<![CDATA[Trần Kỳ Trung]]> http://trankytrung.com/index.php vi http://trankytrung.com/read.php?679 <![CDATA[CHỊ DOAN HIỂU ĐÚNG VỊ TRÍ CỦA MÌNH - Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 16 May 2013 12:55:21 +0000 http://trankytrung.com/read.php?679                   

                                CHỊ DOAN ĐÃ HIỂU ĐÚNG VỊ TRÍ CỦA MÌNH – Phút nói thật

                Chị, với cương vị phó chủ tịch nước, có những lúc thấy chị phát biểu hay đi thăm thú chỗ này, chỗ kia, tôi lại giật mình. Hình như chị chưa hiểu đúng vị trí của mình, hay chính xác hơn, chức “ Phó chủ tịch nước” là việc làm quá sức.

               Ai đời, đến tận bây giờ, đến đứa trẻ con, nó chỉ một lần ra nước ngoài, nhất là những nước tư bản tiên tiến, đều hiểu rằng, có lẽ phải đến một trăm năm nữa, nước ta may ra mới tiến gần kịp các nước đó về tất cả các lĩnh vực từ kinh tế đến xã hội. Chẳng thế, không biết gia đình chị có thế không ? Chứ bất cứ gia đình nào ở trên lãnh thổ Việt Nam, có điều kiện kinh tế một chút, đều mong muốn gửi con cái của họ sang các nước tư bản lớn để học tập, lập nghiệp. Còn nói đến thành tựu khoa học kỹ thuật của các nước tư bản lớn, với chị, nguyên hiệu trưởng một trường đại học, chắc rõ hơn tôi, họ hơn chúng ta rất nhiều… Thôi, tôi không liệt kê nữa, ấy vậy có lần chị phát biểu “ Dân chủ nước ta hơn gấp triệu lần dân chủ tư bản”.

          Chị phát biểu như thế thì quá nguy!

           Nước ta lấy gì mà so sánh với các tư bản lớn. Sở dĩ các nước tư bản lớn có nền kinh tế phát triển vượt bậc vì các nước đó có nền dân chủ đúng nghĩa làm nền tảng. Họ có luật pháp nghiêm minh,  từ tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng,,, dính vào tham nhũng đều phải ra trước tòa, trả lời những câu hỏi mà công luận đòi hỏi. Không hề có chuyện “ xử lý nội bộ”, “xét thành tích để chiếu cố” hay như “chờ ý kiến của trên” hoặc “ chưa có sự chỉ đạo của thường vụ”... Người dân các nước tư bản, họ được quyền biểu tình, ra báo, xuất bản tư nhân, quyền tự do bỏ phiếu bầu những vị lãnh đạo mà mình biết mặt, biết tên, chứ không phải như ở ta, mà chị là đại biểu quốc hội rõ nhất, người dân đi bỏ phiếu bầu đại biểu quốc hội, có khi không biết người đó là ai?

         Mới sơ qua như thế, thì thấy rằng, với cương vị phó chủ tịch nước, thường hiểu là người có trình độ, có hiểu biết, vậy chị phát biểu một câu cũ mèm, hay nói cách đây hơn ba chục năm, một nhận  thức hết sức ấu trĩ, lạc hậu khi nước ta lúc đó bị bưng bít thông tin. Một câu nói rất sai lầm cả lý luận và thực tiễn, người dân không phục chị, trong đó có tôi và tôi càng  thấy đảng đã đặt chị không đúng vị trí cần có của một người lãnh đạo.

         Đến vừa rồi, nhân đại lễ đền Hùng, một ngày quốc lễ, người dân cả nước hướng về đền Hùng mà vái vọng, người đi dự lễ, nhất là quan khách, họ ăn mặc lịch sự, có người còn khăn đóng, áo dài… thể hiện sự thành kính với tổ tiên thì chị đến đền Hùng mặc áo cộc tay, quần âu… coi như đây là cuộc thăm viếng bình thường.

         Thế là chị không hiểu vị trí của chị rồi.

         Về chức bên chính quyền, trong cả nước, chị chỉ đứng sau một người, còn đứng trên muôn triệu con người. Người dân nhìn chị không chỉ đơn thuần là một vị lãnh đạo, mà đó là hình ảnh của một nước, từng tự hào có truyền thống văn minh, lịch sự, gia giáo. Thế mà, đường đường là một phó chủ tịch nước, chị ăn mặc như vậy, như một sự coi thường tiên tổ để thắp hương, vái lạy trước bàn thờ ông bà. Người dân sẽ nghĩ thế nào, khi chị rao giảng về “ đạo đức lối sống của con người mới xã hội chủ nghĩa ”.

       …Mới chỉ một vài việc như vậy, tôi nghĩ rằng, chị không biết mình đang đứng ở vị trí nào, nhất là trong lòng người dân, để hành đạo, giúp đời!!!

         Nhưng vừa rồi, ngày 14/5 phát biểu tại phiên họp thường vụ Quốc hội, chị đã nói được những điều mà nhân dân thấy, chỉ có những người lãnh đạo có khi “ thấy” nhưng cố tình nhắm mắt như “ không thấy”: “ Tôi thấy nguy cơ lắm rồi các đồng chị ạ!” để nói về thực trạng kinh tế hiện nay của nước ta. Chị cũng phân tích nhiều điều “ trúng phóc” của một nền kinh tế, mà như nhiều nhà kinh tế nhận xét “ đang gặp khủng hoảng , chưa tìm thấy lối ra”. Chị còn chỉ rõ những nguyên nhân gây nên bế tắc của một nền kinh tế mất sự định hướng, rối loạn về sự chỉ đạo…

       Tôi đọc bài phát biểu của chị, mới nhận ra rằng, chỉ có thể một người làm kinh tế, hiểu kinh tế mới phát biểu được như vậy ( xem phần sau) và lý lịch của chị ( xem phần sau), cũng rõ ràng, chuyên nghiên cứu về kinh tế, mới có thể nói những điều chuyên ngành mình nắm.

        Cũng qua sự việc này, tôi đã nhìn chị với sự thông cảm lớn. Giá như … cứ để chị làm công việc giảng dạy kinh tế của một trường đại học, hoặc như yên vị ở một chức hiệu trưởng trường đại học thương mại, biết đâu nước ta lại có một cán bộ giảng dạy đại học giỏi, đào tạo ra nhiều chuyên gia kinh tế giúp ích cho nước nhà, hoặc giả như sẽ là một hiệu trưởng, giáo sư có uy tín biết nâng cao vị thế một trường đại học kinh tế có vị trí trong khu vực, tương lai không xa là một trường đại học được xếp hạng trong các trường đại  học nổi tiếng thế giới. Nhưng đảng lại bố trí cho chị một chức vụ tưởng là “ quan trọng” lớn hơn chức vụ chị từng nắm, nhưng mọi người nhìn vào chức vụ đó,  lại thấy, nó mang tính  “hiếu hỷ” là chính, một việc mình không chuyên sâu, không phù hợp mà người ta bắt nói phải như thế, đi đứng phải như thế… làm sao không có lúc chị sai lầm.

      Cũng qua việc này, tôi cũng thấy rằng, sai lầm lớn nhất của một số vị lãnh đạo nước mình hiện nay là không biết vị trí mình đang đứng ở đâu trong lòng người dân.

      Có vị chỉ là một nhà lý luận đơn thuần, thủ đoạn không biết, ấu trĩ về nhìn nhận thời cuộc, tài không có, được bố trí vào vị trí lãnh đạo, không biết mình đang đứng ở đâu mà  dám tuyên bố thế này, thế kia rồi đến khi thực hiện không ra đầu, ra đũa, lúng ta, lúng túng, rối như canh hẹ, chỉ tổ làm cho lòng người chán ngán, sân khấu chính trị ở Việt Nam, cũng vì thế mà rã như chợ chiều hết phiên. Giá như… cứ để ông ấy viết những bài báo lý luận có khi hay, vì đó là chuyên môn sâu của ông. Những bài báo đó giúp cho người đọc có chỗ để so sánh sự khác biệt giữa lý luận và thực tiễn để biết ai thắng, ai thua.

      Hay như có vị, đảng cử ra lãnh đạo kinh tế, mà không chuyên sâu kinh tế như chị, lại có máu tham, thừa thủ đoạn đục khoét… thì làm sao kinh tế đất nước không đi vào hồi bi bét…

       Một bài báo nhỏ, thực ra, tôi chỉ ao ước, nước ta có một hiến pháp tân tiến phù hợp với xu thế thời đại, một cuộc bầu cử thật dân chủ, tự do, để cho dân được thỏa mái lựa chọn, bầu ra các vị lãnh đạo như các nước tư bản lớn, tiên tiến. Tất lúc đó sẽ có những vị lãnh đạo tài giỏi, được đặt đúng vị trí  của mình, phát huy hết khả năng, không có những sai lầm, ấu trĩ như chị đã mắc phải.

      Và cũng chỉ như vậy, tôi tin người dân sẽ không để chị làm một chức vụ lớn hơn, mà chị tự thấy không phù hợp, có khi lại hủy hoại thanh danh của mình. Lúc đó, chị vẫn yên vị một tiến sỹ kinh tế giảng bài giỏi, được mọi người kính nể, một hiệu trưởng tốt của  một trường đại học danh tiếng mà sinh viên tự hào.

      Hãy trở về đúng vị trí phù hợp với khả năng của mình, chị Doan ạ!

                 ----------------------------

          BÀI ĐOC THÊM

            Thím Doan: Tôi thấy nguy cơ lắm rồi các đồng chí ạ!

           Là người kín tiếng, cẩn trọng, nhưng nhắc đến dư nợ tín dụng “chỉ hơn 1%”, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan lên tiếng cảnh báo về tình trạng đồng vốn “gần như đóng băng”. Theo bà, việc ứ đọng vốn khiến DN không sản xuất kinh doanh được “phải được tập chung tháo gỡ ngay, không có thì chết”. “Tôi thấy nguy cơ lắm rồi các đồng chí ạ”.

              Đồng vốn gần như bị đóng băng
Phát biểu tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sáng nay 14.5, Phó chủ tịch nước nhìn nhận những khó khăn của nền kinh tế, đặc biệt là tình trạng các DN. “tất cả là từ đồng tiền” và tình trạng đồng vốn hiện nay, qua dư nợ tín dụng chỉ hơn 1% là “gần như đóng băng”. Theo bà, vấn đề cấp bách cần tập chung giải quyết chính là chính sách tiền tệ và quản lý dòng vốn. “Nếu cần thì phải khoanh nợ, giãn nợ”- bà nói.
Phó Chủ tịch nước cũng kêu gọi “Có ứng xử thật tốt đối với đầu tư công” bởi theo bà vấn đề điều hành, dù “không dám nhận xét, kết luận là giật cục, nhưng đang thế này mà chúng ta ngừng hết” khiến các địa phương, cơ sở gặp không ít khó khăn.
Nhìn nhận những vấn đề của nền kinh tế, Phó Chủ tịch nước cho rằng “quản lý của chúng ta có yếu kém”, đây là một trong những nguyên nhân khiến “Nền kinh tế bị phụ thuộc”. Thẳng thắn nói “Đây là nguy cơ”, bà Doan đặt câu hỏi nếu doanh nghiệp FDI mà rút hết thì nền kinh tế của chúng ta sẽ “rỗng”?!. “Tôi băn khoăn không biết hỏi ai- bà nói- Các doanh nghiệp FDI ra sức phát triển mở rộng sản xuất mà lại báo lỗ, không chịu nộp thuế. Cụ thể là Coca Cola, mở rộng sản xuất hết chỗ, trốn thuế, trốn nộp bảo hiểm cho người lao động. Ai chịu trách nhiệm chỗ này? Ai chịu trách nhiệm cần địa chỉ cụ thể chứ không thể chung chung mãi được nữa rồi.
Các bộ ngành tự giác, mạnh dạn xin rút đi
Đề xuất giải pháp tiết kiệm, chống lãng phí, Phó Chủ tịch nói thẳng về sự chồng chéo trong việc thực hiện 16 chương trình mục tiêu quốc gia. Chẳng hạn, có chương trình nước sạch riêng, trong khi Chương trình xây dựng nông thôn mới cũng lại nước sạch.
Dàn trải, chống chéo, tiền mất, trong khi cái gì, công trình nào cũng dở dang, Phó chủ tịch Nguyễn Thị Doan thẳng thắn nói sự lãng phí “có ngay chính trong chủ trương của chúng ta”. “Tôi phải nói thật với các đồng chí là Bộ nào cũng muốn giữ (chương trình mục tiêu quốc gia) Nhưng chúng ta phải phải nhìn thẳng khó khăn của đất nước để mạnh dạn xin rút đi”- bà kêu gọi.
Nhắc lại cả 16 chương trình mục tiêu quốc gia này đều đã được Quốc hội biểu quyết thông qua, với việc quyết ngay từ khâu phân bổ ngân sách. Tuy nhiên, Phó Chủ tịch nước đề nghị nếu giờ thấy bất hợp lý thì chính Quốc hội phải kiên quyết điều chỉnh, thậm chí cắt bỏ, ngay trong việc phân bổ ngân sách. “Chúng ta đang nể nang- bà nói- đặc biệt trong việc phân bổ ngân sách”. Đặt vấn đề trách nhiệm của Quốc hội bởi theo Phó Chủ tịch nước: “Quốc hội không dám bàn thì ai nói nữa”.
Nhắc lại rằng “Các phiên họp đều có kết luận có nhìn nhận kết quả giám sát không đi đến cùng, giám sát xong để đấy”, bà Doan kêu gọi việc tăng cường kiểm tra giám sát: “Chúng ta xúm nhau lại tạo sự đồng thuận để tìm những yếu kém trong quản lý, dù không nặng về xử lý, mà để khắc phục những yếu kém”, và việc này cần phải làm một cách kiên quyết, song song với việc “QH lần này đưa ra vấn đề tiết kiệm chi tiêu công, hội thảo, hội họp, đi nước ngoài”.

-------------------------

    Nguon: blog daotuan

 

 

         Xem thêm: Tiểu sử của bà Nguyễn Thị Doan – theo Wikipedia

 

 

 

 

 

 

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                
            

Nguyễn Thị Doan

            
            

Phó Chủ tịch   nước Việt Nam

            
            

Nhiệm kỳ

            
            

25 tháng 7 năm 2007 – nay
            5 năm, 293 ngày

            
            

Tiền nhiệm

            
            

Trương Mỹ Hoa

            
            

Kế nhiệm

            
            

đương nhiệm

            
            

Khu vực

            
            

Flag of Vietnam.svg Việt Nam

            
            

Đảng

            
            

Đảng Cộng sản   Việt Nam

            
            

Sinh

            
            

11 tháng 1, 1951 (62 tuổi)
            
Hà Nam

            

Nguyễn Thị Doan (1951-) là một nữ chính trị gia Việt Nam. Bà hiện là Phó Chủ tịchnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XII tỉnh Hà Nam, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Thương mại.

Tiểu sử và quá trình công tác [sửa]

Bà Nguyễn Thị Doan sinh ngày 11 tháng 1 năm 1951 tại xã Chân Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Bà là giáo sư, tiến sĩ kinh tế và có trình độ cao cấp về lí luận chính trị. Bà Nguyễn Thị Doan gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 11 tháng 7 năm 1982.[1]

·                    Tháng 10 năm 1973: Tham gia cách mạng.

·                    Từ 1968 đến 1973: Học và tốt nghiệp tại trường Đại học Thương mại Hà Nội.

·                    Từ 1974 đến 1979: Là giảng viên trường Đại học Thương mại Hà Nội.

·                    Từ 1981 đến 1992: Là nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án tiến sĩ kinh tế tại Bulgaria. Sau đó sang Pháp học và làm luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh tại Trường Quản lý Kinh doanh châu Âu.

·                    Năm 1993: Là hiệu trưởng trường Đại học Thương mại Hà Nội.

·                    Tháng 6 năm 1996: Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

·                    Tháng 8 năm 1999: Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, được bầu là Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

·                    Tháng 4 năm 2001: Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phân công giữ chức Phó Chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.

·                    Tháng 12 năm 2005: Tại Đại hội Đảng bộ khối I cơ quan Trung ương lần thứ 6 được bầu giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy khối.

·                    Tháng 4 năm 2006: Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.

·                    Ngày 25 tháng 7 năm 2007: Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XII được bầu giữ chức Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam thay cho bà Trương Mỹ Hoa.

·                    Tháng 1 năm 2011: Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.[1]

·                    Ngày 26 tháng 7 năm 2011 được quốc hội khóa XIII bầu lại giữ chức Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

·                    Hiện nay, bà còn là Đại biểu Quốc hội khóa XIII ( tỉnh Hà Nam), Phó chủ tịch thứ nhất Hội đồng thi đua khen thưởng Trung Ương, Chủ tịch Quỹ bảo trợ trẻ em Việt Nam và Ủy viên Hội đồng lí luận Trung Ương .

        

]]>
http://trankytrung.com/read.php?671 <![CDATA[VỀ THÔI ANH - Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sun, 05 May 2013 15:15:54 +0000 http://trankytrung.com/read.php?671

 

 

VỀ THÔI ANH – Phút nói thật

          

               Những sự kiện dồn dập, liên tục xuất hiện trong những ngày gần đây giúp cho mọi người  càng nhìn thấy rõ, làm sao một mình anh có thể chống lại cả một tập đoàn “lợi ích nhóm”, chúng liên kết chặt chẽ với nhau từ cấp cơ sở lên đến trung ương. Chúng tung mọi mưu ma chước quỷ hòng không có chỗ cho anh tựa. Anh chỉ như một võ sỹ mù, có sức đấy nhưng không có mưu  chống lại. Nếu có, những cú ra đòn của anh chỉ như đấm vào không khí, không hề có một tác dụng nào.

