Tản văn

 

 Chiến tranh Việt Nam ( Ảnh minh họa)

 

 “CHIẾN TRANH VIÊT NAM” – KÝ ỨC BUỒN CỦA NGƯỜI MỸ –Tản văn

 

Không hiểu sao, mỗi lần sang Mỹ thăm con, tôi không thích đến những địa điểm du lịch mà các “tua “hay quảng cáo. Một nhẽ, nhiều người biết. Nhẽ khác, tôi muốn đến những nơi người Mỹ lưu dấu cuộc chiến tranh Việt Nam vì mình từng là người lính tham chiến, dính dáng ít nhiều đến người Mỹ. Không đụng độ trực tiếp trên chiến trường thì cũng từng nghe tiếng bom, tiếng đạn, tiếng xe tăng…của người Mỹ. Mỗi tiếng động ấy, nó còn ám ảnh trong suy nghĩ, thậm chí cả trong giấc ngủ cho đến tận bây giờ. 
Một cường quốc lớn, mạnh trên mọi phương diện, ra khỏi cuộc chiến tranh, một cuộc chiến tranh hao người, tốn của, chắc họ sẽ có một bài học nào chứ?
Vinh dự!!! Tự hào!!! Kiêu hãnh dân tộc…
Với cuộc chiến tranh Việt Nam, người Mỹ hình như không muốn nhắc đến điều đó…
Một buổi chiều tháng 6 năm 2018, tôi đến tham quan bảo tàng Battleship Memorial Park thuộc thành phố Mobile bang Alabama nơi trưng bày các vũ khí,, tàu chiến,, máy bay từng tham gia vào cuộc chiến Việt Nam trước năm 1975. 
Ở đây trưng bày, tất cả các loại xe tăng từ M – 41 đến M -48, các loại xe lội nước, các loại đai bác, pháo tự hành đủ các cỡ. Một chiếc tàu chiến hiện đại, đã có mặt ở Vịnh Bắc bộ vào những năm 1966 - 1972. Đặc biệt còn trưng bày các loại máy bay từng tham chiến ở Việt Nam. Máy bay trực thăng HU-1A, C- 47, máy bay từng dung để thả biệt kích ra miền Băc, đến cả máy bay B 52… Giời ạ! Lần đầu tiên tôi được sờ tận tay, nhìn tận mắt một chiếc B52 to đùng, đen sì, gây cho chúng tôi, những người lính xưa kia vượt Trường Sơn, những nỗi khiếp sợ không thể nói bằng lời. 
Tôi có cảm tưởng, với các hiên vật ở đây, người Mỹ muốn nói với những người đến tham quan, đó, cuộc chiến tranh Việt Nam mà chúng ta tham gia trực tiếp với một cái giá rất đắt, không nhẹ nhàng để được cái gì?
Tôi chú ý một hàng chữ trắng khắc trên một tảng đá đen, ghi dày đặc tên những người lính Mỹ chết ở Việt Nam. Hàng chữ trắng ấy viết bằng tiếng Anh, tôi nhờ con tôi dịch lại, đại ý: “ Chúng tôi những người con trai sinh ra ở bang Alabama đã đến Việt Nam và không bao giờ trở về. Hãy nhớ chúng tôi.” Một dòng chữ đau đớn, đẫm nước mắt. Cạnh tảng đá đen đó là tượng một người lính Mỹ, cô đơn, rất lặng. Trong buổi chiều, tôi đến thăm khi ánh hoàng hôn sắp tắt, nét mặt người lính Mỹ ấy trông càng buồn hơn. Trên tay “anh” cầm một tấm thẻ bài, như muốn hỏi người đương đại: “ Tại sao tôi lại chết?”. Và cũng cạnh tảng đá đen đó, đối diện, trên một tảng đó đen khác, khắc dòng chữ, đại ý: “ Việt Nam một đất nước chúng tôi đến, có tất cả những điều mà con người phải chịu đựng như chiến tranh, rừng rậm, sự ngột ngat… Ở Việt Nam ai cũng thấy, nhưng lại rất khác. Chiến tranh Việt Nam, những người đến tưởng hiểu, nhưng lại không hiểu gì cả…- Những người lính tham chiến Việt Nam”. Tôi nhờ con gái dịch, rồi diễn giải theo ý mình, đây là lời nói thật của những người lính Mỹ từng đánh nhau ở Việt Nam, một cuộc chiến tranh,với người Mỹ, sai lầm, đổ máu vô ích. Chẳng thế, ở đây họ con đắp nổi một tấm bản đồ Việt Nam như nhắc với người đến tham quan, đây là địa danh, người Mỹ nên nhớ, để đừng mắc những sai lầm tương tự. Có lẽ vì thế, một góc viện bảo tàng, người Mỹ còn trưng bày một chiếc MIG -17 mang phù hiệu quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên vẹn, tươi màu sơn. Tôi nhìn chiếc MIG -17, rồi đến tận nơi sờ tận tay, ngẫm nghĩ mãi. Họ trưng bày chiếc máy bay này để làm gì? Không lẽ để nhắc đến những trận không chiến trên bầu trời miền bắc chúng ta? Hay thừa nhận từng có máy bay Mỹ rơi vì những chiếc máy bay nhỏ bé như thế này của Việt Nam…Mọi sự suy diễn thường không chính xác, nhưng có một điều chắc chắn, với sự hiện diện một chiếc MIG – 17 của Việt Nam trông đơn sơ, quá bé so với khí tài, nhất là máy bay Mỹ, thì đó là một cuộc chiến tranh không cân sức, Mỹ rất phí nhiều nhân lực, tài sản… mà kết quả như thế nào? Người Mỹ đều nhìn thấy.
Âu đó cũng là một bài học người Mỹ cần rút ra.
Cũng một buổi chiều muộn tôi đến thăm một nghĩa trang nơi yên nghỉ của những người lính Mỹ chết trận, trong đó có nhiều người lính chết ở chiến trường Viêt Nam. Những hàng bia trắng đứng im lìm, lặng ngắt. Trước một số tấm bia ai đó đặt một, hai nhành hoa, có lẽ đã lâu, hoa héo tàn, rũ cánh. Hàng cây xanh bao quanh đưa đẩy trong cơn gió lạnh…

Tôi thực sự bùi ngùi, nghĩ những người lính đã chết trong những cuộc chiến tranh, nhất là những cuộc chiến tranh, lẽ ra không đáng có, nếu như những người lãnh đạo tỉnh táo, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, không đẩy những người lính lao vào cái chết vô nghĩa.
Người Mỹ, chính phủ Mỹ, tôi cũng nghĩ, đã nhận ra điều này, khi tôi đi tham quan bảo tàng Battleship Memorial Park thuộc thành phố Mobile bang Alabama.
Còn chúng ta…

--------------

Các bạn có thể xem thêm trên trang facebook trungkytran về những hình ảnh tôi ghi lại qua cuộc tham quan này. Xin cảm ơn!

