, gật gù:
- Mày đúng là thằng bạn thân của tao!
Cái chuồng gà nhà ông Toản ở gần cuối làng làm rất sơ sài, nhốt hai con gà béo mượt lông. Tôi với Oanh cùng hai thằng nữa bò men theo bờ ao, vòng ra đằng sau chuồng gà. Thằng Oanh nhẹ nhàng đưa vào chuồng gà mấy đọt khoai nước đã nướng theo cách của thằng Bình. Đúng là hai con gà tưởng rắn sợ rụt hết cả cổ lại, không dám kêu. Chúng tôi thò tay nâng bụng hai con gà lên, bịt mỏ, bẻ quặt cổ, cho vào cái túi rồi mang chúng ra đầm sen mổ. Ruột, gan, lông gà, chúng tôi gói vào lá sen, buộc chặt với mấy viên gạch, dìm luôn xuống đầm. Bây giờ mới rầy rà. Lấy cái gì để luộc gà? Mượn nồi mà luộc có khác gì “lậy ông tôi ở bụi này”, mà nấu ở ngoài đồng, họ đi làm thì có khác nào “không đánh cũng khai”? Cầm hai con gà làm xong, thằng nọ nhìn thằng kia. Cuối cùng, lại thằng Oanh. Mắt nó sáng lên trong đêm:
- Tao có kế rồi!
- Kế thế nào? - Chúng tôi vội hỏi.
- Rất đơn giản. Chúng mày mang về bếp tập thể của mình, luộc gà ngay bây giờ.
Tôi tức khí:
- Mày nói ngu bỏ mẹ! Làm thế có khác nào tự nộp mạng? Anh Cường hay chị Liên xuống bếp kiểm tra thường xuyên, làm thế nào mà luộc?
Thằng Oanh khẳng định:
- Tao nói là luộc được, thậm chí trước mặt mọi người. Thế mới tài.Mày cứ về ngủ đi, bao giờ luộc xong gà, tao gọi.
Tôi về, trong đầu cứ xoay câu hỏi lởn vởn, không biết thằng này nó luộc gà kiểu gì?
Đến gần nửa đêm, tôi đang ngủ, thằng Oanh đến kều chân gọi tôi dậy:
- Thắng ơi! Dậy...dậy...
Tôi vội dụi mắt, sấp ngửa đi theo nó. Đến góc một nhà kho lúa bỏ hoang, lờ mờ trong bóng tối có hai, ba thằng cùng nhóm. Hơi nóng của con gà luộc còn bốc nghi ngút. Thằng Oanh tài thật, không biết nó luộc gà như thế nào? Thằng Oanh giục tôi và mấy thằng đứng xung quanh ngồi xuống, lấy tay xe gà. Tôi cũng được nó chia phần một miếng đùi gà. Tôi nuốt nước bọt, đưa vội miếng đùi gà ấy lên miệng. Thằng Oang hỷ hả:
- Ăn mấy “ ky lô gam đạm” thế này, cứ gọi là...đầu óc sáng suốt phải biết.
Còn tôi, vừa lấy răng cắn vào miếng thịt gà thì có mùi oi nồng, khai... xộc thẳng vào mũi. Miếng thịt gà béo ngậy nhưng tại sao nó lại có mùi” hơi khó ngửi “ thế này. Tôi buông vội miếng thịt gà xuống hỏi Oanh:
- Sao miếng thịt gà của tao nó hôi thế?
Mấy thằng ngồi cạnh cũng đồng tình với ý kiến của tôi. Thằng Oanh ngồi đần ra một lúc, rồi nó “ à” một tiếng, nói:
- Bỏ mẹ rồi, cái chăn của tao dễ đến gần năm nay không giặt. Đã thế, hôm nọ hình như có thằng đái dầm, chưa giặt, chỉ phơi khô rồi đắp thôi nên khi luộc chung, gà mới có mùi này.
Té ra, thằng Oanh lừa mấy chị nuôi mượn chảo của bếp tập thể “ luộc chăn màn để diệt rệp” rồi nó cho con gà ăn cắp vào cái chăn vừa bẩn, vừa dính nước đái ấy vào luộc chung. Hèn gì khi ăn cắp gà xong, thằng Oanh khẳng định với tôi sẽ luộc được gà “ trước mặt mọi người” là như thế này đây!
Nghe thằng Oanh nói vậy ăn mất cả ngon. Mấy thằng đưa mắt nhìn nhau, thằng Oanh cười khẩy:
- Chúng mày có ăn không? Sợ bẩn à? Xin lỗi nhé “ buồn ngủ còn chê chiếu manh” ! Chúng mày nhìn đây!
Nó xé con gà ra thành từng miếng, đút vào mồm nhai nhồm nhoàm, mỡ gà chảy ra hai bên mép. Mấy thằng thấy vậy cũng ăn, còn tôi lắc đầu:
- Tao chịu, trông chúng mày ăn bẩn quá.
Thằng Oanh dẩu môi:
- Thằng bệnh “sĩ”. Đói bỏ mẹ còn ra vẻ...
Biết nói với nó thế nào? Phần vì luộc gà như kiểu thằng Oanh thì bẩn thật, nghĩ đã thấy kinh rồi, phần nữa là vì tôi thấy xấu hổ, hay ho gì chuyện ăn cắp. Tôi không tranh cãi với nó nữa, bỏ đi...
Cái chuyện ăn cắp gà sau này mới “phát sinh” nhiều rắc rối. Đầu tiên là bà vợ ông Toản, vì mất hai con gà, bà cứ đứng đầu làng mà chửi. Bà chửi từ sáng đến trưa, trưa đến chiều... Cả làng phải nghe. Mà hình như bà đoán ra... bọn tôi ăn cắp hay sao ấy. Bà chửi: “Chúng mày ăn con gà của tao thì con chúng mày mù mắt, đi không biết đường về. Chúng mày ăn con gà mỏ đỏ sẽ đẻ ra sâu róm, bọ hung. Chúng mày ăn con gà mỏ đen cả nhà chúng mày không chết đầu đường thì cũng chết ở xó chợ, không ma nào nó biết, bớ quân thành phố kia ơi!”.
Anh Cường nghe bực lắm, hỏi chúng tôi, cả bọn đều lắc đầu. Lộ ra thì chết cả đám, nhất là khi biết mấy con gà đó ông Toản để dành chuẩn bị làm đám cưới cho con trai. Nhìn nét mặt buồn của ông Toản khi đứng trước chuồng gà, tôi cũng thấy ân hận nhưng không dám thú nhận, chỉ nghĩ thầm: “Cương quyết không dính vào những trò như vậy nữa, nhục lắm!”. Còn thằng Oanh, mặt nó vẫn cứ nhơn nhơn,như không có chuyện gì xảy ra. Có lúc tự nhiên tôi lại đâm ghét nó.




Tôi thích cách kể chuyện của anh Cường. Không biết anh đọc ở đây mà trong đầu anh lắm chuyện thế, gần như kể mãi không hết. Mỗi đêm trăng, giữa sân gạch phơi lúa của hợp tác, sau buổi sinh hoạt, anh Cường giữ vài đứa ở lại kể chuyện anh vừa đọc. Những chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới của Ma Gien Lăng, rồi cả sự chống trọi một cách đơn độc của Rô Bin Sơn giữa đảo hoang để tồn tại, hay như tình bạn thật cảm động và lớn lao của Rê Mi và Mát chi a trong quyển tiểu thuyết “ Không gia đình”... Chúng tôi nghe mãi không chán. Thích nhất là anh kể những câu chuyện cổ tích của An Đéc Xen, như chuyện nàng tiên cá mơ lấy hoàng tử, cô Bạch Tuyết với bảy chú lùn rồi chú lính chì dũng cảm... Hay thật, có ai đó nói cho chúng tôi một điều ước nhỉ, chúng tôi sẽ ước hết chiến tranh, bố tôi trở về, tôi và em Minh về lại với bố mẹ. Lớn lên tý nữa, tôi sẽ trở thành một nhà văn, kể chuyện giỏi như anh Cường. Điều ấy liệu có thể đến không?
Có một điều tôi không ngờ, Hảo đến thăm tôi. Mới có hai năm mà trông nó phổng phao hẳn lên, bắp tay, bắp chân của nó to, rắn chắc, nước da đen sậm lại. Nó đã cao hơn tôi đến gần nửa cái đầu. Gặp tôi, nó mừng mừng, tủi tủi:
- Tao đi bộ lên Sơn Hà từ chiều hôm qua, rồi ngủ lại ở nhà mày, đến sáng nay lại đi bộ xuống đây...
Tôi thương quá. Hảo bắt tôi dẫn ngay đến gặp em Minh. Nó lôi từ trong túi ra một con châu chấu làm bằng lá dừa đưa cho em Minh:
- Anh làm đấy! Anh cho em.
Thằng Minh cầm con châu chấu có vẻ thích thú. Hảo hỏi tôi:
- Thế con sáo mỏ vàng tao cho, còn không?
Tôi lúng túng rồi thú thật:
- Tao vô ý đóng cửa lồng không cài chốt, nó bay mất rồi...
- Tiếc nhỉ! Con sáo ấy khôn lắm, thế nào cũng có người bắt được vì nó quen hơi người rồi mà.
Nói xong Hảo báo với tôi một tin buồn:
- À! Tao báo mày một tin, thầy Dũng chết rồi...
- Cái gì? Sao? Mày nói lại đi, thầy Dũng chết rồi à? – Tôi thảnh thốt.
- Mày chuyển lên đây được gần sáu tháng thì thầy bị bệnh. Bệnh thầy nặng lắm, nằm ở bệnh viện huyện không khỏi, định chuyển lên bệnh viện tỉnh... thì thầy đi...
Thầy Dũng của tôi! Làm sao tôi quên được khuôn mặt khắc khổ của thầy. Tôi định hè này, nếu không đi sơ tán, tôi sẽ xin phép mẹ cho về Quốc thăm thầy và các bạn cũ. Giờ đây, dù tôi có về được Quốc cũng không thể thăm thầy được nữa. Cô và các em sống thế nào khi vắng thầy. Thầy Dũng tính nghiêm khắc, điều ấy rõ rồi, nhưng thương học trò, tôi nghĩ không ai bằng thầy. Tôi nhớ mỗi lần đến lớp, thầy bắt chúng tôi xòe bàn tay ra xem có sạch không? đã cắt móng tay chưa? áo quần có nghiêm chỉnh không... Thầy dặn:
- Đi học, tất cả phải chỉn chu các em ạ, vì các em đang học chữ của ông bà, của thánh hiền. Ăn mặc không nghiêm túc, học dốt là các em có tội, mà thầy cũng có tội...
Bản thân thầy cũng là một mẫu mực về sự chỉn chu. Đến lớp, khoác bên ngoài là chiếc áo đại cán đã bạc màu, bên trong bao giờ thầy cũng mặc một cái áo hở cổ màu trắng, trông rất lịch sự. Chắc thầy có nhiều áo mới nên hôm nay thấy thầy hở cổ áo màu xanh hòa bình, ngày mai lại cổ áo màu trắng, hôm khác lại cổ áo màu vàng... Hồi ấy, lớp tôi có thằng Tiếu, nhà nó nghèo nhưng nó học rất giỏi. Hôm ấy, gió bấc tràn về, cái lạnh thấm vào da thịt. Thấy Tiếu phong phanh trong chiếc áo mỏng, thầy Dũng thương lắm. Hôm sau, thầy cho nó một mảnh vải may vừa cái áo. Cầm mảnh vải thầy đưa, Tiếu cảm động, khóc. Tôi và các bạn trong lớp nghĩ chắc thầy Dũng có nhiều áo lắm thầy mới làm thế. Hóa ra không phải...
Thầy thường dặn chúng tôi khi nào đến nhà phải báo trước, để thầy đón. Nhưng hôm ấy, cả bọn kéo nhau qua làng Bùng chơi, tiện thể qua nhà thầy, chúng tôi ghé vào thăm không báo cho thầy biết. Mái rạ nhà thầy đã mủn gần như sắp bệt xuống đất, tường đất bở ra từng mảng, hở cả nan tre bên trong. Thầy đang ngồi giữa sân chẻ củi, lưng quay ra ngoài mặt đường nên không thấy chúng tôi. Thầy mặc một cái áo bạc mầu thấm mồ hôi, vá khắp chỗ. Điều đặc biệt, chỉ có cái cổ áo của thầy là mới. Cạnh chỗ thầy ngồi phơi ba bốn cái áo cổ áo màu trắng, vàng... Thế là bọn tôi hiểu, cái áo của thầy mặc chỉ thay mỗi cái cổ áo. Thầy khoác bên ngoài chiếc áo đại cán, hở cổ áo mới nên lúc nào chúng tôi cũng tưởng thầy có áo mới, thực tình thầy mặc toàn áo vá. Nhìn thầy ngồi chẻ củi khoác trên mình tấm áo màu đã bạc, đầy mảnh vá, chúng tôi đứng lặng người, không nói được câu nào.
Bây giờ thầy Dũng đi xa, nhớ thầy vô cùng. Tôi tự hứa thế nào cũng về lại Quốc viếng mộ thầy.
Ngoài cái tin đó ra, Hảo còn cho tôi biết một tin khác cũng khiến tôi ngạc nhiên:
- Tao đến tạm biệt mày để đi bộ đội!
- Mày chưa đến tuổi cơ mà? – Tôi thắc mắc.
- Tao khai gian tuổi. Với lại, mày thấy đấy, tao to hơn mày.
Nó nói thế thì tôi chịu, nhưng đây không phải là chuyện đùa. Tôi nói với nó:
- Mày phải biết, đi bộ đội bắn nhau là có người chết, đừng có dại!
- Nhưng chẳng trước thì sau, tao cũng phải đi thôi. Cả làng tao đi gần hết con trai rồi. Có học tiếp cũng chẳng làm gì, đi bộ đội là hơn... – Hảo giải thích với tôi.
- Thế mày như thế này mà họ cũng nhận à?
- Đã bảo tao xung phong mà lại. Họ hoan nghênh quá đi chứ. Gia đình tao được cái bằng khen của xã nữa... – Hảo nói với tôi, cái giọng cũng chẳng buồn, chẳng vui.
Hảo ở với tôi hai ngày. Tôi dẫn Hảo đi chơi với các bạn trong trại sơ tán. Đi cạnh Hảo, tôi thấy tự hào. Chẳng gì thì có một người đồng lứa chuẩn bị trở thành một anh bộ đội, thế là chúng tôi đã lớn rồi. Biết Hảo xung phong vào bộ đội, các bạn trong trại phục lăn. Khi Hảo ra về, ai cũng muốn tặng quà cho Hảo, Hảo gần như không nhận gì hết, chỉ nhận có quyển sổ tay với cây bút Trường Sơn của thằng Oanh: “Để tao viết thư cho chúng mày”.
Ngày hôm sau, tôi với mấy bạn khác tiễn Hảo đi một đoạn đường dài. Khác lần Hảo tiễn tôi từ Quốc lên Sơn Hà, lần này Hảo lại giục tôi:
- Thôi, mày với mấy bạn về đi. Đi với tao đến đoạn đường này là được rồi. Ở đâu rồi tao cũng viết thư về thăm chúng mày.
Tôi vẫn muốn đi với Hảo thêm một đoạn đường nữa. Tự nhiên tôi sợ, biết đâu đây là cuộc chia tay cuối cùng giữa tôi và nó. Nhưng Hảo không đồng ý, cứ giục chúng tôi:
- Chúng mày về đi, gần giữa trưa rồi...
Bọn tôi đứng lại, còn ở phía trước, Hảo bươn bả bước những bước vội. Tôi đứng lặng nhìn theo nó. Bóng Hảo phía xa cùng chiếc lá sen đội đầu khuất dần...
Tôi thấy thương Hảo vô hạn.


Bom Mỹ ném càng ngày càng gần chỗ chúng tôi sơ tán. Đứng ở đây có thể nhìn thấy những đụn khói bốc xa xa. Tiếng bom nổ rung cả mặt đất. Chiều chiều, bọn tôi hay tập trung tại nhà anh Cường. Bác chủ nhà nơi anh Cường ở có cái đài bán dẫn buộc lòng thòng mấy chiếc pin Con Thỏ bên ngoài hay đưa tin chiến sự, nhất là ngày nào cũng đưa tin máy bay Mỹ bị bắn cháy, chúng tôi rất khoái.
Buổi trưa ấy, tôi đang nằm trên cái chõng tre, dưới gốc cây bưởi nhà ông Mẹo thiu thiu ngủ, bỗng, giật mình bởi tiếng nổ “ầm” rất lớn giữa lưng chừng trời. Cái gì thế? Tôi choàng tỉnh nhưng chưa định thần thì xung quanh là tiếng hò reo vang dậy:
- Bà con ơi! Máy bay Mỹ cháy rồi! Phi công nhảy dù kìa, bà con ơi! Đi bắt phi công...
Còn gì sung sướng bằng. Tôi nhảy cẫng lên, cầm luôn cái đòn gánh để ở góc bếp lao ra cổng. Ông Mẹo đang nằm trên phản đọc sách, nghe vậy, không kịp mặc quần dài cũng lao vội theo, vừa chạy, ông Mẹo vừa hô:
- Đả đảo bọn xâm lược Mỹ! Bà con ơi, đi bắt giặc Mỹ!
Xung quanh tôi người ta chạy ào ào, người vác cuốc, người vác mai... Hình như cả làng cùng túa ra. Lần này, tôi sẽ nhìn tận mắt thằng giặc lái Mỹ. Chắc nó nhìn thấy bọn tôi cứ gọi là... run như dẽ! Ai bảo nó mang bom ra đây ném làm gì? Mày cứ tưởng ở trên giời muốn làm gì thì làm à? Đừng hòng nhé!
Bọn tôi chạy nhanh ra cánh đồng theo hướng người ta đang chạy. Phía xa ấy, một cái dù trắng đang hạ dần, hạ dần...
Cái dù vừa chạm đất cũng là vừa lúc mọi người đổ xô đến. Bên trong cái dù, có người động đậy. Một người định lao vào thì có ai đó nói: “Cẩn thận, nó có súng đấy!”. Nghe vậy, người ấy dạt vội ra ngoài, nằm thụp xuống nói với người bên cạnh: “Ông cầm súng lao vào đi”. Người cầm súng trường nòng dài định lao vào thì cái dù được gỡ ra. Một người phi công dáng tầm thước, tóc đen, mũi tẹt, da vàng đứng dậy. Khuôn mặt anh đau khổ. Anh chỉ một lá cờ màu đỏ, sao vàng in trên cánh tay bộ áo phi công, nói:
- Bà con đừng bắn. Tôi là phi công của Quân đội nhân dân Việt Nam, bị trúng đạn của máy bay Mỹ. Mong bà con liên lạc với cấp trên đưa tôi về đơn vị...
Một người hét tướng lên:
- Nó nói láo đấy! Khéo là giặc lái ngụy bị bắn rơi chứ máy bay ta làm sao mà bị máy bay Mỹ bắn trúng được? Cứ gô cổ nó vào, đưa lên huyện!
Nhìn xung quanh toàn những ánh mắt căm thù, khí thế đằng đằng, anh phi công càng hoảng, vội bỏ chiếc mũ bay đang cầm trên tay xuống đất, lấy trong túi mấy thứ giấy tờ, thanh minh:
- Bà con xem, các đồng chí xem hộ... Tôi đúng là phi công của Quân đội nhân dân Việt Nam đánh nhau với máy bay Mỹ, không phải ngụy.
Thấy thái độ anh ấy không có gì có vẻ chống đối, một thanh niên mạnh dạn cầm giấy tờ anh ấy đưa. Xem xong anh lại đưa cho người bên cạnh, nói:
- Không khéo, đúng là phi công của ta thật, ông ạ!
Người kia xem xong giấy tờ cũng gật gù:
- Đúng là phi công của ta rồi. Bỏ mẹ, thế ra máy bay của ta cũng bị... bắn rơi à? Thôi, bà con thu xếp hết đồ đạc của anh ấy, đưa anh ấy về trụ sở của hợp tác rồi ta báo cho huyện biết...
Tưởng bắt được phi công Mỹ hóa ra lại được xem phi công của ta. Cũng tốt. Trước đây, tôi cứ nghĩ phi công là những người cao to, lông mày rậm, mặt vuông chữ điền... nghĩa là rất đẹp trai, nhưng anh phi công này trông cũng không đẹp trai lắm, dáng chỉ cao hơn anh Cường một tí. Thế mà anh ấy cũng lái được máy bay, tài nhỉ!
Trước đây, hồi còn ở Sơn Hà, tôi nhớ có lần xem một bộ phim của Liên Xô nói về các anh hùng không quân. Tôi ao ước đến một lúc nào đó mình cũng sẽ trở thành một phi công lái máy bay, bay vút lên tận các tầng mây. Máy bay của tôi lái cũng sẽ chao lượn như những cánh chim và khi máy bay hạ cánh xuống đường băng, sẽ có biết bao người đến tặng hoa với những ánh mắt thán phục. Nhưng giờ đây, nhìn thấy anh phi công của ta bị máy bay Mỹ bắn rơi, tôi cũng... sờ sợ. Cái ước mơ có phần viển vông kia tan biến đi lúc nào không biết.
Được bà con chăm sóc chu đáo, anh phi công rất cảm động. Mái tóc ngắn bết đất được gội sạch, chải ngay ngắn; quần áo mới thay cho bộ quần áo cũ, trông tinh tươm. Trước khi lên chiếc ô tô đít vuông trên tỉnh về đón, anh nói:
- Xin đồng bào hãy ghi nhớ lời tôi nói: lần sau, tôi sẽ bắn hạ máy bay Mỹ, không phải một chiếc mà vài chiếc. Máu phải trả bằng máu!
Nói xong anh giơ tay chào mọi người rồi chui vào ô tô, chiếc ô tô nổ máy phóng rồ đi.
Phía bên dưới, mọi người vẫy tay chào anh ấy. Có cả tiếng hoan hô...


