Có lần, tại một bệnh viện Phụ sản, hai đứa bé gái cùng lúc được sinh ra, một đứa có cha mẹ hiện đang là quan chức to, giầu có (tạm gọi là cháu A); một đứa không cha, mẹ là công nhân phụ hồ (tạm gọi là cháu B). Cháu A kháu khỉnh, da trắng hồng, mắt đen như hai hột nhãn, mũi dọc dừa, má lúm đồng tiền, cơ thể đầy đủ. Ngược lại, cháu B đen nhẻm, nhỏ thó, lại bị khèo chân khèo tay. Chứng kiến chuyện đó, có người nêu vấn đề: Với hai hoàn cảnh ra đời trái ngược nhau như thế, cháu B có bình đẳng với cháu A không?

[no-readmore]

“Tôi khóc than những chân trời không có người bay
Lại than khóc những người bay không  có chântrời”
(Trần Dần).
Mạo  muội viết những dòng chữ này trong tâm thế tự nhiên của người đã một  lòng với sự nghiệp, tôi luôn giữ được bình tĩnh khi phải đối diện với  những vấn nạn của ngành mình, nghề mình.


Tôi chẳng có gì mà phải bất  ngờ trước việc Người Đương Thời Đỗ Việt Khoa, người được dư luận cả nước  ủng hộ năm 2006, được  Bộ Trưởng Nguyễn Thiện Nhân tới thăm nhà riêng  với bao quà cáp, sách vở và những lời chúc tốt đẹp…vậy mà nay lại thành  “Người Lỗi Thời” lâm nạn đến mức phải xin bỏ nghề. Vụ này đang là một vụ  tai tiếng, một cuộc chơi tay 3 tiềm ẩn quá nhiều những yếu tố bi hài  giữa Sở – Bộ &Trường Vân Tảo .

Bàn đến Đại hội Đảng lần thứ XI nổi bật  vẫn là nhân sự, mọi chuyện đều xoay quanh danh sách ứng cử viên vào Ban  chấp hành Trung ương. Đây là vấn đề nóng bỏng nhất liên quan đến mọi mặt  đời sống của các tầng lớp nhân dân vì Ban chấp hành Trung ương không  chỉ là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng mà còn là Bộ tham mưu của cả  dân tộc, sẽ nắm toàn bộ quyền lực bộ máy Nhà nước. Việc Đảng cũng chính  là việc dân, rất thiết thân với dân, ai cũng tâm niệm có một thế hệ lãnh  đạo, quản lý đất nước có bản lĩnh, có khả năng đột phá, chớp thời cơ,  biết tạo thế và lực để đưa đất nước phát triển lên một tầng cao mới.  Lịch sử đã chứng minh khi đất nước có minh quân, có những người đứng đầu  hết lòng vì nước vì dân thì hiền tài xuất hiện, sỹ phu phấn khởi, nhân  dân hào hứng, làm ăn phát đạt, ngược lại, khi có hỗn quân, nịnh thần,  bọn buôn quan bán chức nắm quyền thì đất nước chỉ suy vong, chẳng thể mở  mày, mở mặt với thiên hạ.