NÓI VỚI CHÁU NỘI

[Không rõ 31/10/2014 23:47 | by kytrung ]

 

Cháu sẽ nghe lời của ông ( Ảnh minh họa)

 

 Một bài viết của một tác giả ( không đề tên) gửi đến trankytrung.com. Nhận thấy đây bài viết có nội dung tốt , trankytrung.com xin cảm ơn tác giả và giới thiệu cùng bạn đọc.

 

NÓI VỚI CHÁU NỘI

 

…  Con hỏi nội : “ Lúc này con có nên trở thành đảng viên của đảng cộng sản Việt Nam không ?”.

           Nội suy nghĩ nhiều con ạ! Đảng cộng sản hiện nay không như ngày xưa, ngày mà nội cũng như nhiều đồng đội khác được đứng trong hàng ngũ những người là đảng viên đều cảm thấy vinh dự. Còn bây giờ, việc trở thành đảng viên, dù con vào đảng với động cơ trong sáng nhưng nhiều người không nghĩ như vậy. Giờ đây không còn ai thấy tự hào với hai chữ “ đảng viên”  nữa. Hãy nhìn xem bao nhiêu vụ tham nhũng lớn mang ra tòa xử với án rất nặng, toàn là đảng viên. Những biệt thự hoành tráng, những rừng cao su bạt ngàn, những khách sạn to lớn, hiện đại…chủ nhân ông là những đảng viên, thậm chí là đảng viên ở chức rất “khủng”. Hình ảnh này đối lập hẳn với những căn nhà nghèo, tạm bợ của người dân. Những người đảng viên này lấy tiền ở đâu để có những của cải ghê gớm như thế? Không nói ra, nhưng ai cũng biết cả. Nhiều vụ công an đánh dân, thậm chí đánh chết dân rồi nói rằng người đó “ tự tử”. Nội tin rằng, những người công an đánh dân kia, không thiếu những người là đảng viên. Nhiều tật xấu đang lan tràn ngoài xã hội như khai man lý lịch, tung tiền mua bằng giả để dễ lên chức, lòe thiên hạ, khai man thành tích để trở thành “anh hùng”, hiếp dâm trẻ em, sống sa đọa… không thiếu những người mang danh đảng viên. Đó là chưa nói, hiện tượng kéo bè, kéo cánh ngấm ngầm hại nhau, giở mọi thủ đoạn để triệt hạ những người từng là đồng chí của nhau, trong đảng cũng không thiếu. Đau lòng hơn, kể cả những người lãnh đạo đảng, họ không nêu một tấm gương sáng cho quần chúng tin yêu, ngược lại, nhiều lời nói, hành động của họ tạo ra khoảng cách ngày càng lớn với nhân dân. Nhưng những điều đó chưa đáng sợ, đáng sợ nhất trong đảng bây giờ là sự giả dối. Chưa bao giờ sự giả dối ngự trị lớn trong đảng như lúc này.  Có chi bộ, có đảng bộ báo cáo thường kỳ lúc nào cũng “ vững mạnh”, “ đoàn kết”, “ Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của đảng”. “ tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, tác phong của chủ tịch Hồ Chí Minh” nhưng trên thực tế chi bộ ấy, đảng bộ ấy  là một tổ chức rối ren, mất đoàn kết từ trong ra. Không thiếu những những kẻ là trùm tham nhũng, hối lộ, ăn tàn phá hại tài sản nhà nước, tài sản nhân dân…Ấy vậy đứng trước đảng viên, quần chúng ngoài đảng, họ vẫn lên giọng đạo đức rao giảng về “ Con người mới, con người XHCN.”. Đã có lúc nội tưởng rằng, đảng cộng sản đã nhận ra sai lầm, sửa chữa để đưa dân tộc ta thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu Cũng có lúc nội cũng tưởng rằng, đảng với tư cách một đảng lãnh đạo, tập trung những con người thông minh nhất, trí tuệ nhất, bản lĩnh nhất làm ngọn cờ dẫn dân tộc ta hòa nhập với nền dân chủ, văn minh tiến tiến trên thế giới…Nội sẽ mãi tự hào là một đảng viên của một đảng cộng sản chân chính. Nhưng cho đến bây giờ, nội phải nói với con, trên danh nghĩa, nội vẫn là đảng viên, vẫn giữ thẻ đảng, vẫn đi họp, sinh hoạt trong một chi bộ của những người hưu trí. Bên trong, nội đã ra khỏi đảng. Điều này chắc làm con ngạc nhiên, nhưng đó là sự thật. Tuổi nội già, chắc chẳng còn bao lâu nữa về với ông bà, bạn bè lần lượt “ đi” hết.  Ba, mẹ của con luôn vắng nhà, nhà không có ai, nội cũng cần có chỗ gặp gỡ bạn bè để tâm sự. Chi bộ nơi nội sinh hoạt,  nội dung sinh hoạt kiểm điểm đảng viên, phổ biến, triển khai các nghị quyết…chỉ còn mang ý nghĩa hình thức, chi bộ ấy, thực chất là một “câu lạc bộ” để mọi người gặp gỡ giải tỏa nỗi bực bội, bực bội trong xã hội, bực bội trong gia đình, bực bội với những kẻ “ nói thì rất hay nhưng làm thì như mèo mửa”… Tuổi của nội, có thể chấp nhận sinh hoạt trong một chi bộ như thế, nhưng tuổi của con, tuổi của hành động , tuổi của ước mơ không thể trở thành đảng viên rồi sinh hoạt trong một chi bộ mà đến để chỉ giải tỏa những sự bực bội !!!

         Con đừng hy vọng có những đảng viên nguyện giơ tay trung thành hiến cả đời mình cho lý tưởng, cho dân tộc trong một chi bộ, như chi bộ nội đang sinh hoạt.

        Nội nói với con như vậy, cũng không có nghĩa  nội sẽ không bao giờ đồng ý cho con trở thành đảng viên của đảng cộng sản? Không phải con ạ! Nội vẫn mong ước có một ngày trên đất nước ta, đảng cộng sản vẫn là đảng cầm quyền, nhưng bên cạnh đó có nhiều đảng khác. Những đảng này đại diện cho nhiều lực lượng, nhiều xu hướng, nhiều thế hệ… sẽ giám sát sự hoạt động của đảng cộng sản thông qua Quốc hội, khi đảng cộng sản đang nắm quyền, hoặc thông qua những lần tranh cử  dân chủ tự do giữa các đảng phái trong nước, có sự giám sát quốc tế, mỗi khi đến mùa bầu cử. Muốn tồn tại, muốn thắng cử, muốn có số phiếu cử tri áp đảo các đảng khác, không muốn các đảng khác sẽ thay thế vị trí lãnh đạo của mình,  đảng cộng sản buộc phải sửa chữa những khiếm khuyết. Bằng biệt pháp kiên quyết, không khoan nhượng, đảng cộng sản sẽ cho ra khỏi tổ chức của mình những kẻ cơ hội, hèn hạ,  tham nhũng, ngu dốt, độc tài…cho dù kẻ ấy ở vị trí lãnh đạo cao. Những lãnh tụ của đảng cộng sản thể hiện sự thành thật ở mức cao nhất, nhất là lòng khoan dung, độ lượng, nhân ái, tập hợp được đội ngũ trí thức yêu nước trong và ngoài nước, mong họ góp ý với đảng cộng sản về cương lĩnh hành động, về phương pháp lãnh đạo… để đảng cộng sản trở thành một hạt nhân đoàn kết của dân tộc, đoàn kết giữa các đảng phái khác nhau, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đưa đất nước đến một xã hội dân chủ, văn minh, tiến bộ, kinh tế có đà phát triển tiến kịp với các nước văn minh, dân chủ trên thế giới.

