Mấy lời dẫn ở trước bài thơ, tác giả nói rõ: 
ĐÂY LÀ BÀI THƠ TÔI VIẾT CHO NHỮNG NGÀY 30 THÁNG 4 TRÊN ĐẤT NƯỚC TÔI; viết cho người nằm xuống, người đứng lên, người ra đi, người ở lại; cho những nỗi và niềm đầy ngang trái cứ ngoáy vào vết thương lịch sử. Ai comment, xin hãy nghĩ đến câu “tiên trách kỷ nhi hậu trách nhân”. Xin cảm ơn!

 

THƯA MẸ VIỆT NAM

 

Mẹ ơi!
Khi Cha nói với Mẹ rằng
Ta là giòng giống của Rồng
Nàng là giòng giống của Tiên
sống với nhau hoài không đặng
Sao Mẹ không nhắc Cha câu gừng cay muối mặn
Sao Mẹ không trả lời Cha
Đi mô đem thiếp đi cùng
đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp theo
Khi Cha bảo Mẹ đem năm mươi con lên núi
Sao Mẹ không trả lời Cha
Lấy chồng thì phải theo chồng
chồng đi đường rắn đường rồng cũng theo
Khi Cha hứa với Mẹ nếu gặp khó khăn
Nàng hãy cùng các con gọi to về biển
Sao Mẹ không trả lời Cha
Chúng ta thà no đói có nhau 
râu tôm nấu với ruột bầu
thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn
Sao Mẹ chấp nhận để một trăm đứa con phải chia ly đôi ngả
Để cuống rốn chúng con bị cắt đứt làm hai
Sao Mẹ chịu khổ đau một mình mà không nói với ai
dắt díu năm mươi con đi lên miền núi thẳm
để năm mươi thiếu vắng hơi mình
Ước chi ngày xưa Mẹ cứ bên Cha cho trọn nghĩa tình
dù vất vả đắng cay 
dù chịu nhiều cơ cực
nuôi chúng con bằng nước sông Hồng 
với cơm tấm, ổ rơm
bên ướt Mẹ nằm...
Để đêm đêm dưới ánh trăng rằm
Chúng con được nghe lời Mẹ dạy
Rằng anh em như thể tay chân
Chị ngã em nâng
Gà cùng một mẹ...
.
Chúng con lớn lên
Cách núi ngăn sông 
Xa mặt cách lòng
Năm mươi đứa xa cha như nhà không nóc
Năm mươi đứa thiếu mẹ quên chín chữ cù lao
không biết quý câu một giọt máu đào
bao bận nồi da xáo thịt
Chúng con chia nhà Mẹ thành hai ngõ
ngõ Đàng Ngoài và ngõ Đàng Trong
ngõ bên này và ngõ bên kia sông 
Vì danh lợi
vì tiền tài
vì nhiều điều khác nữa
mà có ngày xem nhau là nước lửa
Rồi bất hiếu bàn nhau
rạch ngang mình Mẹ
cầu Hiền Lương đè nặng buồng tim
.
Mẹ ở đâu giữa hai miền Bắc Nam 
Khi bao con gái của Mẹ hóa thành hòn vọng phu
bao con trai thành chiến sĩ trận vong hoặc thành liệt sĩ 
Dẫu ở bên nào 
cũng đều là con Mẹ
tàn hại lẫn nhau
Đứa nào cũng nói trước nói sau
là vì muốn chấm dứt nỗi đau
vì muốn giúp Mẹ được nối liền thân ngọc
nên đứa nào cũng súng gươm hằn học
trút xuống đầu nhau vô số nỗi tai ương 
Làm sao có thể nối liền vết thương 
bằng phát súng nhát gươm 
chứ không phải bằng sợi chỉ
sợi chỉ dài se từ những tình thương
.
Nhân danh gì mà chúng con ngợi ca 
hoặc chì chiết sự sống lẫn cái chết của nhau
Nhân danh gì mà gọi nhau là địch
đếm xác anh em xây thắng lợi cho mình
Ai cũng nói là yêu Mẹ với tất cả tâm tình
Ai cũng bảo là hoàn toàn vì Mẹ
Càng yêu Mẹ nhiều càng phải giết anh em?
.
Mẹ có ngờ đâu
các con lớn khôn
không muốn hát câu nhiễu điều phủ lấy giá gương
không muốn hát câu bầu ơi thương lấy bí