Đổi mới đã 25 năm, đất nước đã thay đổi nhiều, chúng ta liên tục duy trì  được tốc độ tăng trưởng khá cao. Việt Nam đã trở thành một quốc gia có  thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1200 USD.  Thế nhưng đằng sau thành quả đã đạt được lại là hàng loạt bất cập được  tích tụ ngày càng lớn suốt quá trình dài chú trọng nhiều vào tốc độ tăng  trưởng chưa coi trọng đúng mức hiệu quả và bền vững nên đến nay điều đó  đã trở thành mối nguy cơ của nền kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phụ thuộc đến 60% vào tăng vốn  đầu tư, tỷ lệ này của giai đoạn 1991 - 1995 chỉ có 29,8%, càng phụ  thuộc vào tăng vốn đầu tư tăng trưởng càng bấp bênh. Nhịp độ tăng năng  suất của công nghiệp chế biến liên tục sút giảm và hiện chỉ bằng 59% so  với trung bình của cả nền kinh tế. Công nghiệp phụ trợ sản xuất các phụ  liệu, phụ kiện, linh kiện, phụ tùng liên quan đến mọi ngành công nghiệp,  không có công nghiệp, phụ trợ xuất khẩu còn lệ thuộc nhiều vào nước  ngoài và không thể nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, cho đến nay  công nghiệp phụ trợ của ta mới ở dạng sơ khai, mới phát triển. Công  nghiệp ta vẫn chưa thoát khỏi lắp ráp và gia công, vẫn lấy công làm lãi  vì đã làm thuê thì lợi nhuận rất thấp, lương công nhân nuôi bản thân đã  khó. Ta khai thác nhiều tài nguyên đến nỗi ngành có năng suất lao động  cao nhất là ngành khai thác tài nguyên. Nước ngoài rất khôn ngoan, ta  xuất bao nhiêu khoáng sản họ cũng mua, coi như “của chìm” để khi cần  dùng, họ có sẵn. Và biết đâu đấy, khi tài nguyên ta đã cạn kiệt, con  cháu cần phải ra nước ngoài mua có thể lại mua phải thứ khoáng sản ông  cha đã đem bán. Thế giới coi nơi nào xuất khẩu tài nguyên thô là ăn cắp  tài nguyên của tương lai. Đất nước độc lập và thống nhất đã 35 năm mà  bước vào thập kỷ thứ hai (2011) của thế kỷ 21 vẫn tụt hậu trên nhiều  phương diện: hiệu quả kinh tế quá thấp, năng suất lao động thấp, xuất  khẩu thô với tỷ trọng lớn chỉ tạo ra giá trị gia tăng nhỏ, hiệu quả đầu  tư ngày càng kém, mặt hàng công nghệ của ta hiện chỉ tương đương với  Trung Quốc năm 1980, với Malaysia năm 1970, với Hàn Quốc năm 1960, với  Nhật Bản năm 1920 công nghệ tiên tiến ta mới có 1 phần trăm. Công nghiệp  ôtô hơn 10 năm Nhà nước bảo hộ chưa có gì phát triển hơn vẫn chỉ là  những xưởng lắp ráp cho các tập đoàn nước ngoài, nội địa hóa không đáng  kể. Công nghiệp tàu thủy còn đang vực lên từ phá sản. Đầu tư nước ngoài  cho nông nghiệp năm 2001 là 8%, đến năm 2009 còn 1% trong khi các doanh  nghiệp ở nông thôn phải tự xoay sở trong suy thoái. 35 năm qua một số  nước trong khu vực đã thay đổi hẳn về quan hệ ngoại thương, xuất hàng  công nghiệp nhiều hơn hàng thô. Càng xuất hàng thô ở dạng tài nguyên  càng làm giàu cho nước nhập tài nguyên, còn nước xuất thô chỉ nghèo đi.  Thái Lan, Malaysia, Indonesia đang trở thành những nước xuất hàng công  nghiệp. Chỉ có Việt Nam suốt 10 năm qua chủ yếu vẫn xuất nguyên liệu thô  chiếm gần 90%, còn hàng công nghiệp có giá trị gia tăng ta mới xuất  được hơn 10%.