              Đảng cộng sản trở về đảng của nhân dân, của dân tộc, chiếm trọn niềm tin của người dân.

              

              Lúc đó con trở thành một đảng viên của một đảng như vậy, nội rất tự hào!

                                                                                

TRƯỜNG TÔI - Tản văn

[Không rõ 14/12/2012 08:51 | by kytrung ]

Tác giả ( Đứng giữa) cùng các em cựu sinh viên khoa Sử - Chính trị - Trường ĐHSP Quy Nhơn

Trong lễ kỷ niệm 35 năm thành lập.

 

TRƯỜNG TÔI – Tản văn
 
Về lại nhà, sau mấy ngày vào dự lễ kỷ niệm ba mươi lăm năm thành lập trường Đại Học Quy Nhơn. Ấy vậy hình ảnh thân thương, cảm động của cuộc gặp gỡ với đồng nghiệp cũ, với các sinh viên cũ… cứ vấn vương trong suy nghĩ, không thể nào dứt bỏ để cho mình làm việc bình thường.
Năm 1978, tốt nghiệp Khoa Sử - ĐHSP Hà Nội I, mình được Bộ Giáo Dục ( cũ ) giữ lại làm giảng viên và điều động vào giảng dạy tại khoa Sử - Chính trị , trường ĐHSP Quy Nhơn ( Nay là trường ĐH Quy Nhơn). Lúc đó, trường này mới thành lập, tất cả còn ngổn ngang, hầu như cơ sở vật chất không có gì. Mấy giảng đuờng trống hoác, hai khu tập thể hình chữ O không sinh viên. Thư viện nghèo nàn, sách tham khảo, tư liệu đều thiếu một cách trầm trọng… Nếu “ giàu có” thì phải nói, đó là gió. Gió biển mênh mang cả sáng, cả chiều. Rồi đến nắng, nắng rát ràn rạt, thừa thải, đủ làm cho da trở nên màu nâu trong một thời gian ngắn. Rồi còn gì nữa? Sóng biển, sóng biển vỗ ngay dưới chân, bất tận, nhẫn nại lúc rì rào như một lời thủ thỉ, lúc gào rú giận dữ như muốn trút bỏ mọi nỗi niềm, chấp nhận đua với thời gian, không bao giờ chịu dừng. Cả một khoa lớn gồm hai bộ môn Sử - Chính trị mà chỉ loe hoe vài cán bộ như mình. Nhưng điều đó không hề ngăn cản được sự nhiệt tình. Quên tất cả, kể cả nỗi buồn, lăn vào mà làm, lăn vào mà để thể hiện khả năng của mình, không hề có một lời thở than, cũng không hề có sự so đo, tị nạnh.
Giờ ngồi nghĩ lại, chính mình cũng không hiểu, lúc đó lấy nghị lực đâu để làm việc một cách nhiệt thành đến thế!
Chỉ có thể giải nghĩa, đó là sự nhiệt thành của tuổi thanh niên. Mà nhiệt thành của thanh niên bao giờ cũng ngây thơ, vô tư, trong sáng. Cũng chính điều đó, xây cho mình một ấn tượng, một hoài niệm, dẫu có đi muôn nẻo cũng không thể quên. Trước hết là tình cảm thầy, trò. Khóa sinh viên đầu tiên mà mình làm chủ nhiệm bao gồm các em sinh viên đủ mọi miền của đất nước. Nhiều nhất vẫn là mấy em sinh viên quê ngoài bắc. Xa gia đình, xa quê đã gắn các em vào làm một, một gia đình lớn. Mình cũng ở hoàn cảnh tương tự như các em, xa quê, xa gia đình nên rất thương các em. Cũng phải nói thêm rằng, thời điểm năm 1978, là thời điểm bắt đầu sự khốn khó về kinh tế, nhìn đâu cũng thấy thiếu, lúc nào cũng có cảm giác đói. Hình như điều đó cũng làm cho con người tựa vào nhau để vượt qua sự nhọc nhằn, tị hiềm. Không thể quên được những ngày thầy trò đi lao động ở khu kinh tế mới Long Mỹ, Nam Tăng trồng rau muống, rau lang để cố cải thiện bữa ăn. Rau không thấy đâu mà thấy nhiều buổi chiều cả thầy lẫn trò phải đi hái rau má về nấu canh. Cơm gần như là độn, còn sắn (mì), bo bo… mới là chính. Quần, áo mặc không lành lặn, thầy, trò như nhau, bạch phếch, đầy miếng vá. Điều khoả lấp nhọc nhằn, quên những cơn đói hành hạ, nỗi nhớ nhà là tiếng hát, tiếng cười, là những tối quây tròn bên đống lửa sinh hoạt tập thể, tâm sự…trò không dấu thầy một điều gì, còn thầy với trò, thông cảm, thương nhau kể cả những trò nghịch ngầm đậm nét của tuổi trẻ.
Giờ tìm đâu ra những tình cảm ấy, nhất là môi trường đại học.
Mình nhớ một kỷ niệm, buổi sáng sớm, vừa mới ngủ dậy có tiếng gõ cửa. Ra mở cửa, trước mặt mình là một cậu sinh viên dáng gày gò, quần áo nhầu nhĩ sau mấy ngày ăn ngủ vật vờ trên tàu hoả từ Hà Nội vào. Duy chỉ có ánh mắt, ánh mắt lúc nào cũng cũng ánh lên nét tinh nghịch. Cậu sinh viên đó, sau tiếng “ Em chào thầy!” rồi cởi ba lô ra, rút đưa cho mình một tấm gỗ, vốn là bàn ăn trên tàu hoả, nói: “ Mấy lần em sang chỗ thầy, thấy thầy không có bàn ăn, cứ ngồi bệt xuống đất trải báo ra lót. Em đi trên tầu, bẻ trộm chiếc bàn này, biếu thầy. Thầy chỉ cần kê mấy viên gạch lên là có cái bàn ăn lịch sự…”. Mình vừa giận, vừa thương: “ Chết mất! Em làm thế này, người ta bắt được thì sao? Hơn nữa đây là tài sản nhà nước. Mình không nên làm như thế!”. Cậu sinh viên đó cười: “ Thầy ơi! Em đã lấy thì làm sao họ bắt được! Hơn nữa, cả toa tầu, khách đi tàu bẻ gần hết, còn có hai, ba cái chứ mấy! Em không lấy, người khác cũng lấy.” Mình nghe vậy, đành chịu, chỉ đưa ra một lời khuyên: “ Thôi, em nhé! Lần sau đừng làm thế!”. “ Em hứa! Chỉ một lần này thôi, vì thầy không có bàn ăn…”.Thương thế! Cậu sinh viên ấy sau này trở thành một người làm nghệ thuật nổi tiếng, tình cảm thầy trò, gặp mình vẫn như ngày nào. Rồi một chuyện khác, hơn mười giờ tối, anh V… cũng là cán bộ giảng dạy, ngủ cùng phòng, sang khu sinh viên về, nét mặt buồn, tay cầm hai củ đậu, nói: “ Tội quá ông ạ! Tôi đi qua khu bếp sinh viên phát hiện mấy “tướng” đang lấy mấy que nhọn chọc qua khe cửa của kho để lấy củ đậu. Phát hiện thấy tôi, mấy “ tướng” vội bỏ chạy, đánh rơi mấy củ đậu này. Tôi nhặt lên, đuổi theo để đưa cho mấy em mang về ăn, kẻo đói. Thế mà chúng nó tưởng tôi đuổi để bắt đưa lên cờ đỏ, cứ chạy. Tôi gọi mãi không đứa nào đứng lại…”.