mà thích hát trên những xác người
Chúng con hát trên những xác người bài hát hân hoan
Chúng con say sưa ngợi ca lý tưởng của mình
không nghĩ đến Mẹ thế nào khi nhìn anh em con chém giết
.
Chẳng có ai cần biết
Mẹ ở đâu trong những trận tương tàn
trong tiếng súng đêm ngày dội về đinh tai nhức óc
Mẹ đứng ở trời Nam để ngóng về đất Bắc
hay đứng giữa dòng Bến Hải
lấy nước sông làm dịu nỗi xót lòng...
.
Mẹ sinh ra chúng con trong cùng một bọc
Những tưởng để thương nhau
Đâu nghĩ đến ngày sau 
trăm đứa con trai xé nát bọc đồng bào
xẻ chia thân mẹ
Mấy trăm năm vết cắt cũ vẫn còn 
Mấy mươi năm vết xẻ mới vẫn chưa liền sẹo 
Trăm đứa con vẫn còn đi muôn nẻo
trăm tấm lòng vẫn chưa hết hờn căm
Ai cũng nói cuộc đời có bao lăm
mà chẳng ai chịu nhường ai một bước
Cũng là một từ đất nước
mà trong một ngày
có người gọi là giải phóng quê hương
có người kêu là ngày quốc hận
Rồi kẻ cười người khóc
người đoàn tụ kẻ biệt ly
người hồ hởi đeo huy chương đứng trước máy truyền hình
kẻ uất hận nuốt tủi hờn trong bóng tối
Hơn bốn mươi năm rồi
chưa một ai nói với Mẹ là chính mình có lỗi
mà chỉ chực chờ đổ lỗi cho nhau
.
Mẹ ơi!
Ngang trái trái ngang
hận thù thù hận
khổ đau đau khổ
vòng luẩn quẩn không cởi ra mà càng thít chặt
Đường đời lắm thương đau
nhiều gập ghềnh lắt lẻo
chẳng có đứa con nào chịu nắm tay Mẹ dắt
nên đã lạc lối lầm đường 
chẳng đứa nào chín bỏ làm mười
nên chúng xát muối vào lòng nhau mỗi khi có thể
Khép lại lịch sử… vẫn biết là như thế
Sao chỉ khép với người ngoài 
còn với anh em thì cày đi xới lại
mát dạ người này thì rát dạ người kia
.
Vì sao?
Vì sao?
Có phải vì xa cách nhau
từ cái thuở Mẹ Cha mỗi người mỗi ngả
nên bây giờ đứa con nào cũng thế
thích bán anh em xa mua láng giềng gần
dù không khác máu nhưng vẫn tanh lòng...
.
Mẹ đau!
Mẹ đau!
Hãy nhắc cho kỹ, nhớ cho sâu
Khi con hát bài ca chiến thắng
là khi mẹ dâng trào cay đắng
Sung sướng chi mà nối liền khúc ruột mình bằng xác những đứa con
.
Mẹ có ngờ đâu
sau khúc khải hoàn
Con của mẹ thay chiến hào bằng nhà tù khắp chốn
để giam giữ anh em
Chiến tranh không còn 
nhưng máu vẫn đổ
bao nhiêu đứa con Mẹ bị chôn sấp dập ngửa trên rừng vàng
bao nhiêu đứa chìm sâu dưới biển bạc 
bao nhiêu đứa cập bến rồi vẫn lênh đênh phiêu dạt
Con rồng cháu tiên, lá ngọc cành vàng
phải có ngày nâng niu bàn chân thiên hạ
kiếm đồng tiền nương náu phận lưu vong
Nuốt oán nuôi thù phục hận long đong đất khách
như dã tràng xe cát
Giàu sang thành đạt hiển hách nơi xứ người
khác nào mặc áo gấm đi đêm
.
Xưa Mẹ vọng phu
bây giờ vọng tử
héo hon, mòn mỏi
vọng các con về dưới mái yêu thương
nơi có những hàng tre xanh mát con đường 
quên hết muộn phiền không còn thù hận...
.
Làm sao?
Làm sao?
Chúng con có thể cùng nhau
cúi đầu trước Mẹ
hóa giải thù xưa nói lời tạ tội
Để nước mắt thôi rơi
để tóc Mẹ xanh 
để lòng Mẹ mát
để vết thương bao nhiêu năm chà xát
không còn hành hạ Mẹ ngày đêm