Trại dựng xong, tôi và em Minh tạm biệt ông bà Mẹo, ra ở trại với các bạn. Trại cách nhà ông bà không xa nhưng không hiểu sao, khi chia tay cũng có vẻ quyến luyến. Ông bà gói hộ đồ cho tôi. Thằng Minh cứ níu tay bà Mẹo, không muốn rời. May cho anh em chúng tôi, sống giữa tình thương của ông bà, có thiếu thốn vật chất nhưng không phải là nhiều. Có ông bà bên cạnh nên nỗi nhớ bố mẹ của anh em tôi cũng dịu bớt.
Bà Mẹo tiễn hai anh em tôi ra cổng, nói:
- Cứ lên đây ở, lúc nào thích thì về nhà với ông bà. Có thời gian, thế nào bà cũng lên thăm hai cháu. Bà thương hai cháu lắm!
Rồi bà Mẹo lại ôm thằng Minh.
Tôi nhớ cái tối ấy, gió to, mưa lớn, sấm chớp cứ đùng đùng, oàng oàng, tôi ôm em Minh, lo thắt ruột. Không hiểu sao từ chiều đến giờ, đầu em nóng thế. Nó thiếp đi, thở mệt nhọc. Thuốc uống không có, không biết em đau bệnh gì? Bệnh viện thì xa... Nếu không có ông bà Mẹo, không biết tôi xoay xở thế nào. Ông Mẹo sờ trán, sờ bụng em Minh rồi trong cơn mưa gió sấm chớp ấy, ông mặc ngay cái áo lá cọ, đội nón đi tìm hái lá xông cho em. Còn bà Mẹo lúc đó đội nón ra vườn hái lá khế non về xoa lưng, đắp trán cho em Minh. Thấy tôi lo lắng, bà Mẹo động viên:
- Em cháu không sao đâu, có lẽ bị cảm nắng. Cháu đi ngủ đi, lấy sức ngày mai đi học. Tối nay, ông bà lo cho, em Minh sẽ qua khỏi thôi!
Bà Mẹo còn cẩn thận dặn tôi:
- Chuyện em Minh bị ốm đau như thế này, cháu đừng tin cho mẹ biết, mẹ sẽ lo. Mọi chuyện ở đây đều có ông bà, để mẹ cháu còn lo việc nước...
Sống với ông bà Mẹo tình cảm như vậy, làm sao anh em tôi không quyến luyến.
Chúng tôi về trại mới. Trại là ngôi nhà rộng làm từ tranh, tre, nứa, bên trong có hai dãy giường đôi, một bên nam, một bên nữ. Tôi với em Minh ngủ chung. Sáng sáng, anh Cường thổi còi là tất cả phải dậy. Chị Liên hướng dẫn tập thể dục bên nữ, anh Cường hướng dẫn bên nam, sau đó tất cả đánh răng, rửa mặt rồi đến bếp tập thể ăn sáng.
Hết hè, bọn tôi phải ở lại đây đi học với các bạn mới ở nông thôn. Đã chuyển cấp, lại xa gia đình, sống tự lập là chính, tôi cảm nhận được rất rõ sự trưởng thành của minh. Rõ nhất là trong quan hệ của tôi và Hạnh. Trong khi bọn trẻ nông thôn trạc tuổi tôi sau buổi đi học thường lao động thêm giúp gia đình, đến chiều kéo nhau ra tắm ở đầm sen, la hét váng cả một vùng thì tôi và Hạnh về lại trại, giúp các em nhỏ học. Rồi chúng tôi chụm đầu giải từng bài toán, cùng nhau tìm ý văn. Trong lúc trò chuyện, chúng tôi thường nghĩ đến cảnh hết chiến tranh, về lại thị xã học tiếp, học đến tận đại học. Hạnh sẽ trở thành cô giáo, còn tôi sẽ là bác sĩ làm ở bệnh viện tỉnh... Những ước mơ như thế chỉ hai chúng tôi tâm sự với nhau thôi, chứ nói với lũ bạn cùng lứa, chắc gì chúng nó hiểu...
Hạnh giúp tôi chăm sóc em Minh từ việc đánh răng, rửa mặt đến tắm giặt. Hạnh còn giúp em Minh học. Chị gái dạy em bao giờ cũng mềm mỏng hơn anh trai. Đã vậy, tính tôi lại lười, toàn giả “ đau bụng”, thế là bao nhiêu quần áo bẩn của hai anh em, Hạnh đều giặt hộ. Thậm chí có khi Hạnh sang mắc màn cho anh em tôi rồi mới mắc màn cho mình. Cái hôm trại tổ chức đi gặt lúa giúp dân, trừ mấy đứa nhỏ, còn bọn tôi gồm Hạnh, Oanh và rất nhiều đứa khác, đi gặt với tâm trạng hồ hởi. Riêng tôi, tôi muốn ra oai với chúng nó vì những chuyện gánh lúa, gặt lúa, hồi ở Quốc, tôi đã quen. Hôm ấy, tôi làm nhiệt tình nhất, một phần vì mình thạo việc hơn các bạn nhưng phần chính là do có Hạnh, tôi làm quên mệt. Thấy mồ hôi tôi đổ giọt trên má, Hạnh đưa một cái khăn tay:
- Thắng lấy khăn của mình lau mặt đi.
Cái khăn tay của Hạnh có mùi hương bưởi, thơm thơm. Tôi đưa lại chiếc khăn tay cho Hạnh, hầu như không để ý ánh mắt của mấy đứa bạn đang nháy nhau, tay chỉ trỏ, miệng nói thì thầm điều gì đó, cười khúc khích. Phía xa kia, anh Cường cũng đang gặt lúa cạnh chị Liên. Không biết hai người nói chuyện gì mà chị Liên cười như nắc nẻ. Bất giác, tôi nhìn sang Hạnh. Khuôn mặt Hạnh đỏ hồng, ánh mắt của Hạnh hôm nay trông khác lạ lắm, đẹp hẳn lên. Tại sao điều này hôm nay tôi mới phát hiện nhỉ? Hay là...
Thấy tôi nhìn chằm chằm, Hạnh ngượng:
- Tớ có cái gì mà Thắng nhìn tớ ghê thế?
Câu hỏi của Hạnh làm tôi sực tỉnh. Tôi ngượng ngùng, chống chế:
- Không tớ nhìn... đằng kia mà! – Tôi chỉ vu vơ rồi cúi xuống gặt lúa tiếp.
Oanh đến gần tôi lúc nào không hay. Cả người nó lấm đầy bùn đất. Cu cậu cũng chăm nhưng làm không quen, mấy ngón tay bị lá lúa cứa rớm máu, bàn tay đỏ lựng lên, có chỗ phồng nước. Nó giơ tay cho tôi xem, lắc đầu ngao ngán:
- Tao chỉ làm ngày hôm nay nữa thôi, mai là tao cáo ốm xin nghỉ! Làm thế này tao khiếp quá rồi. Mệt thấy ông bà, ông vải.
Buổi tối, ăn cơm xong, cả trại đi ngủ. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề sau một ngày lao động quá sức. Đang ngủ như thế, tôi thấy như ai đang đẩy mình vào phía trong. Mở mắt ra thấy thằng Oanh, tôi ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao mày lại sang đây?
Nó nói khẽ:
- Mày nói nhỏ thôi, cho tao ngủ nhờ với. Tao... đái ướt hết cả chiếu với màn rồi, không ngủ được. Có lẽ tại ban ngày tao làm mệt quá nên đái dầm mà không biết...
- Mày thay quần áo chưa?
- Thay rồi.
- Sao tao vẫn thấy mùi khai khai...
- Tao đã rửa đâu! Để sáng mai. Cho tao ngủ đi.
Nó chưa kịp chui vào màn thì bên giường của nó, tiếng Phiến “lại gái”, người ẻo lả như tàu chuối héo, nằm chung giường với nó, chu chéo:
- Anh Cường ơi, thằng Oanh đái ướt hết em rồi. Người thành thị mà... đái dầm.
Thế là cả khu trại nhốn nháo. Chuyện Oanh đái dầm lan ra. Từ đó, Oanh mang thêm biệt hiệu: Oanh “dấm đài”. Cũng vì thế mà thằng Oanh thù thằng Phiến ra mặt.
Thằng Phiến có tật buổi trưa thích ngủ một mình, nóng mấy cũng đắp một cái chăn ngang bụng cho ra dáng, như nó nói “Người thành thị phải thế!”. Thằng Oanh chúa ghét, bảo: “Đồ rởm”.
Hôm ấy, như thường lệ, thằng Phiến ngủ trưa, không biết ai để trên ngực nó một... cục gạch. Tỉnh giấc, thấy cục gạch để trên ngực, tức mình, không thèm quan sát, Phiến ném vội hòn gạch ra xa... Có ngờ đâu, hòn gạch được buộc với sợi dây, mà đầu kia là cái thòng lọng buộc vào với “của quý” của nó. Do Phiến đắp chăn nên không ai nhìn thấy, hòn gạch ném đi, thít luôn cái đầu thòng lọng bên này. Đau quá, thằng Phiến la oai oái...
Những buổi tối, tôi với thằng Oanh hay ra chùa Hạ, một ngôi chùa nhỏ nằm ở rìa làng để học bài. Còn em Minh ở lại trại học chung với mấy đứa bạn cùng lớp. Học ở chùa Hạ chẳng qua cũng là cái cớ để anh Cường hay chị Liên khỏi kiểm tra chúng tôi, chúng tôi được tự do hơn.
Bên ngoài chùa Hạ là một lớp học buổi tối bỏ trống, bên trong là một cái điện thờ, trên để một số tượng Phật và mấy cái bát nhang. Ngăn cách giữa điện thờ và lớp học là một bức mành tre. Tôi với Oanh mang cái đèn dầu và sách vào lớp học, đang định lấy quyển sách toán ra làm bài tập thì nghe thấy tiếng chị Liên, Hạnh và một số bạn nữ lao xao bên ngoài:
- Bạn Thắng và Oanh nói là học ở đây chị Liên ạ! – Tiếng của Hạnh.
- Thế thì chúng ta vào học chung với hai bạn đó – Tiếng chị Liên.
- Nhỡ trong đó có ma thì sao? – Tiếng của ai đó mà chúng tôi chưa phân biệt được.
Oanh kéo tay tôi, thì thầm:
- Hai đứa mình trèo lên điện thờ, đợi chị Liên và bọn nó vào dọa ma cho tất cả chết khiếp...
Nhất trí, cả hai tắt đèn, ôm đèn sách chui tọt vào trong, trèo lên điện thờ. Tôi và Oanh hồi hộp chờ đợi.
Chị Liên dẫn cả bọn vào bên trong lớp học. Mọi người cũng cầm sách và đèn dầu. Vào đến bên trong không thấy chúng tôi, Hạnh ngạc nhiên:
- Thắng nói với em là cùng với Oanh đến đây cơ mà. Hai bạn đó đi đâu nhỉ?
Chúng tôi vẫn cố giữ thật im lặng.
Một người bạn của Hạnh nói:
- Biết đâu hai ông ấy nói đến đây, không thấy bọn mình, kéo đi nơi khác thì sao? Ở làng này thiếu gì chỗ học.
Thế là yên tâm không có chúng tôi trong này, nghĩa là không có con trai, các nàng cùng chị Liên tha hồ tự do. Mới đầu, một đứa kêu nóng quá cởi áo ngoài ra, hở cả áo lót bên trong. Bên ngoài có ánh đèn dầu, bên trong tối thui, lại ngồi ở phía trên, qua bức mành tre chúng tôi nhìn thấy hết. Một đứa lại nói:
- Em với chị Liên đổi áo cho nhau đi, xem em có mặc vừa áo của chị không?
- Ừ thì đổi! – Chị Liên đồng ý – Chị em mình vào bên trong cởi áo.
Tình thế này ngoài dự kiến của chúng tôi. Hai chị em cởi áo chỉ cách chỗ chúng tôi ngồi trên điện thờ khoảng một mét, thậm chí tôi còn... ngửi thấy cả mùi mồ hôi của chị Liên. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy phụ nữ cởi trần. Tôi nín thở, có một cảm giác rất khác lạ chạy suốt sống lưng. Cổ tự nhiên khô không khốc. Tôi như bị thôi miên, toàn thân bất động. Hình như Oanh cũng giống tôi. Bên ấy, Oanh cố gìm hơi thở mà vẫn nghe thấy. Người đổi áo cho chị Liên chạy ra ngoài, khoe:
- Chúng mày ơi! Nhìn tao mặc áo của chị Liên có đẹp không này.
Cả bọn trầm trồ, Hạnh nói với bạn:
- Mày cho tao mặc thử đi!
Rồi Hạnh kéo người bạn đó vào bên trong, nghĩa là cũng cách chỗ tôi ngồi trên điện thờ rất gần. Cả cơ thể mới lớn của Hạnh, tôi gần như nhìn thấy hết. Tôi nín thở, một xúc cảm khó diễn tả bùng phát. Tôi cố ghìm chân tay và cả toàn thân cho bớt run. Hạnh đã mặc xong áo, toan đi ra ngoài thì thằng Oanh giả giọng, nói ồm ồm như từ ở cõi âm ti vọng về:
- Các... người... phải... đứng... lại...!
Khỏi phải nói Hạnh và chúng bạn sợ hãi đến mức độ như thế nào. Tất cả bỏ chạy tán loạn. Thậm chí Hạnh ngã dúi, chưa cài hết cúc áo mà vội ngồi dậy, lao đi. Còn chị Liên và mấy người khác chạy thục mạng, vừa chạy, vừa kêu:
- Có ma... Ai cứu chúng tôi với...
Thấy mọi người hoảng hốt bỏ chạy, tôi với Oanh buồn cười quá, cười sằng sặc nhưng cũng phải rời điện thờ mà chạy. Ở lại, anh Cường biết chuyện, chắc sẽ không tha...
Tối ấy, không hiểu sao, tôi trằn trọc rất khó ngủ. Hình ảnh Hạnh cứ chập chờn, chập chờn...



HẾT TẬP II – PHẦN I

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?17 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá - Tập I  phần III]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 16:56:47 +0000 http://trankytrung.com/read.php?17 5
Tôi không dấu, qua cái chết của Bình, tự nhiên tôi với Hạnh thân nhau hơn. Hạnh cứ hay bắt tôi kể những kỷ niệm về Bình. Mỗi lần nghe tôi kể như vậy, Hạnh lại khóc rồi tự trách mình:
- Lẽ ra Bình không chết đâu, Thắng ạ! Thắng biết không? Lúc ấy Hạnh cũng mệt. Cô Phương đi xuống, thấy thế nói với tụi mình: “ Các em mệt rồi đấy, nghỉ đi, chuẩn bị ăn cơm. Mọi việc cứ để để đấy, chiều tất cả tiếp tục làm...”.Thế mà...
Nghe Hạnh kể, tôi cũng gật đầu xác nhận:
- Lúc ấy đám con trai bọn tớ, kể cả Bình cũng mệt lắm rồi, chỉ chờ các bạn giặt xong đám bao tải đó là kéo nhau đi ăn cơm...
Hạnh vừa khóc, vừa kể tiếp:
- Bọn tớ không nghe lời cô Phương, cố làm cho xong việc. Tớ giũ cái bao tải cuối cùng trong khi hai tay đã mỏi nhừ. Thế là khi nâng cái bao tải lên, cầm không chặt, bị tuột, bao tải trôi theo dòng nước. Nếu cứ để nó trôi, thì cũng chẳng sao, quá lắm là đền cho xí nghiệp. Tớ lại tiếc, lao theo như một phản sạ để giữ bao tải. Có ai ngờ...Chính tớ, vì không nghe lừoi cô Phương, đã làm cho Bình chết.
Hạnh kể xong, gục vào vai tôi khóc nức nở.
Không, lỗi đó không phải do Hạnh, mà thực ra do chính tôi và Oanh gây ra. Giá như chúng tôi không rủ Bình đi làm...Giá như chúng tôi xuống giúp Hạnh...Giá như...
Thôi, chuyện đã xảy ra rồi, bao nhiêu cái “ giá như...”, bao nhiêu điều tự trách mình cũng không thể làm cho Bình sống lại được với chúng tôi.
Chiều nào, tôi, Oanh, Hạnh và các bạn trong lớp cũng ra thăm mộ của Bình, đặt lên đó những bó hoa tươi chúng tôi kiếm được. Chúng tôi vẫn cảm giác Bình ở gần đây, không chết. Với Bình, có lẽ chúng tôi có sống tốt bao nhiêu cũng không thể bằng nó.
Cũng chính trong thời kỳ này, gia đình tôi có một sự kiện quan trọng. Bố tôi đi chiến đấu ở miền Nam ( Thời đó người ta thường hay gọi là đi B). Thực ra, chuyện này mãi về sau, khi bố tôi đi rồi, trong một đêm mưa tầm tã bên ngoài, mấy mẹ con nằm bên nhau, mẹ mới cho tôi biết.
Lần ấy, bố tôi nghỉ phép. Khác với mọi lần, lần này bố được nghỉ phép hình như sớm hơn, thời gian ở nhà cũng lâu hơn. Bố dẫn tôi đi thăm gần như tất cả những người quen trong thị xã. Rồi bố cặm cụi đóng cái chuồng gà, làm lại cái chuồng lợn, lợp lại mái nhà. Bố cố làm thật nhanh như chạy đua với thời gian.
Bố dặn tôi;
- Ở nhà, con phải giúp mẹ. Bây giờ không như hồi nhà mình ở Quốc nữa đâu, tình hình này sẽ có nhiều biến đổi trong thời gian tới. Các con sẽ phải làm quen với cảnh chiến tranh. Con phải lo cho em Minh giúp mẹ bởi sắp tới bố sẽ không có nhà.
- Thế bố đi đâu mà không có nhà ? – Tôi thắc mắc.
Bố ôm tôi vào lòng, nét mặt trầm ngâm, không nói. Sau này tôi biết, bố phải giữ bí mật chuyện này theo yêu cầu của tổ chức.
Khi nghe tôi kể chuyện về sự hy sinh của Bình để cứu Hạnh, bố rất xúc động. Bố nói với tôi:
- Thế đấy con ạ! Những tấm gương như thế con cần học tập, học để thành người, học để sống có ích. Bố đi xa, nếu biết con trưởng thành, sống có ích, được mọi người quý trọng như bạn Bình của con, học giỏi nữa là bố rất mừng.
Sau ngày bố tôi lên đường vào chiến trường, cả nhà tôi trải qua những ngày tháng rất nặng nề. Nét mặt của mẹ tôi trầm hẳn lại, trông khắc khổ hơn. Nhiều đêm mẹ ôm thằng Minh, khóc lặng lẽ. Trước đây, cứ độ hai tuần là bố tôi từ đơn vị đóng quân về thăm nhà. Biết lịch như vây, khoảng hơn năm giờ chiều là thằng Minh, em tôi chạy lon ton ra đầu đường, trông về phía hun hút xa xa kia để đón chờ bố. Khi thấy bố đạp chiếc xe đạp “Thống Nhất” đạp từ đằng xa tới, nó đã reo lên rất to: “ Bố về ! Bố về ! Anh Thắng ơi! Bố về. bố về rồi...”. Rồi nó xoắn xuýt chạy về phía bố. Bố tôi, mặt nhễ nhại mồ hôi, dựng vội chiếc xe đạp vào bên đường, rồi ông bế thốc thằng Minh lên, hôn tới tấp vào mặt , vào trán nó... Giờ đây, cảnh đó đã xa. Ấy vậy, thằng Minh vẫn không bỏ được thói quen đó. Cứ chiều thú bảy, như thường lệ, nó lại lủi thủi ra đầu đường chờ để đón bố . Chờ mãi, chờ mãi, không thấy bố đâu, nó về hỏi tôi:“ Anh Thắng ơi! Miền nam có xa không mà sao bố đi lâu vậy?”.
Tôi không biết trả lời cho em Minh như thế nào?
Trên đời, tôi thấy bố là người đàn ông tuyệt vời nhất. Ông có một tấm lòng vị tha, cao thượng, hiếm thấy.
Một lần, bố tôi về nhà cuối tuần, không hiểu sao ông lại về muộn. Tôi đi đá bóng về, bụng đói ngấu. Lúc ấy gần như không để ý phần cơm mẹ để dành cho bố, cứ thế tôi mang ra đánh chén sạch. Trong chạn chỉ còn phầm cơm vét nồi và cơm quét rơi dưới đất, mẹ trộn lẫn với xương cá để dành cho mèo. Bố tôi về không hề biết, cứ tưởng cơm đó để phần cho mình. Bố bưng bát cơm phần cho mèo đó ra, ăn ngon lành. Mẹ tôi biết chuyện, toan rút roi mây đánh tôi vì cái tội vô ý đó. Bố tôi liền can:
- Em đừng đánh con. Nó ăn khỏe như thế là anh mừng. Còn chuyện bát cơm phần cho mèo kia, không sao đâu. Ở đây là phần cho mèo, chứ sau này vào chiến trường, lúc đói mà có bát cơm như thế là “ ăn vàng” đấy!
Nói thế, sau đó bố lại quay sang nói với tôi:
- Bố nói với mẹ như thế, nhưng con cũng phải rút kinh nghiệm. “ Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” nghe con!
Chuyện của bố ăn nhầm “ cơm phần cho mèo ” tôi ân hận mãi cho đến tận bây giờ. Nếu có ai hỏi tôi thích điều gì nhất? Tôi trả lời ngay không cần phải suy nghĩ: Mong bố không phải đi đánh nhau, về cùng mẹ và anh em tôi ngay lắp tự.
Nói chung, tôi và em Minh không được gần bố nhiều. Chỉ đến ngày bố được nghỉ phép, nghỉ lễ hoặc nghỉ tết, bố mới về thăm mẹ và anh em tôi.Tính bố tôi rất nóng, nhưng thực ra ông rất thương người, thương anh em tôi. Thằng Minh thấy bố về là nó khoái lắm vì bố sẽ làm ngựa cho nó cưỡi. Còn tôi thích nhất là bố về, đúng ngày chủ nhật sân vận động có bóng đá, thế nào bố cũng dẫn tôi đi xem.
Tối hôm trước ngày trở về đơn vị, bố nói chuyện với mẹ rất lâu. Không biết bố nói những gì mà tôi nghe thấy tiếng mẹ lúc rõ, lúc không: “ ...Em hiểu...em hiểu... Chỉ mong anh đừng làm sao...Anh cố gắng viết thư về...”. Rồi tôi nghe cả tiếng mẹ khóc. Thế là thế nào ? Chắc lần này cũng như mọi lần, bố đi công tác rồi lại về, thế mà tại sao mẹ lại khóc? Tôi nghe thấy tiếng của bố cũng như vậy, tiếng được, tiếng mất: “ ...Cũng không biết được...em thay anh cố chăm sóc các con, nhất là thằng Thắng. Nó lớn...nhưng còn dại lắm...Anh sẽ viết thư về...Nhất định...”.Tiếng bố thở dài. Đêm im lặng. Nghe rõ cả tiếng muỗi kêu. Rồi tôi nghe thấy tiếng bố xỏ dép. Bố đi qua chỗ hai anh em tôi ngủ. Bố vén màn, ôm hôn từng đứa. Tôi cảm thấy hình như có giọt nước mắt của bố in vào, ướt cả hai bên má của tôi...
Cũng trong thời gian này, có một chuyện... không biết tôi có nên kể ra đây không ?
Bữa đó, tôi mấy thằng bạn nữa đi học về, qua của hàng Bách hóa, thấy mọi người xúm đông, xúm đỏ vòng trong, vòng ngoài. Không biết có chuyện gì xảy ra? Vốn có tính tò mò, tôi và mấy thằng nữa len vào bên trong xem có chuyện gì? Một điều đập thẳng vào mắt tôi mà không thể tin được. Chú Nhiên bị mấy anh Công an bắt vì tội chui vào cửa hàng ăn cắp. Hai tay chú Nhiên bị trói quặt ra đằng sau. Đầu chú chúi thấp xuống, không dám ngẩn lên nhìn ai, tóc tai rũ rượi, trông chú thật khổ. Nhìn thấy chú như vậy, tôi vội quay ngay ra ngoài. Lời chú còn văng vẳng bên tai tôi hôm nào: “ Đồ phản bội!”. Bây giờ thì... May cho tôi, “ phản bội” chú, chứ nếu mình “ không phản bội” đi theo con đường của chú rồi sẽ ra sao nhỉ ?
Tôi rùng mình.
Cả buổi sáng ấy, quanh chợ Gừng, chỗ nào tôi cũng thấy họ bàn tán chuyện chú Nhiên ăn cắp bị công an bắt. Anh Cường nhân chuyện này nói với chúng tôi:
- Các em thấy không ? Cái tốt, cái xấu bây giờ dễ lẫn lộn. Chơi với bạn, các em phải quan sát, để ý. Tuyệt đối không lấy cảm tình của mình ra để nhận xét. Bạn Bình của chúng ta, ăn mặc không lành lặn, có lúc sống rất khổ, nhưng bạn đó có trái tim vàng. Còn chú Nhiên, ăn mặc lịch sự, lại cán bộ nhà nước nữa, chắc chắn biết chữ nhiều hơn bạn Bình nhưng suy nghĩ, hành động của chú ấy là không tốt...
Những chuyện như vậy, kể cả những lời khuyên của bố ,của anh Cường đã làm cho tôi hiểu thêm những chuỵen ngoài xã hội.