Tình cảm thầy,trò như thế, làm sao mình quên.
Cũng ở trường ĐHSP Quy nhơn những năm tháng đó, điều để mình nhớ, đó là “lực bất tòng tâm” của người thầy không thể giúp gì được cho trò. Hồi đó, có những quy định lạ lùng, bây giờ kể lại có khi cho là chuyện “khó tin”, nhưng lúc đó là sự thật hiển nhiên. Có sinh viên, gia đình theo đạo phật, ăn chay trường. Vào trường, Ban giám hiệu lại cấm sinh viên ấy ăn chay, bắt ăn mặn.
Điều vô lý không thể tưởng!
Lại có chuyện, một anh bạn khoa Văn giới thiệu với mình một sinh viên nữ, vốn là giáo viên cấp II đi học. Em sinh viên này nét mặt hiền, ánh mắt buồn, nhưng lúc nào cũng giữ được dáng đoan trang, ăn nói dịu dàng từ tốn, đúng tác phong sư phạm. Em học ngoại ngữ rất giỏi. Ngoài tiếng Anh đã giao tiếp được, em còn học tiếng Nga rất chăm chỉ, tiếp thu rất nhanh. Đặc biệt , em có trình độ thẩm thấu văn học rất tốt. Em thuộc rất nhiều thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Quang Dũng, Bùi Giáng, Du Tử Lê... Mình tin, chỉ độ vài năm, khi ra trường, em sẽ là một giáo viên dạy văn rất tốt, rất cần cho đất nước. Nhưng em ấy chỉ kịp học hết kỳ I, nhà trường buộc em phải thôi học vì gia đình có người anh là sỹ quan chế độ cũ bị bắt đi học cải tạo. Mình và anh bạn khoa Văn không thể đấu tranh để em ở lại tiếp tục học, đành thở dài, bất lực.
Đêm ấy, trước lúc chia tay, mấy thầy trò đi dọc bãi biển, tâm sự nhiều lắm, em nói về tương lai mà nước mắt chảy dài. Còn mình, những lời an ủi, thương cảm cố nói thật nhiều để em bớt đi nỗi buồn, nhưng hình như… cũng giống tiếng động của những con sóng kia, dẫu có vỗ về, nhưng đâu có thay đổi được màu đen như mực của biển Quy Nhơn tối ấy.
Sau này anh bạn khoa văn cho mình biết, em cùng gia đình tìm cách vượt biên ra nước ngoài, nhưng không đến đích, thuyền bị chìm giữa biển…
Em chết do ai?
Mình cũng thấy như có lỗi trong chuyện này. Giá như mình giữ liên lạc, làm chỗ dựa tinh thần cho em, có khi chuyện đó không xảy ra…
Những năm tháng dạy học ở Quy nhơn, đến ngay như mình, làm thầy giáo, nhưng nói đã làm gì với kiến thức để truyền đạt cho sinh viên. Đó là câu hỏi khó! Kiến thức nào!!! Mấy trang giáo án gần như chép lại khi mình học ở Hà Nội, là những buổi theo giáo viên được mời từ ngoài bắc vào thỉnh giảng. Bộ môn mình dạy, rất ít tài liệu tham khảo, chủ yếu mấy quyển sách mang vào, học thế nào, dạy thế nấy, một sự nhồi nhét kiến thức đúng nghĩa. Một môn học, học liên tù tỳ năm tiết liền, trong một ngày, Cứ học như thế trong một tháng, thầy lên lớp đọc, sinh viên ngồi dưới chép, chép đến mỏi tay. Đói hoa cả mắt, học chán ngắt, không một sự hứng thú. Kết thúc một môn học, tổ chức thi ngay. Thi cho có lệ, chứ thực ra, chỉ cần không học trong một tháng… dễ kiến thức của thầy lại trả cho thầy. Nhưng trong cái rủi, lại có cái may. Học khổ, ăn khổ, ở khổ… không thể trông đợi có người nào đó đưa tay cứu vớt, mà mỗi người tự rèn cho mình tính nhẫn nại, chịu đựng, tìm ra phương pháp để tồn tại. Thêm vào đó ý chí tập thể cùng chung lòng không bỏ quên ai, dìu nhau đi. Sau này khi ra trường, đức tính đó đã giúp các em sinh viên trưởng thành, dễ thích ứng, dù ở môi trường nào. Mình mừng nhất đó là nhân cách sống trung thực của các em, trước hết với mình, thầy chủ nhiệm cũ, sau đó đến bạn bè, trước sau như một. Gặp các em, sau ba mươi lăm năm, tiếng : “ Em chào thầy!” vẫn đầy tràn tình cảm, tươi nguyên. Chứng kiến cảnh các cựu sinh viên những khóa đầu gặp nhau, giờ đã bước sang tuổi gần sáu mươi, giữ nhiều chức vụ khác nhau, người Tổng biên tập tờ báo lớn, người làm đạo diễn, vụ trưởng, vụ phó, người là đại biểu Quốc hội… nhưng cũng có người chỉ là anh giáo viên cấp III, thậm chí có người bỏ nghề làm anh nông dân… Ấy vậy, gặp lại nhau, vẫn giữ được tiếng cười hồn nhiên, những ánh mắt nhìn nhau như quên tuổi tác, cả cách xưng hô nữa, y như ngày đầu nhập trường… thật cảm động.
Bây giờ nhìn vào vật chất, tưởng có thể hơn thời mình và các em sinh viên đã sống ở trường ĐHSP Quy nhơn. Nào nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh…đến ăn mặc, chải chuốt, lịch sự hơn. Kể cả nước da nữa chứ, hồng hào, tươi tắn… Dẫu thế, để tìm ra được một tiếng cười vô tư, một chỗ ăn, nói thoả mái không ngượng ngập, không phải nhìn trước, ngó sau, chẳng phải thưa gửi, nịnh bợ ai quả là khó! Phía trước, cuộc sống còn bao nhiêu điều bộn bề, lo toan, đối phó, tìm được một phút giây thanh thản với chính mình giữa bạn bè, rất hiếm. Và cũng giữa thời buổi “ chợ trời”, mọi giá trị tinh thần, kể cả đạo đức, nhắc lại như một từ phù phiếm, con người bi quan, hay lạc hướng giữa buổi thuyết giảng “lý tưởng”, “chủ nghĩa”, đến độ không dám nói thật, không dám sống thật với mình… thì chỉ có những buổi gặp gỡ như thế này, ôn lại những năm tháng sống chết với nhau, thương nhau hết lòng, con người mới có một nụ cười tự nhiên, sống đúng với mình nhất.
Chỉ thế thôi, làm sao không mong có ngày gặp lại.
 