...
Dẫu biết rằng không thể đợi chờ thêm 
Không thể đợi chờ thêm...
Nhưng...
Làm sao?
Phải làm sao?
Thưa Mẹ Việt Nam?

NGUYỄN THỊ TỊNH THI 
(Huế, tháng 4 năm 2018)

TRUYỆN NGẮN - 99

[Không rõ 20/04/2018 13:07 | by kytrung ]

 

Sợ truyện ngắn của người lớn quá ( Ảnh minh họa)

 

                                                          DỰ ĐÁM TANG

 

Thế là thắng ấy chết. Ông khoái trong bụng. khoái thực sự nhưng bề ngoài nét mặt vẫn thể hiện sự đau đớn:
- Tôi thương đồng chí ấy quá ! Đến tận bây giờ vẫn thương.
- Đám tang của anh ấy, anh đến chứ!
- Dứt khoát phải đến, dù thế nào… tình đồng chí với nhau không thể không đến – Ông trả lời buồn bã với người thư ký.
Người thư ký hỏi ông, ông thừa biết ẩn ý đằng sau câu hỏi ấy.
Khi còn sống, hắn và ông thành hai kẻ không “đội trời chung”. Hắn coi thường ông ra mặt, từ trình độ đến tư cách đạo đức. Trong những cuộc họp thường vụ, hắn lớn tiếng yêu cầu ông phải trả lời rõ ràng về chuyện hô biến bán mấy chục căn nhà công vụ mặt tiền, không qua đấu giá, cho một doanh nghiệp để hưởng “hoa hồng” cao, làm thiệt hại ngân sách nhà nước hàng trăm tỷ đồng. Rồi hắn lên án, ông lập “phe, nhóm” cấu kết với những kẻ, mà như hắn nói: “ …tạo thành một tổ chức maphia trong đảng, phá nát nền kinh tế tỉnh nhà, gây những bất ổn xã hội rõ nhất là sự bất bình của người dân…” Tiếng nói của hắn được dư luận ủng hộ, làm cho ông càng điên tiết. May cho ông, ông được một ông “to” ở trên che chắn, cũng chỉ vì…ông to này cũng không thích hắn, đang tìm cách loại bỏ. Ông ta yêu cầu tổ chức thẩm tra lý lịch của hắn.Trong lý lịch có một giai đoạn “không rõ ràng”, nên kỳ đại hội vừa rồi, hắn không có trong danh sách được bầu vào ban thường vụ…
Hắn xin về hưu trước tuổi.
Khi về hưu, hắn viết bài, thậm chí đưa lên cả facebook những bài viết chi tiết, rõ ràng vạch ra sự tha hóa của một loạt cán bộ lãnh đạo đương chức của tỉnh, trong đó có ông. Hắn còn gặp gỡ người dân mất đất giúp họ viết đơn khiếu nại, đi kiện… Ông gặp hắn, cảnh cáo:
- Anh dừng ngay những việc đó lại, kẻo có lúc ân hận!
Hắn nhìn ông, ánh mắt không hề biểu hiện bối rối, trả lời như thách thức:
- Tôi không bao giờ ân hận về việc làm của mình. Vì đó là việc làm chính nghĩa, bảo vệ quyền lợi của người dân. Người dân sẽ ủng hộ… Nhắc lại với anh, tôi không ân hận!
- Ai có biết không ? Việc làm của anh đang phá hoại sự ổn định xã hội, xói mòn lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của đảng. Không ai ủng hộ anh cả. Thậm chí…tôi nói cho anh biết, anh có chết cũng không có ai thương đâu!
Hắn cười:
- Anh nhầm! Những người dám dấn thân, thậm chí cả mạng sống của mình cho quyền lợi của người dân, người dân sẽ ghi nhớ, biết ơn. Những việc làm của anh như diễn ra vừa rồi, không khắc phục, người dân coi anh sống mà như chết. Còn tôi, sẽ ngược lại với anh. Dân sẽ không quên tôi, anh tin thế đi…
Thằng ngoan cố, không biết điều. Để xem…
Sau một trận ốm nặng, hắn chết. Nhận được tin báo, bề ngoài ông ra vẻ ngạc nhiên:
- Thật sao? Đang dự định đến thăm anh ấy, thế là không kịp. Anh ấy “đi” nhanh quá! 
Nói thì nói vậy, bên trong ông lại nghĩ: “ Cho nó chết. Xứng đáng lắm, con ạ!.”
... Cái chết của thằng này được báo chí rất quan tâm, nhiều tờ báo đưa tin, dành những hàng chữ rất trang trọng: “ Một ngôi sao sáng nhân từ vì dân vụt tắt.”. “ Hành động và suy nghĩ của một người cán bộ vì dân sẽ được người dân ghi nhớ!”. “ Sống vì dân, chết sẽ được dân thờ!”… 
Báo chí đã viết như thế, ông không thể không đến viếng.
Thư ký cho ông biết, đám ma của hắn đông người đến viếng lắm. Ông nói với thư ký:
- Anh đến trước xem tình hình, rồi đặt một vòng hoa to, đề rõ tên tôi trên băng tang. Đồng thời, anh nói với bên công an, dân phòng dẹp đường, khi ô tô tôi đến. Tôi sợ đông người, cản trở giao thông, ô tô không đi được, rất mất thời gian.
Ngược với suy nghĩ của ông, khi đến viếng, ô tô đi thỏa mái, đường rộng thênh thang, nơi đặt quan tài của hắn gần như vắng hẳn bóng người, chỉ còn mấy người phục vụ đám ma đi lại. Điều ngạc nhiên nữa, không thấy vòng hoa, chỉ có vòng hoa đề tên ông trơ trọi đặt trước quan tài…
Cũng là một cảnh kỳ lạ. Thế mà thư ký lại nói là "đám ma có đông người đến viếng!"
Khi về, trên xe ô tô ông hỏi người thư ký :
- Sao đám ma của ông ấy ít người đến viếng thế? 
Người thư ký ầm ừ, lúng túng không thể trả lời câu hỏi của ông.
Anh ấy trả lời như thế nào được, khi chứng kiến, những người dân đến viếng người vừa nằm xuống, nghe tin ông đến họ vội lảng tránh, thu vòng hoa, không muốn thấy mặt ông. Họ chạy trốn như trốn “ một thằng hủi”. Đã vậy có người nói:
- Lão ấy sống chỉ có hại dân, nhìn thấy mặt đã muốn đấm. Lão ấy mà chết, chó đến viếng!