Bộ máy Nhà  nước ta còn chỗ yếu rất căn bản, trong dân cũng gọi là một thứ tụt hậu,  mà là tụt hậu lớn, đó là không xác định trách nhiệm cá nhân. Bên cạnh  những thành tích xuất sắc ta đều có khen thưởng, hàng ngày trên tivi  thường thấy trao bằng khen, gắn huân chương. Thế nhưng sai lầm, khuyết  điểm rất trầm trọng cũng chẳng thấy ai từ chức hoặc bị cách chức. Mấy  chục năm quá ít từ chức và cách chức, bộ máy tồn đọng ngày càng đông cán  bộ lãnh đạo đã biến chất đáng lẽ bị kỷ luật lại vẫn an toàn tại chức,  đây là mối họa lớn trong lòng bộ máy Nhà nước. Các vụ thua lỗ, lãng phí  đến đỉnh điểm cũng không thấy ai từ chức hoặc bị cách chức, thậm chí ra  trước Quốc hội, chỉ thấy hứa sau Quốc hội sẽ giải quyết. Qua một số việc  kể trên càng hiểu đầy đủ hơn tại sao sức cạnh tranh của nền kinh tế ta  lại bị xếp gần cuối hạng các nước cùng khu vực, các điểm tựa để tăng  trưởng của Việt Nam không khác là bao nhiêu cách đây 10 năm. Một số  chuyên gia, kể cả nước ngoài đã góp ý kiến, nếu Việt Nam không cải thiện  tình hình, vẫn chỉ ra sức dựa vào những thuận lợi được thừa hưởng từ  trước, không bắt đầu xây dựng những thế mạnh và năng lực riêng của mình  thì bàn đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp là khó khả thi.

Hàn Quốc là một nước nông nghiệp cực nghèo như ta, chuyển  sang sản xuất kinh doanh 30 năm sau đã là một cường quốc công nghiệp.  Ôtô Hàn Quốc xuất vào Mỹ cạnh tranh ngang ngửa với ôtô Nhật. Năm 1986,  Tập đoàn Hyundai dám bỏ số tiền 25 triệu USD thuê hẳn một công ty quảng  cáo lớn của Mỹ để chuyên quảng cáo ôtô Hàn Quốc trên đất Mỹ. Công nghiệp  tàu thủy của Hàn Quốc đứng đầu thế giới. Sự tự chủ kinh tế và năng lực  cạnh tranh mạnh mẽ của Hàn Quốc dựa trên năng lực cạnh tranh của các  doanh nghiệp trong nước và hầu hết là doanh nghiệp tư nhân. Hàn Quốc có  tập đoàn tư nhân, tập đoàn Nhà nước và tập đoàn đa sở hữu, tư nhân và  nhà nước cùng làm chủ. Kỷ cương phép nước của Hàn Quốc rất nghiêm. Bộ  trưởng Bộ Ngoại giao Hàn Quốc chỉ mới bị nghi ngờ đã đưa con vào làm  ngành ngoại giao không hợp pháp, ông đã phải từ chức. Gần đây xảy ra đấu  pháo ở biên giới, Hàn Quốc bị thiệt hại về người, Bộ trưởng Bộ Quốc  phòng Hàn Quốc tự thấy có trách nhiệm đã từ chức.

Hàn Quốc tài nguyên nghèo hơn ta, đất nước lại bị chia cắt,  thường xuyên căng thẳng Bắc - Nam, đâu được ổn định và thuần nhất như  ta, tại sao Hàn Quốc lại bỏ xa ta như vậy? Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)  của ta là hơn 100 tỷ USD cũng chỉ bằng doanh số hai tập đoàn của Hàn  Quốc. Phim ảnh Hàn Quốc hơn hẳn ta. Tại ASIAD Quảng Đông (Trung Quốc),  Hàn Quốc đoạt mấy chục huy chương vàng, ta chỉ có một. Không chỉ Hàn  Quốc mà Singapore, Thái Lan cũng bỏ xa ta.