           Càng sai lầm hơn, khi bức tường anh định dựa, hoá ra bức tường mục, nền long, gạch vỡ không ai dám đến gần vì sợ bức tường đó đổ trúng đầu mình.  Tất cả đều nhìn thấy, sao anh không nhìn ra, để rồi hiện tại,  một mình anh chống đỡ cho bức tường khỏi đổ trong cô đơn, kẻ thương hại cho anh thì ít, mà kẻ vỗ tay sung sướng, hả hê thì nhiều.

           Có lẽ đây là sai lầm lớn nhất trong đời anh.

           Không biết anh nhận ra chưa? Với một chế độ dân chủ thực sự coi DÂN là trên hết, làm việc vì nhân dân, sự chọn lựa của người  dân là sự phán quyết cuối cùng, chắc chắn anh sẽ nhẹ lòng nếu như ở vị trí lãnh đạo mà người dân yêu cầu và vui vẻ nghỉ ngơi nếu như mình cảm thấy công việc đó quá sức.

         Khốn thay, đất nước ta, hiện tại, không có chuyện đó.

          Vì thế bây giờ, trong anh là sự ấm ức, căm giận những kẻ tưởng là đồng chí đấy, là cùng chung lý tưởng đấy, hoá ra đối xử với nhau còn hơn kẻ thù chỉ vì anh không cùng chung lợi ích “nhóm”, hơn nữa, anh là vật cản để “nhóm” đó mất quyền lợi. Nên chúng tìm mọi cách cô lập anh, để anh vẫn ở chức đó, nhưng không hơn một con “bù nhìn” trông dưa là bao nhiêu.    

            Trong con mắt của người dân, trước đây người dân dành cho anh là sự ngưỡng mộ, giờ chỉ còn thương hại.

              Chúng tôi cũng có sai lầm. Quá kỳ vọng vào anh, rồi cũng ngây thơ như anh, rằng, anh sẽ làm được mọi việc như đã làm ở thành phố này.

          Sự đời không phải thế, ở thành phố anh còn dựa vào dân, vào một tập thể lãnh đạo đoàn kết, họ coi anh là một “ minh chủ”  thực sự. Và anh ra ngoài kia, sẽ có người “ minh chủ” đủ trí tuệ, thừa bản lĩnh, có tài tổ chức, quyết đoán là ngọn cờ tập hợp mọi người, giúp anh hoàn thành mọi công việc. Nhưng… hoá ra, người “ minh chủ” đó,  tài hèn, sức cạn, yếu bản lĩnh, ngu muội trong nhận thức chỉ muốn đưa anh ra làm cái  “ mộc” che cho mình khỏi ngã. Ông ta không làm được việc đó, đau xót hơn, còn làm anh bị mất uy tín, đẩy anh đến cái thế “ Đi cũng dở, ở không xong”.

          Và chúng tôi…ngậm ngùi trong nỗi buồn và sự nuối tiếc.

          Giá như anh vẫn ở thành phố này!!!

           Chúng tôi biết,  đêm nay và những đêm hôm sau, sau hội nghị này, biết đâu anh sẽ mất ngủ. Sức khỏe của anh, không phải sụt mấy ký mà là nhiều ký. Có thể anh trăn trở, mình phải làm gì đây? Trước mắt phải đi con đường như thế nào? Rồi liệu mình có thể đứng vững được hay không? Trước sự tấn công dồn dập, nhiều hướng… của nhiều kẻ không ưa anh.

            Hàng trăm câu hỏi, không dễ để cho anh có câu trả lời.

            Chúng tôi cũng giống anh, trước hiện tình này, ngổn ngang bao nhiêu sự ưu tư, lo lắng đến vận mệnh đất nước, tồn vong của một chế độ mà rất khó tìm câu trả lời.

            Ai là “ minh chủ” cứu đất nước!

            Còn một điều may cho chúng tôi, khác anh,  chúng tôi là DÂN.

             DÂN nên dễ sống.

             Ai tốt , để phúc cho đời, bỏ qua quyền lợi giai cấp, bản thân biết lo cho DÂN, lo cho sự tồn vong của cả dân tộc, chúng tôi sẽ theo, hết lòng ủng hộ. Ai phản DÂN, phản lại giống nòi, cam tâm làm tay sai ngoại bang, cho dù dưới bất cứ chiêu bài gì, thì chúng tôi chống, chống đến cùng.

            Điều đó rất minh bạch, rõ ràng.

            Chỉ có sống với DÂN, đi với DÂN, vì DÂN mình sẽ thấy nhẹ nhàng, thanh thản.

            Về thôi anh, về làm DÂN cho sướng.

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?643 <![CDATA[HÃY THƯƠNG CHÚNG TÔI - Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 15 Mar 2013 13:48:29 +0000 http://trankytrung.com/read.php?643

 

HÃY THƯƠNG CHÚNG TÔI Phút nói thật

        Trước những câu hỏi lớn của thời đại, cả dân tộc muốn có một hướng đi đúng, là người viết văn, làm thơ, viết báo chân chính, lập trang blog - Theo tôi nghĩ -  là để muốn nói rõ chính kiến của mình, góp phần tìm ra đáp số đúng của điều đó. Cho dù chính kiến của họ, thông qua những bài viết, chắc gì những người lãnh đạo đã nghe. Tôi rất tin không có ai đứng đằng sau xúi giục những nhà văn, nhà thơ, nhà báo chân chính viết những bài đó. Trước bất công xã hội, trước những tệ nạn làm cho đạo đức con người chao đảo… những nhà văn, nhà thơ chân chính còn đắng đót lo cho vận mệnh dân tộc buộc phải lên tiếng bằng những bài viết đăng ở trang blog do họ lập, mong muốn xã hội chúng ta tốt lên, con người sống đúng với phẩm giá của mình, những nhà lãnh đạo được dân tin, dân mến, chế độ, nền chính trị ổn định.

          Cũng vì sự “tín chỉ” như vậy mà rất nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo đã chịu bao nhiêu thiệt thòi, thậm chí cuộc sống thường nhật của những nhà văn, nhà thơ, nhà báo đó có lúc bị đảo lộn, không bình an !!!

        Nên thế, lập trang blog, không biết có ai nghĩ giống tôi không? Lập trang blog không phải khoe khoang khả năng viết lách, lại càng không phải để “chống đối” hay “ kích động”… suy nghĩ, kể cả sức và lực, tôi không thể làm được điều đó. Lập trang blog chỉ vì một điều đơn giản là để được nói tiếng nói của mình. Dẫu tiếng nói đó, có khi đúng được người đọc đồng tình, cũng có khi người đọc không đồng tình. Đúng, mình sẽ phát huy, còn không đồng tình, có lời góp ý, mình sẽ tiếp thu, sửa chữa.

        Càng chân thành càng tốt.  

         Còn một điều nữa, lập trang blog, là cách mình công bố tác phẩm nhanh nhất, sướng nhất là không ai biên tập, tự chịu trách nhiệm với tác phẩm của mình, bạn đọc sẽ hiểu đúng mình hơn.

          Lập trang blog, nói thẳng ra là gặp muôn điều khốn khó, ngoài tiền nộp đều phí mạng, còn  phải chăm viết, lười không viết, không có bài mới, số lượng lượt người truy cập sẽ giảm liền. Vì vậy, một ngày không rờ tới bàn phím, không ngó vào màn hình là thấy khó chịu. Cũng vì thế, gần như trong đầu luôn luôn phải nghĩ những đề tài để viết, có lúc quên cả chuyện ăn uống, quên cả chuyện gia đình, con kêu, vợ nhăn cũng mặc kệ,  nhuận bút không có một chinh, thậm chí còn “lẹm” vào đồng lương hưu còm cõi, hao tổn không biết bao nhiêu sức lực. Nhưng… chỉ cần nhận được một dòng phản hồi của bạn đọc ( Cho dù dòng phản hồi đó có thể khen hoặc chê) góp ý với bài mình vừa viết thế là bao nhiêu mệt nhọc tan biến, lại muôn ngồi vào bàn phím, gõ bài khác. Những bài viết trên blog, đó là những suy nghĩ thật của mình vì không ai đặt mình, cũng không ai khoán cho mình phải viết. Nếu có người hiểu cho mình, không sao, còn không phải như thế, chịu lời thị phi, thậm chí mắng mỏ, chửi tục… cũng không nên tự ái.

         Dễ gì được bạn đọc, đọc một cách chăm chú, rồi còn cho nhận xét.

        Với người viết, thế là hạnh phúc.

        Nhưng nói đi cũng nói lại. Mỗi bài viết được công bố trên báo giấy hoặc các trang mạng  là một sự lao tâm khổ tứ đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vất vả đến cùng cực, chỉ mong bạn đọc tôn trọng. Nghĩa là đọc và góp ý chân thành, động viên, coi nhau như anh em trong nhà, đừng chửi bới, quy chụp, suy diễn. Hoặc giả có đăng lại bài của mình ở đâu đó, cũng chỉ mong ghi hộ tên tác giả, hay nguồn cung cấp bài cho rõ ràng. Mình đâu có đòi hỏi gì nhiều, làm như thế mới thể hiện là người có văn hóa, được mọi người nể trọng. Vừa rồi nhà thơ Văn Công Hùng cho biết, có một tay gọi là “ nhà báo”, y “ đánh thóp” bài của nhà thơ, xào xáo lại chút ít rồi đem in ở báo giấy mà không hỏi nhà thơ lấy một tiếng. Nhà thơ dọa đưa việc này lên công luận, nghe đâu, tay “ nhà báo” này đánh tiếng xin lỗi rồi hứa sửa lỗi bằng cách …sẽ cố gắng lên Gia Lai gặp nhà thơ, hứa sẽ đãi nhà thơ bằng một chầu cà phê.

            Nghe vừa ai oán, vừa buồn cười!

             Tôi vừa đọc một tản văn của nhà văn Nguyễn Quang Lập, nhà văn kể lại một câu chuyện vừa hài vừa bi về một ông bạn, đã ở một chức rất to, nhưng bất chấp cả đạo đức, bất chấp rằng mình không có tài,  lại đi đạo thơ, một bài thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh.  Bị nhà văn Nguyễn Quang Lập phê bình, tay bạn “ chức to”  đó vẫn không thâý ngượng, vẫn cười nói hỉ hả.

             Không khéo, tôi đồ rằng, sau này nếu có ai đó viết về lịch sử văn học Việt nam thời hiện tại này, phải có một mục riêng nói về lịch sử “ đạo văn”, “đạo thơ” một biểu hiện sống động của việc luật pháp bị buông lỏng, một mảng tối sậm,  trong nhiều mảng tối sậm của xã hội…

            Đến giờ hình như chuyện ăn cắp thơ, ăn cắp văn chỗ nào cũng có, đến đâu cũng gặp…

             Nhà thơ, nhà văn, nhà báo chân chính không biết kêu ai.

            Còn đây là chuyện của tôi. Truyện ngắn “ Một câu chuyện buồn”, tôi viết đã lâu ( các bạn sẽ xem lại phần sau). Truyện ngắn này đăng ở tập truyện ngắn “ Cô bé và cành mai” - NXB Văn Học -1997. Ngoài ra truyện ngắn đó còn được in trong một số tuyển tập truyện ngắn, nhiều trang mạng cũng in truyện ngắn này, đề tên thật của tôi. Rõ ràng là thế, thế mà vừa rồi một tuần san của một tờ báo giấy in truyện ngắn này, sửa bèn tiêu đề thành “ Chuyện chú bé bán báo”  mà không hỏi ý kiến tác giả, không đề tên tác giả, đã thế lại còn “ chua” thêm một câu như thật “ Thanh Tâm sưu tầm”. Thật chẳng ra làm sao.

         Thời buổi “đói kém” văn hóa nên cũng chẳng cần đến nhân cách.

          Tôi phải gọi điện đến hai, ba lần mới gặp được vị đại diện tổng biên tập tờ báo này để hỏi cho ra nhẽ. Lại xin lỗi, lại thanh minh, thanh nga. Tôi yêu cầu phải có thư xin lỗi đàng hoàng, họ đáp ứng nên trong bài viết này tôi không nhắc đến tên của tờ báo đó nữa. Cũng mong BBT tờ báo đó đừng lặp lại sai lầm này để bị mất uy tín với bạn đọc. Nhưng trong báo mạng sachvang.com có đăng truyện ngắn này của tôi cũng lấy tên “ Chuyện chú bé bán báo” mà không đề tên tác giả, làm cho tôi ngạc nhiên thực sự.

         Chẳng lẽ một trang  báo mạng có uy tín, đông bạn đọc mà lại làm một việc thiếu nghiêm túc đến thế !!!

          Là một trong những người lấy viết văn là nơi trụ ngụ của tinh thần, là nơi để bạn bè đến thăm. Chức quyền không có, tiền bạc vừa đủ sống, một gia đình nhỏ, yên ấm để có chỗ dựa lúc về già, chỉ mong nếu ai đó đọc trang blog của tôi, hiểu cho tôi điều đó và nếu như có đăng bài của tôi ở đâu, chỉ xin đề rõ tên tác giả.

         Bạn đọc hãy thương những người viết văn, làm thơ, làm báo có trang blog chân chính.

        -------------------

    

       Mời các bạn đọc lại truyện ngắn “ MỘT CÂU CHUYỆN BUỒN”

          