 

 

                                                   CHUYỆN TÌNH CỦA CHÚ TÔI

 

Chuyện chú đón người yêu về Việt Nam làm náo động không phải chỉ riêng trong gia đình, mà cả phố, đâu đâu cũng nghe những lời bàn tán.
Chuyện là thế này.
… Hồi ấy, chú được cử đi học ở một nước thuộc phe ta. Nước này rất chuyên chính, yêu vô sản, thành kính lãnh tụ, đoàn kết toàn diện với Việt Nam. Lớ ngớ thế nào chú lại yêu một cô gái người nước đó, mà chuyện yêu một người nước ngoài, đảng và nhà nước nước ấy cấm ngặt, đảng và nhà nước mình cũng thế, nên chú bị “ tống” về nước, dù học rất giỏi.
Chuyện tình yêu với một người phụ nữ nước ngoài không thành, chú rất đau khổ. Đau khổ đến độ, chú không yêu ai nữa, toan cạo trọc đầu đi tu.
… Thời kỳ ấy, đất nước có chiến tranh, trai tráng ra mặt trận hết, riêng chú, mắt cận thị không phải đi chiến trường nên chú thuộc diện “của quý, của hiếm”. Bu xung quanh không biết bao nhiêu là đàn bà đẹp, nhưng nhất mực…chú chung thủy với người đàn bà nước bên kia. Chúng tôi xem tấm ảnh đen trắng chụp chân dung người phụ nữ chú yêu. Một người phụ nữ không đẹp, không xấu, nhưng chắc chắn người phụ nữ ấy nói, chỉ có chú hiểu, chưa nói đến phong tục tập quán, không biết người yêu của chú có ăn được mắm tôm không? Nên cả nhà phản đối là điều hiển nhiên, nhưng chú vẫn bất chấp, giữ nguyên ý định. Mẹ tôi rất bực mình, ra sức khuyên bảo, chú vẫn cương quyết không thay đổi ý định. 
Cũng vì tình yêu “bất diệt” không thành, tự nhiên chú khó tính, nét mặt lúc nào cũng nhăn nhó, từ sáng sớm đến tối mịt, đố tìm được ở chú một tiếng cười. Rồi đến cả chuyện đi đứng, ăn mặc, nói năng của mọi người trong gia đình, chú bắt bẻ từng ly, từng tý. Không những thế, chú lại ngăn cản chuyện tình yêu của tôi. Tôi dẫn người yêu về “ra mắt”, chú nhìn với con mắt dò xét, lạnh lùng rồi chê tới tấp, so sánh với người yêu của chú., điều gì cũng nói người yêu của mình là nhất.
Cũng vì chuyện của chú như vậy, mọi người gia đình tôi chán nản, mệt mỏi. Chẳng gì chú là em ruột của mẹ, người có học lớn nhất trong dòng họ, ngần ấy tuổi mà chưa có vợ, ai cũng hỏi. Có điều để giữ thể diện, không muốn bên ngoài đồn thổi, không khí thêm căng thẳng trong gia đình, “một điều nhịn, chín điều lành”, cả nhà nhất trí làm việc gì tránh cho chú biết, còn chú muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói. Một mình chú, một cõi…
Trước lúc “khuất núi”, mẹ dặn tôi:
- Chú cũng như cha, không có mẹ, con phải nghe lời chú. Căn nhà này ngoài công sức gia đình ta, còn có công sức của chú. Chú cùng mẹ nuôi con khôn lớn. Con đừng làm điều gì để chú giận. Chú buồn, mẹ chết, không nhắm mắt được đâu. 
Mẹ dặn như thế, tôi không dám làm trái, cố gắng làm cho chú vừa lòng. Nhưng tuổi chú càng lớn thì sự khó tính, chấp nhặt của chú càng tăng. Nhất là tính cáu bẳn, giận vô cớ, mắng vô cớ , hay suy diễn bậy bạ, như “ Vợ chồng mày mong tao mau chết để chiếm nhà” . Rồi chú thủ thế, đề phòng, cứ làm như vợ chồng tôi có âm mưu “ giết” chú đến nơi !!!
Tưởng chú sẽ ở mãi một mình, ai ngờ…
Chú đón được người yêu của chú từ nước bên kia, sang Việt Nam.
Chuyện cứ như trong truyện “cổ tích”…
Chẳng là có một ông lãnh đạo nhà nước mình sang thăm nước ấy, bạn thân của chú quen biết nhiều với ông lãnh đạo này. Biết hoàn cảnh của chú, người bạn của chú nhờ ông lãnh đạo nói với mấy ông lãnh đạo đảng , nhà nước bên ấy, làm thế nào tìm được người yêu của chú ngày xưa. Nếu người phụ nữ ấy còn sống, chưa lập gia đình xin phép đảng và chính phủ nước ấy cho cô ấy sang Việt Nam gặp lại chú, kết hôn thành vợ chồng. Chuyện khó như “mò kim đáy biển”, ai ngờ thành sự thật. Chú cho địa chỉ, đảng và chính phủ bên ấy đang cần gạo, lương thực, thực phẩm… của Việt Nam, vội huy động lực lượng đi tìm. 