Cuối Năm chuyển cấp của tôi cũng là lúc Mỹ chuẩn bị gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay ném bom ở miền bắc. Từ trước cho đến lúc ấy, trong suy nghĩ của tôi, gần như không có hai từ “ chiến tranh”, mà nếu có thì chắc cũng giống như trên phim chiến đấu của Liên Xô mà tôi thường được xem. Máy bay của bọn phát xít Đức bay từng đàn, đen ngòm với những tiếng rú gầm ầm ĩ. Chúng bị pháo cao xạ của Hồng quân Liên Xô bắn nổ liên tục, nòng cao xạ khạc đạn tóe lửa, hết chiếc máy bay này đến chiếc máy bay khác của bọn phát xít Đức bốc cháy, rơi xuống đất trong tiếng hoan hô của người trên màn ảnh và cả... người đang ngồi xem phim.
Còn chiến tranh ở Việt Nam.
Chỗ nào trong thị xã người ta cũng đào hầm, nhất là vỉa hè. Dọc con đường tôi đi đến lớp, những hố cá nhân thi nhau xuất hiện. Rồi có đêm, tôi giật mình thức giấc bởi tiếng ô tô kéo pháo, tiếng xe bánh xích nghiến trên mặt đường vọng đến tận chỗ tôi đang ngủ. Giờ giấc học của lớp chúng tôi cũng thay đổi. Bắt đầu học từ lúc bốn giờ sáng, tan học vào lúc tám giờ để tránh giờ cao điểm. Mỗi chúng tôi tự trang bị cho mình một cái đèn dầu để học bằng cách đục một lỗ trên thân ống bơ sữa bò, cổ đèn dầu làm bằng lọ mực Cửu Long để vào bên trong, cho ánh sáng vừa rọi đủ mặt trang giấy. Chúng tôi không được mặc áo trắng hoặc áo có màu sáng nữa, phải mặc áo xanh hoặc áo màu đen để “ khỏi bị lộ”. Thỉnh thoảng, trong thị xã, người ta tập báo động giả tránh máy máy bay ném bom. Mọi việc đang bình thường, tự nhiên, cái còi trên tháp nước giữa thị xã, ré lên. Tiếng còi dữ dội như xoáy vào tai từng người, kéo dài từng hồi, từng hồi một. Cả thị xã tắt hết đèn điện, mọi người trong nhà vội vàng chạy ra hầm trú ẩn. Tiếng loa phóng thanh mắc ở trên các cột đèn hay ở một cây cao nhắc nhở: “ ...Đồng bào chú ý ! Đồng bào chú ý ! Máy bay địch cách thị xã một trăm cây số về hướng tây - nam. Mọi người xuống ngay hầm trú ẩn. Ai không có nhiệm vụ tuyệt đối không được lên mặt hầm. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Đồng bào chú ý ! Đồng bào chú ý...”.
Không khí chiến tranh đó, bây giờ tôi không phải thấy trên phim mà diễn ra ngay trước mặt tôi như “sờ” thấy, làm cho tôi sợ.
Mẹ nói với tôi:
- Nếu máy bay Mỹ đến đây ném bom, có lẽ con và em phải đi sơ tán thôi. Mẹ sẽ gửi em Minh và con đi theo trại của Liên Cơ (1). Con chuẩn bị sách vở, áo quần...Có lệnh là đi ngay.
Tôi nói điều này với Hạnh và Oanh. Hạnh cho tôi biết:
- Mẹ của Thắng nói đúng đấy. Khu phố mình cùng một số khu phố khác sẽ tổ chức tập trung thành một trại sơ tán để tổ chức cho chúng mình tiếp tục học tập và nghỉ hè luôn.
- Thế ai chỉ huy bọn mình? Có phải anh Khanh không ? – Tôi hỏi lại Hạnh mà lạy giời, Hạnh trả lời “không phải”.
Hạnh lắc đầu:
- Không phải anh Khanh đâu, Thắng ạ! Anh ấy ở lại để chỉ huy đội dân quân khu phố sẵn sàng chiến đấu với máy bay Mỹ. Tớ nghe anh Cường cùng với mấy chị nữa sẽ đi theo tụi mình trong mấy tháng hè.
Nếu đúng như thế thì còn gì bằng!
Càng gần đến lúc kết thúc năm học, chúng tôi càng bận bịu hơn. Ngoài việc ôn tập cho kỳ thi tốt nghiệp cấp hai, học cả ngày lẫn đêm, chúng tôi còn phải tranh thủ đào hầm. Đào hầm trong lớp rồi đào cả những giao thông hào dẫn từ lớp ra hầm trú ẩn. Chúng tôi còn đi vào thôn xin rơm về đan mũ rơm chống bom bi. Việc đã nhiều như vậy, anh Khanh còn tập hợp chúng tôi lại làm một việc mà theo anh nói “ rất quan trọng”:
- Các em biết đấy, bọn đế quốc Mỹ đang thua nặng ở miền Nam. Để gỡ cho bọn tay sai khỏi lún sâu vào thất bại, chúng sẽ cho máy bay mang bom ra ném ở miền Bắc. Nhưng sự hung hăng của chúng càng chứng tỏ sự thất bại thảm hại đang đến gần. Chúng ta, những đoàn viên thanh niên lao động Việt Nam, những đội viên thiếu niên tiền phong phải thể hiện khí phách hiên ngang của mình ...
Nghe anh Khanh nói, cứ như đang nghe... loa phát thanh. Sợ thật! Anh Khanh nói hùng hồn:
- Các em nghe anh phổ biến tình hình mới đây. Sắp tới mọi người trong khu phố ta cũng như nhiều khu phố khác trong thị xã sẽ tham gia bầu cử Quốc hội. Bọn đế quốc Mỹ và lũ tay sai trong miền Nam rất muốn cuộc bầu cử Quốc hội này thất bại nên chúng rắp tâm phá hoại cùng với việc ném bom của máy bay. Bắt đầu từ hôm nay, ngoài việc học văn hóa, các em phải cùng các anh đi canh gác mọi ngóc ngách trong khu phố, đề phòng những âm mưu phá hoại của địch, sẵn sàng bắt bọn biệt kích...
Với anh Khanh, hình như lúc nào, ở đâu cũng có “ biệt kích”.
Tối ấy, chúng tôi nghe thấy tiếng kẻng báo động. Theo đúng quy định của anh Khanh, chúng tôi tập trung rất nhanh. Nét mặt anh Khanh trong có vẻ nghiêm trọng, tay cầm một cái gậy. Thấy chúng tôi đã tập trung, anh bỏ cái còi trong mồm ra, hỏi:
- Các em kiểm tra lại xem còn thiếu ai nữa không ?
Kiểm tra, không thấy thiếu ai cả. Tôi rụt rè hỏi:
- Có việc gì không ? Anh Khanh ơi! Em đang ăn cơm...
- Ăn cơm cũng phải bỏ, có chuyện đấy...- Anh Khanh nói chậm từng câu như sợ chúng tôi không nghe rõ - Ở khu phố ta đã có bọn biệt kích xuất hiện, có một số dấu hiệu nghi vấn chúng phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội...
Nghe anh Khanh nói vậy, chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, hơi lo. Chẳng lẽ có chuyện biệt kích “ xuất hiện” trong khu phố này thật sao?
Anh Khanh nhìn từng đứa chúng tôi, mắt anh không chớp, rồi giải thích:
- Anh đã báo động cho các em biết là cuộc bầu cử Quốc hội của chúng ta thế nào đế quốc Mỹ cũng sẽ thả bọn biệt kích ra ngoài bắc để phá hoại. Đến bây giờ thì y như rằng. Chiều nay, câu khẩu hiệu viết bằng phấn trắng lên bảng tin khu phố :“ NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ QUỐC HỘI” đã bị bọn “ biệt kích” bí mật đột nhập xóa bỏ. Thay vào đó, chúng kẻ khẩu hiệu rất phản động: “ ĂN THỊT GÀ NGON LẮM!”. Các em thấy chúng có thâm độc không? Bọn đế quốc Mỹ rất coi khinh chúng ta, cứ như chúng ta sắp chết đói ấy. Phải chặn đứng âm mưu này và tìm cách bắt bằng được thủ phạm. Các bác lãnh đạo khu phố đã họp khẩn cấp và giao nhiệm vụ cho chúng ta phải truy tìm bằng được thủ phạm.
Nghĩ cũng ...kinh thật! Cái bảng đen thông tin để ngay chỗ đông người qua lại, lại được đèn đường chiếu thẳng vào, thế mà “ biệt kích của đế quốc Mỹ ” đột nhập, xóa đi thay vào khẩu hiệu : “ Ăn thịt gà...”. Chúng tài thế!!!
Anh Khanh phân công :
- Thế này các em nhé ! Từ bảy giờ tối đến mười rưỡi tối, tất cả những chỗ có kẻ khẩu hiệu trong khu phố ta, anh sẽ phân công từng nhóm, hai em một chịu trách nhiệm bảo vệ và theo dõi những người đến đọc khẩu hiệu. Các em chú ý, nếu phát hiện thấy những dấu hiệu nghi vấn, phải tìm cách thông báo ngay cho anh biết để anh báo cho các anh công an. Các em nghe rõ cả chưa?
Chúng tôi đáp lại:
- Rõ!
Sau đó, theo sự phân công của anh Khanh, tôi với Oanh lại vào một nhóm, canh gác, theo dõi mọi nghi vấn ngay tại khẩu hiệu:“ Ăn thịt gà...!”.
Tôi hỏi anh Khanh:
- Anh Khanh ơi! Thế khẩu hiệu của bọn “biệt kích” có cần xóa đi không?
Anh Khanh bặm môi suy nghĩ:
- Cứ để đấy đã vì việc này anh đã báo cho các anh phụ trách khu phố và các anh công an rồi. Các anh công an nói sẽ xuống xem xét.
Anh còn dặn thêm chúng tôi:
- Chuyện này, các em tuyệt đối giữ bí mật, không được để cho người ngoài biết. Bọn “biệt kích” biết động sẽ chuồn mất. Các em cứ núp vào một chỗ kín, theo dõi mọi nghi vấn.
Thằng Oanh đứng cạnh tôi hình như hơi giật mình. Sau khi anh Khanh đi khỏi, các bạn tản ra về vị trí theo sự phân công của anh Khanh.Thằng Oanh thẽ thọt hỏi:
- Theo mày, công an có xuống điều tra không?
Chuyện đã báo cho công an, công an họ sẽ xuống để xem xét... như anh Khanh nói, rồi cả mấy ông lãnh đạo khu phố phải “họp khẩn cấp”, tất nhiên đó là vụ “nghiêm trọng”. Tôi nói với nó:
- Họ phải theo xuống chứ. Một khẩu hiệu chào mừng ngày bầu cử Quốc Hội bị xóa đi, cho "gà qué" vào như thế, công an phải truy tìm bằng được thủ phạm.
- Nếu tìm được thủ phạm thì các anh công an sẽ xử lý như thế nào? Có bị “ tra tấn” không ?
Ơ, cái thằng này... Sao nó cứ hỏi mãi về chuyện đó thế nhỉ? Tự nhiên, tôi có cảm giác, hay là...
- Sao mày cứ hỏi tao điều đó, có phải mày...
Oanh vội thanh minh ngay:
- Đừng nghĩ như thế. Không phải tao viết. Tao thề đấy!
- Mày không viết thì việc gì cứ hỏi lằng nhằng! -Tôi bực mình
Hai đứa chúng tôi đi ra chỗ bảng thông tin có câu khẩu hiệu kia. Nhìn kỹ, vết phấn lau khẩu hiệu cũ có lẽ bằng tay trông nham nhở, vết tay còn khá rõ. Còn khẩu hiệu mới, tuy viết chữ in nhưng trông cũng còn vụng về. Bọn “biệt kích” này trình độ chắc cũng... bằng chúng tôi thôi!
Hai thằng ngồi thụp xuống, núp sau cái cột đèn. Ánh sáng hắt ra phía ngoài, thành ra chúng tôi ngồi ở bên trong, phía bên ngoài nhìn vào sẽ không thấy. Ngược lạ, từ đây, chúng tôi quan sát thấy tất cả. Tự nhiên phải làm một việc, chắc thằng Oanh cũng giống tôi, không thích. Thỉnh thoảng, hai thằng phải đập muỗi đen đét. Không hiểu sao thằng Oanh có vẻ hồi hộp, lo sợ một điều gì đó. Thỉnh thoảng, nó lại hỏi:
- Không biết bao giờ các anh công an xuống mày nhỉ!
Hai chúng tôi ngồi cũng được khá lâu, chẳng thấy cái gì gọi là “nghi vấn”, cũng chẳng thấy ai đứng đọc khẩu hiệu “Ăn thịt gà...”. Hình như họ không quan tâm. Thế mà anh Khanh cứ làm như cháy nhà đến nơi...
Vừa lúc đó, cổ tôi và cổ thằng Oanh bị mấy bàn tay như gọng kìm bóp chặt, đau điếng.
Một tiếng hô to xen lẫn cả tiếng cười:
- A! Chúng tao tóm cổ được hai ông mãnh...Chúng mày định ngồi đây để... ỉa bậy phải không?
Tôi vội kêu lên:
- Không phải các anh ơi, nhầm rồi. Em ngồi đây để theo dõi nghi vấn...
Mấy anh thanh niên thả hai chúng tôi ra. Một anh hỏi:
- Nghi vấn ai?
Tôi thuật lại yêu cầu của anh Khanh khi giao nhiệm vụ cho chúng tôi. Các anh cười chảy nước mắt. Một anh nói với chúng tôi:
- Cái thằng Khanh lúc nào cũng làm ra vẻ. Có cái thằng “biệt kích” nào ngu đi viết khẩu hiệu này?
Anh ấy nói với chúng tôi:
- Thôi, các em về đi, không việc gì mà ngồi đây. Còn khẩu hiệu này, chuyện đơn giản...
Anh ấy lấy ngay một tờ giấy bỏ dưới đường chùi sạch và nhặt cục phấn để ở góc bảng đen viết lại khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng ngày bầu cử Quốc Hội” rồi anh ấy đứng ra xa ngắm nghía:
- Trông cũng được, đúng không chúng mày?
Mấy anh bạn của anh ấy gật đầu, đồng tình. Anh ấy thấy chúng tôi chần chừ chưa muốn đi, giục:
- Các em về đi mai còn học bài, đứng đây làm gì. Ngày mai, nếu anh gặp anh Khanh, anh sẽ nói cho. Về đi! Còn các anh cũng về đây...
Chẳng còn cách nào khác, tôi với Oanh đi về. Đi được một đoạn Oanh nói:
- Mày có biết ai viết khẩu hiệu: “Ăn thịt gà ngon lắm!” không?
- Mày bảo ai viết? – Tôi lờ mờ đoán ra, nhưng cũng hỏi lại nó.
Một thoáng lưỡng lự rồi Oanh trả lời:
- Tao viết đấy! Lúc chiều, tao đi qua nhìn thấy câu khẩu hiệu... Hình như chữ anh Khanh thì phải, trông xấu quá. Tức mình, nhìn trước, nhìn sau không ai để ý, tao xóa vội, rồi viết ngay câu “Ăn thịt gà ngon lắm!” . Chả là lúc trưa, nhà tao có mổ gà để cúng...
Tôi nghĩ, thế là mình đoán cũng... không lầm.






6


Thi chuyển cấp xong, cái không khí chiến tranh càng ngày càng rõ. Lúc này, chẳng còn chuyện báo động giả nữa mà toàn là báo động thật. Đã nghe thấy tiếng bom nổ ì ầm phía xa xa. Những tối thị xã tắt hết đèn điện, phía chân trời thấy rõ những ánh chớp giật từng hồi, từng hồi... và sau đó là tiếng nổ của súng, của bom âm âm u u. Từng loạt đạn cao xạ bắn lên đỏ lừ, đan chéo vào nhau, vạch trời đêm. Mọi hoạt động của thị xã dường như hối hả hơn. Người ta đi vội, nói chuyện cũng vội. Ban ngày, đường phố như thưa hẳn bóng người, chỉ có bóng mấy anh chị dân quân tự vệ, vai vác súng trường đi lên mấy nhà cao tầng hoặc mấy ụ chiến đấu ở trên mặt đê rồi họ ở lì trên đó đến tận tối... Cái không khí chiến tranh mới đầu chúng tôi sợ, nhưng dần cũng quen, không có cảm giác lạ lẫm nữa. Nghĩa là, khi không có báo động, chúng tôi vẫn chơi những trò thường chơi như đá cầu, chơi trốn tìm... Bất chợt nghe còi báo động thì tất cả chui ngay vào hầm trú ẩn gần nhất. Qua phút căng thẳng chờ đợi, sau đó, ở dưới hầm có khi lại... vui. Hầm tối đen, ngực người này áp vào lưng người kia, chật như nêm cối. Bất chợt, có anh thanh niên gào tướng lên: “Ối giời ơi, có con rắn nó cắn tôi...”. Thế là cả hầm nháo nhác, người nọ đạp người kia, ngã dúi dùi dụi, ai cũng cố vọt nhanh ra khỏi cửa hầm... Còn trong hầm, có khi mấy người đã ngã, người này níu chân người kia, nam nữ đè lên nhau, ngoi, đạp mà vẫn không ra được. Đến lúc biết bị đùa, họ nhìn nhau cùng ngược ngùng, đỏ mặt...
Những ngày này, tôi lại nhớ đến Hảo, đến các bạn cũ của tôi ở Quốc. Nơi đó, thỉnh thoảng tôi cũng nghe thấy tiếng nổ ì ầm, những vệt sáng loang lổ... Có thể nơi đó bị máy bay Mỹ ném bom. Tôi hay chạy ra chiếc loa công cộng nghe bản tin thời sự buổi chiều, xem có chuyện gì ở Quốc xảy ra không? Không có tin tức gì cả, điều đó cũng có nghĩa ở Quốc, mọi việc vẫn bình thường. Tôi cũng tự trách mình, lẽ ra nên viết thư đều đặn cho Hảo nhưng... Cái tuổi của tôi, mau nhớ cũng mau quên, nhất là khi trước mặt mình những trò chơi, những người bạn... Rồi cũng phải thừa nhận, ở Sơn Hà, cái ánh đèn đô thị, sự náo nhiệt, quan hệ bạn bè... cuốn hút tôi, làm cho nỗi nhớ về Quốc, về Hảo trở thành sự thoáng qua, chợt nhớ... Có lúc bình tâm nghĩ lại, đó cũng là sự đáng trách. Bao lần, tôi đã ngồi vào bàn cầm lấy cái bút, lật trang giấy để viết thư cho Hảo, ấy vậy rồi cũng bỏ giữa chừng vì còn nhiều trò chơi lôi tôi phía trước.
Như câu chuyện tôi sẽ kể tiếp dưới đây.
Giữa thị xã Sơn Hà có một cái thành đất, xung quanh có một hào nước bao bọc, chiều nào tôi và Oanh cũng hay ra đấy câu cá. Nếu không có chiến tranh, nghe mấy anh nói, nơi này sẽ là một công viên lớn. Còn bây giờ, thành đất ấy lại biến thành một trận địa pháo cao xạ, không được ai đến gần. Tôi với Oanh nhìn những khẩu pháo nòng dài mấy ngày liền được xe xích kéo vào mà tò mò, không biết mấy chú bộ đội bắn kiểu gì? Thằng Oanh thì quả quyết, bộ đội bắn súng cao xạ bằng cách lấy chân đạp vào cò. Còn tôi, dù chưa một lần nhìn thấy vẫn khẳng định, đã là súng thì chỉ có dùng tay bóp cò chứ ai lại lấy... chân mà... đạp? Có mỗi chuyện như vậy mà hai thằng cãi nhau cả ngày, bất phân thắng bại. Để chứng tỏ ai đúng, ai sai, chỉ còn một cách là... mò vào tận nơi xem. Nhưng vào bằng cách nào? Thằng Oanh nghĩ một hồi, rồi nói với tôi:
- Nếu tao với mày xin vào xem, chắc các chú ấy không cho vào. Nhưng tao có cách rồi. Mình lội qua hào nước vào thành, chỗ mà tao với mày hay đứng câu cá ấy! Cứ giả như hai thằng kiếm củi, thế nào cũng bị các chú bộ đội giữ lại. Mà giữ lại thì thế nào các chú cũng phải dẫn qua chỗ đặt mấy khẩu pháo. Lúc ấy, cả tao với mày có thể xem ai nói đúng? ai nói sai? Rồi thì xin các chú ấy thả ra. Ai lại bắt mấy thằng đi xem cò pháo...
Thằng Oanh còn cho tôi biết thêm:
- Tao nghe mấy thằng ở khu phố Quang Trung nói, trong thành còn có một cái hầm rất rộng do người Pháp xây từ hồi mày với tao chưa đẻ cơ. Trong hầm ấy có nhiều cái lạ lắm, ví dụ như người Pháp làm hồ bơi, làm cả chỗ để đá bóng, để vật nhau... Biết đâu các chú bộ đội cho tao với mày vào đấy tham quan thì hay nhỉ!
Thằng Oanh nói thế càng kích thích sự tò mò của tôi. Tôi đồng ý liền với kế hoạch của nó. Than ôi, chẳng có cái dại nào như cái dại nào. Nếu kế hoạch đó thực hiện đúng thì cũng chỉ đúng có một phần. Đúng là chúng tôi bị mấy chú bộ đội canh gác bắt ngay tại trận khi vừa mới mò lên bên kia thành hào, mỗi tội chưa kịp nhìn thấy pháo cao xạ thì mắt của chúng tôi đã bị họ lấy dây vải bịt ngay lại, tối đen. Và cũng đúng là bị nhốt vào hầm, nhưng là cái hầm chật chội còn hơn... cũi lợn, bẩn không thể tưởng, nước lội lõm bõm, không khí bị bí bách do không có chỗ thoát nên bốc lên một cái mùi ẩm thấp, hôi không thể tả. Trong hầm đặc muỗi, chúng bay cứ như thể phải chen nhau mới có chỗ thoát. Chúng cắn chúng tôi chí chết, hai thằng phải lấy tay đập liên hồi. Mấy anh bộ đội tống chúng tôi xuống đó rồi... gần như quên chúng tôi hay sao ấy! Chúng tôi phải đứng mỏi nhừ chân trong căn hầm ấy đến cả tiếng đồng hồ. Có lúc mỏi quá, không có chỗ dựa, chẳng có cách nào khác, hai đứa phải dựa lưng vào nhau, rồi mỗi đứa co một chân. Trong lúc khổ, được một điều, tôi và Oanh không hề trách cứ lẫn nhau. Cái lỗi ngu này là do cả hai thằng cùng... đồng tình, trách ai?
Đến giữa chiều mới có một anh bộ đội xuống mở cửa hầm. Anh ấy có nét mặt dữ dằn, hỏi chúng tôi:
- Ai xui chúng mày vào đây để làm gì?
Tôi mếu máo:
- Em với thằng này – Tôi chỉ Oanh – cuộc với nhau, đứa thì bảo là cò pháo cao xạ đạp bằng chân, đứa thì bảo bóp bằng tay, không ai chịu ai lên định vào xem...
- Xem! Xem cái gì, mấy ông oắt con? Cho mỗi thằng một cái tát!
Tưởng anh ấy nói đùa, thế mà anh... tát thật, cái tát mạnh quá cứ như mặt tôi sắp... xoay ra đằng sau. Anh ấy hỏi:
- Đau để mà nhớ. Lần sau mà còn tái phạm thì biết tay. Chỗ này không phải là chỗ chúng mày đánh đố nhau, hiểu chưa? Còn bây giờ thì nghe tao hỏi đây: Mỗi thằng phải cho tao biết học trường nào, thầy giáo chủ nhiệm là ai, nhà ở đâu, bố mẹ tên gì?... Nào, khai ra đi, tao ghi...
Đau thế này, tình cảnh khốn khổ thế này, anh ấy có hỏi tên ông... cố nội là gì? bố mẹ cãi nhau bao nhiêu lần? thậm chí ở nhà có... ăn vụng không? Tôi cũng khai tuốt tuồn tuộn, huống hồ những câu hỏi như trên. Tôi với thằng Oanh nhanh nhảu đáp ứng ngay yêu cầu của anh ấy. Ghi chép xong, nét mặt anh ấy có vẻ hơi dịu đi.
Anh bộ đội bỏ quyển sách vào cái túi xách đeo bên người, nói với chúng tôi:
- Bây giờ vẫn chưa tha được đâu! Phải đợi bố mẹ của chúng mày đến nhận, ký cam đoan... không vào đây nữa. Ngồi yên đấy!
Sau cái vụ ấy, tự nhiên tôi ác cảm với mấy chú bộ đội. Làm cái gì mà dọa nạt, đánh cả trẻ con thế? Chúng tôi chỉ tò mò tí chút chứ có là “gián điệp” đâu? Chán thật!
Từ đó, chẳng bao giờ chúng tôi mon men đến cái trận địa cao xạ giữa lòng thị xã ấy nữa.




Máy bay Mỹ ném bom miền Bắc làm cho không khí sinh hoạt của cái thị xã nhỏ bé này như căng ra. Chợ họp từ sáng sớm chưa rõ mặt người, đến bảy giờ sáng là đã tan. Mọi người đều mặc áo, quần màu xanh hay màu đen để ngụy trang. Đường phố, giao thông hào đào chằng chịt chạy dọc theo các vỉa hè. Trên những nóc nhà cao lấp ló những khẩu đại liên cùng với mấy người dân quân đầu đội mũ sắt hoặc mũ rơm đứng canh chừng. Cũng vì không khí chiến tranh này mà tôi với Oanh như có vẻ lớn hẳn ra, cứng cáp hẳn ra. Chẳng gì lớp tôi, số lượng con trai ít hơn số lượng con gái, nên những việc nặng như đào hầm, vác tre ...con trai làm tốt hơn. Hạnh hay nhờ tôi những việc như vậy. Tôi và Oanh giúp tổ của Hạnh đào xong một cái hầm chữ A ở bên ngoài cùng hào chạy từ trong lớp ra đến cái hầm đó chỉ trong vòng một buổi sáng. Các bạn nữ trong tổ của Hạnh nhìn hai thằng chúng tôi phục lắm. Tay bị phồng rộp, thở ra cả đằng tai, mồ hôi nhễ nhại, thế mà chỉ một lời khen của Hạnh: “ Các đằng ấy giỏi thật! Không có các đằng ấy, chúng tớ đào cả ngày chắc gì đã xong !”. Tôi liền ưỡn ngực lên vênh váo:
- Ăn thua gì ! Có mười cái hầm như thế này, chúng tớ cũng đào được.
Than ôi! Khổ cho lời “ khoe khoang” không phải lối. Hạnh nghe tôi nói vậy, liền đề nghị ngay:
- Hay quá ! Ngày mai,Thắng với Oanh đến nhà nhà mình, giúp bố mình đào một hầm trú ẩn nhé !
Tôi đưa mắt nhìn Oanh. Nó nhăn mặt nhưng không dám phản đối. Còn tôi, biết nói thế nào bây giờ, đành gật đầu:
- Yên tâm đi, ngày mai tớ với Oanh sẽ đến nhà bạn.
Nét mặt của Hạnh rất vui:
- Tớ sẽ nói với mẹ nấu một nồi chè đãi hai bạn.
Lúc về thằng Oanh nói với tôi, giọng bực mình:
- Ngày mai tao không đến nhà Hạnh được. Mày nói với nó, thằng Oanh ăn bậy, bị đi té re, không còn sức đào hầm. Mày chỉ chết vì cái tính hay khoe mẽ trước mặt con gái.
Biết nói với thằng Oanh thế nào? Tôi sẽ vẫn giữ lời hứa với Hạnh, dù Oanh có rút lui.
Sáng hôm sau, với bàn tay vẫn bị phồng rộp, nhưng từ rất sớm, tôi vác một cái xẻng đến nhà của Hạnh. Bố của Hạnh vốn tính cẩn thận, ông chỉ cho tôi một miếng đất dưới bụi tre:
- Bác tính rồi, đào hầm chỗ này là đắc sách nhất. Phía trước có bụi tre dày như thế này, nếu bom có rơi ở hướng đó, mảnh bom có bụi tren này ngăn lại. Còn phía này ,lấy đất cứng mà đắp hầm sẽ không sợ bom bi...
- Dạ, thưa bác – Tôi nghĩ thầm – Bom bi chưa nổ, cháu đã chết rồi! Bàn tay phồng rộp như thế này mà đào đất cứng trộn lãn vào rễ tre thế kia thì có đến ...mùa quýt mới xong !
Thấy nét mặt tôi bần thần, bác ấy vỗ vai:
- Cháu ngẫm nghĩ gì thế? Cháu xem bác chọn địa thế đào hầm có đúng không ?
Không xong rồi, đào xong cái hầm này, có khi tôi “ nát” bàn tay. Tôi nhìn ra xung quanh, thấy miếng đất phía xa, gần bờ ao có vẻ mềm. Làm ra vẻ ta đây cũng hiểu biết, tôi góp ý với bác :
- Theo cháu, bác nên đào hầm ở chỗ kia, gần bờ ao ấy, chỗ ấy trông an toàn hơn chỗ này.
- Cháu nói cái gì ? - Bố của Hạnh nghiêng một bên tai như cố nghe cho rõ.
- Là cháu nói nên đào cái hầm đó gần bờ ao – Tôi nhắc lại, giọng hơi to.
- Vì sao ?
- Vì chỗ đó ...nếu có bị bom ...- Tôi đâm ra nói ngắc ngứ - thì ...thì ... cả gia đình bác ...dễ nhảy xuống ao. Chú còn ở đây, nếu bị bom, vướng bụi tre, theo cháu, gia đình bác thoát đi đằng nào?
- Cháu nói nghe buồn cười quá!Đào hầm gần bờ ao, chắc chắn có nước. Đã thế, trong hầm lại tối, dễ thành chỗ trú cho rắn, muỗi, bò cạp... Bom nó mà ném trúng hầm thì chết ráo cả, ở đó mà nhảy...
Tôi nghe bố của Hạnh nói vậy, duối lý, đành chịu. Nói lẩm bẩm trong miệng: “ Sao mình nói ngu thế không biết.”. Tôi đang định quay sang nói với bố của Hạnh, thừa nhận bác ấy nói đúng thì thấy ông đấm hai tay vào nhau, mắt trợn ngược lên, nói với tôi, giọng to còn hơn máy bay Mỹ bỏ bom:
- Anh vừa nói câu gì ?Nói lại cho tôi xem. Nhỏ tuổi đừng có hỗn. Anh mới học lớp bảy mà đã lên giọng như vậy là thằng...mất dạy. Anh hiểu không ?Tôi không thể tưởng tượng con Hạnh nhà tôi lại có những người bạn vô giáo dục như anh –Bố của Hạnh chỉ tay ra cổng – Anh cút khỏi nhà tôi! Cút.
Chết tôi rồi, chuyện gì thế này? Tôi vội phân bua:
- Thưa bác, bác bình tĩnh cho cháu nói.
- Không có nói gì cả! Cậu đi khỏi nhà tôi ngay. Nhỏ mà láo.
- Cháu láo cái gì cơ ạ? – Quả tình tôi cũng chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra.
- Anh còn vờ vĩnh hả !Tôi không nói chuyện với anh nữa. Anh đi khỏi nhà tôi ngay. Tôi sẽ nói chuyện này với bố, mẹ anh và cả cô giáo chủ nhiệm nữa...
Nói rồi ông hầm hầm đi vào nhà.
Tôi cầm cái xẻng lủi thủi quay ra mà trong đầu chưa có câu giải thích đầy đủ về việc bố của Hạnh cáu với tôi. Đi khỏi cổng nhà Hạnh được một đoạn thì tôi nghe thấy có tiếng chân người chạy ở phía sau. Tôi quay lại, nhận ra Hạnh. Hạnh chạy lại, vội hỏi:
- Thắng nói câu gì mà để bố của Hạnh giận đấy?
Tôi im lặng, suy nghĩ rồi nói thật cho Hạnh nghe vì sao phải lấy lý do đào hầm gần chỗ bờ ao. Tôi chìa cho Hạnh xem hai bàn tay phồng rộp của mình vì hôm qua đào hầm và cả lý do vì sao mình nói những câu nói vừa rồi. Tôi lắc đầu:
- Tớ chẳng hiểu, đang yên, đang lành, bố của đằng ấy tự nhiên nổi nóng quát ầm cả lên, rồi đuổi tớ ra khỏi nhà của đằng ấy. Tớ chẳng hiểu gì cả!
Hạnh nghe tôi nói xong, cười rũ rượi:
-Thắng ơi! Hôm qua là mình nói đùa với Thắng thôi, chứ hôm nay, ngoài Thắng ra, còn rất đông các bạn trong lớp đến giúp gia đình Hạnh đào hầm. Hạnh biết Thắng bị đau tay chứ. Thắng là người đến sớm nhất nên bố của Hạnh mới ra nói chuyện. Chứ lát nữa, các bạn đến đông thì mọi chuyện sẽ khác. Với lại, Hạnh nói điều này nữa nhé! Bố của mình hơi nặng tai. Nói cái gì với bố, Thắng phải nói to lên, chứ đừng nói lẩm bẩm, cụ nghe không rõ thành ra hiểu lầm. Thế mà bố nói với mình là Thắng “ chửi” cụ, nói là cụ “ ngu”.
Thế có chết tôi không ? hèn gì, tôi nói câu nào bố của Hạnh cũng hơi nghiêng nghiêng một bên tai. Cụ không nghe rõ câu nói của tôi, nên hiểu sai, chứ đời nào tôi dám nói thế.
Đang không biết nên xử lý chuyện này như thế nào thì Hạnh đỡ cho tôi:
- Thôi, Thắng đừng lo, để mình nói cho bố hiểu. Tính của bố, Hạnh biết chứ. Ông rất nóng, nhưng ai nhận lỗi là ông tha ngay. Thắng quay lại nhà với mình đi. Mình sẽ nói cho bố hiểu.
Tôi hơi lưỡng lự, Hạnh liền cầm tay tôi kéo vào nhà. Tôi thành thực xin lỗi bố của Hạnh. Phút hiểu lầm cũng qua đi. Một lúc sau, các bạn trong lớp kéo đến, người cầm cuốc, người cầm xẻng, kẻ cầm mai... cùng giúp Hạnh đào hầm trú ẩn. Tất nhiên cái hầm đó vẫn đào bên cạnh bụi tre, chứ không phải đào bên bờ ao như tôi “ vẽ ” ra. Do bị đau tay, tôi không phải đào cùng các bạn mà làm nhiệm vụ đun nước và nấu chè giúp cho mẹ của Hạnh. Một điều tôi nói nhỏ với Hạnh:
- Hạnh đừng cho chúng nó biết chuyện lúc nãy nhé.
Hạnh giả nghiêm nét mặt, nói với tôi:
- Thắng phải cho mình cái gì , mình mới không nói!
Thấy tôi lúng túng, Hạnh cười nói nhỏ:
- Mình đùa đấy, nói làm gì. Chuyện ấy chỉ Thắng với Hạnh biết thôi.
Cũng là một kỷ niệm vui, tôi không quên.