       Nghề của Tèo là bán báo dạo, nó thích nhất là bán báo "Công An " vì tờ báo đó toàn đăng bài ghi chép những vụ án, nhiều người thích mua. Tèo không biết chữ, bù lại nó có khuôn mặt thông minh và cái mồm rao báo dẻo quẹo. Chỉ cần lão đại lý phát hành báo đọc hộ mấy cái đầu đề bài báo là Tèo hiểu ý cần phải rao như thế nào để cho người ta chú ý mua nhiều. Hôm nay là ngày phát hành báo " Công An " cần đến sớm. Hôm nay Tèo dậy sớm đến chỗ đại lý nhận báo còn có một nguyên nhân nữa.Tèo đã tích gần đủ tiền mua cho Ba nó một cái quần dài.Có lần Ba của Tèo nói với nó :"Từ ngày ở bộ đội  trở về,  chưa bao giờ Ba được mặc một chiếc quần mới.". Nghe Ba nói vậy, Tèo thương Ba lắm. Má bị bạo bệnh, không có tiền chữa, mất sớm. Ba cứ ở vậy một mình nuôi hai anh em Tèo. Ba đã làm bao nhiêu nghề, hết đạp xe thồ đến bốc vác thuê, cuộc sống vẫn khổ. Nhất là từ hồi thằng Tý bị phát hiện có bệnh tim bẩm sinh, bệnh nó ngày một nặng mà không có tiền cứu chữa, cuộc sống của cả nhà càng cùng cực. Nghe có người hàng xóm nói :" Chỉ có nghề đãi vàng là đỡ, nếu không may trúng thì sẽ đổi đời." . Ba  của Tèo nghe theo với hy vọng đãi được vàng, có tiền chữa bệnh cho thằng Tý. Ba đã đi hơn một tháng, hẹn cuối tháng này sẽ về. Hôm Ba chuẩn bị đi đãi vàng, thằng Tý đang nằm trên giường thở khò khè, cố gượng dậy nắm lấy tay Ba, nói ngắt quãng : " Ba đi giữ sức khoẻ... nghe Ba. Ba về với ...con". Ba gật đầu, xoa đầu nó : " Ba sẽ về với các con. Con ở nhà phải nghe lời anh Tèo. Con ngoan, Ba sẽ mua thịt gà về cho mà ăn. Nhất định lần này Ba sẽ mua, chứ không thất hứa như mấy lần trước. ".Thằng Tý nghe Ba nói vậy nét mặt của nó đang có vẻ mệt cũng cố nở một nụ cười.Trước khi đi đãi vàng, Ba dặn hai anh em :" Ở nhà các con phải ngoan, Tèo nhớ chăm sóc em chu đáo, đừng có làm điều gì xấu để người ta chửi.". Tèo nhìn Ba, gật đầu.
Đồ đạc Ba mang theo chẳng có gì, ngoài chiếc ba lô cũ, lép kẹp, nhàu nhĩ. Chiếc ba lô đó Ba có từ hồi trong quân ngũ. Ba mặc trên người một bộ quần áo bộ đội bạc màu, chiếc quần có hai miếng vải tím vá đằng sau...
...Sau khi để lại chiếc bánh mỳ cho em, Tèo chạy đến đại lý nhận báo để bán.
Đại lý phát hành báo nằm ở góc ngã tư lớn của thành phố. Lão đại lý phát hành báo béo trục, béo tròn đang ôm một chồng báo "Công An " phân phát cho từng đứa bán báo dạo. Trong những đứa bán báo dạo, lão thích nhất thằng Tèo. Nó là thằng nhanh nhẹn, bán báo nhanh hết, chẳng bao giờ ăn gian của lão một xu.Với những tờ báo bán chạy, bao giờ lão cũng dành cho Tèo phần nhiều hơn so với mấy thằng bán báo dạo khác. Vừa thấy bóng Tèo chạy đến, lão đã vẫy tay:
- Ê, Tèo ! Phần báo " Công An " của mày đây, cầm lấy! Ưu tiên cho mày đấy nghe!
Nhận phần báo của lão đại lý đưa, thằng Tèo nói sung sướng:
- Dạ ! Con cảm ơn bác. Hôm nay báo "Công An " có tin gì thật hay bác chỉ cho con để con rao bán.
Lão đại lý phát hành báo giở từng trang báo" Công An " còn thơm mùi mực in chỉ cho Tèo thấy:" Đây là tin quỹ huy động vốn bất động sản bị vỡ...rồi có tin ...". Lão lật sang trang khác, lấy tay chỉ một cột báo: " Có một lão già gần bảy mươi tuổi còn đi lấy một con bé mười lăm tuổi, bị con bé này giật tiền...".Lão lại chỉ vào một tin đăng ở góc trang báo, cười hề hề: " Tin này mới giật gân, nhà nước không cần xử, ở một làng có chín người đã đánh chết một thằng ăn cắp. Thằng ăn cắp không biết tên, kẻ gây chết người chưa bắt được... mày cứ rao những tin này thật to lên, báo bán chạy phải biết.". Thằng Tèo cũng chỉ cần nghe thế thôi, nó đang sốt ruột, nhìn mặt trời lên cao, dòng người, xe cộ đi lại trên đường. Nó không nhanh chân, đến bến xe, quán cà phê... mấy thằng báo báo dạo kia chiếm mất chỗ thì chiều nay không đủ tiền mua cho ba chiếc quần dài, mà Ba sắp về .
Chẳng cần lão đại lý đọc thêm tin nào nữa, nội dung mấy bài báo như thế là đủ để rao rồi! Tèo đếm vội, đếm vàng số lượng báo "Công An " được nhận rồi ôm cả chồng báo, nó chạy biến.
Khu vực đầu tiên Tèo đến là nhà đợi của bến xe liên tỉnh. Teo ôm chồng báo" Công An" len lỏi vào giữa hai hàng ghế khách đang ngồi, miệng nó liếng thoắng" Mời bà con xem tin các vụ án mới  đây! Một ông già gần bảy mươi tuổi lấy một cô bé mười lăm tuổi, bị cô bé này giật tiền đây! Báo còn đăng một vụ án mới nhất đây! Chín người trong một làng đã đánh chết đích đáng một thằng ăn cắp đây!". Nghe tiếng rao của Tèo, nhiều người khách đang ngồi đợi mua vé, bỏ tiền ra mua báo cho nó.
Cứ tiếng rao đó, chỗ nào đông người là Tèo lao vào, chồng báo cứ thế vơi nhanh. Điều ấy làm cho Tèo khoái chí, càng hăng bán báo. Nó nhảy lên chiếc xe ô tô sắp xuất bến, cầm tờ báo "Công An " trong tay huơ huơ, giơ lên cao, rao to:
- Mời bà con, hành khách mua báo " Công An " mới phát hành sáng nay đây! Báo đăng một tin rất hay, chín người trong làng cảnh giác đập chết một thằng ăn cắp! Thằng ăn cắp chết ngay... Bà con mua báo đi để nâng cao cảnh giác...đề phòng mấy thằng ăn cắp...
Nhiều người khách trên xe, thấy khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi của thằng bé mà thương hại mua báo cho nó.
Ra khỏi chiếc xe khách, nét mặt thằng Tèo hoan hỉ, nhất định ngày hôm nay sẽ mua đựơc cho Ba chiếc quần dài. Nghĩ như vậy, nó như quên mệt nhọc, tung tẩy đôi chân chạy dọc mấy con phố lớn, tiếp tục rao báo.
Đến  gần trưa Tèo bán gần hết số báo " Công An " đã có. Vào một chỗ vắng, nó lấy ra một cái túi nhỏ được khâu cẩn thận phía trong nẹp quần để kiểm tra lại số tiền tiết kiệm.Trong túi đựng những đồng tiền được Tèo gấp phẳng phiu, nó đếm kỹ từng đồng một :" Hai nghìn... năm nghìn....mười lăm nghìn...hai lăm nghìn... Ba chục nghìn...bốn chục nghìn...". Đây nữa, Tèo lấy tờ năm nghìn . tiền hoa hồng bán báo ngày hôm nay gộp vào, được bốn mươi lăm nghìn đồng. Bốn mươi lăm ngàn đồng, đủ tiền mua cho Ba của Tèo chiếc quần dài. Một tay Tèo cầm mấy tờ báo" Công An " chưa bán hết, ôm nó vào ngực. Còn tay kia Tèo nắm khư khư mớ tiền đẫm mồ hôi, nó đi vào chợ, đến quầy bán quần áo may sẵn.
Tèo đã để ý và hỏi giá chiếc quần dài của người lớn ở quầy này từ mấy hôm trước. Nó đến trước bà bán hàng đang ngồi lim dim mắt, nói với giọng hơi run run:
- Thưa dì ! Di bán cho con chiếc quần kia !
Nghe tiếng của Tèo, bà bán hàng giật mình, choàng tỉnh :
- Con mua chiếc quần nào ?
- Dạ ! Cái kia - Tèo đặt mấy tờ báo " Công An " xuống quầy vải, lấy tay chỉ.
Bà ta nhìn Tèo với ánh mắt nghi ngại:
- Sao con lại mua quần người lớn? Mà con... có tiền không ?
Tèo phải vội giải thích:
- Con mua quần cho Ba của con. Còn tiền đây !- Tèo giơ nắm tiền đang cầm, nói có vẻ tự hào - Tiền con bán báo đấy!
Bà bán quần áo gật đầu, nhìn Tèo với ánh mắt thương cảm, hiểu ra vấn đề :
- Dì hiểu rồi, con tiết kiệm tiền để mua quần cho Ba .Nhưng những chiếc quần  loại đó là hơi đắt đấy con ạ! Năm mươi lăm ngàn đồng, một chiếc.
Nghe bà bán quần áo nói vậy, nét mặt thằng Tèo thẫn thờ, ánh mắt dại đi. Nó nói lắp bắp:
- Sao hôm kia con hỏi dì chiếc quần này... dì nói chỉ có bốn mươi lăm ngàn đồng, một chiếc. Con để sẵn bốn mươi lăm ngàn đồng đây.
Bà bán quần áo lắc đầu, nói ngán ngẩm:
- Dì có thích lên giá đâu, nhưng con xem, bây giờ cái gì cũng tăng giá cả. Họ bỏ sỉ cho dì giá cao lắm, dì bán giá cũ là lỗ vốn ...
Thằng Teò buồn bã, nó lấy mấy tờ báo định quay ra, bỏ ý định mua chiếc quần dài cho Ba, chờ mấy hôm nữa vậy. Nhìn ánh mắt nhất là dáng đi thất thểu, chán nản của thằng bé làm cho bà bán quần áo động lòng. Bà gọi giật lại:
- Thôi, con lại đây dì bán cho, nhưng với điều kiện...- Bà ta nhìn Tèo cười -  Con cho dì một tờ báo " Công An ".
Thằng Tèo nghe vậy, nét mặt tươi tỉnh lại,  đồng ý liền. Nó rút vội một tờ báo "Công An " và đưa tờ báo ấy cùng nắm tiền tiết kiệm cho bà bán quần áo. Bà bán quần áo nhận báo và tiền của Tèo, nói có vẻ ưng ý:
- Để dì rút thêm mấy chiếc quần cùng loại nữa cho con chọn, để ba về còn khen con...
Đối với Tèo, ngày hôm nay là ngày vui nhất, Ba nó vể sẽ có một chiếc quần mới để mặc. Chiếc quần ấy là công sức của nó bỏ ra suốt cả tháng nay. Cầm chiếc quần trên tay, chắc Ba của nó sẽ rất vui. Tèo cố gắng chọn chiếc quần thật bền để Ba mặc đi làm, lâu rách. Chọn hàng, Tèo vẫn nghe giọng đọc báo đều đều của bà bán quần áo. Bà ta đọc một tin cho bà ngồi bên cạnh cùng nghe:
- ...Như thế là tội ác!Tại thôn Mỹ Thanh, xã Thanh Minh, Huyện Phước Hiệp, một vùng núi phía bắc của tỉnh Nam An xảy ra một vụ án đánh chết người rất thương tâm. Nhân đêm tối, một người đàn ông vào thôn Mỹ Thanh để ăn cắp gà. Đây là một thôn có rất đông dân di cư tự do đến, trình độ văn hoá thấp. Bắt được người ăn cắp gà, đúng lý đây chỉ là việc nhỏ, xử lý hành chính thì ngược lại những người trong thôn Mỹ Thanh lại tự giải quyết việc này bằng một hành động dã man, đáng lên án. Họ đánh kẻ ăn trộm gà bằng gậy gộc, đập nát mặt người này đến độ không còn nhận ra hình dạng ban đầu. Chín kẻ cầm đầu vụ này hiện đang bỏ trốn trong rừng, bị bộ đội biên phòng truy nã.
Theo mấy người chứng kiến việc này thuật lại, trước khi tắt thở, kẻ ăn trộm con gà chỉ nói được mấy câu :"...Tôi đi đãi vàng...không có ...con tôi thèm thịt gà...tôi hứa...tôi lấy...mong các ông ,bà tha cho ...tôi chết...nhắn thằng ..." . Việc làm của những người ở thôn Mỹ Thanh thực sự là một tội ác, cần nghiêm trị. Ghi chú : Do nạn nhân bị đánh nát mặt, chúng tôi không chụp được ảnh. Nạn nhân mặc một chiếc quần bộ đội đã bạc mầu có vá hai miếng vải tím đằng sau.Trên cánh tay phải có xăm chữ LIÊN và hàng chữ " ngày 27 tháng 8 ". Vậy ai là thân nhân của người bị nạn đến phòng công an huyện Phước Hiệp để làm việc.".
Nghe đến chữ cuối cùng của bản tin bà bán quần áo đọc , mắt thằng Tèo hoa đi, chân của nó đứng không vững nữa. Đúng là Ba của nó rồi! Ba của Tèo trước khi đi đãi vàng đã mặc một chiếc quần như thế. " LIÊN " là tên của mẹ, ngày " 27 tháng 8 " là ngày mất của mẹ, Ba xăm vào cánh tay phải để nhớ. Trời ơi ! Suốt từ sáng đến giờ nó cứ rao cái chết của Ba, mà không hề hay biết! Ba chết rồi, Tý ơi ... Ba chết rồi ...
Thằng Tèo bỏ chiếc quần định mua, chẳng cần lấy lại tiền, cứ thế nó cắm đầu, cắm cổ chạy.Vừa chạy, nó vừa khóc nức nở ...
Thấy thằng bé tự nhiên bỏ lại chiếc quần định mua, bỏ cả tiền, chạy như bị ma đuổi, bà bán quần áo ngạc nhiên gọi với theo:
- Này ! Sao con không mang chiếc quần về cho Ba ? Chạy đi đâu thế !
Tèo như không nghe thấy gì, nó vẫn chạy.
Bóng Tèo mất hút trong lớp bụi đường mù mịt...

          

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?620 <![CDATA[GIẢI THƯỞNG HNV NĂM 2012 -Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 17 Jan 2013 01:48:33 +0000 http://trankytrung.com/read.php?620  

Tôi được một nhà văn trong Hội đồng văn xuôi của HNV cho biết, khi bỏ phiếu để đề nghị Ban chung khảo HNV trao giải thưởng chính thức năm 2012, quyển tiểu thuyết " Thế kỷ bị mất" của Nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam với đa số phiếu  của hội đồng văn xuôi đề nghị trao giải thưởng, còn tập truyện ngắn " Thành phố đi vắng" của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ được số phiếu thấp hơn. Không biết do nguyên nhân nào, quyển tiểu thuyết " Thế kỷ bị mất", như nhà thơ Văn Công Hùng cho biết, chỉ trao "bằng khen...". Và giải văn xuôi về tiểu thuyết của HNV, năm 2012, không có giải thưởng chính thức!!!

Nghĩ về nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam, tôi thực sự khâm phục sức viết và sức sáng tạo của anh. Với cuốn tiểu thuyết "  Thế kỷ bị mất" anh "phục dựng" lại phong trào Duy Tân, những tính cách bất chấp, tầm tư tưởng vượt thời đại của các lãnh tụ lớn, lãnh đạo phong trào này. Một giai đoạn cam co lịch sử mà dân tộc phải tự vận hành tìm hướng đi, được Phạm Ngọc Cảnh Nam viết với bút pháp sinh động.

Tính thời sự của cuốn tiểu thuyết rất lớn.

Tôi nghĩ, đây là ý kiến cá nhân, quyển tiểu thuyết này trao giải thưởng chính thức của HNV là xứng đáng.

Nhưng rất tiếc...!

Tôi cũng nói thêm, tên cuốn tiểu thuyết là " Thế kỷ bị mất" theo thông báo của HNV qua blog một Ủy viên ban chung khảo lại biến thành là " Một thế kỷ bị mất " khiến cho nhà văn Phạm Ngọc Cảng Nam cũng ngỡ ngàng. Tôi giải thích cho nhà văn biết: Ban chung khảo của HVN không phải ai cũng am hiểu văn xuôi như các anh, chị trong hội đồng văn xuôi, nên lẽ nhầm tên sách là thường!!!

         Tôi cũng đề nghị nhà văn Nguyễn Khắc Trường, chủ tịch hội đồng văn xuôi, nên có trong ban chung khảo của HNV . Nhà văn Nguyễn Khắc Trường đã nói: " Không phải dễ có cuốn tiểu thuyết hay như cuốn " Thế kỷ bị mất", nhất là trong bối cảnh hiện nay.

            Nhiều người cũng ủng hộ quan điểm này.

--------------------------------------

 

 

KẾT QUẢ GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN VN NĂM 2012

 
4h chiều nay, 16/1/2013, danh sách kiểm phiếu cuối cùng đã được ban kiểm phiếu công bố.

Là ban chung khảo bàn bạc (ai cũng phải phát biểu) và bỏ phiếu kín từng chuyên ngành một, bắt đầu là văn xuôi, xong văn xuôi đến lý luận phê bình, rồi đến dịch và cuối cùng là thơ. Xong anh này mới bàn và bỏ phiếu đến anh khác, cứ lần lượt như thế, đến 4h chiều là Thơ...


Cụ thể như sau:

Văn xuôi:

Giải thưởng: Thành phố đi vắng của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ.

Bằng khen: Trò chơi hủy diệt cảm xúc của nhà văn Y Ban, Một thế kỷ bị mất của nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam.

Lý luận phê bình:

Giải thưởng: Đa cực và điểm đến của nhà văn Văn Chinh.

Dịch: Không có.

Thơ:

Giải thưởng:
Trường ca chân đất của nhà thơ Thanh Thảo, Màu tự do của đất của nhà thơ Trần Quang Quý và Giờ thứ 25 của nhà thơ Phạm Đương.

Bằng khen: Hoa hoàng đàn nở muộn của nhà thơ Khuất Bình Nguyên và Chất vấn thói quen của nhà thơ Phan Hoàng.

VCH blog xin chúc mừng các nhà văn nhà thơ đạt giải thưởng văn học năm 2012 của hội Nhà Văn Việt Nam. Được biết lễ trao giải và kết nạp Hội viên sẽ được tiến hành trong thể vào ngày 18 tháng 12 âm lịch tức 29/1/2013 tại hội trường bảo tàng Hội Nhà Văn Việt Nam.
 

---------------------------------------------

nguon: vanconghung

]]>
http://trankytrung.com/read.php?619 <![CDATA[TRÂU MURA, ANH HÙNG HỒ GIÁO VÀ ÔNG BẠN NHẬT BẢN - Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 11 Jan 2013 14:15:30 +0000 http://trankytrung.com/read.php?619

Anh hùng Hồ Giáo và đàn trâu Mura ở Nghĩa Hành ( Quảng Ngãi)

 

TRÂU MURA, ANH HÙNG HỒ GIÁO VÀ ÔNG BẠN NHẬT BẢN – Phút nói thật
 
 
 