 

LỚP TÔI - Tản văn

[Không rõ 29/11/2012 22:32 | by kytrung ]

LỚP TÔI – Tản văn
 
Mới đó đã hơn bốn chục năm.
Gặp lại không khỏi ngỡ ngàng, tóc bạc, nét mặt nhiều nếp nhăn, dáng cũng thay đổi. Nhưng một điều hình như không thay đổi đó là giọng nói, tiếng cười. Mình vẫn có cảm giác y như ngày nhập lớp. Gặp nhau, đoán nhé: “ Ai đây ? Thêm phải không? Còn đây! Đúng rồi Hà Thanh. Đây nữa! Anh Cát, anh Tuấn!”…
Thế là vỡ ra tiếng cười, có cả nước mắt rơi.
Một thời, sống đầy kỷ niệm. Những kỷ niệm hút hồn, gìm chặt vào trí nhớ, đi theo, chung thuỷ suốt cả cuộc đời.
Làm sao quên được những tình cảm bạn bè trong sáng, vô tư không một vết gợn, khi sống những năm tháng đó. Trong một tổ gần như không phân biệt sang, hèn, mà lúc đó hình như không có khái niệm “ giàu, nghèo”. Học bổng như nhau, chế độ tem phiếu như nhau, ăn mặc gần như giống nhau…Nên thế, sinh hoạt tổ như một gia đình. Mấy anh cán bộ chăm học, làm gương cho lớp trẻ. Còn bọn mình, ngoài chuyện học, nếu là nữ lại tìm cách đan lát, móc, thêu. Còn con trai, ầm ỹ với trái bóng mỗi chiều, với tiếng ghi ta bập bùng trên sân thượng khu ký túc xá. Hồn nhiên trong sinh hoạt, hồn nhiên cả trong chuyện tình cảm. Quan tâm đến nhau, cũng có chút giận hờn vì không chép bài cho nhau, rồi mải đá bóng để lỡ cuộc hẹn, hay như tự ái vì để các bạn châm chọc…