HẾT TẬP 1

Chú thích:

(1) - Trại trẻ gồm các em của nhiều cơ quan, khu phố gộp lại thành một đoàn đi về nông thôn cho dễ quản lý, thời sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom.

]]>
http://trankytrung.com/read.php?16 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá - Tập I  phần II]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 16:54:59 +0000 http://trankytrung.com/read.php?16 GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ ( Tiếp theo)

Tập I – Phần II

3

Anh Cường và anh Khanh không ưa nhau. Hai anh cứ như nước với lửa, điều này tất cả chúng tôi đều biết. Anh Cường nói về anh Khanh: “ Lão ấy chỉ được cái hay dọa các em, nói nhiều mà chẳng làm được cái gì nên hồn. Tổ chức một lần đi cắm trại cũng không xong.”. Còn anh Khanh gặp chúng tôi lại nói : “ Thằng Cường toàn đầu têu cho chúng mày những trò chơi gây mất trật tự khu phố. Thằng đó không làm gương cho ai học tập được.”. Hai anh cứ như hằm hè nhau, chúng tôi ở giữa cũng khổ, nhiều lúc không biết nghe lời ai.
Sau này tôi mới hiểu vì sao giữa anh Khanh và anh Cường lại không ưa nhau, hay cụ thể hơn vì sao anh Khanh lại ghét anh Cường? Chuyện này có liên quan đến người thứ ba , tôi phải nói ra đây.
Đó là chị Liên.
Chị Liên học cùng lớp với anh Cường, lại là Phó bí thư chi đoàn khu phố. Chị Liên đẹp, điều ấy ai trong chúng tôi cũng thừa nhận. Một nước da trắng hồng trên khuôn mặt. Chị nhìn ai, ánh mắt của chị cũng như cười. Dáng đi của chị, chẳng khi nào tôi thấy vội vã, rất đoan trang, nhẹ nhàng. Mái tóc của chị nề nã, óng ả tết thành hai duôi sam luôn buông thả xuống hai bờ vai và đong đưa theo nhịp chân bước. Chị chưa bao giờ to tiếng với ai, chẳng bao giờ giận chúng tôi, kể cả những lúc tự bản thân chúng tôi nghĩ mình không nên đùa như thế. Chúng tôi mến chị vì nết dịu dàng, chu toàn trong mọi công việc. Còn cánh đàn ông mến chị vì một lẽ đơn giản là chị đẹp. Người thích chị nhất, lộ cả ra mặt có lẽ là anh Khanh. Anh Khanh là bí thư chi đoàn khu phố, chị Liên là phó bí thư nên anh Khanh đi đâu cũng muốn kéo chị Liên đi theo. Buồn cười, có một tối chị Liên đang hướng dẫn chúng tôi tập hát, anh Khanh tự nhiên đến yêu cầu chị Liên đi với anh đến họp với đôi dân quân khu phố. Chị Liên nói, chị không thể đi được vì đó không phải nhiệm vụ của chị. Thế là anh Khanh nổi cáu: “ Đồng chí không phải là con cháu của bà Trưng, bà Triệu”. Chị Liên từ tốn trả lời: “ Đồng chí bí thư chi đoàn nói hoàn toàn đúng. Mẹ tôi họ Nguyễn, tên Thu. Còn tôi là Nguyễn thị Liên không hề có họ hàng với bà Trưng, bà Triệu.”.Chị nói xong, bụm ngay tay vào miệng cố dấu tiếng cười đang chực bung ra, còn chúng tôi thả phanh cười.
Anh Khanh xấu hổ bỏ đi.
Trong cả bọn, chị Liên rất quý tôi vì tôi cũng thích hát. Mỗi lần liên hoan hay họp chi đội tôi hay xung phong lên hát. Vì thế khi đi đâu, bao giờ chị Liên cũng gọi tôi đi theo. Có bài hát mới, chị cũng tập cho tôi hát trước. Tôi với chị Liên thân nhau vì lẽ đó. Nhiều lúc anh Khanh cũng muốn gọi chị Liên ra một chỗ riêng để nói chuyện, chị lại toàn lôi tôi đi theo. Tôi thừa biết, có tôi bên cạnh chị Liên, anh Khanh không nói những chuyện “ giời ơi, đất hỡi ”, theo cách nói của chị Liên. Mấy lần, thấy vậy anh Khanh toàn yêu cầu tôi phải trở về : “ Trẻ con không nên nghe chuyện của người lớn”, Chị Liên lại giữ tôi ở lại: “ Thắng ra ngoài kia đợi chị một lát, đừng có đi xa em nhé !”. Rồi chị nói với anh Khanh: “ Nào có chuyện gì anh nói với em đi. Em yêu cầu anh nói đến việc chung thôi!”. Trước yêu cầu của chị Liên, thái độ anh Khanh rất lúng túng, nói ấp úng. Việc chung của chi đoàn thì quanh đi, quẩn lại cũng chỉ có mấy chuyện mà trong những cuộc họp trước mọi người đã được phổ biến rồi. Còn chuyện riêng anh Khanh muốn nói, chị Liên không muốn nghe, thành ra...Hai người đứng một lúc, cứ im lặng, không khí thật nặng nề. Tôi đứng ngoài này, cách chỗ anh Khanh và chị Liên không xa , đợi đến sốt cả ruột, muỗi cứ bay từng đàn vo ve bên tai, phải lấy tay đuổi, đập liên tục. Bực mình, tôi gọi liều:
- Về được chưa? Chị Liên ơi.Muỗi cắn em nhiều quá!
Chị Liên lấy cớ đó thoái thác, xin lỗi anh Khanh đưa tôi về, anh Khanh đứng đó một mình.
Ngược với anh Khanh, đối với anh Cường, chị Liên lại dành cho anh ấy một cách cư xử hết sức chân tình, đó là cách đối xử của một tình bạn đẹp, tôi trực tiếp nhiều lần chứng kiến. Anh Cường gần như học giỏi các môn, nhất là các môn tự nhiên, còn chị Liên học giỏi các môn xã hội. Hai người học chung một lớp nên càng có điều kiện gần gũi, hiểu nhau. Vì tôi thân với cả anh Cường và chị Liên nên giữa một chân “ điếu đóm” liên lạc quan lại giữa hai người. Gần anh Cường, chị Liên tôi có lợi nhiều điều, cả sự hiểu biết lẫn cách cư xử.
Chuyện chị Liên thân với anh Cường, làm cho anh Khanh tức ra mặt. Tức anh Cường đã đành, anh Khanh tức luôn cả tôi. Rõ khổ!
Dưới đây là một chuyện.
Anh Khanh được mấy ông lãnh đạo khu phố giao cho nhiệm vụ quản lý giờ giấc sinh hoạt đội thiếu niên hàng tuần của chúng tôi. Ngoài chuyện “ cờ đỏ” là vệ sinh hàng tuần trong khu phố, có hôm đột xuất vào tối thứ bảy anh Khanh lại bày trò đi gác, hay đi tuần giữ ‘ an ninh ” khu phố . Lúc ấy trong anh Khanh “ oách” lắm. Mỗi chuyện phân công đi gác, anh ấy cũng “ quan trọng”. Một lần, cũng vào tối thứ bảy, lẽ ra chúng tôi tổ chức chơi trận giả, dưới sự “ chỉ huy” của anh Cường, thì anh Khanh nổi còi tập trung tất cả bọn tôi lại. Anh Khanh giơ cao ngọn đèn dầu, xem có đứa nào vắng mặt không ? Đứa nào vắng mặt, hay đi chậm mất vài phút là “ chết” với anh Khanh. Kiểm tra đủ quân số rồi, anh Khanh bắt đầu nói:
- Các em phải biết rằng, bây giờ bọn Mỹ - Diệm thường tung biệt kích ra ngoài này để phá hoại miền bắc xã hội chủ nghĩa. Vì thế, anh và các em phải nâng cao cảnh giác, đi tuần tra, phát hiện ra những điều nghi vấn báo ngay cho các chú công an.
Rồi anh Khanh nghiêm nét mặt, tiếp tục nói. Nói liên tục, nói đủ thứ. Lỗ tai tôi nghe cứ lùng bùng, chẳng hiểu anh ấy đang nói điều gì. Đầu óc của tôi lúc này chỉ nghĩ, sau buổi nói chuyện của anh Khanh, được giải tán chúng tôi sẽ chơi trận giả cho thật thích. Nói một lúc lâu, anh Khanh kết luận:
- Các em là đội viên thiếu niên tiền phong, nhưng còn là cái gì nữa, có ai biết không ?
Chúng tôi im lặng, là ... “ cái gì nữa” bố thằng nào biết? Anh Khanh nói hùng hồn:
- Là cánh tay phải của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam. Thiếu niên khu phố Lê Lợi...- Anh Khanh giơ cách tay lên hô to – Sẵn sàng !
Tiếng hô của anh ấy làm cho chúng tôi giật mình, có đứa vãi cả ...thối um. Chúng tôi cười ồ. Thấy chúng tôi cười, anh Khanh tức quá, đi xuống hỏi gay gắt:
- Đứa nào vừa gây lộn xộn khi anh nói ? Đứa nào cười to nhất?
Lúc đó tôi vẫn lấy tay ôm miệng cười khùng khục. Anh Khanh túm tay tôi, lôi ra khỏi hàng:
- Té ra cậu Thắng. Cậu là thằng ấm ớ nhất đội. Được rồi, vì chuyện cậu làm mất trật tự khi tôi đang phổ biến tình hình thời sự nên tối nay cậu phải đi với tôi canh gác khu vực Gò Gánh. Còn các tổ, như đã phân công vào vị trí...
Trừ mấy đứa trong tổ trực gác tối thứ bảy, còn tất cả giải tán. Chúng hò reo, nói chuyện rôm rả, tôi nhìn theo chúng nó mà thòm thèm. Anh Khanh không biết kiếm đâu ra một chiếc gậy, dúi vào tay tôi:
- Mày cầm lấy rồi đi theo anh. Anh đi đâu, mày đi theo đấy. Anh với mày làm một nhiệm vụ “ thiêng liêng” là giữ vững an ninh khu phố. Mày phải cố gắng “ lập công chuộc tội”.Ngoài cái “ tội” anh đang nói, mày lại cười, mày còn nhiều “ tội” với anh lắm, anh chưa thể thống kê hết ra ngay bây giờ đâu.
Tôi chẳng biết tôi có “ tội” gì với anh Khanh mà cũng không muốn hỏi lại nữa. Hỏi ra anh ấy tức giận bắt tôi đi gác với anh ấy đến tận khuya thì nguy! Một tay anh Khanh cầm một cái gậy y như của tôi, còn tay kia, anh ấy cầm một chiến đèn pin, thái độ rất hùng hổ.
Tôi và anh Khanh lên đường.
Kể ra cũng tức thật. Lúc nãy có phải một mình tôi cười anh Khanh đâu, có thằng còn cười nhiều, to hơn tôi. Thế mà chỉ một mình tôi bị anh Khanh bắt làm nhiệm vụ này. Hình như trong chuyện này, anh Khanh thù tôi vì một chuyện khác!!! Trong suy nghĩ, tôi cũng lờ mờ nhận ra.
Gò Gánh, tôi biết đó là nơi Hợp tác xã trồng một vườn nhãn, cây đang lên vượt quá tầm người đứng. Tối tối, các anh chị thanh niên hay ra đó tâm sự. Ở đấy có chuyện gì đâu mà tôi với anh Khanh phải ra đó canh gác. Tôi thắc mắc điều đó với anh Khanh, anh Khanh liền giải thích:
- Mày đúng là thằng trẻ con chưa vỡ bọng cứt, chẳng hiểu gì cả! Nơi đó là ...là... – Anh Khanh nghĩ mãi không ra từ để diễn tả, thành ra nói cà lăm – là...là chỗ ...chỗ mọi người dễ mất cảnh giác, bọn Mỹ - Diệm lợi dụng, mày hiểu chưa?
Anh ấy nói thế, làm sao tôi hiểu, nhưng vẫn phải đi theo anh ta. Trời không có trăng, đường gồ ghề, thỉnh thoảng tôi lại vấp phải một hòn đá, chân đau điếng. Đêm tối đen, đặc quánh. Đom đóm lượn vật vờ, ánh sáng xanh, lạnh nhấp nháy lúc gần, lúc xa. Xung quanh tôi và anh Khanh tiếng ếch nhái, chẫu chàng, ễnh ương...oàm oạp, ồm ồm... nghe loạn xạ, không biết đâu mà lần. Tôi đi theo anh Khanh với tâm trạng ngán ngẩm, mong mau mau xong việc để mà về.
Đến gần Gò Gánh, anh Khanh ra hiệu cho tôi đừng lại. Tôi đứng lại, tâm trạng căng thẳng, nghe rõ cả tiếng tim mình đập trong ngực thình thịch. Anh Khanh ghé sát tai tôi, nói nhỏ:
- Mày có nghe thấy tiếng gì không ?
Tôi nghe kỹ một hồi, rồi lắc đầu:
- Em chẳng nghe thấy cái gì cả.
Anh Khanh có vẻ khó chịu:
- Đồ tậm tịt! Nghe kỹ, nhìn kỹ sau lùm cây nhãn kia kìa – Anh Khanh lấy tay chỉ cho tôi thấy phía xa xa.
Bây giờ tôi mới thấy, quả là sau một lùm cây nhãn, dưới ánh sao mờ mờ, hình như có hai người đứng và họ đang làm một động tác gì đó, cây nhãn rung rung... Tôi nói nhỏ với anh Khanh:
- Hình như có người, đúng không anh ?
- Chắc chắn có người rồi còn gì! – Giọng anh Khanh háo hức - Mày bò theo anh, đến thật gần. Phải bắt quả tang, hiểu không?
- Thế đấy là bọn “ biệt kích” à ? – Tôi cũng chưa hiểu hết chuyện gì mà anh Khanh đòi phải bắt “ quả tang”.
- Cái này còn nguy hiểm hơn “ biệt kích” ấy chứ ! Theo tao.
Anh Khanh cúi thấp người, lò dò tiến đến gần, tôi cũng lò dò tiến sau anh ấy. Anh Khanh ở phía trước trong tay vẫn lăm lăm cầm cái gậy, tay kia cầm đèn pin. Hai chúng tôi cố bò không gây tiếng động đến gần hai bóng đen. Hai bóng đen đó đứng gần như sít vào nhau, hai cái đầu trông cũng như chập vào làm một. Tôi mải quan sát phía trước, vấp phải một rễ cây, ngã dúi dùi dụi. Bỏ mẹ tôi rồi! Tôi ngã thế quái nào lại đúng vào một đống phân trâu. Cả tay, cả chân nhầy nhụa toàn phân trâu. Cái mùi thum thủm, khai khai... cứ thế xộc thẳng vào mũi. Khó cho tôi quá, lúc này lấy nước đâu mà rửa, mà giả có nước cũng không thể rửa được, vì tôi cùng anh Khanh đang “ làm nhiệm vụ”.
Anh Khanh quay lại, thấy tôi tụt lại đằng sau, anh bò đến gần, thì thầm:
- Mày làm cái gì mà không đi sát theo tao. Sợ à!
- Không phải – Tôi vội thanh minh – Em ngã dính phải bãi phân trâu. Đây này !
Vô tình, tôi đưa bàn tay dính phân trâu lên ... đúng mũi của anh Khanh. Anh Khanh tức quá, giọng cố kìm lại, nhưng không dấu dược sự nổi nóng:
- Mày định xỏ tao phải không ?
- Dạ, không phải, em vô tình thôi. Em xin lỗi anh. Hay... anh cho em về nhà rửa tay, chân. Chứ thế này...
- Về là về thế nào ! Để đấy, hoàn thành xong nhiệm vụ rồi rửa. Con bây giờ chú mày phải theo anh – Anh Khanh vẫn nói thì thầm – Mày phải nhớ là đang làm nhiệm vụ của một đội viên thiếu niên tiền phong đấy nhé.
Hai chúng tôi lại cúi thấp người, trườn đến như hai con rắn. Hai bóng đen trước mặt gần như vẫn không để ý, đứng sát vào nhau. Cái cây nhãn rung rung, lại có cả tiếng thở gấp gáp nữa.
Anh Khanh bò đến gần hai bóng đen ấy, rồi đứng bật dậy, hô to:
- Tất cả đứng im! Giơ tay lên! Giữ nguyên hiện trường.
Anh Khanh chiếu ánh sáng đèn pin vào mặt người đàn ông. Người đàn ông là một người thanh niên bị ánh sáng đèn pin làm quáng mắt, lấy một tay che mắt, còn tay kia kéo chiếc quần dài đang bị tụt xuống dưới đầu gối. Còn người con gái đứng bên cạnh cũng run lẩy bẩy kéo một chiếc quần đen lên. Anh Khanh lại lia ánh đèn pin vào mặt người con gái đó, cười gằn:
- Tôi nhắc lại, giữ nguyên hiên trường!
Anh Khanh quay lại nói với tôi:
- Thắng đâu! Em cùng tôi giải hai người này về trụ sở Ủy ban.
Người nam thanh niên kéo quần lên, giữ được bình tĩnh, vuốt lại tóc, nói với anh Khanh, giọng gay gắt:
- Anh với thằng này – anh ta chỉ tôi- Đến đây định làm cái trò gì ?
Anh Khanh nói có vẻ cứng rắn:
- Làm “ trò” gì à ! Cả hai người cứ về Ủy ban rồi sẽ biết.
Người nam thanh niên tức khí ,vung tay lên:
- Anh là ai ? mà có quyền bắt chúng tôi. Chúng tôi đến đây chỉ tâm sự, chẳng làm gì nên tội. Chúng tôi không đi đâu hết.
Anh Khanh nói với giọng khoe khoang:
- Tôi là gì à? Tôi có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh ở đây. Ai vi phạm an ninh là tôi bắt.
- Tôi vi phạm cái gì! Anh thử chỉ ra cho tôi xem?
Anh Khanh bấm đèn pin cho ánh sáng chiếc đèn chiếu vào thắt lưng của anh thanh niên kia đang buông lòng thòng, nói:
- Tang chứng rành rành thế này lại còn cãi? Cái trò này còn “ nguy hiểm ” hơn cả bọn biệt kích Mỹ - Diệm ấy chứ!
Người con gái đứng nép bên cạnh anh thanh niên nghe vậy, mếu máo:
- Anh cho em xin. Đừng bắt chúng em về Ủy ban. Mọi người biết, gia đình em biết thì em chết mất.
Anh Khanh vẫn giữ thái độ cương quyết:
- Không nói lôi thôi nữa, hai người phải giữ nguyên “ hiện trường”, đi theo tôi!
Thật dại dột, không hiểu sao lúc đó tôi lại “ ngứa mồm”:
- Về Ủy ban, hai tên “ Biệt kích”!
Người nam thanh niên nghe vậy, gầm lên:
- “ Biệt kích” đ... gì tao! Chúng tao làm gì mà chúng mày gọi là “ biệt kích”? “ Biệt kích” này!
Người nam thanh niên đó túm lấy cổ áo của anh Khanh kéo mạnh về phía mình. Anh Khanh lỡ đà, chúi người xuống. Tiện thể, anh thanh niên thoi ngay một quả đấm vào ngực anh Khanh. Anh Khanh đổ vật xuống đất, cái đèn pin lăn long lóc. Anh thanh niên quay lại tôi:
- Còn thằng nhóc này, tao đạp một phát cho mày chết luôn!
Tôi nghe vậy, hoảng quá, vứt luôn cái gậy đang cầm trên tay, bỏ mặc cả anh Khanh đang nằm trên mặt đất, co giò chạy thục mạng. Anh Khanh thấy tôi chạy, kêu lên sợ hãi:
- Thắng ơi! Thắng ơi! Đừng chạy. Mày cứu tao với, lão ấy đánh chết tao rồi...chết tao rồi...- Tôi lại nghe thấy tiếng anh Khanh van nài – Em lạy anh, em không dám làm thế nữa. Anh tha cho em. Em lạy...
Rõ khổ cho anh Khanh mà rõ khổ cho tôi. Tự nhiên chuyện không đâu lại đâm đầu vào để rước họa.
Sau chuyện ấy, anh Khanh gặp tôi có vẻ ngượng nhưng chuyện này chính tôi cũng chẳng dám kể với ai. Nào có hay ho gì...