Và họ tìm được người yêu của chú… 
Nghe tin người yêu vẫn đợi, chung thủy, chú hớn hở : “ Cô ấy còn sống, thế mà chúng mày nói cô ấy chết. Chết thế nào được, chú có tình yêu bất diệt, nên cô ấy sống đợi chú!”. Ánh mắt chú mơ màng: “ …nhất định cô ấy vẫn có làn da mịn màng, ánh mắt bồ câu, tóc dài, mượt đen …như ngày nào!”. Chú nói vậy mà không nhìn lại chú. Một ông già da mồi, mặt đầy nếp nhắn, mắt đờ đẫn, lưng sắp còng, tóc gần như bạc trắng. Thế mà chú hy vọng, tưởng tượng người yêu của chú bằng hình ảnh kia. 
Chịu!
Ngày đón người yêu của chú, quả thật đó là một “sự kiện lớn” của khu phố tôi. Mọi người bỏ hết công việc, tụ tập ngay đầu phố để đón “cô dâu mới” từ người già, người trẻ, đứa nhóc, đàn ông, đàn bà…ai cũng háo hức, bàn tán, mong ngóng.
Chú và cô người yêu, sau này là vợ, từ trên xe bước xuống, mọi người mọi người ồ lên, bàn tán. Tất nhiên là chú không thể nghe thấy vì chú đang ngửa mặt lên trời mà sướng ngất ngây:
- Ối giời ơi! Tưởng đẹp, người ngợm thế kia thì còn làm ăn được gì!
- Gìa sắp xuống lỗ rồi, báu bở gì mà vác về! Rồi không biết ông ấy có nuôi nổi không?
- Mà sao bà ấy nhìn mọi người cứ khinh khỉnh thế nhỉ! Mắt to như con ốc nhồi.
Không quan tâm đến những lời bàn tán đó, điều vợ chồng tôi quan tâm, chú ngần ấy tuổi, sức tàn, lực kiệt, đồng lương hạn hẹp, giờ ở với bà ấy thế nào? Chứng kiến đám cưới của chú có đông đảo phóng viên báo chí, đài, ti vi… thậm chí ông đại sứ nước ấy cũng đến dự, tặng hoa chúc mừng. Báo chí dành cho đám cưới của chú những lời có cánh: “ Một đám cưới thấm đậm tình quốc tế vô sản trong sáng, thủy chung… Một đám cưới tưởng chỉ có trong truyện cổ tích thế mà là sự thật, bất chấp cả thời gian, không gian, khoảng cách, tuổi tác. Có sống đến một trăm tuổi, tình yêu, hạnh phúc của hai người mãi mãi như ban đầu…”. 
Xin lỗi mấy ông nhà báo, “tán” cho lắm vào, chứ có biết đâu, chỉ non một năm sau, sau đám cưới ấy, chú già đi cỡ…vài chục tuổi vì khổ.
Các ông bà nhà báo đâu có biết, mọi chuyện trong nhà tôi đảo lộn hoàn toàn từ ngày chú “rước” người đàn bà người nước ngoài kia về. Ngày thành đêm, đêm thành ngày, những sinh hoạt trong gia đình vốn quen thuộc với vợ chồng tôi, đành phải bỏ, làm bất cứ việc gì, trước, sau đều để mắt đến bà ấy mà cân nhắc có nên làm hay không? Vợ chú ngót nghét bằng tuổi chú, không biết đi xe đạp, không học được tiếng Việt đi đâu chú cũng phải lấy xe máy ra đèo, rồi làm phiên dịch. Mấy ngày đầu bà ấy về làm dâu, vợ tôi nấu gì, bà ấy cũng không chịu ăn vì “không hợp”.Thế là chú với bà ấy ra ăn riêng. Cơm phải nấu nhão gần bằng cháo, ăn với mấy món ăn dậy mùi khét, tôi không tả được. Nhớ nhà, nhớ quê, chiều nào bà ấy cũng ngồi cạnh cửa sổ, khóc. Chú dỗ bà ấy bằng những bài hát, có lẽ thời sinh viên học bên ấy, chú thuộc. Nhưng hễ chú cất lời hát là cha con tôi cười lăn lộn. Giọng chú ồ ồ, ề ề không giống vịt đực thì cũng gần giống trâu goi nghé, đã vậy tiếng nước ấy nghe cứ như cãi nhau, âm điệu bài hát cứ như chuẩn bị …đánh nhau. Chú hát, bà ấy thôi khóc, nét mặt có vẻ cảm động rồi hát theo, tay chân vung loạn sạ, quên cả đói. Đến chuyện sinh hoạt, trong bữa ăn, phải dạy bà ấy cầm đũa, dạy tháng trời vẫn không cầm được, không đũa rơi thì thức ăn rơi, vãi ra đầy aó quần. Lại một chuyện lạ nữa, bà ấy ít ngủ, cứ đến hai, ba giờ sáng ngồi dậy miệng lẩm bẩm điều gì đó như tụng kinh, khiến chú phải thức theo. Chú giải thích với tôi: “ bên ấy họ tôn kính lãnh tụ, những lời lãnh tụ nói đã trở thành kinh thánh bắt dân học thuộc, vợ của chú quen rồi, sáng nào cũng ngồi dậy để đọc, không bỏ được.”. Nghe vậy, chúng tôi hoảng, cứ thế này làm sao mà chú ngủ để có sức, khi tuổi lớn thế kia!