Tác giả ( đứng, bên phải) chụp chung với anh Tuấn, bạn Mai, Nhị, Nhân
 
Nhưng cũng như một cơn gió thoảng… chưa đâu vào với đâu, thì chiến tranh phá hoại ập đến.
Quên làm sao được cái đêm 16/4/1972 khốc liệt cả Hà Nội phải sơ tán gấp vì máy bay Mỹ ném bom. Bên kia sông Hồng, kho xăng Đức Giang trúng bom máy bay Mỹ thả, lửa cuồn cuộn bốc lên, sáng cả một góc trời. Trên đường nhựa trước cổng trường người đi bộ, người đạp xe , người gồng gánh… tất tả, chen lấn, cuống cuồng. Cả lớp cũng vội vã, người nhét vội quần áo vào ba lô, kẻ vơ vội chăn màn cuộn tròn cùng sách vở…rồi tất cả cố gắng đi thật nhanh đến ga Hàng Cỏ, xuôi theo tàu về sơ tán ở Đồng Văn ( Duy Tiên – Nam Định). Đêm trên tàu, ngồi ép vào nhau, lắc lư theo nhịp tàu đi, ánh mắt người nào, người nấy đều lộ vẻ lo lắng, lo lắng cho gia đình ở nhà, giờ này có làm sao không ? Hầm hố đào thế nào? Rồi lại nghĩ có khi gia đình cũng đang lo cho mình…
Cả một đêm trên tàu, không ai ngủ được.
Nơi sơ tán, một vùng đạo toàn tòng, có nhà thờ, mỗi chiều tiếng chuông nhà thờ ngân xa, vang trong chiều muộn như cố níu kéo hoàng hôn chậm lại. Mình ở gần nhà Lý Cẩm Hương, Kim Chung… mấy bạn gái trong tổ. Chiều chiều Cẩm Hương hay rủ mấy đứa trẻ, con cháu bác chủ nhà ra tập múa, Hương hay rủ mình đến xem. Mình với Kim Chung, nhiều buổi chiều, chẳng có việc gì làm, hai đứa cầm chổi ra quét dọn con đường phía trước ngồi nhà tạm trú… Bên này con đường những dãy nhà lá lụp xụp, ẩn mình dưới rặng tre già, còn bên kia nhìn ra, một cánh đồng trải dài đến tít tắp màu xanh mượt của lúa đang kỳ lên đòng. Điểm xuyến, những cánh cò trắng chấp chới bay lúc mờ, lúc tỏ và xa hơn nữa, những đám mây trôi đi vô định… Thế thôi, lớp ở đây mới có hơn tháng, với cảnh ấy, nhớ da diết khi xa.
Chia tay với Đồng Văn, lớp mình sơ tán tiếp đến Đan Phượng ( Hà Tây cũ) gần nhà mình ở thị trấn Phùng. Với lớp không thể xa, thế là mấy ngày đầu, mình cùng anh Chương, anh Thông, anh Tánh, anh Quỹ, Lê Hà…đắp bếp lấy chỗ nấu ăn. Học ngay trong một ngôi đình làng, thầy giảng bài ở trên, còn chúng mình ngồi bệt xuống nền, sách để trên đùi mà ghi chép. Học khổ nhưng vui, vì ngồi không hàng lối, kẻ dựa lưng vào cột, người dựa vào tường…ngủ gật thầy cũng không biết. Có lúc một bạn nữ dấm dúi đưa cho một múi bưởi, cúi xuống giả vở viết, thực ra dấu thầy “ăn vụng”, người ngồi phía trước che cho, người ngồi cạnh nói nhỏ: “ Còn không, cho tớ một miếng?”. Thỉnh thoảng giờ học phải ngưng, chạy vội ra hầm trú ẩn vì có tiếng máy bay xoẹt qua, tiếng súng của một trận địa cao xạ gần đó nổ…Thực ra học như thế bữa đực, bữa cái, kiến thức cũng chẳng vào đựơc là bao nhiêu. Chỉ vui, hình như có nhiều thời gian để gần nhau, để nhớ nhau hơn. Tối tối, trăng sáng, mình với mấy bạn nữ tha thẩn lên mặt đê, nhìn về phía xa xa, có ánh sáng mờ mờ hắt lên. Hà Nội đấy, bao giờ yên hàn, đất nước hết chiến tranh, lớp bớt đi những chỗ trống do các bạn trai lần lượt lên đường nhập ngũ, để được quay về với khu ký túc xá, với những dãy nhà bốn tầng có ánh điện vàng soi trang sách, rộn tiếng cười. Để chiều chiều lên sân thượng, nghe văng vẳng đâu đây giọng ai đang hát: “ Chiều thanh vắng là đây, âm thầm gió rì rào…”
Ở Đan Phượng được một thời gian, lớp mình tiếp tục chuyển chỗ, sơ tán về xã Khúc Lộng – Văn Giang – Hưng Yên. Một làng quê yên ả nằm cạnh một con sông đào, có cái cầu bắc qua, tên gọi ngộ ngộ: Cầu Váu. Mình ở nhà bà Hoè, một căn nhà ngói cũ kỹ, trước sân cạnh bể nước có cây bưởi, những đêm vắng, hương buởi thoang thoảng bay vào nhà, dễ làm cho người có giấc ngủ say. Cũng chưa thể tổ chức học, máy bay Mỹ ném bom ngày càng ác liệt, thế là mình cùng Kim Chung và cả lớp được Ban chủ nhiệm Khoa phân công đi làm công tác hè, giúp các em cấp II trong xã. Mình với Kim Chung dạy các em bài hát : “ Mùa xuân sang em lớn thêm một tuổi, lúc hoa bưởi toả ngát hương thơm. Bạn rủ em đi ra đồng với con nghé hoa cũng lớn thêm một tuổi…” ( Tổ khúc “ bốn mùa” – sáng tác : Hoàng Vân). Các em dễ thân, hay mời mình và Kim Chung về nhà chơi…
Nhưng rồi…
Cuộc “ thực tập” đầu tiên trong đời để sau này trở thành giáo viên, bị bỏ dở nửa chừng.
Mình lên đường nhập ngũ.
Nhớ mãi buổi chia tay, Kim Chung và Tâm định đưa mình đến tận chỗ nhận quân. Mình không chịu: “ Các bạn về đi, tiễn với đưa làm gì! Đi rồi lại về…”. Mình không muốn cuộc chia tay diễn ra trong nước mắt, nói cứng thế thôi, bên trong bùi ngùi thương cảm. Vì giữa mình với Kim Chung lúc đó chưa là gì cả, chỉ chơi thân với nhau, cũng không một lần nắm tay…nhưng, trong tổ gần như mình đi đâu cũng có bạn ấy, dễ nói chuyện với nhau, chẳng dấu nhau một điều gì.
Mình đi xa, quay lại vẫn thấy hai bạn đứng nhìn theo.
Những năm tháng ở Trường Sơn rồi bao vây Bình Long ( Đông Nam bộ) kề cận cái sống, cái chết. Có lẽ điều mình nhớ nhiều nhất là người thân Bố, Mẹ, mấy đứa em và cả lớp Sử khoá 1971 – 1975 mình đã học năm đầu. Ao ước, ao ước thật sự lúc đó là được quay ra bắc, lao vào vòng tay người thân. Lại được choàng vai, bắt tay với mấy bạn trong lớp. Dừng chân ở bãi khách, mình với Lễ, bạn cùng lớp, cùng một ngày nhập ngũ, cùng đơn vị hay ôn lại những kỷ niệm về lớp Sử thân yêu, nhắc lại những ngày đi khảo cổ ở Tứ Xã ( Lâm Thao – Phú Thọ), đi lao động ở Cống Thôn, Xuân Quang, những buổi đạp xe cùng các bạn đi xem phim ở tận bãi Cầu Giấy… Lễ hay nói với mình cái giọng y như buổi còn sinh viên: “ Từ này tiếng Nga là gì nhỉ?”. Rồi Lễ hát nho nhỏ lời Việt của một bài hát Nga: “ Ôi, không gian bao la. Hãy nói với ta. Như ngôi sao hôm. Đêm ngày mong chờ. Rằng ta vẫn nhớ. Đến người dấu yêu. Ở phương trời xa…” ( Lời Việt bài hát Nga: Ngôi sao ban chiều) làm cho nỗi nhớ thêm cồn cào. Ông chính trị viên Thành nằm cạnh, nghe Lễ hát như vậy, mắng ngay: “ Đang hành quân vất vả như thế này, không động viên mà đi hát nhạc vàng. Mấy ông sinh viên im ngay cho tôi nhờ!”. Mình với Lễ vội im, không dám trò chuyện nữa. Không biết lúc đó Lễ nghĩ gì, còn mình, những khuôn mặt của các bạn, cả nam lẫn nữ trong lớp sử mình học cùng, hiện lên rõ mồn một, lạ kỳ, bên tai nghe như có cả tiếng cười nữa…
Hình ảnh đó cứ thế đi theo mình cho suốt cuộc trường chinh.
Đất nước hoà bình, bộn bề công việc, khi mình trở về lại trường để học tiếp thì các bạn khoá 1971 – 1975 đã ra trường, tứ tán mỗi người một nơi, mình không có điều kiện gặp.
Dẫu thế vẫn ước ao, có một ngày được gặp lại tất cả…
Nghe điện thoại của anh Cát, bạn Tỵ, bạn Nhị… điện cho mình thông báo ngày gặp cả lớp, sau bốn mươi năm xa, mình mừng vô cùng.
Gặp lại nhau, nhìn mà thương vì nghĩ mãi, đoán mãi, không biết người đang ngồi trước mặt mình là ai? Thay đổi nhiều quá. Ngày nào là tuổi xuân phơi phới, mái tóc dài, làn da trắng, má đỏ hồng. Thế mà bây giờ… Khi nhận được ra nhau, cùng ồ lên trong tiếng cười, nước mắt. Bốn mươi năm, trôi qua như một cái chớp mắt, nhưng in đậm nỗi niềm khốn khó vận vào từng số phận. Có bạn, năm tháng qua là những chuỗi ngày của vất vả, phải nuôi chồng bị tai biến nằm liệt một chỗ . Lại có bạn là sự cương cường chống lại số mệnh, chạy thận mười một năm, vẫn lạc quan, hết mình với bạn. Trong lớp có mấy bạn, không may chồng mất sớm, một mình ở vậy nuôi con cho đến khi con khôn lớn dựng vợ, gả chồng… Có bạn phận nghèo, ở tít tận Lạng Sơn, Hoà Bình, xuống với mọi người vẫn cố mang bằng được mấy bao hạt dẻ, bắp ngô… làm quà.
Gặp nhau, coi như không có tuổi tác, cũng không phải là hiện tại mà thực sự trở về với quá khứ bằng tiếng cười, tiếng hát, cách xưng hô “ cậu, tớ, mày, tao…”, của tuổi sinh viên, cùng ôn lại những kỷ niệm của bốn mươi năm trước, mà cứ ngỡ nó vừa xảy ra hôm qua, không quên một chi tiết nào! Các thầy Cảnh Minh, Đặng Minh, Thầy Thêm, Cô Bích Ngọc…cùng đến chung vui, chứng kiến cảnh ấy, ánh mắt của các Thầy,Cô cũng biểu lộ sự xúc động. Nhìn các Thầy mình lại nhớ đến Thầy Hồ Song, chủ nhiệm Khoa lúc đó. Biết mình cận thị vẫn xung phong đi bộ đội, Thầy nói riêng với mình, giọng ái ngại: “ Em nên lựa sức mình, mắt như thế, liệu có thể hoàn thành nhiệm vụ không?”. Không hiểu sao lúc đó, mình trả lời chắc nịch: “ Thầy yên tâm, em tin ở mình!”. Nhưng sau này vào chiến trường, có lúc bình tĩnh ngồi ngẫm nghĩ , thấy mình cũng hơi liều, may mà… không chết! Khi mình về lại trường, nhập học,Thầy thấy mình, reo to, như thể thấy đứa con đi xa, giờ mới trở về: “ Trung về rồi này! Thầy mừng quá, có làm sao không, em? ”.
Buổi gặp mặt tổ chức trên con thuyền rồng lướt nhẹ trên mặt nước hồ Tây hôm ấy đã làm thoả mãn cho mình một điều, gặp lại những khuôn mặt xưa, thân hơn ruột thịt, làm điểm tựa cho mình lại sức ,vượt qua những lúc cam co nhất.
Gặp những con người, đã giúp mình có khát vọng sống, khát vọng tin vào một tương lai nhất định sẽ tốt đẹp nếu mình đừng bi quan, đừng chán nản.
Xin cảm ơn các Thầy, Cô và các anh, các chị, các bạn lớp Sử - Khoá 1971-1975 – Khoa Lịch Sử - Trường ĐHSP Hà Nội I.
--------------------------------------------------
 