Nhân dân ta hiểu rõ đất nước chưa thể theo kịp một số nước  cùng khu vực, cố gắng vượt bực cũng phải một vài chục năm nữa, còn phải  thu hẹp dần khoảng cách. Nhưng nỗi bức xúc ngày một lớn trong nhân dân  ta là khoảng cách với một số nước cùng khu vực đã quá xa và với đà này  còn xa đến đâu nữa. Đời con, đời cháu có đuổi kịp không trong khi hiện  nay cha ông chưa dám nghĩ đến rút ngắn khoảng cách mà trước hết làm thế  nào không để khoảng cách xa hơn nữa đã là một thử thách nghiệt ngã. Càng  tụt hậu sức cạnh tranh càng yếu và đến mức nào đó sức trỗi dậy không  còn nữa đành sa vào cái bẫy thu nhập trung bình như một số nước nghèo đã  cam chịu. Tới lúc đó thì dù có quá khứ anh hùng oanh liệt một thời thì  cũng đành chịu lệ thuộc, bị đối xử bất bình đẳng và bị sai khiến bởi các  siêu cường. Để khả năng xấu nhất không thể xảy ra, phải rũ bỏ tư duy  tăng trưởng theo mô hình cũ, vì các động lực tăng trưởng theo cách cũ đã  tới giới hạn, phải vượt lên chính mình, vượt lên những nguyên lý, cơ  chế không còn phù hợp với thực tiễn, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, triệt  để bằng những bước đột phá có hiệu quả, phải tái cơ cấu quyết liệt nền  kinh tế, dám đụng chạm và vượt qua các nhóm lợi ích để đi lên bằng chất  lượng tăng trưởng, nếu không tăng trưởng sẽ chậm lại và không phát triển  được nữa.

Kháng chiến 30  năm, thắng Pháp và thắng Mỹ, cả loài người ngưỡng mộ nhân dân ta, ngưỡng  mộ Bác Hồ và Đảng vì đã lãnh đạo một dân tộc từ tay trắng, dám đánh  Pháp khi vùng ra khỏi nạn đói chết 2 triệu người và đã đánh bại mọi danh  tướng, nổi tiếng nhất của thế giới tư bản. Một dân tộc nhỏ mà đánh  thắng hai đế quốc, trí tuệ phải lớn lắm, người tài phải đông lắm. Thế mà  tại sao trong cuộc cạnh tranh khốc liệt hiện nay, Việt Nam lại thua kém  như vậy? Câu hỏi nhức nhối này luôn luôn được nêu lên và suy nghĩ chung  của nhiều người về nỗi đau này, khá giống nhau: đất nước ta không thiếu  người tài đức nhưng nhiều người chưa được trọng dụng trong khi khá  nhiều người tài đức rất hạn chế lại giữ nhiều chức vụ chủ chốt trong các  cơ quan Nhà nước.

Đại  hội Đảng lần thứ XI là một thời cơ lớn để thu hút nhân tài, tập trung  nhân tài trọng dụng nhân tài. Đại hội của Đảng, cũng là Đại hội của dân.  Nhân dân ta là chủ thể duy nhất của mọi quyền lực trong xã hội ta. Đảng  thực hiện quyền lãnh đạo do nhân dân uỷ quyền cho Đảng bằng việc Đảng  thay mặt dân đưa ra cương lĩnh, đường lối cho sự phát triển đất nước,  thể chế hoá thành Hiến pháp, pháp luật. Để cho sự uỷ quyền đó không bị  lạm quyền, nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền của  dân. Dân rất mong Đại hội Đảng không họp kín, như mấy Đại hội trước,  họp kín không còn phù hợp với dân trí ngày nay đã khác trước, đặc biệt  lại là một Đảng cầm quyền, càng cần công khai qua các phương tiện thông  tin đại chúng để toàn dân biết. Cần dân chủ hoá công tác nhân sự, mọi  ứng cử viên cần trình bày công khai chương trình hành động và đây là  tiêu chí rất cần thiết để xác định người tài và chọn lựa người tài. Phải  có tranh cử công khai mới ngăn chặn tệ hư danh, bằng giả, chuyên nịnh  bợ, con ông cháu cha... Nhiều trường hợp con ông cháu cha không thi vào  đại học chính quy phải học hệ tại chức. Nhưng đến khi được lựa chọn vào  quy hoạch cán bộ thì họ lại nằm ở vị trí cao, rồi từ đó thành cán bộ  lãnh đạo. Có người “gọi dạ, bảo vâng”, là những kẻ cơ hội, kém về tài  năng nhiều khi vẫn được coi là người có “đức tốt” để đưa vào chức vụ  lãnh đạo cao, còn những người có năng lực, có chủ kiến, dám đấu tranh tự  phê bình và phê bình lại bị coi là hay gây mất đoàn kết, là “thiếu  đức’.