Nhớ ngày đầu khi chú đón người đàn bà ấy từ nước ngoài về, bạn bè của chú hồ hởi đến chúc mừng, thậm chí có người còn làm thơ tặng chú, cứ như chú trở lại với tuổi thanh niên, chúc hạnh phúc của hai người là “mùa xuân vĩnh cửu”. Bây giờ bạn bè của chú đến thưa hơn rồi vắng hẳn vì không muôn làm phiền chú, nhưng cái chính, họ chẳng biết nói như thế nào khi gặp một người phụ nữ từ hình dáng đến nét mặt lạ hoắc, tiếng Việt không biết, cứ ngồi lù lù giữa nhà hết nhìn người này lại ngó nghiêng người kia, thỉnh thoảng buông những tiếng, nếu không có chú, thì “trời” hiểu…
Chú sống với bà ấy trong nhà tôi như vậy cũng được dăm năm. Nhìn hình hài của vợ chồng chú mà thương, hơn tám mươi tuổi, tuổi hoàng hôn, miệng móm mém, lưng không thẳng, lụi cụi trong nhà, không bạn bè đến thăm, cô đơn cùng cực, hết ra lại vào, hai người như hai cái bóng đang di động in trên tường. Có ai hỏi, chú vẫn nói “vợ chồng tôi sống hạnh phúc lắm!”. 
Vợ chồng tôi biết, nhưng im lặng, không muốn nói, chẳng gì thì ông ấy cũng là chú ruột của mình.
Khuya ấy, vợ chồng tôi đang ngủ thì có tiếng đập cửa mạnh, dồn dập. Tôi vội ngồi bật dậy ra mở cửa. Trước mặt tôi là bà vợ của chú, nét mặt hốt hoảng, miệng nói liên hồi kỳ trận, tay chỉ về phía buồng ngủ của chú và bà ấy. Tôi hiểu ngay, chú “ có chuyện”, vội chạy lại. Chú nằm trên giường, chân tay thõng thượt, thở gấp gáp mệt nhọc, dớt, dãi chảy ra hai bên mép. Quá hốt hoảng tôi vội gọi xe tắc xi chở vội chú đến bệnh viện. 
Nhanh như thế cũng không kịp, chú “ đi” mà không kịp trăn trối điều gì.
Vợ chồng tôi thương chú, lo chu toàn mồ yên mả đẹp. Xong chuyện đó, quay về với thực tại, bây giờ vợ chồng tôi mới hoảng.
Chú chết, bà vợ người nước ngoài tỏ ra buồn bã, không thiết ăn uống, tâm tính không còn bình thường, lúc khóc, lúc cười, lúc nhăn nhó… Lại có lúc không biết bà ta tức giận điều gì, hét toáng lên, chân giãy đành đạch, rồi ngồi bệt xuống sàn nhà, c…vung tung tóe. Vợ chồng tôi lại phải dọn…
Khốn nỗi, có lần vợ chồng tôi có lần đưa bà ta vào viện dưỡng lão của thành phố, viện dưỡng lão này mới khánh thành. Bà ấy ở chỉ được hai ngày, bà giám đốc vội điện thoại gọi vợ chồng tôi đến, yêu cầu dẫn về vì không biết bà ta nói cái gì, nhất là không chịu được tính tình trái khoáy của bà. 
Bà ta về nhà, vợ chồng con cái chúng tôi vô cùng khổ. Vợ bỏ mọi việc hầu hạ bà, con tôi đi học ngoại ngữ, tiếng nước của bà, để biết mà nói chuyện, cái thứ tiếng gần như “không ai dùng”, càng học, càng ghét – Con tôi nói thế.
Cũng vì bà ấy là vợ của chú, lại nhớ lời mẹ dặn trước lúc “khuất núi”, cái “ nghĩa”, cái “tâm” trong gia đinh tôi vẫn còn, không ai dám trái đạo, nên dù có bực mấy, chúng tôi chăm sóc bà ấy cố chu toàn…Bạn bè tôi, đến thăm, thấy cả gia đình tôi lo cho một bà già người ngợm trông phát sốt, phát rét, tính khí ẩm ẩm, ương ương, ngồi đấy mắt trợn trừng, có người nói với tôi: “ Sao không dắt trả về nước của bà ta!”. Nghe vậy, tôi nghĩ thầm, người thế này thì ai mà dám nhận chứ không phải nói như vợ tôi sau khi lau chùi một bãi c…bà vãi ra sàn:
- Sao bà ta lâu chết thế nhỉ! Chú đưa bà ấy về nhà mình là quá sai lầm, làm khổ cả nhà!