Thằng Oanh thì thầm với tôi:
- Nó là một thằng rất tội, mày biết không ? Mẹ nó bị bệnh, chết sớm. Bố của nó đi lấy vợ khác. Bà dì ghẻ bắt nó làm cả ngày, không cho ăn no, trông khổ lắm.
- Nó kể cho mày nghe thế à !
- Ừ, thì nó vừa kể với tao, vừa khóc – Oanh nói với tôi.
Tôi lắc đầu:
- Tao không tin đâu. Mày phải dẫn tao tới gặp nó, xem thế nào đã .
- Thì đi!
Oanh đưa tôi đến một cái nhà lợp tôn trong chợ Gừng, cái trần nhà người ta gác rất nhiều những cây tre, có lẽ để phòng lụt. Oanh đứng dưới ngước cổ lên, gọi:
- Bình ơi!
Có tiếng lục cục như trở mình ở trên đó. Oanh nói:
- Nó ngủ đấy, sáng nay tao cho nó một củ sắn luộc, trông cu cậu ăn có vẻ ngon lành.
Tôi vẫn thắc mắc:
- Mày cũng lạ! Chưa biết nó làm sao mà mày lại thương nó!
Oanh nhìn tôi, ánh mắt giận dữ:
- Nó khổ thật đấy, để nó xuống rồi mày xem.
Từ trên trần nhà, một thằng cũng trạc tuổi tôi theo cây cột nhà, tụt xuống. Trông dáng hình nó thật thảm hại. Cái mặt thì lem luốc, chỗ trông bợt bợt, chỗ thì đen đen, chỗ thì chỉ có hai con mắt, đầu tóc rối bù còn hơn ổ rơm trộn. Quần áo nó cũng dễ cả tháng không giặt, nó đứng cách tôi có nửa thước mà bốc ra cái mùi nằng nặng, rất khó ngửi. Thằng Bình nhìn Oanh rồi nhìn tôi có phần lạ lẫm, tự nhiên nó co người ho một cơn rũ rượi. Đến lúc này, tôi không nói nhưng thừa nhận là thằng Oanh nói đúng, thằng này có hoàn cảnh rất khổ. Thằng Oanh chỉ tôi, giới thiệu với Bình:
- Đây là thằng Thắng, bạn tao! Nó chơi rất thân với tao. Mẹ nó bán thịt lợn quốc doanh đấy.
Tôi hỏi Bình:
- Nhà mày ở đâu?
Bình trả lời lí nhí:
- Nhà tao ở tận Thanh Hóa cơ, xa lắm!
Tôi hỏi nó:
- Tao nghe Oanh nói mày còn có bố cơ mà, sao mày không ở với bố mà phải trốn ra tận ngoài này?
Bình nói với tôi, giọng buồn buồn, con mắt của nó chưa chi đã có ngấn nước:
- Bố tao suốt ngày chỉ uống rượu thôi. Ông ấy vừa sợ dì, vừa ác nữa. Ông ấy đánh tao thế này này...
Bình làm động tác như người ta... bổ củi, sau đó nó quay lưng lại kéo áo lên cho chúng tôi xem. Khiếp! Không biết bố nó đánh nó kiểu gì mà lưng nó chằng chịt vết roi, cứ như thể vết xe đi trong đám bùn. Có vết roi hằn trên lưng vẫn chưa lành, rơm rớm máu. Tôi nhìn nó ái ngại:
- Thế sao mày không báo cho các chú... công an?
- Bố tao đánh tao tức là đánh con của ông ấy chứ có phải đánh người khác đâu mà công an bắt?
Đơn giản như thế mà tôi không hiểu. Tôi nghĩ, thằng Oanh giúp Bình được thì mình cũng giúp Bình được. Mỗi lần về thăm nhà, bố tôi hay kể những cảnh khổ mà bố gặp dọc đường. Có một lần, bố về thăm nhà, mẹ tôi phàn nàn là không đủ tiền mua mấy tấm lá cọ lợp nhà, mẹ nói bố đưa lương cho mẹ. Bố tôi thực tình kể: khi đạp xe trên đường, bố gặp một gia đình đi ăn xin, chồng mù, đứa con thì bị tật, còn vợ lại câm. Họ đói, trú tạm trong một hàng hiên, ngồi co ro, trông rất thương. Trong túi có hai mươi đồng, bố rút ra cho họ mười lăm đồng, còn năm đồng bố đưa cho mẹ.
Mẹ tôi cười mà như mếu:
- Ông ơi! Mười lăm đồng ông cho người ta ấy, mẹ con tôi tằn tiện cũng đủ ăn trong gần nửa tháng, còn nếu đem lợp mái nhà kia kìa – mẹ chỉ lên mái nhà đang thủng lỗ chỗ - thì mười lăm đồng của ông thuê người ta lợp cũng được cả mái. Thế mà... Năm đồng ông đưa bây giờ phỏng làm được việc gì?
Bố tôi lại gần mẹ, vỗ về:
- Thôi em ạ. Mình làm phúc cho người ta rồi đến lúc người ta làm phúc cho mình. Hơn nữa, anh là bộ đội, nhìn những cảnh đó anh không đành. Không có lương tháng này, tháng sau anh sẽ có, còn người ta, nếu không có mình giúp, biết đâu họ sẽ chết rét, chết đói...
Mẹ tôi thở dài:
- Ông chỉ được cái thương người nhưng gia đình mình thì ai thương?
Bố tôi như thế, chẳng lẽ tôi lại không làm được điều đó. Chỉ có điều khi tôi nói với mẹ cho Bình mấy bộ quần áo cũ, mẹ tôi bực mình nói:
- Bố con nhà này có tính khí thất thường. Bố con mỗi tháng chỉ đưa cho mẹ có vài đồng lương, còn bao nhiêu đem làm “lệnh làng” cả, bây giờ lại đến con. Con biết không, họ hàng nhà mình còn có dì Hoa kia kìa, nhà dì cũng khổ. Phải giúp dì trước đã...
Mới có thế mẹ tôi không cho, huống hồ là xin tiền để giúp Bình. Tôi với Oanh phải tính kế.
Trước hết, không thể để cho Bình đói. Oanh bàn với tôi thế này:
- Mày nuôi Bình một tuần, sau đó đến lượt tao nuôi.
- Nhưng nuôi nó bằng cách nào?
- Có thế mà mày cũng hỏi. Thế này này... – Oanh nói như thể chuyện đó chẳng có gì quan trọng cả - Đến bữa ăn, mày giả như ăn một bát, rồi mày ăn một nửa thôi, chỗ cơm ấy mày đổ ra ca uống nước, cứ ăn ba bát hay bốn bát là có hai bát cho thằng Bình. Mày đậy ca cho cẩn thận, để trong cặp. Mày đi học sớm, đưa cho nó. Mày thấy thế nào? Hết lượt mày đến lượt tao.
Tôi đồng ý với “sáng kiến” của Oanh để nuôi Bình. Từ đó, cả trưa và chiều, lúc gói cơm trong ca uống nước, lúc gói trong lá chuối, lúc bọc trong giấy giấu trong bụng, chúng tôi đưa cơm cho Bình ăn. Chỉ mới gần một tháng, trông da dẻ của nó đã thay đổi, hồng hào lên tí chút. Có điều...
Một lần, đến lượt tôi đưa cơm nuôi Bình. Trong bữa cơm, mẹ thấy tôi ăn vội ăn vàng, mắt thì láo liếng nhìn ra ngoài, mẹ sinh nghi:
- Dạo này con ăn cơm, mẹ thấy khác lắm...
Mẹ nói thế làm tôi chột dạ. Không khéo mẹ biết chuyện này thì chết. Tôi tìm cách chống chế:
- Có gì đâu mẹ!
- Những lần trước, con ngồi một chỗ, ăn cơm từ tốn, còn bữa nay, con ăn cơm mà như bị ma đuổi. Có việc gì mà đang ăn cơm, con lại chạy ra ngoài?
Tôi im lặng, không nói, cố nghĩ trong đầu xem có thể bịa ra một lý do gì thật chính đáng, nói cho mẹ tin. Mải suy nghĩ, răng tôi cắn phải lưỡi đau điếng. Mẹ nhìn tôi lắc đầu, giọng nghiêm lại:
- Hôm nay, mẹ yêu cầu con ngồi yên một chỗ, ăn xong bát cơm rồi đi đâu hẵng đi.
Thế là chết tôi rồi, làm sao báo cho thằng Oanh biết tình thế này, rồi làm sao để cho thằng Bình khỏi đói? Chắc bây giờ nó đợi tôi mang cơm ra đây... Thật nan giải. Cuối bữa cơm tôi tìm cách bưng nồi cơm đi trước. Một hy vọng tìm cách vét số cơm còn lại trong nồi cho Bình. Đợi mẹ đi vào bếp, tôi vét hết chỗ cơm cho vào cái bát rồi úp một bát lên. Nhìn trước nhìn sau, mẹ không để ý, tôi cho bát cơm đã đậy vào một lùm cây để tí nữa đi học sẽ tìm cách đưa cho Bình. Mọi tính toán của tôi té ra lại sai bét. Trước lúc đi học, tôi ra chỗ để bát cơm, bát cơm đổ tung tóe. Tôi nhìn quanh. Phía xa, một con chó nằm đang thè lưỡi liếm mép. Đích thị nó là thủ phạm rồi! Tôi ngán ngẩm, sao mà hôm nay số tôi và cả thằng Bình “đen” thế. Mối lo nhất của tôi hôm nay là Bình không có bữa ăn trưa, đói thủng dạ dày là cái chắc!
Tôi đi học, thằng Oanh đón tôi ngay ở đầu đường. Tôi nói cho nó biết chuyện với tâm trạng lo lắng:
- Tao nghi mẹ tao biết chuyện này, phải chuyển cách thôi!
Thằng Oanh nghĩ cũng có vẻ đăm chiêu:
- Có lẽ tao với mày phải nghĩ cách khác, chẳng hạn như tìm cho thằng Bình một công việc gì đó, rồi tao với mày phụ giúp nó, chứ nuôi nó vài tháng nữa là chết cả tao lẫn mày.
Tôi kể lại chuyện vì sao hôm nay không mang cơm cho Bình được, Oanh trấn an tôi:
- Hôm nay nó cũng có cơm rồi. Mấy bà bán hàng xén ở chợ nhờ nó giúp chuyển hàng, cho nó ăn cơm.
Được cái Bình là thằng chịu khó, ở chợ ai sai việc gì nó cũng làm. Nhiều việc quá sức như vần những sọt rau từ xe bò xuống, nó vẫn hì hục gắng làm. Có lần bị sọt rau đè vào, tím hết cả bàn chân, bọn tôi phải lấy dầu hỏa bóp chân cho nó. Oanh nhìn thằng Bình đang nhăn mặt vì đau, suy nghĩ rồi dặn:
- Lần sau nếu ai thuê mày làm việc nặng, mày gọi chúng tao, chúng tao sẽ ra làm giúp. Mày cũng phải nói cho họ biết, nên trả công đàng hoàng.
Bình gật đầu.
Thế là hàng ngày, thay cho những buổi tập thể dục chạy bộ, tôi với Oanh lại chạy ra chợ xem có việc gì để giúp Bình. Bình cảm động, nói thực lòng: ”Tao cứ muốn ở đây mãi với chúng mày”.
Việc ở chợ xuất hiện thằng bé không cha, không mẹ, tối lại chui lên trần nhà để ngủ tất nhiên là sẽ bị những người lớn tuổi để ý. Anh Khanh là một trong những người ấy.
Hôm ấy, tôi và Oanh đi học về, định ghé qua chỗ Oanh nghỉ, rủ nó chiều ra bờ sông chơi thì nghe mấy bà bán hàng ở chợ cho biết: Bình bị anh Khanh và mấy anh thanh niên cờ đỏ dẫn lên đồn công an rồi.
Thế là thế nào? Cái anh Khanh này thật quá quắt, ai anh ấy cũng nghi là “gián điệp” với “biệt kích” hết! Thằng Bình làm gì mà phải đưa nó lên công an?
Tôi với Oanh chạy vội lên đồn công an thị xã.
Trong đồn công an – một gian phòng có vài cái ghế dài và một cái bàn có ghế mà không có người ngồi – Bình đang ngồi, đầu gục xuống như ngủ gật, hai tay nó bị trói vào thành ghế. Thấy động, Bình choàng tỉnh, nhìn vội ra ngoài. Thấy chúng tôi, Bình mừng rỡ. Tôi hỏi Bình:
- Vì sao anh Khanh lại trói mày như thế này?
Bình mếu máo:
- Tao cũng chẳng biết nữa? Anh ấy bảo, phải đưa tao về lại gia đình. Ở đây tao sẽ lôi kéo những đứa như bọn mày vào con đường hư hỏng.
- Anh ấy đâu rồi? để tao gặp anh ấy nói cho rõ mọi chuyện – Thằng Oanh cáu lắm, nói.
Thằng Bình hất đầu vào phía trong:
- Anh ấy vào phía trong kia, không biết để làm gì? Anh ấy trói tao ở đây, sợ tao chạy.
Anh Khanh là người hay quan trọng hóa vấn đề, lại nữa, chuyện gì anh ấy nói cũng cho là đúng, vậy thì tôi có gặp để nói chuyện hay xin xỏ, chắc gì anh Khanh đã nghe. Tốt nhất là...
Nhìn trước nhìn sau không thấy ai, tôi và Oanh tháo dây trói cho Bình rồi kéo nó đứng dậy:
- Mày đi theo bọn tao, không việc gì phải ngồi đây!
Bình sợ sệt:
- Nhỡ anh ấy ra, biết chuyện lại bảo tại tao xui chúng mày rồi không cho tao chơi với chúng mày...
- Không có chuyện đó! – Tôi khẳng định rồi lôi Bình chạy ra khỏi phòng làm việc ở đồn công an.
Chuyện tôi chơi với Bình đến tai mẹ tôi, mẹ tôi không bằng lòng. Mẹ nói:
- Bây giờ thì mẹ đã rõ mọi chuyện, con với Oanh nuôi Bình. Thôi, đó là một nhẽ, vì thương bạn. Nhưng con và Oanh tối ngày kết thân với nó là không được. Anh Khanh nói đúng, con không thể thành người tốt khi con cứ kết bạn với những đứa không học hành, bỏ gia đình đi lang thang...
Tôi không đồng ý với ý kiến của mẹ. Từ ngày tôi và Oanh chơi với Bình, nào đã thấy nó hại ai, thậm chí nó còn gỡ được cho chúng tôi bao nhiêu điều.
Nhớ một lần tôi với Oanh đến lớp, trước giờ toán, Oanh mới phát hiện quên vở bài tập ở nhà. Chạy về nhà thì không kịp. May cho nó, hôm ấy thằng Bình lại theo bọn tôi đến lớp xem chúng tôi học. Thế là thằng Oanh nhờ thằng Bình chạy về nhà lấy, thằng Bình nhận ngay và nó chạy thục mạng về nhà Oanh, bị một chiếc xe đạp đâm phải, trầy xước hết cả chân tay. Ấy vậy mà thằng Bình giấu nhẹm chuyện đó, đưa quyển sách cho thằng Oanh, trông nó có vẻ khoái lắm. Rồi lần khác, chính thằng Bình lại cứu tôi. Số là tôi và thằng Oanh khoái trò chơi đánh đáo ăn khuy áo, mỗi tội tôi càng đánh càng thua. Mấy chiếc áo của tôi, khuy mất gần hết, phải lấy dây chuối cột lại. Mẹ mắng bao lần, tôi vẫn không chừa. Nhưng nguy nhất là chuyện chiếc áo đại cán của bố tôi. Chiếc áo ấy để trong tủ, ông chỉ mặc vào ngày Tết, ngày lễ. Nó có mấy cái khuy áo rất to. Do bị thua nặng, tôi nghĩ, cứ cắt đại mấy cái khuy áo đó chơi để gỡ, sau đó nhờ người khâu lại cho bố cũng được vì thời gian này, bố chưa về. Có ai dè, cả mấy cái khuy áo đại cán của bố, tôi đánh với chúng nó cũng thua nốt. Bây giờ, nhìn cái áo của bố không có khuy áo, cứ thẳng đuồn đuột, trông không ra làm sao cả. Đúng lúc ấy, bố tôi lại về thăm nhà, mẹ tôi mừng vì gần kịp thời gian đi dự đám cưới của một cô trong cơ quan. Mẹ tôi nói với bố:
- Hôm dự đám cưới của cô Hoa, anh nhớ lấy cái áo đại cán trong tủ ra mặc cho nó sang trọng.
Bố tôi gật đầu, còn tôi tái cả mặt. Thế là chết tôi rồi, áo không có khuy thì mặc thế nào? Làm thế nào kiếm được mấy cái khuy áo to ấy? Chẳng còn cách nào khác, tôi nói với Bình. Bình trả lời: “Để tao”. Bình rủ cái thằng hay chơi đáo ăn của tôi mấy cái khuy áo to, chơi với nó. Tội cho thằng Bình, cái quần rách của nó có mấy cái khuy trông cũng đèm đẹp, nó giật phắt rồi cứ để thế mà chơi đáo ăn khuy với thằng kia. Quần ngoài thì không có khuy, quần đùi thì rách, khi thằng Bình ngồi xổm hở cả... trông không nín được cười. Ấy vậy mà Bình đâu có để ý, nó quyết tâm gỡ bằng được mấy cái khuy áo to cho tôi. Và nó thắng thật. Chỉ chơi có một buổi, mấy cái khuy áo to kia về lại với tôi. Gỡ được rồi, nó phủi tay:
- Mày đừng chơi cái trò này nữa, mất hết cả khuy áo. Chẳng lẽ cứ lấy dây chuối cột mãi à? Nói thật với mày nhá, tao chơi ăn gian mà thằng kia không biết đấy! Cái trò đánh đáo ăn tiền muốn thắng thì phải ăn gian, đâu có hay ho gì!
Thằng Bình tốt thế mà mẹ tôi, rồi cả anh Khanh và một số người lớn nữa cứ cấm chúng tôi chơi với nó, tôi thấy thật quá vô lý.





4.


Chủ nhật ấy là ngày khánh thành đập nước hồ Suối Ba. Trước đó, trên loa trên đài, họ tuyên truyền rất nhiều là ngày khánh thành có đốt pháo bông, có lướt ván, có nhiều trò chơi... làm cho chúng tôi háo hức. Tôi với Oanh quyết định rủ Bình đi mà không xin phép gia đình. Tôi biết, nếu có xin phép, mẹ tôi cũng chẳng cho đi. Tôi quyết định giả đi lao động ở trường để dự lễ khánh thành rồi chiều về, vì có nhiều ô tô chạy lên đó, chúng tôi sẽ xin đi nhờ.
Ban đầu, mọi việc diễn ra đúng như với dự kiến. Có một chiếc ô tô chở thực phẩm lên đó, cả ba chúng tôi đi nhờ được. Ba chúng tôi được một bữa đi chơi thỏa thích. Chiều đến rồi trời tối ập đến lúc nào không hay. Đến lúc đó tôi mới giật mình, biết ở nhà mẹ tôi đang mong, ngày mai lại còn đi học trong khi bài vở chưa chuẩn bị gì cả. Chúng tôi lo cuống cuồng, cả ba thằng đi tìm ô tô để xin về nhưng đều bị họ từ chối vì họ còn chở khách, chở hàng ngập ứ, chỗ đâu nữa mà chở ba đứa chúng tôi.
Thằng Oanh lo một thì tôi lo mười. Tính mẹ tôi rất nghiêm, tôi lại chưa bao giờ bỏ nhà đi đâu lâu như thế này. Nếu về đến nhà, chắc thế nào tôi cũng bị mẹ đánh. Còn Oanh, nó nói thiểu não:
- Chắc bố mẹ tao cũng giống như mẹ của mày, sẽ đi tìm tao. Nhưng có tìm hay không tìm thì ngày mai, nhất định chúng mình cũng sẽ tìm được cách về nhà. Nếu không tìm được ô tô, bọn mình sẽ... đi bộ. Hơn ba chục cây số, chỉ đi một ngày là tới. Khổ nỗi, tối nay chúng mình không biết lấy gì mà ăn...
Thằng Bình nhìn tôi và Oanh, động viên:
- Lúc này cứ bình tĩnh là có cái ăn. Hai đứa chúng mày ngồi đây, đừng chạy đi đâu đấy, tao đi kiếm cái ăn cho.
Nói rồi, nó chạy vụt đi. Không biết nó “kiếm cái ăn” cho chúng tôi như thế nào trong khi cả ba chúng tôi đều nhẵn túi, không còn một xu.
Tôi với Oanh ngồi nép vào nhau, xung quanh xen lẫn trong ánh đèn là hàng quán, tiếng cười, tiếng nói lao xao, những bước chân người đi đi, lại lại. Bụng đói đến cồn cào cộng với nỗi lo ở nhà người nhà đang hốt hoảng đi tìm làm cho tôi và Oanh có cảm giác mệt. Tôi nhắm mắt cố gắng để quên đi cái tình thế rất chán này.
Tự nhiên, tôi nghe tít đằng xa có tiếng hô hoán:
- Bắt lấy nó! Bắt lấy nó... Nó chạy đằng này... Không, nó chạy đằng kia kìa. Cái thằng nhóc mặc áo đen ấy... Bắt lấy nó...
Thằng nào ăn cắp bị họ đuổi thế không biết? Tiếng hô hoán, tiếng người chạy một lúc rồi xung quanh lại yên tĩnh trở lại, như không có chuyện gì xảy ra. Chắc chuyện lấy cắp cũng không phải là lớn, tôi với Oanh lại gục đầu, ngồi nép vào nhau đợi Bình.
Tôi với Oanh đang thiu thiu ngủ thì Bình lay chúng tôi dậy:
- Dậy đi chúng mày! Dậy đi...
Cả hai chúng tôi choàng tỉnh. Bình đưa cho chúng tôi hai chiếc bánh mì thơm nức và nửa nải chuối. Bình nói:
- Ăn đi!
Tôi ngơ ngác:
- Tiền đâu mà mày mua được nhiều thế này?
Bình nói lưỡng lự:
- Đói thì ăn đi, việc gì phải hỏi.
Oanh cầm cái bánh mì Bình đưa. Nó nhai ngon lành, vừa nhai vừa hỏi:
- Mày xin được à? Mà làm gì có người tốt thế, cho một lúc những ba chiếc bánh? Ba cái bánh này á, mất đứt ba tem gạo hai trăm hai lăm gam đấy (1). Thế... mày ăn chưa?
Bình gật đầu rồi nó ngồi... xem hai chúng tôi ăn. Chúng tôi hoàn toàn không để ý từ xa có mấy bóng người lớn đang cầm đèn pin đi đến. Một người lia ánh đèn trúng mặt thằng Bình. Người ấy hô lên:
- Đúng thằng này rồi! Thằng ăn cắp bánh mì đây rồi!
Người ấy lao vào vật thằng Bình xuống, bẻ quặt tay nó ra đằng sau. Khổ thân thằng Bình, dáng còm nhom, lẻo khẻo, đẩy cũng ngã chứ việc gì mà phải vật nó. Mấy người kia lại chỉ hai chúng tôi:
- Hai thằng này nữa, chắc đồng lõa với thằng ăn cắp này. Bắt luôn!
Tôi hốt hoảng:
- Không phải em! Em không ăn cắp. Thằng ấy lấy bánh mì về cho bọn em ăn...
Oanh nhìn tôi căm giận:
- Sao mày hèn thế hả Thắng? Tao không ngờ đấy...
Thằng Bình bị nằm vật dưới đất, thế mà nó cũng cố ngóc đầu lên, nói:
Hai đứa đấy không lấy đâu, chỉ một mình em thôi. Chúng em đói quá...
Một người đàn ông kéo thằng Bình ngồi dậy, dẫn nó đi:
Được, tao chỉ bắt một mình mày thôi. Đói thì xin ăn chứ việc gì lại đi ăn cắp? Đến đó mà trình bày với mấy chú công an.
Bình bị mấy người đó dẫn đi, còn lại một mình tôi với Oanh. Oanh vẫn giận tôi:
-Tao chưa thấy thằng nào hèn như mày.Sao lúc mày ăn banh mỳ của thằng Bình đưa, tao thấy mày nhai ngon lành lắm cơ mà.
Tôi cúi đầu, im lặng, qua xấu hổ. Oanh như không để y điều đó, giục tôi:
- Thằng Bình là thằng tôt nhất mà tao đã gặp.Tao với mày phải đi ngay cứu nó!
- Cứu nó như thế nào ?- Tôi đã thấy ân hận về lời nói của mình lúc nãy, nên hỏi Oanh.
Oanh kéo tay tôi đi:
-Chắc sáng mai họ mới giao thằng Bình cho công an. Còn tối nay, có lẽ họ giam nó vào chỗ nào đó, gần đây thôi. Mày với tao cố đi tìm...
Chúng tôi đi qua mấy quán hàng dựng tạm, đèn đuốc sáng trưng, kẻ ngồi, người đứng ăn uống ồn ào. Lúc này chúng tôi không để ý đến điều đó nữa, bụng cũng không còn đói, nỗi lo mẹ mắng cũng không còn, chuyện ngày mai làm sao kiếm được ô tô về lại Sơn Hà, tôi cũng không thèm để ý. Lúc này chỉ đau đáu một chuyện làm sao kiếm được chỗ họ giam Bình, cứu nó.
Tôi và Oanh chịu khó sục sạo khá lâu rồi cũng tìm thấy chỗ họ nhốt Bình. Hai thằng cứ đi dọc mấy căn nhà tối như hũ nút, gọi nho nhỏ : “ Bình ơi! Bình ơi! Mày có trong đó không ?”. Một lúc sau, có tiếng Bình trả lời trong một cái kho kín, sực mùi xi măng: “ Tao đây! Thắng với Oanh ơi, tao ở đây cơ mà !”. Khỏi phải nói tôi với Oang mừng đến cỡ nào. Hai thằng tiến sát đến nơi Bình bị nhốt. Bình cho chúng tôi biết:
-Tao bị họ trói vào cột, không gỡ ra được. Muỗi đốt nhiều quá!
Nghe Bình nói thế, hai chúng tôi thương nó vô hạn. Cũng vì bạn, mà Bình bị vạ lây. Oanh với tôi vội lần theo bức vách của cái kho ấy, đến một chỗ thấy có một mô đất cao, Oanh nói thì thầm với tôi:
- Mày trèo lên vai tao, dỡ mái chui vào cởi dây trói cho thằng Bình, rồi cả hai chúng mày tìm cách trèo ra. Tao ở ngoài này cảnh giới.
Nói rồi, Oanh cúi thấp người, cho tôi trèo lên lưng. Tôi nói vọng vào đủ cho Bình nghe:
- Mày cứ đứng nguyên như thế, đừng làm gì cả. Tao đang trèo vào đây.
Bình dặn tôi:
- Cẩn thận đấy, Thắng ơi! Khéo ngã đấy.
Phía dưới, Oanh từ từ nâng người tôi lên. Còn phía trên, tay tôi lần lần theo mép tường, để đu người vào. Đang đu người, định trèo vào thì ở phía dưới, thằng Oanh nói thảnh thốt:
- Bỏ mẹ, có người! Xuống.
Nó hạ người xuống. Cả hai thằng vội lăn tròn, nấp ngay vào sau một mô đất. Phía bên trong, Bình cũng im thin thít.
Hai bóng người lớn tiến dần gần đén chỗ tôi và Oanh đang núp. Cả tôi và Oanh nín thở, căng thẳng. Họ đến đây để làm gì ?Chúng tôi không phải nghĩ lâu. Hai dòng nước khai nồng, nóng nóng dội thẳng vào chỗ hai thằng đang núp. Tức quá, mà cả tôi và Oang không dám động đậy. Đã thế, một người hình như cố tình cho “ dòng nước” bắn thật xa. Người ấy vừa làm “ động tác” đó, vừa nói đùa với người kia:
-Tuấn ơi! Mày xem tao đang “ nã pháo” vào “ đầu giặc Mỹ ” đây này!
“ Nã cái mả bố ông à !”, tôi lẩm bẩm chửi thầm, trong khi dòng nước “ nóng nóng, âm ấm” vẫn rót trúng lưng.
Khi hai người kia xong việc, đi khuất thì cả lưng áo của tôi và Oanh ướt đẫm toàn... nước tiểu. Từ thủa "cha sinh mẹ đẻ" đến giờ, tôi chưa bao giờ chịu một “ cực hình ” như thế này. Nhớ có một lần nằm cạnh em Minh, nó có đái dầm nhưng cũng chỉ dính vào tôi một tý, nhưng nó không khai đến độ ghê gớm như thế này.
Cuối cùng thì tôi với Oanh cũng cứu được Bình ra khỏi chỗ giam.Trèo được ra ngoài, Bình định vươn vai thở ra, khoan khoái.
Phía trước , hình như có tiếng bước chân người đi lại. Cả bọn vội ù té chạy.