 
 

ĐÁM CƯỚI LÀNG - Tản văn

[Không rõ 23/10/2012 19:33 | by kytrung ]

 

Một đám cưới làng quê - Ảnh có tính chất minh họa

 

 

                        ĐÁM CƯỚI LÀNG – Tản văn

           Người cháu bên vợ làm đám cưới. Vợ nói: “ Anh có khiếu ăn nói, đi đám cưới cho cháu, thay mặt bên đằng trai, làm chủ trò nhé.”.  Một đám cưới vùng nông thôn, cách chỗ mình ở hơn hai trăm cây số, tận một làng ở Hoài Nhơn ( Bình Định)  muốn tìm hiểu, mình liền đồng ý với yêu cầu của vợ.

          Đám cưới làng, mình đọc báo nhiều, xem ti vi, rồi youtube… cung cấp, thường đó là đám cưới ở nông thôn bây giờ  “mới”, “ cũ” … lộn tùng phèo, bia rượu ngả ngớn, say nói lè phè, thậm chí cả đánh nhau, còn MC pha trò với những câu chuyện tiếu lâm chọc cười rẻ tiền… nghĩa là văn hóa nhiều đám cưới làng đã “về mo”.

         Nhưng, đám cưới mình dự, một đám cưới làng, không hiểu sao để lại trong mình một sự cảm thông, thương đến là thế.

      Con đường dẫn vào nhà cô dâu, dễ cả mấy chục năm vẫn vậy. Một còn đường đất lồi lõm như sống trâu, qua cơn mưa tối trước, loang lổ những hố nước nổi váng vàng chân lội vào bước lên, thụt xuống phát ra những tiếng lõm bõm. Hàng cây dừa, muôn đời với những dáng độc, như một thân người gầy, gắng gượng sống, cố vươn lên, thi gan  chống chọi với thời gian. Ven đường là những ngôi nhà mái tôn màu xỉn loang lổ, chúi thấp mái như một người ăn mày ngồi ngủ gật, không có ai đỡ. Vẫn những đứa trẻ áo quần không lành lặn, chân đất đứng trước cổng nét mặt bám bụi sau những trò đùa nghịch ngợm, ánh mắt ngạc nhiên nhìn theo đoàn người đón dâu đi qua… Một hình ảnh không thay đổi của nông thôn Việt Nam, có dễ đến hơn ba mươi năm mình chứng kiến, vẫn y như vậy. Quang cảnh này gợi lên một hoài niệm tưởng như đã gìm chặt vào dĩ vãng, giờ cứ thế hiện rõ, cụ thể, không phải tưởng tượng, làm cho mình xúc động.

       Một rạp cưới nhà gái dựng, không thể đơn giản hơn. Mấy miếng vải hồng, che xung quanh. Dăm ba  bộ bàn ghế gỗ cũ kỹ đơn sơ được sắp đặt thành hàng, thành lối trên nền sân lầm cát, còn trên bàn là ngay ngắn những chén, ly sàng sứ sạch sẽ  để chủ nhà chuẩn bị đãi khách… Nhìn kiểu sắp đặt như vậy, mình cũng hiểu, đám cưới chắc cũng không nhiều món sang như những đám cưới thành phố mình đã dự. Mà cách bố trí này, gợi lại đám cưới hồi thời bao cấp, cũng nghèo, phông màn đơn sơ, vài bộ bàn ghế cũ kỹ… Cũng có điều hơn đám cưới thời bao cấp là ban nhạc quê, bao gồm mấy thanh niên biết đánh đàn tụ họp lại, nét mặt chất phác, áo quần không sang, phục vụ đám cưới tận tâm, ai hát cũng đánh đàn phụ họa theo, bất kể bài gì…

       Họ nhà trai đến, bên ngoài chiếc cổng kết hoa nhựa, treo tòn ten hai chiếc đền lồng màu đỏ là họ nhà gái. Mấy người đàn ông, có lẽ lần đầu thắt caravat, mặc comlê… nên trông họ có phần ngượng nghịu. Lại mấy người phụ nữ, cũng áo dài, tóc búi, trên nét mặt có thoa chút phấn son… chỉ thế thôi mà họ cũng có vẻ như không quen, thỉnh thoảng lại ngoảng mặt đi chỗ khác, cười khúc khích. Đứng xung quanh là mấy người thanh niên cả nam lẫn nữ nhìn mình cùng họ hàng nhà chú rể với ánh mắt tò mò, ngó nghiên, tay chỉ chỏ.

      Khi an vị xong, hai họ đứng lên giới thiệu. Bên đằng trai, mình đứng lên giới thiệu, chưa đến chục người, nên cũng không mất nhiều thời gian, nói ngắn gọn. Riêng đằng nhà gái, ông bác đứng lên, trông rất tội. Ánh mắt nhìn trước nhìn sau, đằng hắng một tiếng, nói trịnh trọng:

      - Kính thưa các cấp chính quyền, thưa quan viên hai họ…

   Mình nhìn quanh, hỏi nhỏ một người bên đằng gái:

      - Chính quyền cũng dự à!