 

 

 

                      

 

XEM " KÝ ỨC HỘI AN"

[Không rõ 10/04/2018 15:12 | by kytrung ]

 Image result for hội an

                  XEM “ KÝ ỨC HỘI AN ”

Tối 28/3/2018  tôi được một người bạn cho vé mời đi xem " Ký ức Hội An". Tôi được nghe giới thiệu, đây là sân khấu ngoài trời lớn nhất , diễn viên đông nhất, ánh sáng hiện đại nhất... Nghĩa là cái gì cũng "nhất"!!! Giới thiệu với người xem từ buổi hoang sơ khi Hội An mới hình thành, tiếp đến các giai đoạn phát triển để nên Hội An đẹp, văn minh, hiện đại, giàu nét truyền thống văn hóa Việt Nam như hiện nay, thu hút khách du lịch
Tôi đi xem. 
Nói thật, thất vọng hoàn toàn.
Chưa nói đến xây dựng một sân khấu lớn trên một cồn cát lớn giữa sông, che mất một không gian bát ngát của nước, bát ngát của tre… mất hẳn một góc mênh mông màu xanh đất, trời mà thiên nhiên ban tặng cho sông Hoài, cho người dân Hội An...Đứng ở cầu Cẩm Nam nhìn ra biển, hướng Cửa Đại, giờ chỉ còn sự tiếc nuối vô cùng. Đó là chưa kể, xây dựng sân khấu hoàn toàn bằng bê tông trên cồn cát mà cồn cát này đã có từ rất lâu. Xây sân khấu như vậy liệu có ảnh hưởng đến sự điều tiết dòng chảy tự nhiên của sông Hoài??? Rồi hai bên bờ sông Hoài có ảnh hưởng??? Việc làm này có sự đồng tình của người dân Hội An???
Thôi, chuyện này, là chuyện "lớn", người dân như tôi, có "hỏi" cũng khó tìm ra người trả lời.
Quay lại "ký ức Hội An ", có đúng như những lời giới thiệu?
Ai cũng biết, Hội An là đất của người Việt. Người có công lớn là Chúa Nguyễn Hoàng, người mở cõi, đưa những người Việt Đàng ngoài vào sống. Người dân ở Quảng Nam và cả nhiều vùng Đàng trong , tôn kính ông, không đặt họ "Hoàng" sợ phạm úy mà chuyển sang họ "Huỳnh". Thêm nữa, người dân coi ông như người anh Cả trong nhà, nên trong nhà có sinh người con trai đầu vẫn gọi là "anh Hai" . Nguyễn Hoàng vĩ đại, thân thiết như thế mà trong " Ký ức Hội An" không hề nhắc đến tên ông, không một hình ảnh nhắc đến những người dân cương cường, đoàn kết, thương nhau, cùng tựa lưng vượt qua bão tố, khó khăn... trong buổi bình minh dựng đất xây nên một Hội An thương cảng .
Trong "ký ức Hội An" buổi ban đầu của thương cảng Hội An được miêu tả bằng một đôi vợ chồng và một đứa trẻ y như người dân tộc, sống trong một túp lều tranh. Chồng ra sông đánh cá, ngồi hút thuốc lào, vợ mang bụng chửa lội nước bì bõm, con chẳng có trò gì, ngoài trò "nghịch nước" rồi vợ đẻ, tiếng trẻ con khóc oe oe... Một đoàn cô gái mặc áo dài xanh đến mừng, trong lời bài hát chẳng ăn nhập gì với cảnh!!!
Không lẽ buổi bình minh của Hội An đơn giản, khổ sở thế sao?
Tiếp đến là cảnh người dân xây dựng Hội An, sao lại chỉ thấy người vác tre, người cưa gỗ...!!! Thời này, qua tư liệu của các học giả nước ngoài, người Hội An làm nhiều việc lắm như ra khơi đánh cá, ra đảo xa ( Hoàng Sa) đặt bia khẳng định chủ quyền, lên nguồn tìm nguyên liệu dệt vải, mở rộng thương cảng...chứ đâu chỉ có mấy cảnh trên. Tất nhiêu sân khấu không thể ôm đồm tất cả, cái gì cũng đưa lên sân khấu nhưng ít nhất, cũng phải cho người xem biết được chuyện đó, chứ không phải chỉ "vác tre" xoay vòng và cưa gỗ. Chán chê, nhảy hết xuống sông đãi “sỏi” hay “vàng”, khua nước loạn sạ... Đó là chưa kể những người được đóng vai cư dân Hội An toàn cởi trần, mặc quần thụng, đầu quấn khăn …giống y như người dân ở vùng Nội Mông ( Trung Quốc). Trong “ Ký ức Hội An” còn cho khán giả xem đám cưới của công chúa Ngọc Hoa. Đám cưới của một cô gái Việt Nam sống ở Hội An với một ông cưỡi voi ở bộ tộc nào đó!!! “ Công chúa Ngọc Hoa” ăn vận đúng y như cô dâu trong đám cưới mà người xem hay thấy ở phim cổ trang Trung Quốc. Mấy người đi sau, hộ tống cho “công chúa Ngọc Hoa” cũng y như vậy, một trăm phần trăm là người Tàu. Không biết chi tiết này dựa vào sự kiện lịch sử nào? 
Ở Hội An, sử sách còn ghi, có một đám cưới, công chúa Chúa Nguyễn lấy một thương gia Nhật bản, rồi theo chồng về Nhật Bản. Tôi rất tin đám cưới ấy, không thể diễn ra như đám cưới trong “ký ức Hội An”, mà đậm chất Việt Nam chi ít có những làn điệu bài chòi, một làn điệu từ trẻ nhỏ đến ông già, bà già đều thuộc. Người dự là những người nông dân chân chất, mộc mạc, ăm mặc bằng những tấm áo, chiếc quần màu nâu, đi chân đất, ăn trầu cùng tiếng cười sảng khoái, rộng lượng…Đám cưới đó dứt khoát không phải đám cưới của người Trung Quốc! 