              Chân dung anh hùng Hồ Giáo - Ảnh Phạm Đương
 
            Ông bạn Nhật Bản có tên như tên một hãng xe máy nổi tiếng của đất mặt trời mọc: Suzuki, qua một người bạn thân, hỏi tôi: “ Ông có biết ông Hồ Giáo không ?”. Tôi hỏi lại : “ Hồ Giáo nào ?”. “ Ông Hồ Giáo nuôi trâu Mura, ông không biết sao?”. “ Làm sao ông biết ông Hồ Giáo nuôi trâu Mura?”. “ Bên Nhật Bản, báo chí giới thiệu về ông Hồ Giáo nuôi thành công trâu Mura của Ấn Độ, mà việc này ở Nhật rất khó. Tôi muốn gặp ông ấy…”.
Thế là tên tuổi của anh hùng Hồ Giáo, không phải một lần anh hùng, mà hai lần anh hùng vượt qua biên giới Việt Nam đến với bạn bè thế giới.
Nhưng ông bạn Nhật Bản tìm hiểu cách nuôi trâu Mura ngoài biên giới Ấn Độ để làm gì? Tôi muốn biết.
Té ra con trâu Mura nếu bán ở Nhật Bản thì giá rất đắt, vì rất khó nuôi, có thể vượt cả giá một chiếc xe ô tô sang trọng vì nhiều nhẽ:
Chất lượng của thịt trâu Mura khỏi nói, đang vượt lên trên nhiều loại thịt khác, đặc biệt dùng rất tốt cho người bị bệnh cao huyết áp, kiêng chất béo…
Riêng sữa của trâu Mura là đứng đầu trong các loại sữa động vật, mà có người còn ví bổ gần bằng sữa mẹ.
Còn trọng lượng của trâu Mura, có lẽ chỉ đứng sau voi, nuôi được một con trâu Mura, lợi hơn nuôi ba, bốn con bò, thức ăn không phải khó, y như nuôi trâu nhà…
Nhưng có một điều còn ghê gớm hơn, có lẽ ít người trong nước ta biết, là nếu tách được sữa của trâu Mura, để tạo nên bơ, thì đây là loại bơ đặc biệt, giá trị dinh dưỡng cực kỳ cao. Ở Nhật Bản giá bán một kg của loại bơ này đắt không thể tưởng tượng nổi. “ Khi bơ được tách ra khỏi sữa trâu Mura để làm bánh thì… chỉ có đại gia mới được nếm.” Ông bạn người Nhật Bản nói đùa, nghe có ghê không ?
Nên, nuôi được trâu Mura trong điều kiện bình thường như ở Việt Nam là một việc “ phi thường”, ông bạn Nhật Bản muốn gặp anh hùng Hồ Giáo cũng vì một lẽ như vậy.
Tôi biết tên anh hùng Hồ Giáo từ hồi còn đi học phổ thông, trước năm 1970. Hồi đó, ngày nào đài chẳng hay vang giọng ca của cố nghệ sỹ nhân dân Quốc Hương hát bài hát “ Bài ca anh Hồ Giáo”, sáng tác của Nhạc sỹ Nhật Lai. Rồi một lần ở Đan Phượng ( Hà tây cũ), chúng tôi, những học sinh phổ thông đi cùng một số thầy cô lên thăm anh hùng Hồ Giáo ở nông trường Ba Vì, khi ông vừa được phong anh hùng lần đầu (1967).
Chuyện đó cũng lâu rồi, hơn bốn mươi năm, nhưng trong tôi vẫn in đậm hình ảnh của ông. Nhẹ nhàng, giản dị, ít nói, nhìn anh hùng Hồ Giáo, rõ hình ảnh của một người sống chân thật, không đua chen, sống chết với nghề.
Khi ông bạn Nhật Bản đặt vấn đề muốn gặp anh hùng Hồ Giáo, tôi thấy đây là ý kiến hay, liền nhờ nhà thơ Phạm Đương giúp. Vì tôi biết nhà thơ Phạm Đương, cũng như nhà thơ Thanh Thảo gần như là người nhà của ông ở Quảng Ngãi. Nhà thơ Phạm Đương sốt sắng nhận lời và dẫn tôi, người phiên dịch cùng ông bạn người Nhật Bản đến thăm anh hùng Hồ Giáo.
Ông bạn Nhật Bản ngạc nhiên khi thấy ngôi nhà hai tầng của anh hùng Hồ Giáo, ẩn trong một kiệt nhỏ của thành phố Quảng Ngãi, chưa hoàn thiện xong cầu thang, chủ nhân ngôi nhà còn nợ tiền chưa trả được, ông bạn Nhật Bản nêu sự thắc mắc: “ Bên tôi mà có một ông như ông Hồ Giáo dễ được Nhật Hoàng nuôi. Sao bên các ông lại để ông ấy sống như thế này? ”. Ông bạn Nhật Bản này đến lạ, ông phải nhớ đây là Việt Nam, chứ không phải là Nhật Bản mà mang ra so sánh!!! Tôi không muốn giải thích. Ông bạn Nhật Bản muốn tìm hiểu về kỹ thuật nuôi trâu Mura trong điều kiện tự nhiên, mà bên Nhật, hiện là một vấn đề chưa thể thực hiện được. Giải thích tất dài dòng, mà ông Hồ Giáo lại là người kiệm lời, tốt nhất là cứ ra trại xem ông Hồ Giáo nuôi thế nào ? Ông Hồ Giáo, tuổi cao sức khoẻ kém không đi được, nhà thơ Phạm Đương cho biết, có người cháu của ông, tốt nghiệp trung cấp nông nghiệp đang làm thay ông, công việc này. Thế là chúng tôi đi, tất nhiên vẫn con đường dài tám kilômét mà hàng ngày ông Hồ Giáo đi bộ đến trại nuôi trâu Mura, khác chăng, chúng tôi đi ô tô. Trên đường đi, tôi thấy nét mặt của ông bạn Nhật Bản lộ vẻ hồi hộp, vì như ông nói với tôi và nhà thơ Phạm Đương, đây là lần đầu tiên ông được nhìn tận mắt con trâu Mura, chứ ở bên Nhật Bản, nếu có nuôi trâu Mura thì nuôi trong một môi trường đặc biệt, rất ít người có thể trực tiếp thấy. Còn ở Việt Nam, đựoc xem trực tiếp trâu Mura thế này, đối với ông bạn Nhật Bản, quả là một diễm phúc rồi ông bạn Nhật Bản háo hức chuẩn bị máy ảnh, camêra… Với tôi, tôi cũng ở gần tâm trạng của ông bạn Nhật Bản kia vì đây cũng là lần đầu tiên được trực tiếp nhìn thấy con trâu nổi tiếng của Ấn Độ, trứơc đây chỉ toàn xem trên ảnh. Tôi hỏi nhà thơ Phạm Đương : “ Chắc trang trại của ông Hồ Giáo to lắm nhỉ ?”. Nhà thơ Phạm Đương trả lời thủng thẳng: “ Thì ông cứ đến tận nơi thì biết!”. “ Trang trại còn nhiều trâu Mura không, ông?”. Tôi lại hỏi nhà thơ Phạm Đương. Nhà thơ Phạm Đương, hình như không muốn trả lời câu hỏi của tôi hay sao ấy, lại thở dài buông một câu mà tôi muốn hiểu sao thì hiểu: “ Thì tý nữa ông cứ đến đấy mà đếm!”.
Ô tô dừng ngoài đường cái, mấy chúng tôi phải đi bộ vào, thấy một ngôi nhà lợp ngói, ngói cũng thủng lỗ chỗ, bên ngoài cái mấy đụn rơm ẩm mốc, một mùi đặc trưng của phân, nước tiểu trâu bài tiết xộc vào mũi. Mấy con dê gầy trụi lông, đít dính đầy phân lỏng, vội kêu “be…be…”, bám theo chúng chúng tôi, đòi ăn. Điều đó đối với chúng tôi không quan trọng, quan trọng là xem trang trại nuôi trâu Mura của anh hùng Hồ Giáo kia. Trang trại ấy ở đâu? Chúng tôi nhìn quanh tìm kiếm rồi hỏi nhà thơ Phạm Đương. Nhà thơ Phạm Đương chỉ ngôi nhà ngói thủng lỗ chỗ đó và nói: “Đó “ Trang trại” nuôi trâu Mura của ông Hồ Giáo đấy !”. Ôi, nếu gọi cho đúng, thì đây là một cái chuồng trâu, chứ trang trại gì!
Nhà thơ cứ đùa.
Bên trong của ngôi nhà, chia thành hai ngăn, mỗi ngăn, lại chia ra nhiều lô, ngăn cách bằng mấy gióng gỗ. Mỗi lô nhốt một con trâu Mura. Con trâu Mura đây rồi, to thật, tôi chưa bao giờ thấy một con trâu to như thế. Cặp sừng cong vút, ngạo nghễ. Da đen, láng, dầy…Duy có đôi mắt của con trâu Mura này lạ, nhìn chúng tôi ngơ ngác, cầu khẩn cứ thấy tội tội thế nào ấy. Cả chuồng có tám con trâu Mura: “ Sao lại còn ít thế này? Hay còn ở đâu nữa.”. như đoán được suy nghĩ của tôi, nhà thơ Phạm Đương giải thích: “ Chỉ còn ngần ấy thôi, làm gì có nhiều trâu mà ông hỏi trang trại. Duy trì được thế này cũng là giỏi, không phải bác Hồ Giáo, người khác thì “toi” từ lâu rồi.”.
Anh hùng Hồ Giáo hình như ông sinh ra để làm nghề này, nghề chăm sóc trâu, bò. Cho làm giám đốc, ông không nhận, như một lần ông nói, trình độ tôi thế, chỉ biết chăm sóc trâu, bò. Trâu, bò là “ máu thịt” của ông, không thể dứt ra được. Tôi biết ngay từ hồi ông còn ở nông trường Ba Vì, cả ngày, thậm chí trong giấc ngủ, ông vẫn nghĩ về những con vật thân thương này. Ngày nhận mấy con trâu Mura do các bạn Ấn Độ tặng, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nghĩ ngay đến ông Hồ Giáo, và giao ngay cho ông chăm sóc, nuôi bẵm, nhân đàn để trong một tương lai gần, sữa, thịt trâu Mura sẽ dần dần thay thế sữa bò, thể trọng người Việt Nam sẽ tăng lên, trí tuệ cũng tăng lên, tầm vóc kinh tế cũng tăng lên…
Biết đâu trong những nhân tố tích cực làm nên điều đó, có trâu Mura của anh hùng Hồ Giáo góp phần.
Than ôi! Từ mơ ước rất đẹp đó đến thực hiện, bao nhiêu dự án lớn còn gấp mấy ngàn lần con trâu Mura kia, trên đất Việt Nam ta, đâu có thực hiện được, huống hồ tính chuyện nhân đàn trâu Mura bắt đầu từ sáu con trâu Mura do các bạn Ấn Độ tặng.
Anh hùng Hồ Giáo, nói thế này không sai. dâng hết cả sức khoẻ, tâm trí, nghị lực của quãng đời còn lại, quyết tâm thực hiện lời căn dặn của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng. Nhưng lực bất tòng tâm, ông đành buông tay đau đớn chấp nhận thất bại.
Gần như nuôi trâu Mura không có trong những chương trình nghị sự lớn của nhà nước, thấp hơn là cấp tỉnh. Tôi đồ rằng, hiện nay hỏi trâu Mura là gì? Sẽ có nhiều vị lãnh đạo cấp cao ngơ ngác còn hơn “ con gì... đội nón”. Thậm chí, tôi lại nghĩ, nếu không phải là quà của các bạn Ấn Độ tặng, do trực tiếp cố thủ tướng Phạm Văn Đồng mang về, thì có khi, trâu Mura chỉ còn hiện diện trong viện bảo tàng dưới hình thức “ thú nhồi bông”. Cũng may, dù còn chút hơi tàn nhưng với tấm lòng thơm thảo của anh hùng Hồ Giáo quyết giữ tám con trâu Mura này. Vì ông muốn giữ lời hứa với cố thủ tướng Phạm Văn Đồng, người mà ông coi như một người bác, người cha ruột thịt. Điều nữa, ông muốn chứng minh, nếu như có một chính sách tốt, một sự quan tâm chiến lược cấp nhà nước, một đội ngũ cán bộ lãnh đạo biết lắng nghe, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì những con trâu Mura này vẫn có thể phát triển thành đàn, nhân rộng ra cả nước. Điều đó, với hiện tại không thể trở thành hiện thực…chỉ một ví dụ nhỏ, ông Hồ Giáo rất muốn những con nghé Mura được đẻ ra, cho sống chung với nghé trong nước, để các hộ dân nuôi. Khi lớn lên, cho dù trọng lượng của hai loại trâu này khác nhau ( trọng lượng trâu Mura đạt tuổi trưởng thành nặng gấp ba, bốn lần trâu trong nước), quen cách sinh hoạt từ nhỏ, nên chúng dễ dàng giao phối với nhau. Còn không phải như thế, dẫn con trâu đực Mura trưởng thành to bằng bốn lần “ bố con bò mộng” giao phối với con trâu cái giống ta, khác nào lấy một quả núi “ đè” hòn gạch, không thể thành công!
Việc đơn giản, anh hùng Hồ Giáo đề xuất, nhưng không có cấp lãnh đạo nào quan tâm, ủng hộ thực hiện.
Chuyện thật ở nước ta kể, mà nghe như chuyện đùa!
Thôi, anh hùng Hồ Giáo “vác” cái danh anh hùng lần thứ hai ( ít người có, mà đây là danh thực, chứ không phải mua bằng tiền) cùng mấy con trâu Mura về lại Quảng Ngãi, nơi sinh thành để cố gắng một lần nữa… nhân giống.
Nhân giống thế nào được, ở Quảng Ngãi còn bao nhiêu dự án lớn như nhà máy lọc dầu Dung Quất, dự án thuỷ điện, đào tạo tay nghề cao…đang khát tiền, dẫu nhân giống trâu Mura chỉ cần một khoảng tiền bằng “ cái móng tay” so với tiền đổ vào mấy dự án kia, cũng không thể có. Quan trọng hơn, nhân giống trâu Mura, chỉ có dân hưởng lợi, còn các vị quan lớn hưởng gì trong chuyện này??? Khó giải thích lắm. Nên…
Nể anh hùng Hồ Giáo, thương anh hùng Hồ Giáo, cũng phải nói, nhờ có tiếng nói một số văn nghệ sỹ ở Quảng Ngãi, cho con gái anh hùng Hồ Giáo dạy học gần nhà, một sự cố gắng lắm rồi, quan tâm lắm rồi, còn tám con trâu Mura, cứ để anh hùng Hồ Giáo nuôi. Sau này khi anh hùng Hồ Giáo đến “ cùng một địa điểm để trực tiếp thăm cố thủ tướng Phạm Văn Đồng” sẽ tính tiếp.
Ông bạn Nhật Bản nghe thủng câu chuyện, vội nói, bằng giá nào cũng phải giữ mấy con trâu Mura này, rồi ông ấy quay sang tôi, khuyên: “ Hay là ông mua mấy con trâu Mura này, mang ra Đà Nẵng mà nuôi, thuê luôn ông Hồ Giáo ra đó để hướng dẫn cách chăm sóc nhân đàn. Chỉ cần sau vài năm có đàn trâu Mura đông độ vài trăm con. Kế đó ông đề nghị chính quyền xây dựng một nhà máy chế biến sữa trâu Mura. Tiền xây dựng nhà máy này không cao đâu. Sản phẩm sữa hoặc bơ của trâu Mura, một phần tiêu thụ trong nước, một phần xuất khẩu. Ở Nhật Bản chúng tôi hiện nay thị trường đang khát sản phẩm này…”. Ông bạn Nhật Bản còn vẽ ra viễn tưởng huy hoàng: “ Làm tốt việc này, các ông tạo công ăn việc làm cho cả vạn người, giúp cho người dân tiếp thu đựơc công nghệ chế biến tiên tiến, một nguồn ngoại tệ lớn sẽ về với các ông…”.
Nghe ông bạn Nhật Bản nói vậy, không biết nhà thơ Phạm Đương nghĩ gì, vì thấy nhà thơ cứ cười tủm tỉm, còn tôi, tôi hoảng thầm. Mình lấy tiền đâu để mua những tám con trâu Mura? Mà giả sử họ cho mua đi, nuôi ở đâu? Mỗi miếng đất tý tẹo ở gần Bà Nà thuê 50 năm đang nằm trong diện quy hoạch, không thể! Rồi cứ gọi là có đất nuôi trâu Mura kia đi, làm thế nào đưa anh hùng Hồ Giáo ra giúp, cho dù, anh hùng Hồ Giáo đã nói: “ Tôi hơn tám mươi tuổi, sống chẳng được bao lâu, nhưng còn sức tôi sẽ cố gắng giữ tám con trâu Mura này….” Cả tỉnh Quảng Ngãi to như thế, lớn như thế mà không giữ được đàn trâu Mura, không đảm bảo điều kiện tối thiểu để anh hùng Hồ Giáo nhân đàn, huống hồ là cái thằng “tôi” tài hèn, sức mọn.
Lời khuyên của ông bạn Nhật Bản, với tôi dù có thừa nhận mà thấy xấu hổ, là không thể!
Ông bạn Nhật Bản biết được khó khăn của chúng tôi, ông không khuyên nữa mà chăm chú ghi chép cách thức nuôi trâu Mura trong điều kiện tự nhiên, thức ăn mà trâu Mura ở Việt Nam cần dùng,cách chăm sóc, cách bố trí chuồng trại…
Anh hùng Hồ Giáo kể, ông bạn Nhật Bản ghi âm, ghi chép, quay phim chụp ảnh…rất cẩn thận, tỷ mỉ.
Tôi cũng chẳng biết ông bạn Nhật Bản làm việc đó để làm gì!!!
Trước lúc tạm biệt, ông bạn Nhật Bản bắt tay anh hùng Hồ Giáo tỏ lời thán phục: “ Trong điều kiện như thế này mà ông vẫn quyết tâm nuôi trâu Mura, giữ giống. Ông bảo trọng sức khoẻ, hãy cố gắng làm tốt việc này. Tôi kính trọng ông! biết đâu thời gian tới, chính phủ của ông quan tâm đến việc nuôi trâu Mura, có những chính sách thích hợp, để ông có điều kiện cho tám con trâu Mura này phát triển thành đàn. Nhật Bản sẽ có những sản phẩm từ sữa của trâu Mura Việt Nam, lúc đó tôi mời ông sang Nhật Bản để nhân dân Nhật Bản cảm ơn ông…”.
Nhưng, ý định tốt đẹp của ông bạn Nhật Bản, đến thời điểm này không bao giờ trở thành hiện thực nữa. Nhà thơ Phạm Đương cho tôi biết, tám con trâu Mura mà anh hùng Hồ Giáo cố gắng giữ, đã được chính quyền tỉnh Quảng Ngãi quyết định đem bán.
Vì sao chính quyền tỉnh Quảng Ngãi phải bán tám con trâu Mura này, không thấy nhà thơ Phạm Đương giải thích!!!
Tôi lại tự an ủi, ở Việt Nam mình, giờ có cái gì mà họ không bán, kể cả những điều thiêng liêng nhất, miễn là điều đó đảm bảo lợi ích của một nhóm, một tập đoàn…
Tám con trâu Mura đã là cái gì đối với họ.
Nhưng với tôi, thực sự đó là nỗi buồn lớn.
Với anh hùng Hồ Giáo nỗi buồn đó, chắc sẽ còn lớn hơn.
Tôi tin, đến lúc chết, ông vẫn không nhắm được mắt.
 