    Người đó gật đầu, nói vừa đủ nghe:

      - Đám cưới hay cả … đám ma cũng phải mời họ. Không có là không xong. Sau này có xin chứng thực giấy tờ hành lên, hành xuống, khổ lắm!

       Rồi ông ta khều nhẹ tay, bí mật chỉ cho mình một người đàn ông dáng béo trục, béo tròn, da mặt mặt hồng hào, mắt cúi xuống bàn, cười lơi lả với một phụ nữ ngồi cạnh, nói thì thào:

      - Ông phó bí thư  kiêm chủ tịch xã đấy!

       Không hiểu sao cảnh ấy cũng làm cho mình cảnh giác, tý nữa có phát biểu gì cũng nên cân nhắc.

        Ông bác bên đằng gái sau lời thưa gửi, giới thiệu tiếp đến những họ hàng, bà con. Mình để ý, bên đằng gái, trừ mấy người ông, người bác tuổi khá cao, còn lại toàn bà lão, đàn bà, con gái… Đàn ông là trung niên, thanh niên đi đâu hết cả rồi? Đến cả lúc cao trào là hát mừng, cũng chỉ mấy người con gái đứng lên hát, mà đám cưới lại hát toàn những bài hát buồn, buồn đến não lòng: “ Đừng xa em đêm nay, đêm rất dài…” Rồi một chị, có lẽ tuổi cũng đã lớn, hát được câu đầu, đến câu sau là khóc: “ Ba đi xa, ,thì con với mẹ. Mẹ đi xa thì con với ba. Cả nhà ta đừng đi đâu xa. Đi là nhớ, gần nhau là cười…” (1). Đám cưới, ngày vui mà khóc thì quá buồn. Nhưng hình như… nội dung bài hát đã nói đúng tâm trạng của những người phụ nữ ngồi đây, nên dứt bài hát, họ vỗ tay rất to đề nghị người phụ nữa kia hát lại và họ hát hòa theo. Mình thắc mắc, tự tìm hiểu mới phát hiện ra rằng: Làng này, đàn ông đủ sức, đủ tuổi thường đi làm xa để kiếm tiền nuôi gia đình. Một người bên đằng gái cho biết, không riêng gì làng này, các làng khác xung quanh đây đều thế cả. Ở nhà đói lắm, kiếm ăn khó lắm, phải đi xa, có khi đi biền biệt mấy năm mới về. Các làng nghèo đều vắng hết đàn ông, trong làng toàn đàn bà. Đàn bà vắng chồng, vắng cha, vắng con khắc khoải chờ đợi ngày đoàn tụ trong năm. Những ngày đợi chồng, đợi cha, đợi con chỉ mong có một chỗ dồn lại để hát, hát nỗi khao khát đến cháy bỏng: “… Cả nhà ta đừng đi đâu xa. Đi là nhớ, gần nhau là cười…”.

       Vừa hát vừa ăn liên hoan, đám cưới làng, không cao lương mỹ vị. Nghèo, giản dị, chân tình. Món đầu, mình thấy, bánh cuốn chấm nước mắm ớt tỏi. Món sau mình thưởng thức, thịt heo cuốn bánh tráng. Món tiếp theo, bánh hỏi ăn với lòng heo luộc…Những món ăn dân giã, đúng giờ, đúng bữa, nên ăn rất ngon.  Ngon hơn nữa, gần như không có khách sáo, mỗi món bưng ra, lại có người khoe: “ Tôi làm đấy, anh ăn thử đi, xem có ngon không ?”. Thấy mình như không hiểu, người đó giải thích: “ Đám cưới của cháu, nhưng là của làng, mọi người cùng góp công vào cho cháu hạnh phúc. Món này, nhà này nấu, món kia, nhà kia nấu rồi đúng giờ mang đến. Tiền công xá, thực phẩm chẳng đáng bao nhiêu, chủ yếu làm thế nào để đám cưới mọi người cùng chung vui, ai cũng được hưởng, mấy khi được thế này…”.

          Văn hóa làng, xã mặt văn minh, mình  tưởng giữa cảnh xô bồ này đã biến mất. Có lúc mình bi quan, như đi dự đám cưới ở thành phố chẳng hạn. Vào đám cưới  bỏ vội chiếc phong bì mừng hạnh phúc vào thùng, ký ngoằng một cái vào tấm vải để trên bàn rồi dắt vợ vào ngồi bên trong, bên tai những tiếng đàn, tiếng trống nghe chát chúa, người ngồi bên cạnh nói, cũng không biết họ nói gì.  Khung cảnh xung quanh ồn ào, cả hàng trăm người, có khi lên cả nghìn, ngồi cùng bàn cũng không biết mình đang ngồi với ai?  Ăn uống, hát hò tất cả như diễn, không hề có cảm xúc. Ăn thì vội, chưa xong món này, nhà hàng đã dọn, đưa lên món khác… Trên đứng hát, cứ hát, ai muốn nghe thì nghe, không nghe thì thôi,  rõ nhất là tiếng chỗ này “dô”, chỗ kia “dô”… nhuộm nhạm, lôm nhôm… Chỉ mong đám cưới mau kết thúc để về…

          Đám cưới làng mình đang chứng kiến đây, rõ là nghèo, các món ăn gần như tự nấu, phía sau khói bếp đốt bằng rơm vẫn bốc lên thành ngọn, có lúc bị cơn gió đưa, khói theo vào vây lấy thực khách, mùi nồng nồng, ngai ngái. Mình cố hít mùi làng quê ấy, thấy thơm lạ lùng. Khách dự cũng là người quanh làng cả, nhiều tiếng chúc hỏi thăm nhau, từ chuyện làm ăn đến chuyện gả chồng, cưới vợ cho con cái y như trong một gia đình lớn.

        Cũng có chỗ mà mọi người không dám ngồi gần, chỉ qua lại xã giao là chiếc bàn để riêng cho ông phó bí thư kiêm chủ tịch xã ngồi. Khuôn mặt ông đỏ hồng vỉ rượu, ngả ngớn vì nói, cười hỉ hả có vẻ như ăn ngon, bên cạnh mấy vị cao niên đang ngồi lặng lẽ tiếp rượu, đưa mồi cho ông ta.

           Cũng là một hình ảnh “lạ” trong đám cười làng mình chứng kiến.

           Lúc họ nhà gái tiễn họ nhà trai ra về, cô dâu theo chú rể, những ánh mắt buồn nhìn theo, cánh tay quệt hàng nước mắt, lời giã từ: “ Làm dâu nhà họ phải sống tốt nghe con, nhà mình nghèo chỉ còn cái đức. Con nên giữ để bên chồng trọng nhà mình …”

           Họ nhà gái đi theo đoàn rước dâu một đoạn đường dài để tiễn…

Lên xe mình nhìn lại.

Xe đã nổ máy.

Vẫn mấy ánh mắt đó nhìn theo…

---------------------------------

(1) Lời bài hát " Cả nhà thương nhau" - Nhạc và lời: PHAN VĂN MINH

        

 

Phân trang 1/5 Trang đầu 1 2 3 4 5 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]