Sau chuyện tôi và Oanh tự động đi dự khánh thành hồ Suối Ba không xin phép mẹ, bỏ mất một buổi học. ngoài chuyện tôi bị mẹ mắng, tôi và Oanh còn bị cô Phương bắt phải viết kiểm điểm để đến buổi sinh hoạt lớp, hai chúng tôi đứng trước các bạn nhận khuyến điểm. Tất nhiên những chuyện gọi là “ vô tổ chức” thì chúng tôi nhận một cách thành khẩn, riêng chuyện bị người lớn ... tè cho trúng lưng, tôi với Oanh hứa với nhau, không bao giờ nói với ai.
Lại thương cho thằng Bình, bao nhiêu tội lỗi của tôi và Oanh đều trút lên đầu nó cả. Mẹ tôi cứ nói đi, nói lại:
- Hồi ở Quốc, có bao giờ con như vậy đâu. Lên đây, mẹ thấy con thay đổi nhiều lắm. Con đứng đánh bạn với đám “ du thủ, du thực”, không trước, thì sau cũng hư. Mẹ phải nói với anh Khanh báo với mấy chú công an đưa thằng Bình đi cải tạo hoặc tống nó về quê, chứ nó còn ở đây sẽ làm hỏng con với mấy đứa khác nữa.
Còn anh Khanh, biết chuyện, đã cảnh cáo tôi với thằng Oanh:
- Các em ngày càng đi xa tổ chức. Đã có những phần tử xấu, với tư tưởng không tốt đến lôi kéo các em đi chệch hướng lý tưởng của đội thiếu niên tiền phong. Các em em cần cảnh giác.
Anh Khanh nói nghe ghê quá! Không biết chúng tôi cần cảnh giác với ai, nghĩ mãi không ra. Có điều, càng nghĩ, tôi và Oanh càng muốn Bình gần chúng tôi hơn. Tuy nhiên, điều này không nên cho người lớn biết, vì như vậy càng làm cho họ không cho tôi và Oanh chơi với Bình.
Nhưng kể cũng lạ, khi người lớn không muốn quan hệ của chúng tôi với Bình trở nên thân thiết, thì trong lớp, các bạn, khi quen Bình, ai cũng muốn kết thân.
Ví như Hạnh, tổ trưởng tổ của tôi chẳng hạn.
Hôm Hạnh đi chợ, thấy tôi và Oanh hì hục giúp Bình vần những sọt rau từ trên xe xích lô xuống cho một bà bán ở chợ, Hạnh ngạc nhiên:
- Ai bảo các cậu làm việc này?
Bình nhanh nhẩu trả lời:
- Thắng và Oanh giúp tớ đấy!
Oanh ngừng tay, lau mồ hôi, giải thích cho Hạnh hiểu:\
- Đây là thằng Bình, quê của nó tận Thanh Hóa. Nó không có gia đình, ra ngoài này bốc vác thuê... bọn tớ thấy nó khổ, nên giúp.
Hạnh như hiểu vấn đề:
- Có phải Bình mà anh Khanh hay nói là phải “cảnh giác” vì...
Nghe thế, tôi tức mình, phẩy tay:
- Thôi đi, ý cậu muốn nói là ...
Hạnh vội vàng thanh minh :
- Thắng đừng nghĩ mình giống suy nghĩ của anh Khanh. Anh ấy nói thế chứ mấy ai tin.
Hạnh nói rồi, xắn tay áo:
- Để tớ cùng làm với các cậu, giúp Bình.
Hạnh cùng tôi, Oanh và Bình vần những sọt rau xuống đất. Là con gái, nhưng Hạnh rất chăm làm. Chuyện lao động chân tay đối với Hạnh chẳng thành vấn đề. Chúng tôi làm một lúc, mấy sọt rau về đúng vị trí, công được bà bán rau trả năm hào, đủ tiền cả bọn ăn một bữa ốc luộc vui vẻ.
Trước khi chia tay với chúng tôi, Hạnh nói:
- Các đằng ấy nên dẫn Bình đến gặp các bạn trong lớp để Bình làm quen với tất cả. Với lại, theo tớ nghĩ, không nên để Bình ở như thế này, tất cả chúng ta phải giúp Bình.
Từ hôm đó, Bình không còn là bạn riêng của tôi và Oanh, nó thành bạn chung của tất cả các bạn trong lớp.Tối tối, có người ra chỗ Bình trú tạm ở chợ Gừng, dạy Bình học. Cô Phương biết chuyện chúng tôi giúp Bình, cô ủng hộ những việc làm đó của chúng tôi, nhưng cô dặn:
- Các em làm những việc tốt giúp bạn Bình, cô tuyên dương. Nhưng dù có làm gì, các em cũng nên hỏi ý kiến của bố, mẹ. Riêng với em Bình, tốt nhất chúng ta cũng chỉ nên giúp Bình một thời gian chứ làm sao các em có thể giúp Bình suốt cả năm được, vì các em còn phụ thuộc vào gia đình. Trước mắt, chúng ta cùng tiết kiệm giúp Bình một số tiền, bồi dưỡng sức khỏe cho em đó. Sau đó. Cô sẽ tìm cách liên hệ chỗ gia đình Bình sống, để họ đón em ấy về...
Nghe cô Phương nói vậy, trong lòng, tôi thấy buồn buồn. Chẳng lẽ đến một lúc nào đó, tôi phải chia tay với Bình? Thôi, bao giờ đến ngày chia tay với nó hẵng hay. Còn bây giờ...
Phải công nhận thằng Bình có nhiều tài vặt, tôi với Oanh học nó mãi mà không được. Như tài bắt cá của Bình. Nước ao sâu là như thế, thằng Bình chỉ cần nhìn tăm nước nổi lên là nó phân biệt được ở đó có loại cá nào?Cởi vội quần áo, Bình “ tùm” xuống nước, chỉ một lúc, nó đã túm được một con cá trê vàng ươm, giãy đành đạch. Hay cái tài làm diều của Bình. Diều của Bình làm, giấy dán phẳng lỳ, các thanh tre vót đều, mảnh như người ta chẻ bằng máy. Chiếc diều ấy thả, bao giờ cũng bay lên rất cao, nhìn thích vô cùng. Bây giờ những giờ thủ công, tôi và Oanh đã có một “ trợ thủ” đắc lực. Bình nặn quả cà chua, đu đủ... giống ơi là giống.
Bình hay kể cho tôi nghe những hình ảnh của người mẹ đã khuất. Một người mẹ tần tảo, thương con rất mực. Hồi mẹ nó còn sống, bố của Bình mắc cái tật nghiện rượu rồi. Hễ có tý tiền là bố nó lao vào uống rượu, uống say rồi về nhà đánh vợ, đánh con. Không hiểu sao, mẹ nó vẫn cam chịu. Đi làm đồng, bắt được mấy con cua, mẹ cũng mang về cho rang muối cho bố và Bình ăn, còn mẹ thì ăn cơm chan bằng nước vối pha ít muối. Giữa ngày đông, tháng rét, mưa phùn rắc rây cả ngày, tái tê lạnh. Lạnh từ trong, lạnh ra, ấy vậy mẹ vẫn ra đồng trong khi bố nó ngồi với mấy ông bạn dưới bếp, đốt một đống lửa thật to, nướng ếch nhắm với rượu. Còn thằng Bình khi ấy nằm co ro trong góc nhà, nếu không có ổ rơm mẹ lót trước khi đi làm có khi Bình chết cóng. Mẹ của Bình làm quần quật, không có ngày nghỉ mà nghèo vẫn hoàn nghèo, khổ vẫn hoàn khổ, cho đến lúc mẹ bị bạo bệnh.
Trước lúc mất, mẹ chỉ nắm tay Bình, không nói được câu nào, hai hàng nước mắt cứ thế chảy dài.
Mẹ mất năm trước, năm sau bố đi lấy vợ mới. Cuộc đời của Bình khi còn mẹ đã khổ, khi mẹ mất đi lại khổ gấp trăm lần. Bố đánh Bình cả ngày, cò bà dì suốt ngày chì chiết, cứ làm như nuôi Bình như nuôi một đứa “ báo cô”.
Không còn con đường nào khác, Bình phải trốn gia đình ra đi.
Nghĩ lại, nhiều lúc tôi cũng bị mẹ mắng. Có những lần về thăm nhà, bực mình vì thấy tôi không nghe lời, bố cũng đánh tôi mấy roi. Đã có lúc tủi thân, tôi ngồi khóc một mình, làm như mình là người khổ nhất. Nghe Bình tâm sự về hoàn cảnh của nó, tôi nghĩ, mình còn sướng gấp trăm vạn lần thằng Bình.
...Hôm ấy là ngày chủ nhật, lẽ ra là ngày nghỉ nhưng lớp chúng tôi tổ chức đi lao đông gây quỹ lớp. Lớp tôi được một xí nghiệp thuê giặt bao tải đựng hàng, mỗi bao tải giặt sạch họ trả cho một hào. Tiền công như vậy là cao, chúng tôi khoái quá, cả lớp xung phong đi. Oanh đến rủ thêm Bình :
- Mày ở đây làm gì ! Đi làm kế hoạch gây quỹ lớp với chúng tao cho vui.
Bình nhận lời ngay. Hôm đó nó trở thành một thành viên của lớp và làm rất tích cực.
Tôi với Oanh và những người khác có sức khỏe vào kho vác bao tải ra bờ sông cho mấy đứa con gái đập, rũ, giặt từng bao một. Giặt xong, chúng nó lại đưa cho một nhóm khác mang lên bờ sông để phơi. Bình ở nhóm này. Buổi sáng, trời còn mát mẻ, còn sức khỏe, khí thế hừng hực, chúng tôi làm hăng lắm. Bình cũng thế, có lẽ rất lâu nó mới được “ tắm” trong không khí này. Tuy nó làm trong nhóm phơi bao, nhưng cứ thấy ai có việc nặng là nó lại lao vào làm giúp. Bình làm một cách tận tâm khiến chúng tôi cảm động. Oanh bảo với nó:
- Mày làm vừa vừa thôi, sức của mày không được khỏe đâu!
Bình trề môi, nói khinh khỉnh:
- Thế này đã ăn thua gì so với thời tao ở nhà phải đi cắt cỏ - Nó vung tay thành một vòng tròn to tướng – Gánh cỏ to như thế này này, tao vẫn gánh đi băng băng.
Nói rồi, nó lại lao vào việc.
Lúc ấy khoảng hơn mười giờ, mặt trời lên cao rọi xuống mặt sông, nước lấp lánh. Làm từ sáng đến giờ, chúng tôi đã thấm mệt. Bình cũng vậy, lưng áo của nó đẫm ướt mồ hôi. Lượng bao trong kho cũng vơi đi kha khá. Có lẽ cũng sắp đến giờ nghỉ, thằng nào, thằng nấy như có “ kiến bò trong bụng” vội tìm chỗ có bóng râm ,tránh cái nắng càng gần trưa càng gay gắt. Chăm làm chỉ còn bọn con gái đang cố giặt mấy cái bao gần như cuối cùng. Tôi với Oanh nhanh chân cũng tìm ra được một chỗ mát để ngả lưng. Bình dáng mệt mỏi đến ngồi cạnh chúng tôi, hỏi:
- Chúng mày có nước không? Cho tao một ngụm.
Oanh lấy chai nước để bên cạnh đưa cho Bình, nó tu một hơi rồi trả chai nước cho Oanh, lấy tay chùi miệng. Uống xong ngụm nước, Bình không nhìn chúng tôi mà cũng chẳng thèm bắt chuyện. Nó nhìn dòng sông đang chảy, giọng ngậm ngùi:
- Ở quê tao cũng có con sông như thế này, có điều nước chảy hiền hòa hơn, hai bờ cũng gần hơn. Tao với mấy đứa bạn bơi đi, bơi về được.
Ánh mắt nó chợt đăm chiêu, buồn bã:
- Tao nhớ nhà lắm, có lẽ... sau đợt lao động này, tao sẽ về thăm nhà mấy hôm. Ra đây với chúng mày cũng được mấy tháng rồi còn gì.
- Mày về để bố mày đánh mày à? – Tôi nói.
Bình cúi xuống, nó nói với tôi mà gần như nói với nó thì đúng hơn:
- Tại sao bố lại không thương con? Trong khi bố tao đánh tao ác như thế mà tao đâu có giận ông ấy, nỡ nào... Giá như tao còn mẹ, tao không bỏ đi như thế này đâu...
Ba chúng tôi im lặng. Tôi nhìn Bình cảm thông, tự hứa có lẽ khi nó về lại với gia đình, tôi sẽ đập con lợn đất tiết kiệm, có bao nhiêu tiền sẽ đưa cho nó tất...
Đang nghĩ như thế, chúng tôi bỗng nghe thấy tiếng kêu thất thanh từ phía dưới sông vọng lên:
- Chết rồi chúng mày ơi! Con Hạnh ngã xuống sông rồi... Cứu nó mau lên!
Cả ba chúng tôi nghe vậy, vội lao xuống. Lớp chúng tôi chạy túa ra. Cô Phương cũng vừa chạy, vừa kêu to:
- Các em ơi, phải cứu Hạnh! Mau lên!
Xung quanh tôi, tiếng hỏi lao xao, không ra đầu ra đũa:
- Đâu? Ở đâu? Ngã chỗ nào?...
- Thế làm sao mà bị ngã?...
- Hỏi cái gì? Kia kìa, chỗ kia kìa...
Mấy cánh tay chỉ một vòng nước xoáy đang cuộn lên. Nhấp nhô ở trong ấy là mái tóc của Hạnh. Hai bàn tay Hạnh đang khua loạn xạ.
Tùm! Một người lao ngay xuống nước.
Chẳng phải ai khác, người đó chính là Bình. Bình biết bơi, còn chúng tôi chỉ đôi ba đứa mới bập bõm bơi kiểu... chó.
Bình đang mệt, không hiểu có sức mạnh nào mà Bình lặn một hơi đã đến chỗ Hạnh đang chới với. Bình định nâng người Hạnh lên thì dòng nước chảy mạnh, ác nghiệt lại đẩy Hạnh ngã dúi. Chúng tôi hoảng hồn khi không thấy hai người đâu. Một lúc, lại thấy Hạnh được nâng người lên. Thằng Oanh lanh hơn tôi, nó chạy ngược lên bờ sông, vác luôn cây sào đang phơi bao rồi băm bổ chạy xuống. Đến lượt thứ ba, khi Hạnh được Bình nâng người lên thì cũng vừa lúc Hạnh bám được vào đầu sào để chúng tôi kéo vào.
Còn Bình...
Chúng tôi chỉ kịp nhìn thấy một mái tóc đen cố ngoi lên nhưng dòng nước xoáy vặn nghiến, nhấn chìm.
Cái sào tre đã đưa được đến đấy, nhưng tay của Bình nắm không kịp...
Mãi đến ba ngày sau, xác Bình mới nổi lên, cách chỗ chúng tôi giặt bao tải đến hai, ba ki lô mét.
Cả lớp tôi sững sờ.
Tôi và Oanh như không tin vào chuyện này. Làm sao lại có chuyện Bình chết một cách nhanh chóng như thế? Tôi nghĩ nhiều về Bình đến độ thẫn thờ. Hình ảnh Bình đi lấy cắp bánh mì ở Suối Ba về cho tôi ăn lại hiện lên chập chờn. Tôi ân hận những lúc đối xử không phải với Bình. Bình ơi! Mày có tha lỗi cho tao không? Tôi không tin Bình mất. Bình đi đâu đó rồi về lại với chúng tôi thôi mà. Còn Hạnh, nó khóc đến độ sưng húp cả mắt. Không ai có thể khuyên bảo nó được.
Mẹ tôi nghe chuyện Bình hy sinh cả mạng sống của mình để cứu người, mẹ khóc, nói như tự trách mình:
- Mẹ sai lầm nhiều quá con ạ! Lẽ ra, với một đứa như thằng Bình, phải tìm hiểu kỹ và giúp đỡ nó. Ngược lại, mẹ lại không cho các con chơi với nó. Đã thế, lại còn nghĩ xấu về nó. Mẹ thật đáng trách...
Chúng tôi còn đáng trách hơn. Đến lúc Bình chết, chúng tôi chỉ biết quê nó ở Thanh Hóa chứ nhà nó ở đâu trong tỉnh Thanh, bố nó tên là gì, chúng tôi đều không biết, một phần vì nghĩ trước hay sau nó cũng về lại nhà, mình hỏi làm gì? Mà hình như Bình cũng không muốn kể chi tiết về quê, về người bố của mình. Bình muốn giấu những kỷ niệm buồn...
Thế là chúng tôi cũng không báo được tin này cho bố của Bình biết.
Đám tang của Bình tự nhiên thành một đám tang rất to ở thị xã Sơn Hà. Tất cả các bà bán hàng ở chợ bỏ hết hàng quán đi đưa Bình. Cả lớp chúng tôi đầu đều quấn băng tang trắng. Mẹ tôi cùng mấy cô chú trong cơ quan cũng bỏ một buổi làm việc đi theo đám tang. Tôi đi ngay sau quan tài của Bình để nước mắt lặng lẽ chảy, không muốn lau nữa...
Bình ơi! Sao không ở lại với chúng tôi?...



HẾT PHẦN II – TẬP I

Chú thích:

(1) – Thời bao cấp, mua một bánh mỳ lớn mất 1 hào, và một tem lương thực 225 gam.

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?15 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 16:51:31 +0000 http://trankytrung.com/read.php?15 Những năm tháng đi sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom trên miền Bắc, đã để lại trong tôi những kỷ niệm “ thần tiên” mãi mãi không thể quên. Nhắc lại những kỷ niệm đó là nhắc lại một thời chúng ta đã sống rất đẹp, rất hồn nhiên của tuổi thiếu niên mà bây giờ... rất khó có thể tái hiện lại. Tất cả điều đó, tôi cố gắng miêu tả qua cuốn tiểu thuyết viết về đề tài thiếu nhi:”“ GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ”.

Tiểu thuyết “ GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ ” đã được NXB Kim Đồng phát hành năm 2004.

Bây giờ mời các bạn vào trang đầu của cuốn tiểu thuyết này.


GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ



TẬP I




TỪ QUÊ RA PHỐ

1


Tôi đi học về, như mọi ngày, tầm này phải có cơm rồi nhưng sao đến giờ, căn nhà trống hoang trống hoác, dưới bếp nguội tanh. Tôi ngạc nhiên, không hiểu mẹ tôi đi đâu.
Mãi một lúc sau, mẹ tôi mới trở về, nét mặt mẹ có vẻ buồn. Tôi hỏi:
- Mẹ ơi! Sao hôm nay mẹ không nấu cơm?
Mẹ tôi không trả lời, bà nhìn khắp lượt căn nhà, căn nhà mà tôi cùng mẹ và thằng Minh đã ở suốt mấy năm nay, biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên. Mẹ chậm rãi đi thu dọn đồ đạc, xếp lại mấy chiếc áo, quần để bề bộn trên giường, rồi mẹ lặng lẽ đi ra sân rút vội mấy chiếc áo đang phơi vừa khô. Đi vào nhà, mẹ nói với tôi, giọng buồn buồn:
- Thế này Thắng ạ! Ngày mai, con với mẹ lên trường xin rút học bạ, con không học ở đây nữa.
Tôi nghe mà như không tin vào điều mẹ vừa nói. Không thể có chuyện như vậy, tôi sẽ không học ở đây nữa sao? Thế còn chuyện tôi với thằng Hảo đi tát cá ở khe Mực vào chủ nhật tới, chẳng lẽ đành bỏ ngang? Lại còn chuyện cả lớp tôi đi cắm trại ở núi Bút tuần sau, bao nhiêu háo hức, dự định cũng phải bỏ? Tôi hỏi lại mẹ mà cố nghĩ, chắc chuyện này mẹ nghe lầm:
- Tại sao phải rút học bạ hả mẹ? Con đang học rất tốt ở đây cơ mà?
Mẹ nhìn tôi, ánh mắt như hiểu điều tôi muốn nghĩ. Mẹ nói chậm rãi, giải thích cho tôi nghe:
- Mẹ có quyết định chuyển công tác lên thị xã Sơn Hà. Đầu tháng, mẹ phải nhận công tác ở nơi mới rồi. Thời gian chẳng còn nhiều nên ngày mai, con và mẹ lên trường rút học bạ của con, tiện thể mẹ đến chào tạm biệt và cảm ơn các thầy cô trong trường đã dạy con bấy lâu nay.
- Mình không đi có được không? – Tôi cố vớt vát vì thực tình không muốn chuyển khỏi nơi đây một tí nào.
Mẹ tôi lắc đầu:
- Không được con ạ! Mẹ là cán bộ, phải chấp hành sự phân công của tổ chức. Hơn nữa, lên Sơn Hà, con có điều kiện học thêm vì dù sao ở đấy cũng là thị xã… Chỉ khổ là làm sao báo cho bố biết, chứ không, đến tuần sau bố lại về đây không có mẹ con mình rồi lại phải vòng lên Sơn Hà.
Bố tôi đi bộ đội, đang đóng quân ở Phú Thọ, cách đây cũng khá xa. Cứ hai, ba tuần, bố lại đạp xe về thăm nhà. Bố viết thư nói tuần này sẽ về với mẹ con tôi, giờ đây làm sao báo tin cho bố biết?
Tôi thật sự buồn khi phải xa nơi này.
Quốc là một thị trấn nhỏ, đi độ ba bước chân là hết mấy con phố. Một con phố chính, hai bên là những dãy nhà lá thấp lè tè, nếu có khác là ở đây có rất nhiều cây sào mắc những dây thép giăng ngang để nghe đài bằng những cái loa nhỏ áp vào tai mà người ta gọi là đài Ga - len (1). Quốc còn hơn các vùng xung quanh là ban đêm, nhiều hàng xén thắp đèn dầu bán kẹo vừng, bánh đa… mà mỗi tối, xem xong phim chiếu ở sân vận động thì khoảng chín giờ tối là nhà ai nhà nấy cửa đóng im ỉm, đường phố tối đen, đom đóm bay lập loè, tiếng chó sủa khan lúc xa lúc gần.
Mùa đông ở Quốc, tôi có cảm giác không đâu lạnh bằng. Mặt đường lớp nhớp bùn. Người lớn lụp xụp trong những chiếc áo tơi đan bằng lá, đi vội vội vàng vàng. Trẻ con có bao nhiêu áo, bao nhiêu quần quấn vào người bằng hết, cứ như đống vải lộn đang di động, chỉ hở có hai con mắt. Cũng có đứa nhà nghèo, phong phanh một mảnh áo, một mảnh quần, đi chân trần đến lớp, môi nó tím ngắt, trông thương đến lạ. Ở Quốc, chúng tôi quanh đi quẩn lại chỉ chơi những trò chơi tự chúng tôi nghĩ ra như trốn tìm, đá bóng bằng quả bưởi, đánh khăng, đánh đáo… Quốc chỉ náo động khi có đội chiếu phim lưu động đến, một tháng được hai tối. Khi thấy ở đầu dốc chiếc xe cải tiến chở đội chiếu phim xuất hiện là mọi hoạt động của dân thị trấn tự nhiên náo nhiệt hẳn lên. Bọn trẻ chúng tôi mong trời chóng tối, chẳng thiết học hành, không thích chơi bời nữa, ăn cơm thật sớm để mau ra bãi. Chúng tôi đến xem các anh trong đội chiếu phim sửa soạn máy móc. Tôi cứ lẩn thẩn đến cạnh cái màn ảnh bằng vải trắng ngước nhìn, trong đầu vương vấn sự thắc mắc: Tại sao có chuyện người chui ra từ máy chiếu phim lên màn ảnh này lại cử động được? Tôi nhớ anh trong đội thông tin thị trấn cầm cái loa thiếc đi a lô, nếu đi mít tinh thì anh nói: “ A lô! A lô… Mời bà con sáng mai, đúng tám giờ sáng, tập trung tại sân vận động thị trấn làm lễ mít tinh lên án đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm sát hại đồng bào ta ở nhà tù Phú Lợi… A lô! A lô…”. Anh a lô cần mẫn, nhẫn nại. Tiếng anh vang to, ai ở trong nhà có đóng cửa cũng vẫn nghe được. Tiếng a lô của anh chỉ vui, như tôi nói ở trên, khi ở thị trấn có đoàn chiếu phim lưu động đến. Thế là tiếng a lô của anh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đầu chợ, cuối chợ, trên xóm, dưới thôn… Anh đi a lô với một niềm vui rất hồn nhiên: “ A lô! A lô… Mời bà con cùng các em tối nay ăn cơm thật sớm ra sân vận động để xem bộ phim màu thần thoại Trung Quốc “Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài”. Bộ phim rất hay, cảnh rất đẹp, diễn viên xinh ơi là xinh. Bộ phim chỉ chiếu riêng cho bà con thị trấn, nơi khác chưa có. Bà con xem xong, chắc ai cũng thích. A lô! A lô…”. Có lẽ nếu nói về Quốc, nói nhiều vẫn không hết vì nơi đây đã đi vào máu thịt của tôi nên thực tình, tôi không muốn xa. Đã thế, ở đây tôi có rất nhiều bạn, bạn chơi với tôi chí tình, chẳng giận dai bao giờ.
Cơn đói bụng tan biến, giờ đây chỉ có một nỗi nuối tiếc chiếm đầy hết trong suy nghĩ. Không biết lúc nào, bàn chân đã đưa tôi đến nhà thằng Hảo, bạn rất thân của tôi. Có thể nói thằng Hảo với tôi chơi thân còn hơn “ con chấy cắn đôi”. Tôi đi học, mẹ cho củ khoai lang luộc, dù có đói, bao giờ tôi cũng chỉ ăn nửa củ,còn nửa củ tôi dành cho nó. Tính Hảo cũng thế, rất thương tôi. Nhớ một lần trong lớp, đang giờ làm toán, nó nhìn trước nhìn sau, thấy thầy Dũng không để ý, nó chìa dưới gầm bàn một miếng gan lợn luộc to tướng. Hảo nói với tôi: “ Nhà tao vừa giết con lợn, bố tao luộc miếng gan này đấy, tao ăn một nửa rồi, còn đây là phần mày, mày cầm lấy ăn đi”. Nhưng… miếng gan nó chưa kịp đưa cho tôi, thầy Dũng đã phát hiện được. Thầy quật nó mấy roi, đau quắn cả mông. Ấy vậy nó vẫn nhe răng ra cười khi thấy tay tôi cứ xoa xoa mông, mặt nhăn nhó trêu nó.
Hảo nghe chuyện tôi phải chuyển trường nó buồn ra mặt, thẫn thờ trong ánh mắt. Nó hỏi lại tôi:
- Mày phải đi thật à?
Tôi gật đầu, khẳng định. Hảo nhìn tôi, giọng khẩn khoản:
- Hay là… mày nói với mẹ cho mày ở đây với gia đình tao. Học hết năm nay rồi hẵng chuyển trường.
Tôi lắc đầu buồn bã:
- Không được đâu, mẹ tao không đồng ý đâu với lại… ở đây với mày, thằng Minh em tao nó chơi với ai…
Hảo nắm chặt tay tôi, hơi ấm bàn tay của nó như truyền sang cho tôi. Tình cảm bạn thân thật là lạ, nhiều khi tôi không giải thích nổi. Rồi hình như nghĩ ra một điều gì đó, Hảo chạy ù ra đằng sau bếp. Tôi nhìn theo. Chỉ một thoáng, nó cầm một lồng chim, trong đó là một con sáo mỏ vàng mà Hảo nuôi từ hồi nó còn chưa mở mắt. Hảo đưa lồng sáo cho tôi:
- Khi nào mày chuyển gia đình lên Sơn Hà, tao cho mày con sáo này. Nó sắp biết nói đấy, lại quen hơi người. Mày cứ nhìn con sáo là mày nhớ đến tao..
Tôi nghe Hảo nói mà mủi lòng, thương nó quá chừng.
Ngay chiều đó, hai đứa tôi đi khắp làng. Chúng tôi ra đầm Vạc, đầm nước đầy hoa súng, đúng mùa nở, tím ngát một góc đầm. Mấy con chuồn chuồn thởn thơ đậu vào cánh hoa rung rung… Nước ở đầm trong vắt. Nơi đây, chúng tôi hay tắm, vui đùa thoả thích mỗi chiều. Có lần, tôi không thích tắm nữa, toan lên bờ thì không biết từ đâu, một nắm bùn ném tới. Đầu tôi dính đầy bùn, mắt không mở ra được, chỉ nghe thấy những tiếng cười khoái trá của mấy thằng đang tắm chung. Bọn chúng làm như vậy vì chúng không muốn cho tôi lên. Thằng Hảo đang bơi đằng xa phát hiện được thằng ném bùn, nó bơi lại đánh cho thằng ấy một trận rồi bắt thằng đó phải lại xin lỗi tôi. Chuyện đó làm tôi nhớ mãi. Rồi chúng tôi đi dọc con đê, nơi chúng tôi hay chơi trốn tìm mỗi đêm trăng sáng hoặc thả diều mỗi chiều. Thảm cỏ triền đê xanh mướt, gió thổi mơn man như níu chân tôi lại. Tôi và Hảo đến khe Mực, bong bóng cá nổi đầy. Chỉ mất độ một buổi hai đứa gồng mình tát là tha hồ có cá ăn. Ước mơ tưởng đã ở tầm tay, giờ thành xa vời, cả tôi và Hảo đều tiếc rẻ...
Tôi và Hảo đến nhà mấy đứa bạn nữa, đến tận tối mịt tôi mới về nhà. Mọi lần, tôi mà đi thế này, thế nào mẹ tôi cũng mắng cho một trận, nặng hơn là ăn mấy cái quật. Nhưng hôm nay, như thông cảm với cuộc chia tay này, mẹ không mắng một tiếng. Thấy tôi về, mẹ chỉ nhắc nhẹ:
- Con đi chia tay với các bạn phải không? Vào nhà rửa tay rồi đi ăn cơm...
Sáng sau, tôi và mẹ lên trường để rút học bạ. Khi thầy Dũng thông báo là tôi sẽ chuyển trường, không khí lớp học tự nhiên chùng xuống. Tôi không dám nhìn các bạn, quay vội mặt đi chỗ khác. Thầy Dũng đứng cạnh tôi dặn dò:
- Lớp cũng như thầy rất buồn khi em xa lớp. Thầy mong em dù ở đâu cũng học thật tốt, lớp và thầy luôn chờ đợi những thành tích tốt của em. Thầy mong em không phụ lòng tin đó...
Rồi tự nhiên, giọng thầy thật cảm động, bàn tay thầy như ôm vai tôi chặt hơn:
- Những ngày em học ở lớp này, đôi khi em làm thầy bực mình, thầy có đánh em. Sự thực những việc đó thầy làm chỉ với một mong muốn duy nhất là em nhớ để học mau tiến bộ. Nay, em xa thầy, em và mẹ cho thầy xin lỗi...
Thầy nói thế làm tôi òa khóc. Ở dưới lớp, mấy bạn khóc theo. Tình cảm của thầy Dũng trước sau vẫn thế. Thầy rất thương chúng tôi. Với thầy, tôi nhớ nhất những giờ thầy lên lớp. Thầy có lối dạy học rất dễ hiểu, chân tình. Tuy thế, thầy lại nghiêm khắc, khi đến lớp, ai chưa làm bài tập ở nhà hoặc không thuộc bài thì luôn bị thầy có những hình phạt chỉ một lần sợ tới già như quỳ gối quay mặt vào tường, giơ hai tay lên, đến khi nào mỏi, xin thầy chưa chắc thầy đã cho bỏ xuống. Đấy là nhẹ chứ thường khi chúng tôi có lỗi nặng là bị mấy cái roi mây vào mông, lằn vết mất mấy ngày mới khỏi. Có điều lạ, bố mẹ chúng tôi biết thầy Dũng đánh con mình nhưng không ai phản đối. Còn ai trong chúng tôi học thuộc bài, viết chữ đẹp, trong lớp không nói chuyện, hay giơ tay phát biểu, bao giờ đến tiết sinh hoạt lớp cuối tuần cũng được thầy thưởng, khi thì cái bút tre, lúc lại là mấy trang giấy trắng, có lúc thầy lại hái mấy quả bưởi trong nhà làm phần thưởng... Chúng tôi vừa sợ thầy, vừa kính phục thầy. Giờ xa thầy, xa lớp, tôi nhớ lắm...
Khi tiễn tôi ra khỏi lớp, thầy Dũng nói nhỏ với tôi:
- Chiều mai, thầy muốn em đến nhà thầy ăn với thầy một bữa cơm để chia tay, em nói với mẹ đến, được không?
Tôi cảm động không thể thốt thành lời. Cái nhìn biết ơn của tôi thay câu trả lời.
Hôm sau, tôi và Hảo đến nhà thầy thật sớm. Hảo cầm theo chục quả trứng, còn tôi, mẹ bảo xách thêm một con gà vì chúng tôi biết nhà thầy Dũng rất nghèo.
Đến nhà thầy, một căn nhà vách đất gần mủn, mái lợp rạ, không thấy bóng thầy đâu. Tôi với Hảo ngơ ngác nhìn quanh thì nghe thấy tiếng thầy vọng ra từ dưới ao sau nhà:
- Có phải Thắng đấy không? Ai đi với em đấy?
Rồi không đợi tôi trả lời, thầy đã phát hiện ra:
- Hảo đấy à, hai em vào nhà đi, tôi đang bắt cá làm nồi canh chua.
Chúng tôi vào hẳn bên trong sân, thấy thầy đang lội bì bõm dưới ao, mặc một cái quần đùi ướt sũng, vá chằng chịt, tấm thân thầy gầy phơi rõ hàng xương sườn lấm bê bết bùn... Thầy thấy chúng tôi, cười:
- Tiện dịp tiễn Thắng lên Sơn Hà. Ao cá của thầy cũng sắp cạn nước rồi, hạn quá. Thầy thấy bong bóng cá nổi nhiều, thầy tính bắt mấy con nấu nồi canh chua cùng các em vui khi chia tay...
Thầy Dũng của tôi là thế. Với học trò, ai thầy cũng thương. Thầy cương quyết không nhận con gà của tôi và chục trứng gà của Hảo. Thầy nói nhà thầy nghèo nhưng không phải là không có. Thầy chỉ bát canh chua và đĩa thịt gà rắc lá chanh, nói:
- Các em xem, chia tay với Thắng cũng tươm tất đấy chứ!
Hảo nói nhỏ với tôi:
- Tao thấy trong vườn của thầy có con gà nào đâu? Thầy lấy gà ở đâu?
Tôi lắc đầu, không dám đụng đũa. Thầy phải ép tôi mãi. Thầy dặn tôi:
- Ở đâu em cũng phải gắng học, học thật giỏi, đừng làm điều gì để gia đình, nhà trường phiền lòng. Nên nhớ viết thư về cho thầy báo tin kết quả học tập của em... Kết quả học tập của em thật tốt, có lẽ đấy là điều thầy mừng nhất. Nào, ăn đi các em...
Thầy gắp thức ăn cho tôi và Hảo. Nhìn thầy, tôi lại ứa nước mắt.
Ngày tôi và gia đình tạm biệt phố huyện Quốc, mấy hôm trước đang nắng gắt, hôm ấy nắng tự nhiên dịu, trời cũng mát hẳn. Gia tài gia đình tôi chất lên hai cái xe bò kéo. Thực ra, nếu xếp gọn lại cũng chỉ vừa một xe nhưng mấy chú, mấy cô trong cơ quan cũ của mẹ bảo đi hai xe cho thoải mái, hơn nữa có đi hai xe như thế, bò kéo không mệt.
Thằng Hảo vẫn đi cạnh tôi, tay nó vẫn cầm cái lồng chim có con sáo mỏ vàng nhảy nhót bên trong. Nó đi bên tôi một đoạn đường dễ dài cả mấy ki lô mét.
Mẹ tôi nhắc;
- Thôi, Hảo ơi, về đi cháu. Đi nữa là mệt đấy...
Hảo vẫn còn nấn ná như chưa muốn quay về. Mẹ lại bảo:
- Hảo, về đi cháu. Nếu lên đến Sơn Hà, cô sẽ bảo Thắng viết thư về cho cháu. Rồi có điều kiện cháu lên Sơn Hà thăm Thắng.
Tôi nhìn thằng bạn thân mà thấy tội cho nó. Không biết đến nơi mới, tôi có gặp được thằng nào tốt như Hảo không? Hảo nghe lời mẹ tôi đứng lại trao lồng chim có con sáo mỏ vàng bên trong cho tôi. Nó dặn, nét mặt như mếu:
- Con sáo này sắp biết nói rồi, tao định dạy nó gọi “ Thắng ơi”. Bây giờ, tao đưa nó cho mày, mày chịu khó cho nó ăn ớt với gừng để lưỡi nó chóng lột. Mỗi lần cho ăn thì bắt nó tập nói “ Hảo ơi”, thế là... mày với tao luôn nhớ nhau. Rồi thế nào tao cũng lên đó thăm mày, mà có điều kiện thì mày về đây thăm tao...
Nói xong, nó quay mặt, lấy ống tay áo quệt vội vào mắt.
Cầm lồng chim của Hảo đưa, tôi gật đầu.
Chiếc xe bò chở tôi và mẹ đi một đoạn rất xa, tôi vẫn thấy Hảo đứng đó nhìn theo...
Vốn tính hiếu động, vừa đến nhà mới ở Sơn Hà hôm trước, hôm sau, tôi đã vọt ra phố xem nơi ở mới của mình có gì lạ. Tất nhiên, từ phố huyện chỉ lèo tèo vài nóc nhà lá nằm dọc con đường lầm bụi đỏ lên một thị xã của một tỉnh lỵ, đối với tôi là một sự thay đổi hết sức lớn lao. Điều ngỡ ngàng là ở đây phố liền phố, nhà liền nhà, dọc các con phố là hàng cây bàng xanh như chạy đến hút tầm mắt. Tán cây bàng thật rộng, gần như che kín cả mặt đường. Điều tôi thích nhất là thị xã Sơn Hà có rạp chiếu bóng, tối nào cũng có phim, không như nơi ở cũ của tôi, cả tháng mới có hai tối phim, phải đi từ chiều để giữ chỗ. Còn bây giờ… thì nếu có tiền, có thể xem phim thoả thích, xem đến chán thì thôi.
Mẹ tôi đến cơ quan mới nhưng vẫn làm công việc cũ, nghĩa là công tác trong ngành mậu dịch. Mẹ được lên chức cửa hàng trưởng, phụ trách phân phối tem phiếu thực phẩm. Vì thế công việc của mẹ bận hơn. Mẹ nói với tôi:
- Bây giờ, công việc của mẹ bận hơn ở Quốc. Mẹ sẽ gửi em Minh ở nhà trẻ cơ quan. Còn con ngoài giờ đi học thì phải về nhà giúp mẹ, như... mẹ có về muộn thì đến nhà trẻ đón em Minh, hoặc con tập đi chợ rồi về nấu cơm.
Toàn công việc lần đầu tôi phải làm, mà không biết có làm được không? Tôi cứ ầm ừ cho qua chuyện.
Sau khi ổn định xong việc ăn ở, mẹ tôi dẫn tôi đến lớp mới. Đón tôi là cô Phương, một cô giáo trẻ, da trắng, đầu phi dê. Cô hiền và hát rất hay. Lớp tôi học ở đình An Hậu, một cái đình mà tôi bước có vài bước là đến rạp chiếu bóng. Ngồi cạnh tôi là một thằng nhỏ người, dáng nhanh nhẹn. Thấy tôi được cô Phương phân công ngồi cạnh, nó tự động ngồi xích vào để lấy chỗ cho tôi. Rồi không để tôi hỏi, nó tự giới thiệu:
- Tao tên là Oanh, còn mày tên là gì?
- Tao tên là Thắng, ở Quốc lên.
- À! Tao biết rồi, ở Quốc có chùa Ông chứ gì? Năm ngoái tao lên đó, leo lên mỏi gối bỏ mẹ! Mà trên đó mát, mày nhỉ. Khiếp! Xuống hang Tiên, tối mò, có thằng núp trong ngách đấm trộm tao, tao đấm lại, lại trúng ngay ngực một con bé, thế có bỏ bố tao không... Tối như hũ nút, tao phải bám vào tay bố tao, tao mới đi được đấy...
Nó định nói với tôi nữa thì bị cô Phương nhắc:
- Oanh! Ngồi trong lớp không được nói chuyện. Tập trung lên bảng. Còn Thắng, giở sách ra ghi bài đi.
Thế là tôi thêm bạn mới. Thằng này có vẻ nghịch. Sau này chơi thân với nó, quả là dự đoán của tôi không lầm. Qua Oanh tôi biết dần tên các bạn trong lớp, cái phút ngập ngừng ban đầu dần biến mất, tôi quen với không khí của lớp. Tôi vẫn nhớ những ngày ở Quốc, giờ ra chơi đôi khi tôi lại kể cho các bạn mới nghe về những người bạn cũ của tôi như Hảo chẳng hạn, rồi những buổi đi mót lúa, tát cá... Oanh nghe chăm chú, nó nói có vẻ thòm thèm;
- Mày sướng quá nhỉ, bao giờ tao được như thế? Có khi hè này tao với mày xin bố mẹ về Quốc chơi đi, tao khoái đi tát cá lắm.
Oanh kể, nó sinh ở Thái Lan, theo ba mẹ về Việt Nam, ở luôn Sơn Hà chẳng đi đâu, nên đối với nó vùng nông thôn vẫn là một thế giới mới cần khám phá. Oanh rủ tôi về nhà nó chơi cho biết. Nhà Oanh nằm trong một ngõ hẻm, cái ngõ có hai đầu thông ra hai đường lớn của thị xã. Oanh hào hứng khoe với tôi:
- Mày biết không, cái ngõ này rất hay là chơi đánh trận giả, có thể chạy hai đầu được, ví như... chạy ra đằng sau ấy, nổ súng thế này này – Nó giơ hai ngón tay lên chĩa ra phía trước, nheo mắt, giọng giả làm tiếng súng – Pằng! Pằng! Thế là khối thằng “chết” vì bất ngờ do bị “tập kích” sau lưng. Cái món đánh bất ngờ này là anh Cường dạy tao đấy.
- Anh Cường nào? – Lại một nhân vật mới làm tôi chú ý.
- Anh Cường ở gần nhà tao. Anh ấy là “đại tướng” đấy, oai không?
- Sao chúng mày lại phong anh Cường là “Đại tướng”? – Tôi hỏi.
Oanh trả lời:
- Anh Cường biết nhiều thứ lắm, anh ấy lại đứng ra tổ chức những “trận đánh” với các bọn ở phố khác, bao giờ cúng chiến thắng. Vì thế chúng tao gọi anh ấy là “Đại tướng”.
Và tôi cũng chẳng phải chờ đợi lâu, một tối trăng sáng, sau khi cơm nước xong, đang chuẩn bị nghe chương trình “Măng non đất nước” ở đài phát thanh công cộng thì thằng Oanh đến rủ tôi:
- Thắng ơi! Đi đánh trận giả đi, lần này phải diệt hết quân bên phố Quang Trung. Trận này anh Cường trực tiếp chỉ huy đấy.
Nghe vậy, tôi vọt theo nó liền, bỏ luôn buổi phát thanh “Măng non đất nước” hay nghe mỗi tối. Đánh trận giả, thực tế là một trò chơi vui như thế này. Hai bên nhận mặt, nhận tên xong, sau đó tản ra những khu vực quy định, bí mật đến sát nhau, ai gọi đúng tên của người đối phương ra thì coi như “diệt” được một “tên giặc”. Bên nào mà bị “chết” hết trước tiên thì coi như bên đó thua. Theo như Oanh nói, quân của phố nó, từ hồi có anh Cường chỉ huy là “bách chiến, bách thắng”. Anh học giỏi nhưng lại hay đầu têu những trò chơi mà như anh Khanh, bí thư đoàn phố lên án là những trò chơi “phá đám vô tích sự”. Đã mấy lần anh Khanh bắt anh Cường ngồi viết kiểm điểm. Nhưng anh Cường cũng chẳng chừa, đang hướng dẫn trò chơi ở chỗ này, anh Khanh nghe tin cho mấy thanh niên cờ đỏ ra yêu cầu giải tán, anh Cường lại dẫn cả bọn ra chỗ khác, tiếng cười, tiếng nói vang cả một vùng.
Anh Cường thấy thằng Oanh dẫn tôi đến, hỏi:
- Em này mới đến đây à?
Oanh bảo tôi:
- Mày nói cho anh ấy biết đi!
Tôi hơi ngượng ngập chẳng biết nên giới thiệu về mình như thế nào giữa một đám bạn mới, nên nói ngập ngừng:
- Em... Em... là bạn của Oanh, em mới đến đây...
Anh Cường chủ động:
- Em cũng muốn chơi “đánh nhau” chứ gì. Ra đây! – Anh Cường kéo tôi ra chỗ sáng, ngắm nghía – Trông cũng có vẻ chiến đấy – Tôi cũng không biết anh nhận xét như thế là tôi “chiến” kiểu gì? Anh Cường thoáng suy nghĩ, rồi gật gù – Hay quá! Anh nghĩ ra một kế mới rồi! Tí nữa, bên phố Quang Trung nhận mặt, đưa em này ra trước cho bên ấy xem. Vì em mới đến nên bên Quang Trung chưa nhớ ngay được mặt với tên đâu. Rồi em đổi áo cho Oanh, thế nào bên ấy cũng gọi tên lầm, lộ lực lượng. Lúc đó chúng ta tha hồ “bắn tỉa”. Mà này, em tên là gì?
- Em tên là Thắng...
Thế là tôi nhập bọn với tất cả, nhập vào những trò chơi như chơi “đánh nhau” kể trên. Với tôi, trò chơi này chỉ cần làm quen mười lăm giây là tôi chơi thành thạo, thậm chí còn rất thích thú như biết chơi cái trò này từ lâu. Chẳng những thế, có khi tôi còn được anh Cường cử làm “đại đội trưởng” có quân hàm hẳn hoi. Quân hàm được cắt ra từ những miếng bìa các-tông, vẽ mấy ngôi sao, dán lên vai bằng nhựa mít. Quả thật, chơi với các bạn trên tỉnh, thôi, tôi cứ gọi là thế đi, trông có vẻ láu lỉnh hơn, thông minh hơn và hình như... nó cũng ồn ào hơn. Hồi ở Quốc, tôi hay giúp Hảo đi chăn trâu, trò chơi của chúng tôi hồi đó, quanh quẩn là trò... Vào ruộng mía, hai thằng ăn cắp mía rồi ra mả đi tìm những bát sành mấy người đi mả dùng để cúng. Chúng tôi vứt hết mọi thứ họ để trong đó rồi mang cái bát sành đó ra mương rửa cho thật sạch. Hai thằng ăn mía, nhả bã, còn nước thì nhổ vào cái bát sành đó đem đun lên thành mật, lúc nó sôi hương cũng bay ra thơm ngào ngạt. Mật để nguội rồi lấy mấy củ khoai lang nướng sẵn chấm vào đó ăn rất ngon lành. Oanh nghe tôi kể như thế, nó lắc đầu:
- Ở đây, thằng bẩn nhất cúng không bẩn hơn chúng mày!
Tôi “xì” một tiếng:
- Đã ăn thua gì! Bọn tao còn ăn cả trứng trong đám ma cơ! Mả mới chôn, họ hay để bát cơm có quả trứng luộc ở trên. Bọn tao cứ đợi tan đám là đến lấy trứng, bóc lòng trắng ra, ăn lòng vàng bên trong. Cái lòng vàng ấy mà chấm muối ớt, ăn rất ngon.
Thằng Oanh nghe vậy, nó nhổ nước bọt liên tục:
- Tao nghe mày kể mà thấy tởm quá, kiểu này chúng mày ăn còn tạp hơn... lợn.
Chỉ vì câu nói đó mà hai chúng tôi giận nhau mất một buổi. Về sau tôi thấy hình như... Oanh nói cũng đúng. Ở thị xã này, tôi không thấy ai bày những trò như tôi với Hảo làm ở Quốc mà những trò chơi có vẻ “văn minh” hơn, ví như ngoài “đánh trận giả” còn chơi trò “đi tìm mật mã” hay như chơi đá bóng. Bóng ở đây là bóng cao su chứ không phải là bằng quả bưởi như hồi ở Quốc. Có hôm, Anh Cường còn tổ chức thi kể chuyện, nghĩa là thằng nào có chuyện gì nhớ thì kể, bịa cũng được. Anh Cường đứng giữa chấm điểm. Tôi thì chẳng bịa chuyện được, tôi cứ kể những chuyện hồi mình còn ở Quốc, tất nhiên là học ở vùng nông thôn thì làm sao bằng học sinh học ở thị xã. Ngay như chuyện tôi cứ hay tỉ mẩn đến gần màn ảnh chiếu phim để tự hỏi “vì sao người ta chui vào đấy được” làm cho cả bọn ở thị xã bò lăn ra cười. Anh Cường phải nghiêm nét mặt:
- Tại sao các em lại cười bạn Thắng? Trước đây, anh cũng có suy nghĩ đó đấy. Bạn không biết thì giải thích cho bạn hiểu chứ sao lại cười?
Những buổi trăng sáng, anh Cường hay tụ tập chúng tôi ở sân trong trụ sở Ủy ban, kể lại những câu chuyện mà anh vừa dọc được. Giọng kể của anh Cường trầm, ấm. Anh nhớ từng chi tiết của câu chuyện đưa chúng tôi đến vùng cát cháy mênh mông của sa mạc Xa ha ra, hay đêm gió tuyết mịt mù của vùng Bắc cực, hay đến sự huyền bí đến kinh sợ của những khu rừng già vùng hạ lưu sông A ma zôn... Chúng tôi như nuốt từng lời khi nghe anh Cường kể chuyện, trong lòng càng khao khát khám phá những thế giới mới.
Tính cách anh Cường như thế, làm cho chúng tôi càng mến anh Cường hơn.