 
 
 
 
]]>
http://trankytrung.com/read.php?569 <![CDATA[NGHĨ VỀ MỘT CÂU NÓI CỦA NHÀ THƠ THANH THẢO - Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Sat, 29 Sep 2012 02:19:59 +0000 http://trankytrung.com/read.php?569  

Chân dung thi sỹ Hàn Mặc Tử

 

 

     NGHĨ VỀ MỘT CÂU NÓI CỦA NHÀ THƠ THANH THẢO – Phút nói thật

  

              Lễ kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của nhà thơ Hàn Mặc Tử, tổ chức ở Quy Nhơn ( Bình Định) vừa qua, trong một cuộc hội thảo tổ chức ở Hội Trường Quang Trung tối ngày 20/9/2012, nhà thơ Thanh Thảo có phát biểu ý kiến. Trong bài phát biểu đó, nhà thơ có nói một ý, tôi rất tâm đắc: “ Đừng đùa với thơ,  cũng đừng lợi dụng thơ để thực hiện một ý đồ gì đó cho cá nhân, thơ sẽ quật chết liền. Đến với thơ, phải sống chết với thơ, coi thơ là cái nghiệp mình phải theo suốt đời… may ra mới được một chút gì đó,  trường hợp nhà thơ Hàn Mặc Tử là một ví dụ điển hình …”.

          Tôi nghĩ, điều nhà thơ Thanh Thảo nói không cao siêu, nhưng hình như… có rất nhiều người không để ý hoặc biết mà vẫn cố tình, bất chấp.

          Chuyện rằng, ông nguyên thứ trưởng nọ, lấy bút danh cũng như mây bay non cao, gió vờn khóm trúc làm thơ, phổ nhạc tổ chức một đêm thơ phổ nhạc hoành tráng giữa lòng thủ đô, phát cả trên ti vi… giờ thì, đúng như lời nhà thơ Thanh Thảo nhận định: “ …bị thơ quật chết!”. Từ khi ông dính “phốt”, từ quan, những bài thơ của ông không ai nhớ, bút danh của ông cũng chìm mất giữa sự xô bồ của muôn vàn bút danh không ai biết! Thơ không cứu được danh của ông!

         Một ông cậy mình chức to, lắm tiền, làm thơ rồi… tổ chức thật hoành tráng nhân dịp nhận thẻ vào HNV Việt Nam ở một tỉnh cực nam đất nước, kết cục bây giờ thì … đang nằm khám, mà thơ của ông, không ai nhớ. Mà có nhớ, lại trở thành trò cười cho thiên hạ.

        Lại một chuyện khác, ở một khu giải trí có thể gần như lớn nhất nước ở một tỉnh Tây Nam bộ, ở đâu, chỗ nào, những người đi tham quan đều thấy thơ của ông giám đốc khu giải trí này. Có bài khắc trên vách núi nhân tạo, có bài lại chạm trổ vào tường, cột, có bài phơi lên giữa đền thờ… Chữ nạm vàng hẳn hoi. Không biết có nhiều người nghĩ như tôi không? Tôi đọc những bài thơ đó rất ngạc nhiên. Chẳng lẽ đây gọi là thơ!!! Và qua những bài thơ đó, không lẽ ông giám đốc khu giải trí này, không biết những du khách đi tham quan, họ sẽ hiểu trình độ thẩm thấu văn học của ông ta ở mức độ như thế nào? Giàu có như ông, không ai cãi, nhưng thơ ông đã sáng tác, “ khoe” với thiên hạ trong khu giải trí, người ta sẽ hiểu ông là ai?!!.

         Rồi vừa mới đây thôi, một hiện tượng muốn mượn thơ lấy danh, khi tài chỉ có thế, đức chỉ có thế, bị thơ giáng một “đòn” ra đòn, “đánh” ra “đánh”. Tôi không muốn nhắc lại, nhưng, tôi nghĩ, nếu như tác giả của những “ bài thơ thần nhập” kia, bình tĩnh, xin lỗi mọi người, xin lỗi dư luận tốt,  tuyên bố không làm thơ nữa, may ra thơ tha cho. Còn cố chứng minh mình là “ nhà thơ lớn” sáng tác những bài thơ như ông đã sáng tác, danh sẽ chẳng còn mà tôi sợ… ông sẽ mất bạn vì không ai dám gần ông.

        Lại tiếp, có ông từng giữ chức vụ to, nay về hưu vẫn ăn lộc nhà nước giữ một chức to trong một cơ quan “ hữu danh vô thực”, hứng lên sáng tác, in thơ. Hồi chưa hưu, người ta đã kinh ông này về cách ăn nói, truy chụp,  giờ in thơ, nhất là thơ tình…mà đọc lên, cứ như nhai phải cơm có sạn lại sống!!! Thơ như thế đến đâu ông cũng khoe, cũng đọc để mong sớm kết nạp vào Hội viên HNV Việt Nam.

          Tôi tin hội đồng thơ trong HNV Việt Nam sẽ tinh tường khi xét đơn ông này xin vào Hội.    

        Chỉ mấy ví dụ trên thôi, thế mới biết rằng sáng tác được một bài thơ khó vô cùng,  trở thành một nhà thơ khó vô cùng. Hãy biết khả năng đến đâu của mình  mà dừng lại, đừng cố, đừng huyền hoặc, tự đề cao. Tôi có quen biết một người, ở góc độ viết truyện ngắn, tùy bút… cùng tâm giao. Có một dạo, tôi không thấy anh ấy viết truyện ngắn, tùy bút, ghi chép nữa… Và tôi được người ấy tặng một tập thơ mới in. Có hỏi, anh ấy nói “ Làm thơ dễ biểu đạt cảm xúc.” Sao lại có thể dễ thế! Tôi chưa bao giờ làm nổi một câu thơ cho “ra hồn” nhưng vẫn nghĩ, viết văn xuôi dễ hơn làm thơ chứ! Tha hồ anh diễn đạt, ngắn thì một dòng, dài thì cả trang. Còn làm thơ để diễn đạt cảm xúc! Không đơn giản! Chẳng thế,  điểm lại, có bao nhiêu câu thơ hay tồn tại trong trí nhớ bạn đọc. Cũng từ lúc có tập thơ mới in, chỗ nào có nhà thơ nổi tiếng là anh ấy cố ngồi gần, lại tặng thơ, thậm chí cả tổ chức giới thiệu tập thơ đó. Nhìn trong ánh mắt của anh, tôi thấy sự hỉ hả, khoan khoái, tự sướng với mình. Chính điều này đã làm cho tôi  nhìn anh với con mắt khác, không phải do thơ anh : “ …dễ biểu đạt cảm xúc.” Mà vì… anh đang lợi dụng của cái gọi “thơ” để mong mọi người chú ý đến mình. Điều đó, trong nhất thời, có khi anh nghĩ đã đạt được, nhưng về lâu, về dài thơ “ sẽ quật chết anh” khi bạn bè nhắc về anh, không phải nhắc về thơ mà nhắc những lần anh ngồi gần những nhà thơ nổi tiếng để cọ kẹ, khoe mẽ  được  xếp “ ngang hàng”, sau đó là những tiếng cười như nghe xong một truyện “ tiếu lâm”.

         Vừa dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thị sỹ Hàn Mặc Tử, tôi cứ vẫn vơ một suy nghĩ: Tại sao thời này không thể sinh ra một Hàn Mặc Tử thứ hai? Hỏi, rồi tôi tự tìm ra lời giải đáp. Tất nhiên đây chỉ là ý kiến cá nhân, có thể đúng, có thể sai, người này đồng tình, người kia phản đối. Tôi vẫn cứ thử lý giải xem sao?

         Trước hết, về khách quan, hiện tại chẳng có nhà thơ Việt Nam nào mắc bệnh “ phong” nặng như nhà thơ Hàn Mặc Tử. Mắc một bệnh rất nặng, lúc đó là vô phương cứu chữa, người đời xa lánh. Một người có bệnh như thế gần như cô đơn đến cùng cực…không còn cách nào khác, chỉ còn một con đường duy nhất, chọn thơ làm lối giải thoát.

        Điều thứ hai, có ai yêu đơn phương nhiều như thi sĩ Hàn Mặc Tử không? Yêu toàn người đẹp, tiếc thay, do hoàn cảnh bệnh tật của nhà thơ,  rồi do điều kiện cách trở của đường sá, thời gian… những người phụ nữ mà thi sỹ yêu, không bao giờ đến được với thi sỹ, cho dù thi sỹ có người thương, người mến. Đa tình, có tài, yêu cháy lòng mà không được đền đáp… Thi sỹ đành dựa vào thơ để vấn an tinh thần, giãi bày những điều mình ao ước…thế mới có những bài thơ như “thần” viết.

       Không gian thi sỹ Hàn Mặc Tử sống, cách đây mấy chục năm, trại phong Quy Hòa, lúc đó là sự hoang vắng đến rợn người, quanh đi quẩn lại chỉ có những bệnh nhân bị phong và những bà xơ có tâm chăm sóc. Một không gian cả sáng, cả chiều chỉ mênh mang sóng vỗ, một hàng thông reo với điệp khúc bất tận của nỗi buồn, ai oán. Buổi tối, với những ngọn nến leo lét cháy, bóng người qua lại ẩn hiện như những bóng ma. Có đêm trăng sáng, nhìn lên, con trăng chơi vơi, bơi trên bầu trời, không phương hướng, buồn đến thắt lòng… Những lúc như vậy, thi sỹ chỉ còn bám vào thơ như bám vào một cái phao khỏi “ chết đuối” trong cô quạnh…

             Điều trên tôi muốn nói, nhà thơ Hàn Mặc Tử làm thơ, ông không hề mong mình nổi tiếng. Tôi cũng tin, có lẽ trước lúc mất, nhà thơ cũng không bao giờ nghĩ, gần một trăm năm sau, vẫn có người nhắc đến ông, thơ của ông.  Hoàn cảnh, điều kiện quá khắc nghiệt đã đưa thi sỹ đến với thơ. Thơ với ông đó là thứ “tôn giáo” gần như ông thờ phụng để chứng tỏ mình sống, mình là có thực trong đời.

             Chính lẽ đó, thơ ông vẫn “sống” cho đến tận bây giờ!

              Và cũng chỉ sống như thế mới mong thơ không “ quật chết” mình!

            

        

          

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?557 <![CDATA[MỘT CUỘC GẶP GỠ KHÔNG THÀNH VÌ ... TƯỚNG VỀ HƯU - Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Tue, 04 Sep 2012 07:30:01 +0000 http://trankytrung.com/read.php?557

Nghe cô giáo kể chuyện ,bé buồn cười quá!

 

 

MỘT CUỘC GẶP KHÔNG THÀNH VÌ … “TƯỚNG VỀ HƯU” – Phút nói thật

         Đắn đo lắm tôi mới viết bài này. Cũng phải nói thật khách quan, tránh đi sự hiểu lầm, tránh đi những lời dị nghị. Chi ít, trong một số nhà văn, nhà thơ khu vực nam miền Trung và Tây Nguyên đã biết có cuộc gặp mặt, tưởng sẽ thành công đến nơi, tưởng sẽ có những cuộc vui nổ trời, tưởng sẽ có dịp ôn lại một thời khốn khó nhưng đầy ắp tiếng cười, đầy ắp tình người, đầy ắp nhân văn…Ấy vậy, như trong một trận bóng đá, đến phút “ 89” mọi chuyện thay đổi theo chiều hướng hoàn toàn ngược lại. Một nguyên nhân, xin lỗi tôi phải lấy tên một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, chỉ vì một ông “ Tướng về hưu”.

         Trại sáng tác khu V, bây giờ có lẽ ít người biết về trại sáng tác có tên như thế. Đến như tôi, ở Đà Nẵng đã lâu, chơi thân với rất nhiều các anh, các chị nhà văn lớn tuổi, cuộc đời họ đã đi qua hai cuộc kháng chiến, nhưng gần như tôi rất ít lần được nghe đến tên trại sáng tác khu V. Chỉ có một lần ngồi nói chuyện với nhà văn Thái Bá Lợi, nhà văn  cho tôi biết, đã có một thời, những vị lãnh đạo cao nhất của khu V như ông Võ Chí Công, Chu Huy Mân…rất coi trọng lực lượng sáng tác văn học. Ngay sau khi đất nước giải phóng, các vị lãnh đạo khu V đã có sáng kiến tập hợp những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi ở khu V vào sinh hoạt trại sáng tác này với sự quan tâm đặc biệt. Nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Khắc Phục, Thu Bồn, Nguyễn trí Huân, Ngô Thảo,  Thái Bá Lợi, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Bảo, Thanh Thảo, Trung Trung Đỉnh, Ngô Thế Oanh, Thanh Quế, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Công Khế… và cả một số vị, sau này giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng và nhà nước, cũng từng kinh qua một thời gian dài ở trại sáng tác khu V. Trại sáng tác cũng là nới dừng chân của nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Đình Thi, Lưu Quang Vũ… Với thời gian tồn trại của trại sáng tác, nhiều tác phẩm văn học đứng được trong lòng bạn đọc cũng ra đời từ đây như tác phẩm: Trường ca “Những người đi tới biển” của nhà thơ Thanh Thảo, trường ca “ Ở làng Phước Hậu” của nhà thơ Trần Vũ Mai, “ Hai người trở lại trung đoàn”, “ Thung lũng thử thách”, “ Họ cùng thời với những ai” của nhà văn Thái Bá Lợi… Đặc biệt, nhà văn Thái Bá Lợi còn cho tôi còn biết họa sỹ nổi tiếng Bửu Chỉ, Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, Vũ Hữu Định… cũng nhiều lần ghé qua tham gia sinh hoạt với các anh, chị nhà văn, nhà thơ trong trại sáng tác.

              Nói vậy, để thấy rằng, việc có cuộc gặp mặt kỷ niệm 37 năm thành lập trại sáng tác khu V do một số nhà văn, nhà thơ đang sinh hoạt ở Chi hội nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng khởi xướng là một việc rất chính đáng. Thật mừng khi ý tưởng này vừa mới phác họa, chúng tôi đề xuất với nhà thơ Văn Công Hùng, nhà thơ Văn Công Hùng, Ủy viên BCH Hội nhà văn Việt Nam, phụ trách khu vực Tây Nguyên và Trung Bộ đã đồng ý ngay lắp tự. Sau đó Nhà thơ Văn Công Hùng báo ngay cho chúng tôi một tin vui, BCH Hội Nhà văn Việt Nam cũng đã đồng ý bằng văn bản, tổ chức cuộc gặp mặt nhân dịp kỷ niệm 37 năm thành lập trại sáng tác khu V tại Đà Nẵng vào đầu tháng 9/2012 và BCH Hội nhà văn cũng có công văn đề nghị QK V cùng một số địa phương giúp đỡ cho cuộc gặp mặt thành công tốt đẹp.

       Tôi và nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Lê Anh Dũng cùg một số nhà văn, nhà thơ khác trong Chi hội nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng vội bắt tay ngay vào việc. Thực ra, cũng không ai phân công mình, cũng không có một quyết định nào bổ nhiệm mình vào việc này, nhưng cứ nghĩ đây là một dịp hết sức thuận lợi để các nhà văn, nhà thơ có dịp gặp lại nhau, ôn lại một thời đầy ắp những kỷ niệm, sống lại những năm tháng chỉ có nhớ, có thương, có yêu đến tận cùng…dù chỉ nhận sự phân công bằng “ miệng” từ nhà thơ Văn Công Hùng với một “ hiệu lệnh”: “ Lợi, Trung, Hùng, Dũng tiến lên!”. thế là ai cũng cố làm, gần như không hề đòi hỏi một chút quyền lợi nào. Đẹp hơn nữa, cuộc gặp mặt này BCH Hội nhà văn Việt Nam dự kiến kết hợp tổ chức trao thẻ Hội viên cho các nhà văn, nhà thơ mới được kết nạp nên sẽ có đầy đủ các nhà văn, nhà thơ khu vực nam Trung bộ, Tây Nguyên tham dự. Nhiều anh, chị trước đây có tham gia trại sáng tác khu V nay  không còn viết văn, làm thơ, mà giữ nhiều chức vụ lãnh đạo một số tỉnh, thành ở miền trung, nam bộ, miền bắc… hiện về hưu, nhưng trong tâm trí vẫn lai láng tình cảm chân thành, khi chúng tôi đến đặt vấn đề, tuy nhiều người sức khỏe không còn tốt, tuổi cao nhưng các anh, chị rất mừng, hứa bằng mọi cách, cho dẫu đường có xa, thời tiết không thuận lợi vẫn sẽ tham dự bằng được cuộc gặp gỡ như có người nói: “ Có lẽ là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng trong đời.”.