Buồn nhất là màn trình diễn áo dài, tôi tự hỏi, phải chăng đây là áo dài Việt Nam, khi những cô gái mặc áo dài màu trắng, hoặc màu xanh đội nón không đúng cách đội nón của người con gái Việt. Chiếc nón che mưa, che nắng, làm quạt lúc không gió, che nụ cười e ấp…tôn cái đẹp rực rỡ trên nét mặt người con gái, rất văn minh chứ không phải là chiếc “gông” đè nặng lên đầu của người đội nón trong “ký ức Hội An”. Đội nón mà không ai nhìn thấy mặt, bước những bước nặng nề, đơn điệu, máy móc. Và cũng lần đầu tiên tôi thấy, trên sân khấu người con gái Việt Nam, mất hẳn mái tóc nuột nà, đen mượt. Thay vào đó là một chiếc dây đỏ dài độ một mét, buộc vắt vẻo sau lưng người con gái trông giống như đuôi sam của mấy ông quan triều Thanh ( Trung Quốc) mà tôi thấy trong phim Trung Quốc hay phát trên ti vi.
Sao lại có sự “cách điệu” xuyên tạc những người phụ nữ Việt Nam mặc áo dài, đội nón lạ lùng đến như vậy! 
Ở Hội An, không có chuyện người phụ nữ đợi người yêu hóa đá. Đưa chi tiết này vào, thậm chí gần như một chủ đề chính của “ký ức Hội An” là không đúng. Miêu tả sự chung thủy của người phụ nữ Hội An, đâu chỉ có chuyện đợi chồng, đợi người yêu. Người phụ nữ Hội An chung thủy với chồng là đảm đang việc nhà, chăm lo cho con, giữ yên tổ ấm, dấu nước mắt vào trong, làm trụ cột gia đình để chồng có đi xa biền biệt không lo lắng. Khi chồng về, gặp người thương chỉ có nụ cười và nước mắt hạnh phúc. Còn trong “ ký ức Hội An” là một cô gái cầm đèn lồng hết đứng ở cửa, rồi lại lội sông. Nét mặt khổ sở, mong ngóng.. đợi chồng trong tuyệt vọng rồi cong mình gần như …“hóa đá”. Lúc đó, chồng ( hay người yêu) mới “ bay” từ trên thuyền về. 
“ Chồng” ăn vận cũng lại giống y như một ông Trung Quốc! Gặp “vợ” như một kẻ cứu nhân, độ thế!
Còn một chi tiết nữa, tôi cũng thấy rất lạ trong “ký ức Hội An”.
Phải nói, sử sách còn ghi, giao thương ở Hội An trong những thế kỷ trước, chủ yếu là người Hội An. Người Hội An làm chủ hoàn toàn trong giao thương từ việc mua bán, cung cấp nguyên vật liêu, mở cửa hàng, đánh thuế, cưu mang những người cơ nhỡ, gặp khó khắn không phân biệt quốc tịch…
Kinh tế Hội An phát triển trở thành một thương cảng lớn là nhờ trí tuệ người Hội An nói riêng và người Việt Nam nói chung. Đây là điều rõ ràng, không bàn cãi.
Ấy vậy, trong “ký ức Hội An” hình ảnh chủ đạo, cụ thể, rõ ràng là mấy ông thương gia người Trung Quốc đến Hội An tư thế hiên ngang, hồ hởi cứ như thể về nhà mình khoe hàng bằng những thùng hàng hai người khiêng, khoe dáng, chủ động bắt tay người này, mời người kia… làm như ai cũng muốn giao thương với các ông ấy. Tiếp đến mới thấy mấy ông thương nhân Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha…mấy ông này cũng chủ yếu đến múa hát vây quanh mấy thương nhân Trung Quốc. Còn thương nhân Việt Nam là hình ảnh mờ nhạt chỉ mấy người gánh hàng rong, chèo thuyền chở hoa quả, thả hoa đăng…qua lại, lượn lờ.
Còn nhiều chi tiết “lạ” trong “ ký ức Hội An” tôi không thể miêu tả hết ra đây, nhưng tôi có thể khẳng định, đây là ý kiến cá nhân, “Ký ức Hội An” hình ảnh Trung Quốc, tinh thần Trung Quốc, biểu đạt tư tưởng Trung Quốc rất rõ ràng… 
Chỉ khi hình ảnh cuối cùng của “ký ức Hội An “ được tạm gọi là Hội An, trên sâu khấu họ kéo một mô hình Chùa Cầu to gần bằng thật ra góc sân khấu cho mọi người chiêm ngưỡng!!! 
Lúc đó tôi mới nghĩ rằng, trên sân khấu họ đang nói về Hội An.
Công nhận sân khấu “ Ký ức Hội An” hiện đại, hoành tráng, ánh sáng đẹp, phối cảnh giỏi, liên tục…Nhưng xem vẫn cảm thấy, hình như…nội dung của buổi trình diễn không phải đề cao cảnh ,vật, người Hội An để Hội An nói riêng và người Việt Nam nói chung tự hào mà như… biết ơn người Trung Quốc đến và ở lại đây!!!
Sao có hiện tượng “lạ” này?
Tôi đã có lời giải thích khi trên bảng đèn giới thiệu họ tên người viết kịch bản, đạo diễn, âm nhạc toàn những họ tên tôi chưa nghe thấy bao giờ, rất giống họ tên người Trung Quốc. Duy nhất có họ tên người Việt Nam làm cố vấn cho “Ký ức Hội An” mà tôi biết, là ông Dương Trung Quốc!!!
( Nói thêm: Tôi không thể chụp được ảnh hoặc quay vedio vì những người bảo vệ cho biết, nếu ai quay vedio hoặc chụp ảnh, phượng tiện sẽ tịch thu và mời ra khỏi nơi biểu diễn…)

Phân trang 1/1 Trang đầu 1 Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]