2



Cả thị xã Sơn Hà, nơi gia đình tôi mới đến, chỉ có một rạp chiếu bóng nhỏ. Như tôi đã nói ở trên, rạp chiếu bóng này cách lớp tôi học ở đình An hậu không xa. Cứ giữa giờ ra chơi, tôi lại chạy ra rạp chiếu bóng ấy xem tối nay họ chiếu phim gì ?Ở đây họ chiếu nhiều phim đánh nhau của Trung Quốc, Liên Xô. Tôi thích xem phim chiến đấu của Trung Quốc. Kinh thật! Bát lộ quân (2) Trung Quốc, mặt người nào người nấy sát khí đằng đằng cầm cầm súng xông lên hết lớp người này, đến lớp người khác, lao vào chốn quân thù như lao vào chỗ không người. Còn người chỉ huy mới khiếp! Như chẳng sợ ai, ông ấy đứng giữa đỉnh đồi, tay giơ cao khẩu Pặc hoọc (3), không cần núp ở đâu, nổ súng pằng...pằng ...mà quân giặc chết như ngả rạ. Còn quân giặc, trên phim tôi thấy bắn lại Bát lộ quân bằng súng đại liên hẳn hoi, mà bên Bát lộ quân chẳng chết một ai, quân giặc cứ chết từng lớp, từng lớp. Lại có bộ phim chiếu cảnh quân du kích Trung Quốc bị quân Tưởng Giới Thạch bao vây chặt trong một hẻm núi, tưởng chết đến nơi. Thế mà chỉ cần nghe thấy tiếng thằng chỉ huy la thất thanh: “ Bát lộ quân đến rồi !”, thế là tất cả bọn lính Tưởng vội bỏ chạy tán loạn, còn quân du kích trong hẻm núi kia lại thoát, ôm hôn Bát lộ quân cười tít cả mắt.
Trong mấy người ở rạp chiếu bóng có một chú tên là Nhiên. Chú kết thân với tôi. Thật ra, chuyện chú Nhiên kết thân với tôi cũng rất tình cờ. Hôm đó, tôi ra chỗ mẹ duyệt tem phiếu mua thực phẩm, đúng lúc mẹ đang nói gay gắt với một người đàn ông:
- Lương của anh chỉ có ba mươi sáu đồng, tức là chỉ được hưởng phiếu D(4), thế mà anh khai khống lên là lương của anh năm mươi hai đồng để anh hưởng tiêu chuẩn phiếu C. Mà anh biết đấy, chỉ có cán bộ trung cấp mới được hưởng tiêu chuẩn đó, anh chỉ là nhân viên rạp chiếu phim, làm sao lại có thể “ ăn cắp ” tiêu chuẩn của ngừoi khác một cách trắng trợn như thế. May mà có người phát hiện sơm cho chúng tôi biết chứ không mỗi tháng nhà nước mất cho hai lạng thịt lợn, cả năm hơn một ki lô gam thịt lợn rồi còn gì.
Người đàn ông đứng trước mặt mẹ tôi, nét mặt thật thiểu não, cả người nhũn như con chi chi, nói van nài:
-Mong chị bỏ qua cho em, dù gì thì em cũng được hưởng tiêu chuẩn thịt lợn ba tháng bằng phiếu C. Mỗi tuần em được thêm ba lát thịt, ăn quen miệng mất rồi. Giờ chi cắt tiêu chuẩn của em, đau quá chị ạ! Mà nói thật với chị. Đây, chị nhìn bắp tay của em...- Người đàn ông đó co gập cánh tay, bắp tay nổi lên cuồn cuộn – Thử hỏi một thằng đàn ông như em, nếu một tháng không có thêm ba lạng thịt lợn, làm sao có bắp tay to như thế này ?
Nghe người đàn ông ấy nói, mẹ tôi càng bực mình :
-Anh đừng làm gương cho những đứa bé như con tôi đây hư hỏng. Anh nhớ nhé, đồng bào miền nam ở trong kia, họ có lát thịt lợn nào ăn đâu mà đánh quân Mỹ - Diệm, chúng thua chạy ầm ầm. Nếu như tôi chấp nhận việc làm của anh, đồng bào miền nam đang đánh giặc sẽ lên án tôi đó. Thôi, không nói nữa, anh về đi. Anh Nhiên!
Người đàn ông đó, tức chú Nhiên, lúc đó nhìn tôi có vẻ xấu hổ, lủi thủi ra về. Còn tôi nhìn chú ấy, thấy có vẻ quen quen...Về đến nhà, tôi chợt nhớ đến người đàn ông hay kẻ chữ tên phim lên cái bảng đen trước rạp chiếu phim. Đúng chú ấy rồi ! À, thế là tôi biết tên của chú ấy.
Hôm sau, tôi đi học sớm do phải trực nhật, hơn nữa tôi cũng muốn đến sớm, đi ngang qua rạp chiếu phim, xem thử hôm nay rạp chiếu phim gì. Đi ngang qua, tôi lại thấy chú Nhiên dang nắn nót kẻ chữ tên phim lên bản đen trước cửa rạp. Tôi dừng lại, ngó nghiêng một hồi, rồi nói đánh động cho chú ấy biết:
- Cháu chào chú Nhiên!
Chú Nhiên ngừng tay kẻ chữ, quay lại thấy tôi nét mặt của chú ngạc nhiên:
- Chào cháu! Nhưng làm sao ...cháu lại biết tên chú ?
Tôi cười giải thích:
- Hôm qua chú ở chỗ của mẹ cháu, mẹ cháu nói tên của chú, cháu biết đấy!
- Chỗ mẹ cháu là chỗ nào? – Quả thật chú Nhiên không để ý chuyện hôm qua tôi chứng kiến chú bị mẹ tôi mắng.
- Chỗ mẹ cháu phát tem phiếu ấy –Tôi nói với chú Nhiên bằng thái độ thành thật.
- Ờ...ờ...chú hiểu rồi...Ờ...ờ...chú nhớ rồi ...- Thái độ chú Nhiên tự nhiên lúng túng, hai tai đỏ lựng. Rồi chú đánh trống lảng – Thế cháu cũng học ở tận đây cơ à ! Từ đấy về đây đi bộ xa lắm. Mà cháu học lớp của cô Phương dạy phải không ? Hôm nay cháu đi học sớm nhẩy?
Tôi hoàn toàn không để ý những điều chú Nhiên hỏi mà chỉ chú ý tối nay rạp chiếu phim gì :
- Chú Nhiên ơi! Tối nay rạp có chiếu phim chiến đấu không ?
- Có chứ cháu ! Một bộ phim chiến đấu của Trung Quốc , tên phim là “ Tiễu phỉ trên sa mạc”. Phim này à ! Cứ gọi là chiến đầu từ đầu phim đến cuối phim. Cháu có thích xem phim chiến đấu không ?
Tôi gật đầu, vì điều đó chính là sở thích của tôi. Chú Nhiên cũng gật đầu, có vẻ đồng tình rồi chú quay vào bảng kẻ chữ tiếp. Tôi định quay ra vào lớp ở đình An Hậu, thì chú Nhiên gọi giật lại:
- À! Cháu gì ơi!
Tôi dừng lại:
- Chú gọi cháu!
- Ờ , tên cháu là gì nhỉ ?
- Dạ, cháu tên là Thắng .
- Tên là “ Thắng ”, cái tên nghe hay đấy- Chú Nhiên nhìn tôi, cười mỉm. Cái nụ cười của chú tôi không hiểu hết ý nghĩa – Thế này cháu ạ! Chú cháu mình biết nhau rồi, nếu cháu thích xem phim thì nói trước với chú, chú sẽ cho cháu vào xem.
Nghe chú Nhiên nói vậy, tôi rất vui. Nhưng...tôi nói thật với chú :
- Cháu không có tiền, chỉ thỉnh thoảng mẹ cháu mới cho cháu tiền đi xem phim thôi.
Chú Nhiên nghe vậy, vội xua tay:
- Không có vấn đề gì đâu...Cháu thích xem phim gì, nói trước với chú, tối đó cháu sẽ được xem phim với chỗ ngồi đàng hoàng.
- Thật không chú ? – Tôi nghe chú Nhiên nói mà như không tin đó là sự thật.
- Thật chứ lị! – Chú Nhiên bắt tay tôi như khẳng định một lần nữa lời hứa của mình.
Tôi khoái quá, bắt tay chú Nhiên xong quên cả chào chú chạy ngay vào lớp ở đình An Hậu. Tôi phải báo tin này ngay cho thằng Oanh. Thằng Oang nghe tin đó, nó cũng háo hức không kém gì tôi:
- Mày nói với chú ấy cho tao xem với. Giả dụ như chỗ ngồi chỉ vừa một người, mày nhích cái mông vào một tý, tao ngồi chớm thôi, thế là hai thằng có thể ngồi xem chung được mà không ảnh hưởng xung quanh.
- Liệu chú Nhiên có đồng ý không ? – Tôi hơi phân vân.
- Thì mày cứ cố hỏi thử xem, biết đâu chú ấy cho – Thằng Oanh nói với tôi giọng thèm thuồng.
Tưởng là dễ như thế, nhưng khi tôi nói lại với chú Nhiên đè nghị của thằng Oanh, chú ấy lắc đầu quầy quậy, phản ứng rất gay gắt:
- Chuyện xem phim không mất tiền, chú chỉ cho riêng cháu thôi, không thể đưa bạn của cháu vào đây được. Ông rạp trưởng biết chuyện chú đưa cháu vào rạp xem phim không mất tiền là ông ấy sẽ kỷ luật chú. Cho nên chuyện này là tuyệt đối bí mật, chỉ có cháu và chú biết.
Nghe chú Nhiên giải thích thế, tôi đành chấp nhận. Được rồi, khi xem phim tôi sẽ cố gắng thật tập trung, nhớ từng chi tiết trên phim, về kể lại cho Oanh nghe.
Thế là, bắt đầu từ hôm đó, hễ rạp có phim gì mới là lập tức tôi được xem. Mỗi buổi tối, tôi nói dối mẹ là đi học nhóm rồi tôi cầm cả cặp sách đến rạp, ở đó chú Nhiên đã đón tôi. Chú Nhiên đưa tôi vào một góc rạp, cho mượn một cái ghế con, tôi ngồi xem. Tất nhiên ngồi xem phim như vậy không thỏa mái lắm. Song điều đó đối với tôi không hề gì, còn hơn bao nhiêu đứa trong lớp, chúng muốn được một phần như tôi, nào đâu có được.
Tôi kết thân với chú Nhiên từ đó. Quả thực trước mắt tôi, chú Nhiên là người cực kỳ tốt. Chú “tốt” như thế mới cho tôi xem phim không mất tiền chứ.
Một hôm, lúc tan lớp, tôi định về thì lại thấy chú Nhiên đợi tôi ở một chỗ khuất. nghe thấy tiếng chú gọi, tôi vội chạy lại:
-Có viện gì không, chú ?
Chú Nhiên kéo tay tôi ra một chỗ rất vắng , đôi mắt chú láo liếng còn nhìn xung quanh xem có ai để ý không ? Rồi chú nói thì thầm vào tai tôi:
- Chú có việc nhờ cháu. Cháu mà làm tốt việc này thì tha hồ mà xem phim, lại có cả tiền tiêu nữa, khỏi phải xin mẹ.
Nghe chú Nhiên nói, tôi chẳng hiểu gì cả. Chú bảo “ làm tốt” thì tha hồ xem phim !!! nhưng mình phải biết làm việc gì đã chứ .Tôi hỏi:
-Chú định nhờ cháu việc gì ?
- Cháu có hay vào chỗ các cô, chú bán thịt lợn không ?
- Dạ, có ! Cháu hay vào đấy chơi. Nhưng ... chú ...
- Ấy, cháu nói khe khẽ chứ ! Thế này này, chú bày cho cháu. Cháu xem có thể lấy được những tem cung cấp mua thịt lợn đã bán rồi ấy, mang nó ra đây cho chú...
-Để làm gì hả chú !
- Việc tiếp theo là để chú lo. Còn cháu, nếu lấy được nhiều thì ...tha hồ xem phim. Chú hứa danh dự đấy!
Trước mắt tôi lúc này, hiện lên cái túi xách của mẹ. Mỗi buổi tối, khi ăn cơm xong, mẹ thường hay đổ những cái tem thịt lợn đã bán ở trong túi ra để phân loại rồi cặm cụi ghi chép. Có khi nhiều tem quá, mẹ lại nhờ tôi phận loại giúp. Như vậy, việc chú Nhiên nhờ, không phải là việc quá sức đối với tôi. Nhưng tôi vẫn thấy việc này “ thế nào” ấy, không biết có “ sai ” không ?
Thấy tôi lưỡng lự, chú Nhiên lắc đầu:
- Có mỗi một việc bé con con thế mà cháu cũng làm được. Vậy mà cháu nói với chú, mai này lớn lên sẽ làm công an bắt gián điệp.
- Nhưng... ý cháu muốn hỏi chú là việc này có phải giống như “ ăn cắp” không ?
Chú Nhiên nghe tôi hỏi vậy, hơi giật mình, thái độ có phần lúng túng rồi chú cười giả lả :
- Ăn cắp đâu mà ăn cắp. Ở đây cháu lấy những tem thịt lợn mà cửa hàng của mẹ cháu đã bán rồi đưa cho chú ...Ai cần thứ đó làm gì nữa .
- Nhưng cháu đưa những tem đó cho chú, chú lấy làm gì ? – Tôi vẫn thắc mắc.
Chú Nhiên có vẻ khó trả lời những câu hỏi của tôi. Tự nhiên chú bực mình :
-Thôi, chú không nhờ cháu nữa. ngày mai chấm dứt việc cháu vào xem phim không mất tiền. Chú hơi buồn, chú đã cho cháu xem phim không mất tiền, thế mà chú nhờ cháu có mỗi một việc nhỏ như thế, cháu lại không giúp chú.
Thoáng suy nghĩ, nghe chú Nhiên nói vậy, tôi tiếc thực sự. không chần chừ nữa, tôi liền gật dầu :
- Được rồi, cháu sẽ giúp chú !
Thế là mỗi tối, khi mẹ tôi ngồi phân loại tem phiếu bán thịt lợn trong ngày, tôi tìm cách tranh thủ ngồi bên cạnh. Nhân lúc mẹ không để ý , tôi nhanh tay đút vào trong túi một, hai cái tem phiếu bán thịt lợn trong ngày để hôm sau đưa mấy cái tem phiếu ấy cho chú Nhiên.
Cầm mấy cái tem phiếu mua thịt lợn, nét mặt của chú Nhiên có vẻ hoan hỉ, khen ngợi tôi và chú tiếp tục... cho tôi vào xem phim không mất tiền mua vé.
Chú Nhiên bảo tôi giữ bí mật chuyện này, tôi lại không giữ được.
Một lần, sau buổi chiếu đầu tiên bộ phim “ Con chim vành khuyên”. Tôi háo hức kể nội dung phim cho anh Cường nghe. Anh Cường hỏi tôi:
- Anh xếp hàng cả buổi chiều, không mua được vé. Còn em làm thế nào mà “ chui” vào rạp?
- Em có cách... mà cách này thì không thể kể với anh được!
Tôi có biết đâu, nói kiểu như thế càng kích thích sự tò mò của anh Cường. Anh Cường véo tai tôi:
- Em không nói, anh véo đứt tai đấy!
Anh vặn xoáy tai của tôi, đau quá, tôi đành phải nói sự thật vì sao mình có thể vào xem phim không cần mua vé. Nghe tôi kể xong, anh Cường nhìn tôi, lắc đầu:
- Thôi chết! Sao em lại dại thế...Mà sao lão Nhiên lại xui trẻ con làm một việc bậy bạ thế nhỉ !
Tôi không đồng ý với nhận xét của anh Cường:
- Chẳng phải thế, anh Cường ạ! Chú Nhiên tốt lắm. Chú chỉ nhờ em có thế, em mới lấy cho chú vài cái tem thôi mà được xem phim tha hồ. Đấy ! Tối nay chú ấy bảo , rạp chiếu bộ phim “ Hầm bí mật bên bờ sông En Bơ”, phim chống gián điệp hay lắm. Em ăn cơm sớm đi xem, chú Nhiên xếp chỗ cho em rồi.
Tôi nói như thế cũng chẳng làm thay đổi nét mặt của anh. Nét mặt của anh Cường vẫn cương quyết, bàn tay anh ấy co lại như chuẩn bị đấm ai, miẹng anh lẩm bẩm:
- Phải cho lão này một bài học, không được lợi dụng trẻ con.
Hôm sau, quả nhiên có một trận cãi nhau rất to giữa anh Cường và chú Nhiên. Anh Cường nói với tôi đi với anh đến gặp chú Nhiên để làm chứng. nghe vậy tôi sợ vãi đái ra quần. Ra làm chứng để chết à !Hơn nữa, đang được lợi thế là xem phim không mất tiền, chỉ vì mắc bệnh hay “ khoe” mà cuối cùng... Chắc chú Nhiên sẽ không tha cho tôi chuyện này!!!
Y như rằng, sau cái hôm anh Cường gặp chú Nhiên để to tiếng, chú Nhiên tránh hẳn không muốn gặp tôi. Một lần tôi định gặp chú để thanh minh, không ngờ vừa gặp tôi, tôi chưa kịp chào chú, thì chú đã buông ngay một câu: “ Đồ phản bội!”, rồi chú đi thẳng.
Ngay đến lúc ấy tôi vẫn chưa hình dung được sự nghiêm trọng của sự việc này cho lắm. Nhưng đến một tối, khi về đến nhà tôi mới biết việc chú Nhiên bảo tôi lấy mấy cái tem phiếu đưa cho chú vượ quá sự suy nghĩ đơn giản của tôi.
Mẹ đợi cho tôi ăn cơm xong, rồi mẹ dọn thật gọn ghẽ. Mẹ gọi tôi lại bàn. Nét mặt của mẹ thật nghiêm, làm cho tôi sợ:
- Mẹ muốn hỏi con một chuyện.
Linh tính như mách bảo tôi, đây không phải là một chuyện bình thường. Tôi đi thật chậm đến gần mẹ, ngồi xuống. Em Minh ngồi ở giường đưa mắt ngơ ngác hết nhìn tôi lại nhìn mẹ. Mẹ hỏi tôi chậm rãi, rõ ràng:
- Mấy tối vừa qua con đi học nhóm, phải không ?
Tôi hơi lo sợ vì mình đã nói dối.Thực tế, tôi đâu có đi học nhóm, tổ mà đi xem phim.Tôi run, không dám trả lời. Mẹ tôi nhắc lại, giọng nghiêm hơn:
- Sao mẹ hỏi, con không trả lời!
Tôi định cố nói mà không thể nào cất giọng được, chân tay như không thể là của mình nữa, mồ hôi trên mặt đổ ra ròng ròng. Mẹ tôi đi lấy một cái roi mây, một điều ít khi bà làm đối với tôi. Tôi đành phải thú thật:
-Con nói dối mẹ, con không đi học!
- Con đi đâu ?
- Con ...con ...
- Con nói nhanh lên. Không đi học thì con đi đâu?
Vừa mếu máo, tôi vừa kể lại sự thật, mắt vẫn dè chừng chiếc roi mây mẹ đang cầm trên tay:
-Con đi...đi ... xem phim...
Mẹ tôi hạ giọng:
- Thế tiền con lấy ở đâu mà mua vé xem phim?
Điều mẹ tôi hỏi mới thực là khó trả lời, mà không trả lời thành thực thì tôi cũng không biết trả lời như thế nào nữa :
- Con không có tiền, chú Nhiên cho con vào xem phim không mất tiền.
Hình như mẹ tôi đã biết rõ tất cả mọi chuyện rồi, nhưng mẹ tôi muốn tôi phải nói ra sự thật. Cũng khó cho tôi quá. Tôi nhìn lên trần nhà. Góc trần nhà có một con ruồi sa vào lưới nhện, nó đang cố vùng vấy để thoát. Tôi nhìn kỹ, nó càng vùng vẫy hình như chân càng dính chặt vào lưới nhện dệt. Mẹ thấy tôi không trả lời cứ ngó trân trân lên trần nhà, bà giục:
- Con phải trả lời cho mẹ rõ, vì sao chú Nhiên lại cho con vào xem không mất tiền ?
Con nhện to không biết nó núp ở chỗ nào, bây giờ nó mới từ từ bò ra chuẩn bị ăn thịt con ruồi sa bẫy. Còn tôi, tôi đã bị mẹ dồn vào con đường cùng rồi. Chỉ có nói thật mới là con đường cứu tôi :
- Chú Nhiên nói với con, lấy trộm của mẹ mấy cái tem phiếu mua thịt lợn đưa cho chú...chú cho vào rạp xem phim không mất tiền...
Nghe vậy, mẹ tôi lập tức cầm chiếc roi mây giơ cao lên. Theo phản sạ, tôi ôm lấy đầu, nhắm mắt. Mẹ tôi giơ roi lên, nhưng lại không đánh tôi. Mẹ hạ cái roi mây xuống, ngồi khóc. Vừa khóc, mẹ vừa nói:
- Con ơi! Sao con lại dại thế ! Cùng một lúc con đã phạm hai khuyết điểm. mà khuyết điểm nào cũng trầm trọng cả. Tội nói dối là cái tội cả ba và mẹ rất ghét, thêm vào đó, con lại mắc thêm cái tội ăn cắp nữa. Làm sao ba, mẹ lại có một đứa con hư hỏng đến như thế. Con biết không ? mấy hôm vừa rồi, kiểm tra lại sổ sách ,.mẹ thấy mất mấy cái tem thực phẩm loại C, nhưng mẹ không hề nghĩ là con lấy. Mẹ nghĩ, có thể mình vô tình đánh rơi, mẹ đã viết bản kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật trước các cô chú trong cơ quan...
Mẹ lấy tay chùi nước mắt. Bây giờ tôi mới thấy thực sự ân hận cho việc làm không phải của mình:
- Con xin lỗi mẹ!
Mẹ ôm em Mình vào lòng, nói tiếp:
- May cho con đấy ! Anh Cường lại đây nói chuyện naỳ với mẹ, lại nữa, mẹ cũng thấy đây là lần đầu, con cũng biết nhận lỗi, mẹ có thể tha thứ cho con. Còn lần sau, nếu con vi phạm, tái diễn lại việc này, con đừng trách mẹ...
Tôi cúi đầu, im lặng.
Mẹ tôi là như vậy, vẫn một tấm lòng bao dung, thương con vô hạn.
Một bài học đầu đời, tôi vô cùng thấm thía.
Đúng là mọi chuyện ở thị xã này không hề đơn giản như hồi tôi ở Quốc. Ít nhất trong đầu óc non nớt của tôi, tôi đã lờ mờ nhận ra như thế. Hồi ở Quốc, cũng có lúc chúng tôi nói dối người lớn để đùa nghịch, nhưng đó cũng chỉ là những trò đùa tếu, chẳng làm người lớn giận. Thậm chí nếu có ai biết lại là một trận cười no bụng và không hề có chuyện người lớn lợi dụng trẻ con làm những trò như chú Nhiên bày cho tôi.
Tôi có một chút lớn khôn trong những chuyện như thế này.


HẾT PHẦN 1 – TẬP 1

Chú thích:

-(1)- Galen – Để nghe được đài tiếng nói Việt Nam, ở miền bắc lúc đó ( 1956 -1958) người ta thường mắc dây thép vào hai cây sào thật cao lấy sóng. Ròng xuống bên dưới là một cái hộp nhựa nhỏ, bên trong có thiết kế bộ phận thu sóng đơn giản, để áp vào tai nghe đài.
- (2) Bát lộ quân - Tên gọi của Quân đội Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến chống Tưởng Giới Thạch.
- (3) Pặc Hoọc – Súng lục của quân Mao Trạch Đông
-( 4) – Thời bao cấp ở miền bắc – Việt Nam – bán thịt lợn theo chế độ tem phiếu. Phiếu D của cán bộ ( Tôi nhớ không chính xác) mỗi tháng được mua 1/2 cân thịt lợn

]]>
http://trankytrung.com/read.php?14 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Cuộc phiêu lưu không định trước - Phần II]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 16:49:12 +0000 http://trankytrung.com/read.php?14 Một người đàn ông dáng lam lũ, đầu đội nón lá đi từ đằng sau lại. Thấy tôi ngồi khóc, ông dừng lại hỏi:
-    Làm sao cháu khóc?
-  Cháu đi với anh cháu, không may bị lạc – Tôi mếu máo, tuy đói bụng vẫn còn tỉnh táo để nói dối.
-   Trông cháu mệt lắm – Người đàn ông sờ đầu tôi, thái độ ân cần:
Cháu đói quá, từ sáng đến giờ chưa có hạt cơm nào vào bụng, bao nhiêu tiền anh cháu cầm hết. – Điều này thì tôi nói thật, hy vọng nhà bác ngay cạnh đây thôi. Rồi bác đi tìm anh cho cháu.
Tôi đi theo người đàn ông về nhà. Một ngôi nhà lá đơn sơ nằm ngay cạnh con đường đầy bụi. Biết tôi đói, người đó dọn cho tôi một chén cơm nguội với vài con cá kho khô.


............
]]> http://trankytrung.com/read.php?13 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Cuộc phiêu lưu không định trước - Phần I]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 16:47:35 +0000 http://trankytrung.com/read.php?13 CUỘC PHIÊU LƯU KHÔNG ĐỊNH TRƯỚC là cuốn tiểu thuyết tôi viết về đề tài thiếu nhi. Cuốn tiểu thuyết này đã được NXB Kim Đồng in, phát hành. Dựa trên nội dung cuốn tiểu thuyết, tôi chuyển thể thành 5 tập của kịch bản phim truyền hình ( Các bạn có thể xem nội dung kịch bản trong mục “ Kịch bản điện ảnh” của trang Website này). Phim do Xưởng phim truyện Việt Nam dựng, đạo diễn Hữu Mười. Phim “ CUỘC PHIÊU LƯU KHÔNG ĐỊNH TRƯỚC” đã được phát trong chương trình “ Văn Nghệ Chiều Thứ Bảy”.

............
]]>
http://trankytrung.com/read.php?12 <![CDATA[[Truyện thiếu nhi] Sự tích con dã tràng]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 22 Mar 2011 16:43:57 +0000 http://trankytrung.com/read.php?12 Ngày xưa có một cậu bé tính rất hư, không bao giờ cậu chịu nghe lời của người lớn. Điều đó làm cho mẹ của cậu rất phiền lòng.

Đã lớn rồi mà cậu vẫn ham chơi. Hôm đó mẹ nói với cậu bé vào rừng kiếm củi. Cậu bé gật đầu, cầm dao vội đi. Nhưng đi giữa đường thấy một đám trẻ đang chơi thả diều, thế là cậu bé sà vào quên ngay chuyện đi lấy củi cho mẹ. Mẹ  ở nhà, đợi lâu quá, không thấy cậu bé về, đành một mình vào rừng lấy củi. Sức yếu, chặt củi chẳng được bao nhiêu, mãi tối mịt mẹ của cậu bé  mới về. Về đến nhà, thấy ngôi nhà im ắng, bếp nguội lạnh, mẹ biết, cậu bé mải chơi vẫn chưa về, bà rất buồn.

Có hôm chum nước ở đầu hồi không còn một giọt. Mẹ đi làm đồng về vừa khát, vừa đói, bà bảo cậu bé mang thùng ra sông xách một ít nước về nấu cơm. Cậu bé “ dạ” một câu rồi xách thùng đi. Đi đến gần bờ sông thấy một đám trẻ đang đánh đáo, cậu bé quên phắt ngay chuyện mẹ dặn, vứt thùng gánh nước bên rệ đường, lao vào đánh đáo cùng đám trẻ. Bà mẹ chờ ở nhà lâu quá, đành sang nhà hàng xóm xin nước về nấu cơm. Xách thùng nước quá nặng, mới đi được nửa đường, sức lại mệt, vấp phải một hòn đá,  mẹ ngã xuống, bất tỉnh. Mọi người thấy vậy, vội đỡ bà mẹ vào nhà rồi họ chạy bổ đi tìm cậu bé.

Cậu bé hay tin, vội chạy về nhà, thấy mẹ như vậy thì cậu rất ân hận về những việc làm của mình. Mẹ của cậu bé tỉnh dậy, nhìn thấy con, nói thều thào:

- Con ơi! Mẹ già rồi, không biết còn sống với con được bao lâu nữa. Con phải nghe lời mẹ, chăm làm, đừng ham chơi. Con lười biếng, không nghe lời mẹ, cuối cùng đời con sẽ khổ.

Những tưởng mẹ nói như vậy, cậu bé sẽ nhận ra lỗi lầm của mình mà sửa chữa. Nhưng, không ! Ở cậu bé, tính nào vẫn tật nấy, ham chơi hơn ham làm. Điều đó khiến cho mẹ của cậu bé buồn lắm.

Năm đó, ở vùng quê của cậu bé nước biển gần cửa sông dâng cao, đúng lúc mẹ của cậu bé bị ốm. Còn cậu bé lúc này vẫm mải chơi tận đẩu, tận đâu. Nhìn dòng nước mênh mang trước nhà, mẹ của cậu bé lo lắm.Nước cứ dâng thế này ,chẳng bao lâu nữa là đến nền nhà này mất thôi. Nếu mình không tôn cao nền nhà, thì nước sẽ tràn vào, lấy chỗ nào mà tránh? Nghĩ như thế, mẹ của cậu bé gắng gượng ngồi dậy, lấy cái cuốc bổ đất, đắp nền. Mẹ làm cật lực, nhưng sức có hạn, lại đang bị ốm, chỉ làm được một lúc, bà gục xuống.

Lúc đó cậu bé mới chạy về. Nhìn mẹ bất tỉnh trên nền nhà, xung quanh nước đang từ từ dâng lên. Cậu bé ôm lấy mẹ, nói đau đớn:

- Mẹ ơi! Mẹ làm sao thế này ?

Mẹ  từ từ mở mắt, nói ngắt quãng với cậu bé:

- Con ơi !Chắc mẹ không sống lâu được với con nữa…Mẹ thương con lắm!

Đến lúc này cậu bé mới thực sự ân hận về những việc làm của mình. Cậu bé ôm lấy thân hình gầy guộc của người mẹ, gào lên :

- Mẹ ơi! Mẹ phải ở lại với con.

Người mẹ mệt mỏi lắc đầu:

- Sức mẹ yếu lắm rồi. Nhưng …Con cứ như thế này thì mẹ có chết cũng không nhắm được mắt.

Cậu bé nhìn mẹ thương lắm, nói qua hai hàng nước mắt:

- Mẹ nói đi, bây giờ mẹ bảo gì con cũng làm.

Mẹ của cậu bé cố giơ tay chỉ con nước đang ngấp nghé nền nhà, cố nói :

- Phải cố đắp đất, tôn cao nền nhà…  Chỉ có như vậy mới tránh được lũ và cũng có đất…chôn mẹ…- Nói xong, mẹ của cậu bé lả đi.

Nhìn mẹ rồi nhìn con nước mỗi lúc một dâng cao, cậu bé mím môi suy nghĩ, rồi quyết định.

Đặt người mẹ lên một gò đất cao, rồi cậu bé lao vào đắp đất. Cậu bé làm suốt ngày. Hết ngày này, qua ngày khác. Cậu làm cả tháng này, qua tháng khác . Bất kể thời gian. Bất kể sức lực. Cậu làm đến lúc gục xuống. Rồi …cậu bé biến thành con Dã Tràng. Đến như vây, cậu bé vẫn cố lấy đất để đắp nền,  mặc cho những con sóng liên tục tràn vào phá vỡ thành quả của cậu bé.

Cậu bé làm như vậy vì muốn thực hiện lời hứa với mẹ, trước lúc mẹ của cậu bé qua đời.

 

 

HẾT

]]>