        Tôi cũng từng tham gia vào công việc tổ chức một số hội nghị, nhưng chưa bao giờ tôi thấy thuận lợi như lần tổ chức cuộc gặp gỡ này. Nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Ngân Vịnh, nhà thơ Lê Anh Dũng khi cầm công văn của BCH Hội nhà văn Việt Nam vào QK V, đề nghị các anh lãnh đạo cao nhất QK V giúp đỡ. Sự đáp ứng nhiệt thành, đầy trách nhiệm của của các anh lãnh đạo cao nhất QKV làm cho các nhà văn, nhà thơ cảm động. Các anh cho biết, việc này sẽ báo cáo ngay Tổng cục chính trị, điều thứ hai, sẽ dành toàn bộ nhà khách T20 của QK, trong đó có 15 phòng VIP cùng hội trường làm chỗ ăn nghỉ, hội họp cho các nhà văn, nhà thơ trong ba ngày gặp gỡ. Đồng thời, sẽ có buổi giao lưu văn nghệ giữa các nhà văn, nhà thơ với một số đơn vị bộ đội trong QK, nếu điều kiện cho phép. Thông cảm với khó khăn tài chính của Hội nhà văn, tất cả những việc này, QK V xin ý kiến của Tổng cục chính trị, sẽ chu cấp toàn bộ. Tiếp đến khi tôi, nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Lê Anh Dũng đến gặp và đặt vấn đề,  đề nghị các anh lãnh đạo tỉnh Quảng Nam, cũng như thành phố Hội An giúp đỡ. Còn gì vui bằng, tất cả đều hứa giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo. Như anh Nguyễn Sự, Bí thư thành ủy Hội An nói với tôi: “ Các anh cứ tin đi, tấm lòng của nhân dân Hội An đối với các văn nghệ sỹ lúc nào cũng ấm áp. Các anh, các chị về đây như về nhà, sẽ là một buổi liên hoan thật thân mật và sau đó chúng tôi sẽ tổ chức đi thăm phố cổ đêm trăng để các anh, các chị có tư liệu sáng tác…”. Hai trường Đại học lớn ở Đà Nẵng đề nghị có buổi giao lưu giữa các nhà văn, nhà thơ với sinh viên trong trường. UBND thành phố Đà Nẵng cũng đã phúc đáp công văn của HNV Việt Nam với lời hứa, bảo đảm cuộc gặp mặt giữa các đồng chí lãnh đạo thành phố Đà Nẵng với các đại biểu trong cuộc gặp gỡ này thật thành công, thật cảm động vì : “ Đây là sự tri ân của thế hệ sau đối với thế hệ đi trước đã đổ máu, trí tuệ, nghị lực để có một tổ quốc Việt Nam thống nhất, vững mạnh như ngày hôm nay…” như lời đồng chí Chánh văn phòng UBND thành phố Đà Nẵng nói, khi thông báo với chúng tôi, UBND đồng ý giúp đỡ cả tài chính và vật chất cho cuộc gặp gỡ này. Đó là tôi chưa kể, dù tài chính eo hẹp, còn khó khăn về cơ sở vật chất, nhưng khi tôi và nhà văn Thái Bá Lợi đến gặp nhà thơ Bùi Công Minh, Chủ tịch Hội VH- NT thành phố Đà Nẵng bàn việc phối hợp giữa hai cơ quan, nhà thơ Bùi Công Minh, cũng đồng ý sẽ giúp đỡ cuộc gặp gỡ một phần bằng tài chính để làm thế nào cho HNV Việt Nam có cảm giác không phải “ thiếu trước, hụt sau” như nhà thơ nói vui với chúng tôi…

         Cho đến đầu tháng 8/2012 công việc chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này có thể nói tiến triển trên cả mức thuận lợi. Điều chúng tôi lo nhất hiện tại là “nội dung” cuộc gặp gỡ, điểm lại, thực ra nếu có ngồi trong hội trường nghiêm túc thì chỉ có buổi khai mạc, những diễn văn chào mừng…   Sau đó “ gặp gỡ họp mặt” diễn ra ở đâu? Đó là những đêm giao lưu giữa các nhà văn, nhà thơ với sinh viên các trường đại học, các đơn vị bộ đội ( nếu vui cũng hết đêm)… Đó là cuộc gặp gỡ trên bàn nhậu, bên chén cà phê, giữa lúc đi tham quan…của các nhà văn, nhà thơ, cùng các vị từng tham gia trại, giờ về hưu, không sáng tác, ôn lại những kỷ niệm về một thời không quên. Nhiều kỷ niệm nhắc lại, chắc chắn chỉ có tiếng chào vồn vã, cái bắt tay, ôm nhau cười hết cỡ ( cũng “ vèo” hết cả buổi). Thời gian ngồi trong hội trường chắc là rất ít. Tôi tin , mọi người cũng mong thế, hãy để không gian sinh hoạt thật thỏa mái, vô tư, dễ gì đã có một điều kiện gặp nhau thuận lợi như thế này.

        Mọi công việc chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ coi như xong, định ngày cụ thể bắt đầu từ ngày 5/9 và kết thúc vào tối 7/9 tại nhà khách T20 của QK V. Kế hoạch chi tiết chúng tôi đã báo cáo cho nhà thơ Văn Công Hùng, nhà thơ Văn Công Hùng rất mừng, định ngày xuống với chúng tôi triển khai kế hoạch sau khi được sự chấp thuận của BCH Hội nhà văn Việt Nam

        Nhưng, không ai học được chữ “ ngờ!”, vì sự can thiệp của “ Tướng về hưu”.

         Tôi đã từng nghe nhiều giai thoại về vị” tướng về hưu” này, nhất là tính cực đoan của ông. Nhưng đến khi giáp mặt, mới biết rằng, những giai thoại tôi đã nghe, chưa thấm vào đâu khi mình chúng kiến.

      Với danh nghĩa, nguyên là một cán bộ cấp cao, từng lãnh đạo HNV, được nhiều giải thưởng lớn…Nên thế, khi hay tin có cuộc gặp này, trên danh nghĩa là người từng lãnh đạo trại sáng tác khu V, ông yêu cầu HNV, cho gặp những người như tôi, như nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Lê Anh Dũng… tất nhiên, cả nhà thơ, nhà báo Văn Công Hùng phải có mặt sớm để báo cáo lại toàn bộ việc chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này.

      Nếu đúng về nguyên tắc, tôi không gặp ông “ tướng về hưu” cũng không sao. Vì có ai phân công tôi đâu!!! Tôi tự nguyện làm, thích thì làm, nói thật, làm cho vui, muốn các anh, các chị nhà văn, nhà thơ mình yêu quý có điều kiện gặp nhau, vui cho thật “ nổ trời” vì không nhiều “ cơ hội” như thế này. Còn bây giờ, ông “ tướng về hưu” yêu cầu tôi đến để quán triệt, báo cáo… tôi thấy khó quá, vì không biết mình sẽ báo cáo chuyện gì! Và quả nhiên, khi gặp ông ở nhà khách T20, cả buổi nghe ông nói, tôi thấy quá cực hình. Buổi gặp mặt, tôi và các nhà văn, nhà thơ đã chuẩn bị không còn như chúng tôi hình dung nữa, thay vào đó là sự : “ hệ trọng”, “ cảnh giác”, “ nguy hiểm” , “hết sức đề phòng với những tình huống xấu”…. Trước khi nhà thơ Văn Công Hùng từ Tây Nguyên xuống để làm việc với ông “ tướng về hưu”, chúng tôi có cuộc họp “ trù bị” với ông. Ông đã nhắc chúng tôi nhiều việc, nghe “ ù” cả tai! Đến buổi làm việc chính thức, thì quả thật chúng tôi “chóang” về những yêu cầu “ bất di, bất dịch” của ông.  Điều đầu tiên, ông yêu cầu nhà thơ Văn Công Hùng cho ông duyệt danh sách các hội viên HNV có mặt trong cuộc gặp gỡ này. Đặc biệt ông chú ý vào ba nhà văn, nhà thơ, tôi tạm đặt là N, Q, H. Theo ông, những nhà văn, nhà thơ này để cho QK V mời, HNV không được mời. Đây là một việc vô cùng vô lý! Rất khó chấp nhận, vì QK V không có chức năng này, hơn nữa, Hội viên của mình, mình không mời lại để cho cơ quan khác mời, đó là việc làm không minh bạch. Nhất là nhà thơ Q, ông “ tướng về hưu” có một thái độ khó chịu ra mặt. Vì trước đó, ông đã nghe nhà thơ Q đọc một bài thơ trong một cuộc gặp gỡ ở Quảng Nam. Một bài thơ lên án tệ tham nhũng, quên dân… của một số kẻ xấu cơ hội trong cơ quan công quyền. Thực ra, theo tôi, những điều nhà thơ Q phát biểu trước đây, cũng như hiện nay chưa thấm gì mà thực tế đang diễn biến. Những điều nhà thơ Q  viết, nói còn “ nhẹ” hơn rất nhiều so với những điều mà mà ông Tổng bí thư ĐCS từng tổng kết, từng nói về nguy cơ tồn vong của một chính Đảng cầm quyền. Nếu nhà nước không mạnh tay, chống triệt để nạn tham nhũng, hối lộ, quan liêu…mà những tệ nạn này đang hiển hiện một cách lộ liễu, công khai, không sợ dư luận, luật pháp, thì sự ổn định xã hội nhất định sẽ bị phá vỡ, lòng tin của dân vào thể chế chính trị bị xói mòn. Hơn nữa, nhà thơ Q từng là nhà thơ có những bài thơ nổi tiếng, trước năm 1975 cả hai vợ chồng cùng vào nam theo một lý tưởng bất diệt “thống nhất tổ quốc, giành độc lập cho dân tộc”. Hồi đó, văn của ông “ tướng về hưu”, tôi nghĩ, không nổi tiếng bằng những bài thơ của nhà thơ Q, lại một thời cả hai ông cùng sống, chết ở một chiến trường. Có cuộc gặp gỡ này, ôn lại những kỷ niệm, thương nhau không hết… nỡ nào, bây giờ, chỉ vì không cùng quan điểm, chứ tôi tin cả hai đều yêu nước như nhau, ông “ Tướng về hưu” lại không muốn nhà thơ Q đến dự! Chúng tôi cố thuyết phục, nhưng nhất định “ tướng về hưu” vẫn bảo lưu quan điểm, HNV không mời nhà thơ Q, để cho QK V mời! Còn một chuyện không biết nên “ cười’ hay “ mếu”. Ông “ tướng về hưu” hỏi tôi và nhà văn Thái Bá Lợi về nhà văn H, vì ông “tướng về hưu” nghe tin ông này làm sách, toàn những sách“ có vấn đề”, “sai lệch tư tưởng”. Tôi phải giải thích, đó là những quyển sách có nội dung tốt, chưa bị thu hồi, hoặc cấm lưu hành, giờ vẫn bán đầy ở các cửa hàng sách. Còn hiện nay, nhà văn H không còn sinh hoạt ở Chi hội Nhà văn Việt Nam ở Đà Nẵng mà chuyển ra sinh hoạt tại Hà Nội, nên có mời chưa chắc nhà văn H đến dự. Hơn nữa, nếu nhà văn H có đến dự, tôi tin ông ấy sẽ không phát biểu vì …tính ông ấy thế!  Nhưng dù sao cũng nên mời, vì nhà văn H từng sống ở đây, từng giúp nhiều nhà văn, nhà thơ từng sinh hoạt trong trại sáng tác khu V ra sách, nhưng ông “ tướng về hưu’ vẫn cương quyết lắc đầu “ HNV không mời, để QK V mời.”. Có một điều lạ mà tôi thấy ở ông “tướng về hưu”, gần như thế hệ chúng tôi, khoảng trên dưới sáu mươi tuổi, tham gia vào HNV Việt Nam, ông rất ít nhớ tên, thậm chí nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hoàng Thu nổi tiếng như thế, ông cũng không biết mà hỏi lại chúng tôi: “ Anh này là anh nào?”. Đến cả nhà văn H, ông cũng hỏi: “ Anh này có bút danh… Linh… Linh… gì ấy nhỉ ?”. Nghe ông hỏi thế, tôi thở dài ngao ngán.

       Tiếp đến, ông “ tướng về hưu” yêu cầu chúng tôi chỉ định những người viết tham luận!

        Một cuộc gặp mặt, ôn lại kỷ niệm, có cần thiết phải viết tham luận không? Hơn nữa, giả như nếu có tham luận, thời gian đâu để đọc, khi việc giao lưu, gặp mặt, dự liên hoan… đã chiếm hết thời gian của hai đêm, ba ngày! Còn một chuyện tôi không thể tưởng tượng nổi là ông yêu cầu phải có một cuộc họp “trù bị”, trước khi vào họp chính thức y như đây là một đại hội nhà văn. Mới đầu tôi tưởng mình nghe lầm, nhưng sau này, khi ra đến Hà Nội, trong một lần gặp với các anh lãnh đạo HNV, ông cũng đưa một yêu cầu đúng như thế. Cuộc gặp mặt ôn lại nhiều kỷ niệm vui, buồn của không khí hồi hộp như “ ai là triệu phú?”, vui hơn cả “ gặp gỡ cuối năm”, ồn ào hơn cả “ đi tìm giọng hát Việt”… thế mà cần phải trù bị, sự “ quan trọng” không phải lối, dồn chúng tôi vào thế khó đỡ. Một thời gian vô cùng hạn hẹp, lại phải tổ chức một cuộc họp trù bị, không biết nên tổ chức vào thời gian nào? Đó là chưa kể, ông yêu cầu, nếu là khách mời, phải gọi điện hỏi trước, nhất là những vị khách, theo ông “ có vấn đề tư tưởng”. Đã mời, cứ đưa giấy mời, còn họ có đến dự hay không đó là quyền của khách mời. Một thủ tục vô cùng đơn giản, “ Tướng về hưu” cũng nhấn mạnh, thành việc “ quan trọng”. Đã vậy, ông còn cảnh báo chúng tôi những chuyện phát ngôn của các nhà văn, nhà thơ trong buổi gặp mặt này. Phải hết sức cảnh giác, đề phòng, có biện pháp đối phó hữu hiệu. Ông cho biết, sẽ vào lại Đà Nẵng ngày 18/8 để lập bộ “ chỉ huy tiền phương” để theo dõi, chỉ đạo sát sao từng công việc.      

             Cứ như vậy, trong những lần tôi, nhà thơ Văn Công Hùng, nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Lê Anh Dũng gặp ông “ tướng về hưu”, tất cả chúng tôi ở một tâm trạng buồn. Chuyện đã tưởng thành đến nơi, nhưng nếu như thực hiện đúng như nội dung ông “ tướng về hưu” chỉ đạo, cuộc gặp gỡ này sẽ có không khí căng thẳng, trượt khỏi nội dung ban đầu mà chúng tôi dự liệu, rất dễ xảy ra sự mất đoàn kết, cãi vã với những đề tài không đâu…Chúng tôi báo cáo lại việc này với BCH Hội nhà văn, các anh ngoài đó thông báo lại chúng tôi, đợi ông “tướng về hưu” ra Hà Nội sẽ bàn tiếp và có quyết định chính thức về cuộc gặp mặt này.

  Ra Hà Nội, ông “ ông tướng về hưu” vẫn giữ quan điểm như vậy, với những cuộc họp căng thẳng, kéo dài nhiều tiếng đồng hồ. Tôi còn nghe thông tin, nếu không chấp nhận ý kiến của ông, ông sẽ báo cáo toàn bộ sự việc này lên Ban bí thư, tuyên giáo TW… Như vậy sự việc quá nghiêm trọng rồi, chứ không đơn giản như chúng tôi nghĩ. Các anh trong BCH Hội nhà văn Việt Nam điện vào cho  chúng tôi, ý kiến của chúng tôi trong việc này như thế nào ?

       Đây là cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm sự ra đời của một trại sáng tác cách đây 37 năm, được các lãnh đạo QK và địa phương nhiệt tình giúp đỡ. Hẳn nhiên, các anh, các chị lãnh đạo QK cũng như địa phương mong muốn cuộc gặp gỡ vui, tạo được dấu ấn thân thiện. Nay, chỉ vì không đúng với sự chỉ đạo của ông “ tướng về hưu” mà ông báo cáo lên trên, cấp trên không hiểu, chỉ nghe báo cáo một chiều nhất là vấn đề “ tư tưởng”, “ diễm biến hòa bình”…yêu cầu mấy anh lãnh đạo QK, hay địa phương phải giải trình, kiểm điểm. Vô hình dung, chính chúng tôi đã làm “ hại’ các anh, các chị. Lần sau ai dám bắt tay cộng tác với chúng tôi nữa? Chúng tôi còn mặt mũi nào mà đến để làm việc với các anh, các chị. Tiếp đến, một cuộc gặp gỡ ôn lại kỷ niệm, ai cũng muốn có mặt đông đủ, lại có lệnh “ cấm ” người này, “ cấm” người kia đến ( đó là những người cần phải đến), sẽ biến không khí cuộc gặp gỡ kém vui, thậm chí là căng thẳng, rất dễ bị xuyên tạc, nhiều người không hiểu sẽ trách chúng tôi. Việc nữa, công việc tổ chức cuộc gặp gỡ này chúng tôi hoàn toàn làm với sự vô tư trong sáng, chỉ muốn đó là cuộc gặp gỡ, như nói ở trên, rộn tiếng cười, tiếng hát, tiếng đọc thơ, giao lưu, nhắc lại những kỷ niệm ngọt lịm về tình người. Nhưng, nếu như tiếp tục cuộc gặp gỡ này theo như sự chỉ đạo của ông  “tướng về hưu”, liệu không khí đó có còn như thế không? Hay là có chuyện “ vỗ tay mời xuống” như các kỳ đại hội Nhà văn…

          Suy đi, tính lại chúng tôi đề nghị BCH Hội nhà văn nên hoãn cuộc gặp gỡ này, để tổ chức vào dịp khác, thuận lợi hơn…

            Sau khi nhận được ý kiến của chúng tôi, có lẽ các anh trong BCH Hội Nhà Văn bàn bạc cũng thống nhất ý kiến tạm hoãn cuộc gặp mặt này. Các anh đã gửi công văn đề chữ “ hỏa tốc” đến các địa phương, đơn vị ở Miền trung xin lỗi và tạm dừng cuộc gặp mặt.

             Việc dừng cuộc gặp mặt để lại trong chúng tôi nhiều nỗi luyến tiếc. Cho đến tận gần ngày dự kiến cuộc gặp mặt, tôi, nhà văn Thái Bá Lợi, nhà thơ Lê Anh Dũng…vẫn nhận được nhiều cú điện thoại hỏi về thời gian cuộc gặp mặt này, nhiều người nói với chúng tôi, nếu không có kinh phí họ sẽ tự bỏ tiền đi, cốt gặp lại bạn bè cũ để ôn kỷ niệm, mấy chục năm mới có một dịp như thế này. Thương hơn, có nhà văn, nhà thơ từ ngày 1/9 đã đến tá túc tại nhà của nhà văn Thái Bá Lợi, hy vọng dự sớm, đúng ngày khai mạc…

           Tôi thông báo chuyện “ hoãn” cuộc gặp mặt cho một số bạn bè thân thiết, nói nguyên nhân.

           Ai cũng tiếc.

          

 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?523 <![CDATA[GỬI BÀ NÔNG THỊ BÍCH LIÊN - Phút nói thật]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Wed, 30 May 2012 03:22:32 +0000 http://trankytrung.com/read.php?523  

Bà Đỗ Thị Huyền Tâm - Đại biểu Quốc Hội

 

         GỬI BÀ NÔNG THỊ BÍCH LIÊN- Phút nói thật

 

         Tôi đọc đơn của bà gửi nhờ báo người cao tuổi đăng và chuyển, tố cáo những việc làm mờ ám của bà Đỗ Thị Huyền Tâm, Đại biểu Quốc hội. Bà Tâm hiện là vợ hai của ông Nông Đức Mạnh, người sinh ra bà, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam.      

        Trong đơn bà không muốn nhắc đến người cha của mình. Nhưng đọc lá đơn đó, người ta đều hiểu, nếu như không có ông Nông Đức Mạnh đứng đằng sau  bảo vệ, thì làm sao bà Tâm làm được việc đó. Và, bà có tin không ? Bà viết lá đơn đó, hình ảnh của ông Nông Đức Mạnh hiện ra trước mắt mọi người là một hình ảnh xấu rất rõ ràng của một người Đảng Viên, nguyên là Tổng bí thư Đảng, rộng ra là hình ảnh xấu của một Đảng cộng sản đang cầm quyền.

          Có đâu như đất nước Việt Nam chúng ta dưới thời ông Nông Đức Mạnh làm Tổng bí thư, đó là những năm đầy nhiễu nhương và cũng có rất nhiều nỗi buồn. Ông Nông Đức Mạnh làm Tổng bí thư của một Đảng cầm quyền mà gần như tiếng nói của ông nhạt nhòa, không hề có một tý “trọng lượng” nào để giải quyết những vấn đề hệ trọng đất nước như giữ toàn vẹn lãnh thổ, cải thiện đời sống của người nghèo, gia đình liệt sỹ, có công với cách mạng, chống tham nhũng, giải quyết nạn quan liêu xa rời dân... Ngay hình ảnh của ông, tuy tôi không cận ông như bà, nhưng là một người dân, tôi thấy hình ảnh đó rất xa lạ, khiêm cưỡng, không thân mật như các Tổng bí thư khóa trước ông Nông Đức Mạnh. Những ông Tổng bí thư như Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh...tôi chưa từng tiếp xúc, nhưng vẫn thấy gần gũi, vẫn thấy hiển hiện như một người lãnh đạo Đảng gần dân, dân tin tưởng. Còn ông Nông Đức Mạnh hồi còn Tổng bí thư Đảng, tôi là người dân, không đặt tin tưởng, chắc chắn nhiều Đảng viên, nhiều vị lãnh đạo cấp cao, cũng giống tôi, không tin tưởng ông ấy. Thực tế, ông Nông Đức Mạnh hồi đương quyền, vẫn cười, vẫn nói, vẫn đi nước ngoài tiền hô, hậu ủng... nhưng trong con mắt nhiều người, uy tín của ông ấy đã “ chết”. Rõ nhất khi ông ấy về hưu, gần như hình ảnh của ông đã biến mất trong suy nghĩ nhiều người. Nếu như nhiều cán bộ cấp cao về hưu còn có thể tham gia vào các tập đoàn kinh tế, hội đồng quản trị, viết văn, làm thơ, giảng dạy các trường đại học, cố vấn... nhưng riêng ông Nông Đức Mạnh, đến thời điểm này, tôi không biết ông ấy làm gì hay chỉ quẩn quanh trong nhà hoặc đi du lịch với vài người thân, không ai để ý. Là phận người, nhất là đã từng một lãnh đạo cao nhất của Đảng mà như vậy, đau chứ! Đúng không Bà.

      Rồi nữa, chuyện ông Nông Đức Mạnh lấy bà Tâm, tuy trong đơn bà không nói rõ, nhưng tôi hiểu, cả gia đình Bà phản đối. Một người cha mà bị con phản đối, nói rõ hơn, việc làm đó bị con coi thường, thì... phận người Cha thậm khốn khổ. Cha con giáp mặt nhau là quay lưng, không nói chuyện, ngôi nhà tự nhiên u ám nặng nề. Người đau nhất là ông Nông Đức Mạnh, bây giờ không sao, lúc đau ốm, dẫu  bên cạnh là bác sỹ giỏi chăm sóc, thuốc quý nhiều, bạn bè  có đến thăm  mà con cái bỏ rơi, tinh thần sẽ khủng hoảng, lúc ấy chỉ có trời mới cứu được mạng. Ngay như bà vợ kế của ông Nông Đức Mạnh, như trong đơn bà tố cáo, bà này chỉ lợi dụng ông Nông Đức Mạnh để trốn nợ chứ không hề thương yêu thì lúc đó có lẽ ông Nông Đức Mạnh có sống cũng như chết.

          Phận làm con, có nên để một người cha như thế không?

         Tôi nói điều này nữa, kể cả bao nhiêu đời của Tổng bí thư Đảng ở đất nước ta, duy nhất có ông Nông Đức Mạnh, cho đến thời điểm này, bị nhân dân chê trách nhiều nhất. Ông ấy không hề để lại một dấu ấn tốt đẹp nào cho hiện tại cũng như tương lai đất nước này hay toàn những dấu ấn xấu, nhất là vụ ông đồng ý cho nhà cầm quyền Trung Quốc khai thác Boxit ( Tây Nguyên), khiến cho những người yêu nước chân chính phẫn nộ. Nếu ông ấy có lương tâm, biết đâu những lúc ngồi một mình sẽ ân hận, tự nguyền rủa mình, mong các bậc lão thành, các Đảng viên, nhân dân... tha lỗi.

                 Con người như thế cũng đáng thương hại,   

                 Cái đức quý nhất của  người Việt Nam chúng ta là sự nhân hậu, khoan dung, tha thứ.

         Từ những phân tích trên, tôi khuyên bà, đây hoàn toàn là ý kiến cá nhân, nếu đúng như bà viết lá đơn trên, thì nên rút lá đơn đó lại.










 

]]>
http://trankytrung.com/read.php?504 <![CDATA[HỌC NGOẠI NGỮ THỜI BAO CẤP]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Thu, 26 Apr 2012 15:24:59 +0000 http://trankytrung.com/read.php?504                   

                  Một lớp học nơi sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom ở miền Bắc trước năm 1973

                      

                                   HỌC NGOẠI NGỮ THỜI BAO CẤP

 

       Học ngoại ngữ thời bao cấp, nó bị chính trị ám vào, để rồi như “thời tiết” lúc thế này, lúc thế khác, không đến đầu đến đũa, học sinh lĩnh đủ. Tôi nghĩ, chuyện này, thế hệ tuổi tôi, chắc nhiều người còn nhớ, nhưng thấy ít ai nói đến. Ngồi nhớ lại, tôi ghi ra đây, để ôn những kỷ niệm…cũng gọi là một thời đáng nhớ.

        Thời phổ thông chúng tôi lúc ấy, học ngoại ngữ, chủ yếu là hai môn Trung văn và Nga văn. Thời điểm Đảng và nhà nước ta hòa chung với một bộ phận Cộng Sản quốc tế “ Chống chủ nghĩa xét lại” thì tiếng Trung lên ngôi, tiếng Nga là phụ,  tôi học môn Trung văn do thầy Mai Thiệu ở trường cấp III Phúc Thọ ( Hà Tây cũ) dạy. Phải nói thầy Thiệu dạy tiếng trung Quốc rất “siêu”, khiến chúng tôi thuộc từ nhanh. Thầy còn tập cho chúng tôi hát những bài Trung Quốc lúc ấy như “ Đông phương hồng”, “ Ra khơi nhờ tay vững”, “ Công xã ta là hoa hướng dương”…Chẳng là, lúc ấy bên Trung Quốc đang tiến hành cách mạng văn hóa, tối tối đài phát thanh Bắc Kinh phát nhạc hiệu bằng bài hát “ Đông phương hồng” … trên nền nhạc ấy, thầy Thiệu dạy lời: “ tung pháng hùng, thai xèn xâng, trung quơ chủ lưa cớ mao trẹ tung…” ( Đông phương hồng, mặt trời lên, Trung Quốc chúng ta có Mao Trạch Đông) Chúng tôi học Trung văn hồn nhiên, vô tư vì nghĩ rằng nước mình với Trung Quốc là bạn, bạn đang giúp mình đánh Mỹ, Đảng và nhà nước ta coi họ và mình như “ môi với răng” thì nên học. Trong lớp tôi lúc ấy có thằng Nghĩa, nó học Trung văn rất giỏi, nhớ từ nhanh, viết chữ đẹp, được cử làm cán sự môn Trung Văn. Nó nói với tôi: “ Tao học giỏi, biết đâu được sang Trung Quốc, nói chuyện với họ khỏi phiên dịch. Nhất định họ quý tao lắm…”. Hôm có ông cán bộ của Ty Giáo dục Hà Tây ( cũ ) đến dự giờ, Thầy Mai Thiệu yêu cầu thằng Nghĩa bắt nhịp cho cả lớp hát bài “ Đông phương hồng” bằng hai thứ tiếng Việt Nam -Trung Quốc. Thằng Nghĩa đứng dậy, đi lên bục giảng, rồi quay mặt về phía lớp, rất đĩnh đạc vung tay bắt nhịp cho cả lớp hát bài hát trên. Tôi nhìn thằng Nghĩa nghĩ,  sau này, có khi nó làm phiên dịch tiếng Trung, oai phải biết, ghê phải biết! Còn ông cán bộ Ty Giáo dục dự giờ, nghe xong bài hát, khen lớp tôi rối rít: “ Các em hát hay lắm, thể hiện đúng tình cảm của chúng ta với Đảng và nhân dân Trung Quốc.”. Lớp tôi vỗ tay. Thầy Mai Thiệu nhìn Nghĩa sung sướng…

           Đó là học nghiêm túc, dạy nghiêm túc. Đến khi tôi chuyển trường, về một trường khác, ngoại ngữ lúc ấy tôi học, vẫn tiếng Trung, Thầy dạy lớp tôi môn này nói: “ Chỉ cần thuộc bốn nghìn chữ tượng hình Trung Quốc là coi như thoát nạn mù chữ!”. Nhưng chúng tôi học Thầy, đoán chắc Thầy cũng chưa thuộc hết bốn nghìn từ. Vì, nếu như tôi học Thầy Mai Thiệu nghiêm túc bao nhiêu, thì học Thầy này lơ mơ bấy nhiêu. Đến giờ Thầy có kiểm tra từ cũng rất đại khái.  Chúng tôi viết sẵn các từ đã học bằng bút chì cạnh bảng đen.  Kiểm tra viết từ cũ lên bảng, chúng tôi cứ nhìn hàng chữ viết bằng bút chì đó mà “tô” lên bảng, Thầy biết, cho qua. Rồi biết Thầy nghiện thuốc lá, chúng tôi góp tiền lại, mua cho Thầy mấy bao thuốc Trường Sơn, Tam Đảo…thế là Thầy cho chữa điểm vô tư. Điểm ba thành điểm tám, điểm một thành điểm bảy… thành ra, cuối năm lớp chín, điểm ngoại ngữ tiếng Trung của tôi và cả lớp rất cao nhưng chữ Thầy trả lại Thầy…Đến năm lớp mười, Thầy chuyển trường, trường tôi không có ai dạy môn này , đến giờ ngoại ngữ, được ra chơi, không có trò gì, chúng tôi đến gần cửa sổ trêu ghẹo bọn học tiếng Nga, nhại theo tiếng của chúng. Mấy thằng học tiếng Nga sau này than thở với chúng tôi: “ Biết thế hồi ấy chúng tao cũng học tiếng Trung với chúng mày, để bây giờ được như chúng mày, có sướng không ?”.

          Học ngoại ngữ thời bao cấp, ỏ mấy cấp phổ thông, là như vậy, hình như học cho có, chỗ được, chỗ mất. May cho đứa nào vào được trường ngoại ngữ, đúng bộ môn mình học còn có chút vốn liếng. Còn vào các trường khác thì coi như đồ bỏ, học mà không học, phải học lại từ đầu.

          Đến khi vào đại học, nếu là trường không chuyên ngoại ngữ,  đại bộ phận sinh viên lúc ấy đều thích học tiếng Nga, chứ không thích học tiếng Trung. Cũng có thể, học tiếng Nga có vẻ dễ viết hơn tiếng Trung, trông cũng “oai” hơn, cầm giáo trình tiếng Nga in rônêo dày cộp mặt cũng vênh lên một tý… Nhưng có một điều, sau này chúng tôi mới biết, Đảng cộng sản Trung Quốc, đứng đầu là Mao Trạch Đông tìm cách đi đêm, qua bản thông cáo Thượng Hải, dùng Việt Nam là  “món hàng mặc cả” với Mỹ để nhằm đạt được quyền lợi ích kỷ của mình. Báo chí Việt Nam, thông qua những bình luận, cả những phát biểu của mấy vị lãnh đạo trong một số cuộc mít tinh lên án hành động này của nhà cầm quyền Trung Quốc. Điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng đến việc học tiếng Trung. Nhiều người, hồi phổ thông học tiếng Trung, lên đại học cũng bỏ, lao sang học tiếng Nga. Học tiếng Nga ở Đại học, hồi ấy không có máy ghi âm, phòng tiếng…như bây giờ. Học trên lớp, giáo viên cho từ mới, về nhà học viên cứ thế mà học thuộc lòng. Khổ nhất là mấy ông cán bộ hoặc bộ đội phục viên về đi học. Hôm nào có từ mới là các ông ấy luyện bằng cách gào. Chỗ nào mà gào được, là các ông ấy gào, bất chấp đấy là giờ tự học, hay có người ngồi bên cạnh đang tâm sự. Trong lớp tôi khi ấy, có một ông cán bộ đi học, học Nga văn là chăm nhất lớp. Ấy vậy, mà không vào được chữ nào, học như tra tấn. Học mãi mà kết quả không như ý, ông ấy lắc đầu chán nản: “ Em có tin không ? Anh đi ỉa, cũng cầm từ mới tiếng Nga để ôn, thế mà vẫn không thuộc! Khó quá.” Rồi ông ấy ngồi thừ ra, thở dài, ánh mắt đăm chiêu như có điều gì phải nghĩ ngợi. Tôi thấy lạ, hỏi lại: “ Anh nghĩ gì mà ngồi thừ ra thế?”. Ông ấy hạ giọng, nói thì thầm: “ Cũng lạ em nhỉ ! Tiếng Nga khó thế mà ông Lê Nin viết được toàn tập… Bố ấy đúng là thiên tài…thiên tài…”!!!  

          Chiều nào trên sân thượng A6, A7… của khu ký túc xá trường ĐHSP Hà Nội 1 chẳng vang lên những bài hát như “ đôi bờ”, “ Chiều Matxcơva”, “ Cachiusa”, “ Bài ca thanh niên sôi nổi”, “ Đôi bờ”, “ Cây thùy dương”, “ ngôi sao ban chiều”…Còn những bài hát Trung Quốc chúng tôi thuộc từ hồi phổ thông, vì chán không muốn học,  bị chế lại, như bài “ Ra khơi nhờ tay lái vững…” sang lời Việt thành: “ … sáng ngày ra ăn cháo, ăn cơm gì chưa? Cầm cơ lê, mỏ lết ta chui vào gầm…” . Thậm chí, chúng tôi tìm cách xuyên tạc như bài “ Cây thùy dương” của Nga chúng tôi cũng chế thành bài “ Mao Trạch Đông bơi trên sông Trường Giang”: “… Người rất ít ra tắm sông, người vẫn bơi nhanh hơn tàu. Tàu từ từ tăng hết số ra xa, người vẫn dẫn đầu…” .

            Rồi bọn tôi ra trường trở thành các thầy, cô giáo, nói chung, chẳng ai sử dụng ngoại ngữ đã học, mà không sử dụng ngoại ngữ tất yếu dẫn đến “ quên”, từ “quên” sẽ “ bỏ”…

             Nhưng cũng phải nói cho hết nhẽ, không phải tiếng Nga, tiếng Trung học xong rồi bỏ đó, vẫn có người sử dụng, sử dụng thành thạo, ví như những người làm công tác phiên dịch, chuyên môn có liên quan đến hai thứ tiếng này trong quân đội, kỹ thuật, hay như những sinh  viên được đào tạo ở Trung Quốc, Liên Xô ( cũ ) trở về… Nhưng ý tôi muốn nói, để trở thành một phong trào học ngoại ngữ sâu rộng, bền chắc như tiếng Anh bây giờ, thì học ngoại ngữ thời bao cấp không có được. Giá như đừng chạy theo chính trị, đừng để chính trị ám vào, trong giáo dục học ngoại ngữ, bất kể đó là thứ tiếng nước nào, học nghiêm túc, có sử dụng, có đào tạo dài hơi, có hệ thống thì bây giờ chúng ta có một đội ngũ cán bộ sử dụng tốt tiếng Trung, Tiếng Nga không phải đào tạo lại.

            Tôi kể thêm một chuyện.

             Khoảng năm 1979, tôi đang ở chợ Hà Đông, bỗng có tiếng chào khẽ bên tai: “ Nỉ hảo!” (chào anh – Tiếng Trung Quốc), tôi giật mình quay lại, tưởng ai, hóa ra thằng Nghĩa, cán sự tiếng Trung Quốc lớp của tôi hồi nào. Nhưng giờ thì… nó là thằng mua chó về thịt. Nhìn hình hài nó  thật thiểu não, bộ quần áo bộ đội xộc xệch, ống thấp, ống cao, đi dép lê quèn quẹt, tóc tai rối bù,  mặt toàn nét khắc khổ với vất vả. Tôi hỏi nó: “ Sao mày lại như thế này? Tao tưởng hồi đó mày giỏi tiếng Trung Quốc, phải đi học Đại học Ngoại ngữ chứ !”. Nó giải thích: “ Thì cũng định như thế! Nhưng hết lớp chín tao đi bộ đội, đánh nhau ở Lào, bị thương rồi về…định học tiếp, dính chuyện vợ con, đành chịu. Còn tiếng Trung, giờ cả nước đang chống Trung Quốc, tao mà nói tiếng Trung ra, họ lại tưởng hoa kiều, táng “củ đậu” vào đầu thì bỏ mẹ!”.

          Lại nói đến tiếng Nga, tôi học ngoại ngữ tiếng Nga cũng liên tục, suốt mấy năm đại học cho đến chương trình sau đại học. nhưng đến thời kỳ “ đổi mới”, Tiếng Nga không trở thành ngôn ngữ thứ hai thông dụng nữa, mà thay vào đó là tiếng Anh. Có lẽ lúc này, ngoại ngữ mới thực sự trở lại đúng vị trí của mình khi sự giao thương với thế giới được mở rộng hết cỡ của sự ngoại biên, đủ các tầng, các lớp, từ văn hóa, chính trị, đến kinh tế…đâu đâu cũng cần dùng tiếng Anh. Cũng chính vì thế, ngoại ngữ tôi nắm được ở dạng tương đối là tiếng Nga, bị mai một dần. Lỗi này, điều chính là do tôi, có thể vì lười, vì ngại, vì dốt… nhưng về khách quan, khi Liên Xô sụp đổ, ở Việt Nam, “nhãn quan chính trị ” nhìn về nước Nga, nơi một thời được gọi “ Quê hương của XHCN, đất nước của Lê Nin vĩ đại” không còn “đẹp” như xưa! Thế là tiếng Nga đang là ngoại ngữ nhiều người học, tự nhiên thui chột dần, phạm vi lan tỏa cũng loãng dần, số ngươi biết tiếng Nga, cứ thế ít dần…Tôi không có điều kiện giao lưu, học hỏi nên trình độ ngoại ngữ tiếng Nga cũng vì thế, không thể giỏi bằng… tiếng Việt!!! Nhớ lần tôi cùng một số nhà văn Việt Nam sang thăm Trung Quốc, nhà văn Hà Phạm Phú hỏi tôi có biết tiếng Nga không ? Tôi dại dột nói biết, nhà văn Hà Phạm Phú giới thiệu cho tôi làm quen với một nhà văn Trung Quốc biết tiếng Nga. Ông ấy nói tiếng Nga như gió, còn mình thì ú ớ như ngậm hột thị. Xấu hổ không để đâu cho hết…

             Học ngoại ngữ thời bao cấp, trường hợp của tôi có lẽ cũng không phải là cá biệt.

             Mà suy cho cùng, học ngoại ngữ thời bao cấp cũng do nền giáo dục “ tư tưởng tiểu nông” đè nặng. Học cho có, để khoe, không thực chất, nặng hình thức, không thực dụng, giỏi bắt chước nhưng để áp dụng thì gần như không thực hiện được gì. Yêu thì học, ghét thì bỏ, mục tiêu không quan trọng. Cuối cùng chỉ đưa lại một kết quả tiêu cực, lãng phí, đến lúc tỉnh ngộ thì đã muộn!

             May bây giờ, tiếng Anh, thời kinh tế thị trường là một ngoại ngữ bắt buộc, dùng nó là một trong những phương tiện quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội, hòa nhập… Các em học sinh, sinh viên học tiếng Anh không bị chính trị “ ám” như thời chúng tôi đã học, nên tiếng Anh phát triển rất rộng rãi, phổ cập trong các trường phổ thông, đại học cũng như ngoài xã hội. Rồi chính ngoại ngữ, như tiếng Anh được sử dụng một cách thông dụng, các em học sinh, sinh viên có điều kiện so sánh, đối chứng, hiểu sự thật. Các em sẽ thấy con đường sáng để đi đến tương lai một cách tốt nhất. 

             Đó mới là thực chất của việc học ngoại ngữ.

 

 

              

]]>
http://trankytrung.com/read.php?445 <![CDATA[MỘT VÀI KỶ NIỆM CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP SÁCH]]> kytrung <trungky_tran@yahoo.com> Fri, 25 Nov 2011 04:51:38 +0000 http://trankytrung.com/read.php?445

                   MỘT VÀI KỶ NIỆM CỦA NGƯỜI BIÊN TẬP SÁCH
 
          Từ một cơ quan của giáo dục, tôi chuyển về làm anh biên tập sách của một Nhà Xuất Bản miền Trung. Làm biên tập sách, tôi hiểu, là người phải có trình độ, có vốn sống, có tài năng…Trên thực tế, người biên tập sách, chính là một “tác giả thứ hai” của quyển sách mình biên tập. Nói điều này không phải quá, khi biên tập sách, người biên tập có thể đưa ra nhận định, đính chính lại các điển tích, sửa câu ngữ pháp sai…trong quyển sách mình biên tập, quan trong nhất, làm được việc đó được tác giả chấp nhận. Lại còn một điều nữa, người biên tập sách phải có bản lĩnh, sẵn sàng bảo vệ quan điểm của mình, bảo vệ cái “ đúng”, trước Tổng biên tập, hội đồng biên tập và trước cả dư luận. Tôi còn nhớ, khi tôi biên tập cuốn sách “ BÀN VÀ LUẬN” của Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện, một nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Với những bài viết của Ông, nói thật, tôi không dám sửa một chữ nào. Vì Ông viết hay, chắc, lập luận rõ ràng từng vấn đề một. Từ những vấn đề lớn của xã hội như thế nào là dân chủ, thế nào là nền giáo dục hiện đại, tiên tiến… và đến những vấn đề rất nhỏ như biến những ao hồ vùng làng quê để xây bể bơi cho con em nông dân tập bơi. Xây như thế nào tiện nhất, rẻ nhất, ai cũng làm được. Rồi chuyện học đá cầu, một môn thể thao giải trí rất lành mạnh, nhiều đối tượng có thể tham gia, dễ học, chỗ nào cũng có thể trở thành sân chơi …Khi tôi biên tập cuốn sách này, tôi nghĩ, giá như những điều Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện viết ra, được xã hội chấp nhận, thành một phong trào thì tốt biết bao nhiêu. Bây giờ mới thấy ý kiến của Bác Sỹ Nguyễn Khắc Viện còn nguyên tính thời sự. Trong quyển sách đó, Bác Sỹ dành nhiều bài đề cập về khái niệm “ Dân Chủ”. “ Đây là một khái niệm rất lớn, các anh, các chị ạ! – như một lần Ông đến thăm NXB và nói chuyện với chúng tôi-  “ Muốn hiểu thế nào là dân chủ, chúng ta phải học các nền văn minh tiên tiến trên thế giới, học các nước quản lý tốt bằng luật pháp trên thế giới. Không thể gọi“ Dân chủ tư sản là dân chủ giả hiệu” rồi ra sức phản bác bằng những lập luận thiếu thuyết phục, thiếu luận chứng khoa học. Chúng ta phải hiểu, để đạt được một chế độ dân chủ như hiện nay, một luật pháp thượng tôn từ người dân thường đến tổng thống đều phải chấp hành, nhân dân các nước dân chủ tư bản đó phải trải qua rất nhiều cuộc đấu tranh, trả giá bằng hàng triệu sinh mạng con người, bằng những cuộc cách mạng long trời, lở đất. Nhiều vị lãnh tụ của những cuộc cách mạng đó đã bị chế độ phong kiến, phản dân chủ chém đầu. Họ vẫn không sợ, lên đoạn đầu đài với thái độ hiên ngang, có niềm tin bất diệt về sự thắng lợi của một cuộc cách mạng dân chủ mới… Các nước đó, hiện nay được tự do biểu tình, tự do báo chí, xuất bản, có quyền kiện tổng thống, chính phủ… khi đưa ra những chính sách sai…Đó là thành quả của những cuộc cách mạng lớn, không thể gọi đó là “ dân chủ giả hiệu” mà phải gọi chính xác là “ dân chủ nhân dân”. Ông khuyên chúng tôi rất chân thành: “ Các anh, chị làm biên tập nên học nữa, đọc nữa, giỏi ngoại ngữ, tiếp thu tinh hoa thế giới. Chỉ có thể hiểu người, hiểu bạn mới hiểu ta…” . Được đọc và trực tiếp nghe những lời của Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện khuyên bảo, chúng tôi sáng ra nhiều điều. Trong lời giới thiệu cuốn sách này, xuất bản lần đầu ở NXB Đà Nẵng, tôi viết ở đoạn cuối: “ … Trong cuộc đấu tranh để có một nền dân chủ , công bằng thực sự, những người dám dấn thân, chấp nhận phong ba, bão táp, thậm chí cả sinh mạng chính trị của mình, họ vẫn quyết tâm đạt mục tiêu đó đến cùng. Đó là những con người rất đáng kính phục…”. Câu này bị ông Tổng biên tập gạch, không cho in. Tôi rất tiếc, bởi hình ảnh của Bác Sỹ Nguyễn Khắc Viện, là hình ảnh của một trí thức lớn, một nhân cách lớn, tôi rất khâm phục. Tôi xuống nhà in, lấy lại bản thảo và tìm mọi cách đưa câu cuối trong lời giới thiệu vào và nghĩ nếu mình bị kỷ luật, cũng sẵn sàng. Sau này khi sách in ra, Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện đã gửi lời cảm ơn đến anh Nguyễn Văn Giai, Giám đốc kiêm Tổng biên tập NXB Đà Nẵng đã in cuốn sách, đặc biệt là lời giới thiệu. Anh Giai rất vui… Chỉ thế thôi, tôi mừng, ít nhất mình cũng làm được một việc nhỏ để xã hội chúng ta có một tác phẩm tốt, mọi người sống với nhau đẹp hơn.
            Tôi còn một kỷ niệm vui nữa, khi in một tập truyện ngắn của một nhà văn viết về chiến tranh, tôi đặt bìa cho họa sỹ với ý tưởng căn cứ vào nội dung những truyện ngắn trong tập, vẽ ba bìa, chọn một. Tôi chọn bức vẽ là một vết nổ lớn màu đỏ choáng hết cả cái bìa, bên dưới hàng chữ đen ngả nghiêng, tên tập truyện ngắn. Tôi muốn diễn tả sự khốc liệt chiến tranh vì cả tập truyện ngắn, người đọc, đọc lên thấy sự khiếp đảm của bom, đạn, chém, giết. Chiến tranh đã biến con người thành những cái máy giết người vô hồn, nhất là những cuộc nội chiến, không có người chiến thắng, không có người thua cuộc, chỉ có máu và nước mắt. Khi tôi trình bày bìa này cho ông Trưởng phòng, nguyên là phóng viên một tờ báo lớn. Mới đầu ông nghe ra, có vẻ khoái lại còn khen tôi: “ Cái bìa cậu chọn mang tính nhân văn lớn lắm! lên án chiến tranh ghê lắm!”. Ai ngờ… khi sách in ra, lại có ý kiến của cấp trên, quản lý NXB cho rằng, bìa sách của tập truyện ngắn nọ là phản ánh “tiêu cực, mặt trái của chiến tranh”. Ông Trưởng phòng quay ra phê bình tôi gay gắt: “ Nhận thức chính trị còn nông cạn, trình độ thẩm mỹ kém. Sẽ trừ vào điểm thi đua cuối năm”. May cho tôi, lúc đó anh Nguyễn Văn Giai, Giám đốc Nhà Xuất Bản gọi lên, yêu cầu trình bày lại toàn bộ nội dung cuốn sách và anh hỏi vì sao lại đặt vẽ bìa như thế này? Tôi biết tính anh Giai là rất tin vào cấp dưới, như có lần anh nói vui: “ Đảng, nhà nước phân công, thì làm chứ tôi có biết viết, biết vẽ đâu mà biên tập với duyệt. Có điều các anh là người có học, có trình độ có gắng biên tập đừng để xảy ra sai sót. Phải biết bảo vệ quan điểm của mình, nếu đúng tôi ủng hộ, nếu sai thì… tôi thiến!” . Vì thế, tôi cố gắng diễn giải cho anh hiểu vì sao quyển sách có cái bìa trên. Anh nghe chăm chú, rồi nói với tôi : “ Ông nói thế là tôi hiểu rồi, nhưng ông nhớ cho, chẳng lẽ mỗi lần vẽ bìa ông lại ôm quyển sách gặp mấy ông cấp trên để giải thích như đang giải thích với tôi như thế này sao? Các ông ấy không nghe đâu. Vẽ bìa, các ông chú ý hộ tôi, nếu viết về chiến tranh, cứ cố gắng vẽ diễn tả ta thắng địch thua là được! Còn cái bìa này, qua lời ông giảng giải tôi hiểu, tôi sẽ nói lại với các ông ấy”. Chuyện này rồi cũng qua đi, vui nhất là ông Trưởng phòng của tôi, sau này lại còn nói : “ Cái bìa cậu đặt  tay họa sỹ vẽ tôi trông giống như cái… của đàn bà đến tháng!”
         Đến chịu ông này.
         Làm người biên tập, tôi nghĩ, cần có lòng dũng cảm, tự trọng. Giữa thời buổi đồng thau lẫn lộn, có những nhà văn tận tâm, thực tài, họ viết ít, nhưng có rất nhiều NXB đến đặt vấn đề xuất bản, nhưng cũng có người viết sách chỉ muốn in lấy được, bất chấp dư luận, bất chấp phản ứng tốt, xấu từ phía bạn đọc, cốt chỉ để khoe mẽ, lên gân. Quyển sách nào mà tác giả mang đến cũng là “ viết như thần”, “ Nội dung khái quát cả thời đại” v.v… Nếu Biên tập viên không vững vàng, dao động, rất dễ gật đầu để rồi có một tác phẩm “ không ra hồn, không ra dáng, thẩm mỹ méo, nội dung khô” đến với bạn đọc.  Bạn tôi, có một lần hứng chịu cảnh này.
       Năm ấy có một ông nhà văn từ miền bắc vào, ôm một bản thảo dày cộm. Bản thảo này, một số NXB phía bắc đã không in vì nội dung chưa phù hợp. Ông nhà văn hy vọng ở NXB chúng tôi, tác phẩm này,  sẽ ra mắt bạn đọc. Biết bạn tôi cũng là người viết văn. Đầu tiên ông ấy bốc bạn tôi lên tận mây xanh: “ …Mình đọc văn của ông rồi. Văn của ông, tôi tin cỡ như Nguyễn Huy Thiệp hay Phạm Thị Hoài nếu có đọc, chắc họ sẽ gác bút. Văn ông đọc lên, tôi cứ như bị ma ám, không thể dứt ra được! Kinh quá!”. Ông ấy nói với bạn tôi cứ như thật, như đã đọc rồi. Chứ bạn tôi có biết đâu, vừa hôm qua, ông gọi tôi ra rồi hỏi nhỏ: “ Mày nói cho tao biết thằng ấy nó viết những truyện ngắn gì? Nội dung ra làm sao? Để tao biết còn nói chuyện với nó…” Ồng nói với bạn tôi về tác phẩm ông đang cầm trên tay: “ Mình nói với ông, đây tác phẩm mình rút hết ruột gan ra để viết. Xin lỗi ông nhá! Nguyễn Du viết về Kiều cũng chỉ bằng mình viết về nhân vật này thôi. Ông đọc đi, ông sẽ thấy, nhân vật chính tôi viết còn đau gấp ngàn lần nàng Kiều. Sự đày đọa của những kẻ có chức, có quyền với nhân vật chính trong tác phẩm này, nếu như nàng Kiều là có thực, hiện diện về đây, đọc tác phẩm này sẽ kêu lên: “ Trời ơi! Tưởng mình khổ, hóa ra lại có người còn khổ hơn mình! Trời ơi”. Thấy bạn tôi im lặng, như đang lắng nghe, ông ta nói tiếp: “ Các ông in đi, in độ mười nghìn bản, tôi đảm bảo chỉ cần đọc mấy bài phê bình, giỏi quảng cáo trong vòng một tháng là bán hết, phải nối bản cho mà xem”. Rồi như sách đã in, mười nghìn bản đã có, ông ấy yêu cầu: “ In mười nghìn bản thì nhuận bút các ông trả cho mình là bao nhiêu? Bốn triệu nhá!” ( thời điểm năm 1991 – 1994). Đấy là ông ấy chưa tính vào chuyện ăn dầm, nằm dề ở nhà khách của NXB gần một tháng để cố công thuyết phục NXB in sách mà không mất một đồng xu nào? May thay, bạn tôi, dù rất quý các nhà văn, nhưng sau khi tham khảo ý kiến tập thể, cũng như một số NXB khác và nhất là qua tính cách của ông nhà văn này đã cương quyết không in tác phẩm mà ông ấy ví ngang truyện Kiều.
          Chuyện biên tập sách của người biên tập viên, tôi nghĩ, cũng nhiều nỗi buồn vui như nhân tình thế thái bây giờ. Chỉ có điều, chuyện buồn thì quên đi, chuyện vui thì nhớ, cố gắng sống, viết, biên tập cho tốt, có tác phẩm hay được bạn đọc khen.
          Mong gì hơn!
          
 
        
]]>