Trách nhiệm của  dân là những người chủ đất nước không chỉ cần biết Đại hội sau khi đã  kết thúc mà quan trọng hơn được theo rõi quá trình diễn biến của Đại hội  để kịp thời góp ý kiến, nhất là đối với công tác nhân sự. Cần phải dựa  hẳn vào dân và đông đảo cán bộ mới đảm bảo mọi người tài đức được trọng  dụng.

----------------

nguon:đaiđoanket

Để phát triển nền giáo dục nước nhà, ta cần nhận thức được vị trí của mình trong mối tương quan với các nước khác. Muốn biết rõ hơn Việt Nam hiện nay đang đứng ở đâu trên bản đồ giáo dục thế giới, trước hết, ta hãy nhìn lại những vị thế của giáo dục Việt Nam trong quá khứ.

Việt Nam đã từng tiếp xúc mật thiết với các nền giáo dục hàng đầu thế giới. Thời phong kiến, ta chịu ảnh hưởng sâu sắc giáo dục Trung Quốc, lấy Nho giáo làm nền tảng triết lý giáo dục. Hệ thống giáo dục Trung Quốc thuộc hàng đồ sộ thế giới, qua đó, Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa của giáo dục nhân loại. Chúng ta có quyền tự hào về thành tích khoa cử và những di sản văn hóa, giáo dục mà cha ông để lại. Có lẽ trong nền giáo dục châu Á thời trung đại, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc.

Thời cận đại, giáo dục Việt Nam rẽ theo quỹ đạo Phương Tây, chịu ảnh hưởng sâu sắc nền giáo dục Pháp – trung tâm văn minh thế giới. Ta đã hình thành một hệ thống giáo dục bài bản, đào tạo ra những trí thức bậc cao, đóng góp rất nhiều cho đất nước. Trong bản đồ giáo dục thế giới thời đó, Việt Nam đứng trong hệ thống giáo dục Pháp (nếu tính yếu tố hiện đại, ở châu Á, có lẽ ta chỉ đứng sau Nhật).

Ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975, bên cạnh tiếp thu những thành tựu giáo dục từ thời phong kiến và Pháp thuộc, nay bổ sung thêm những thành tựu giáo dục của Mỹ - nền giáo dục hiện đại nhất thế giới. Hệ thống giáo dục đại học phát triển lên một tầm cao mới, trong đó có Viện đại học Sài Gòn đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo cả cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Nền giáo dục Việt Nam cộng hòa đứng trong hệ thống giáo dục TBCN và là một trong những nền giáo dục hàng đầu châu Á.

Ở miền Bắc sau 1954, hệ thống giáo dục chuyển sang quỹ đạo XHCN, chịu ảnh hưởng sâu sắc mô hình giáo dục Liên Xô từ mục tiêu đào tạo, chương trình học đến quan điểm học thuật... Các trí thức được đào tạo từ Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc… về đã tạo ra một không khí mới cho giáo dục Việt Nam, làm nên một số thành tựu nổi bật trong lĩnh vực khoa học cơ bản, nhất là Toán học. Trong bản đồ giáo dục thế giới 1955 – 1990, Việt Nam đứng trong hệ thống giáo dục XHCN.

Sau khi hệ thống XHCN tan rã, giáo dục Việt Nam rơi vào bi kịch vì không biết tựa vào đâu. Những thành tựu của giáo dục Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Liên Xô… vẫn còn đó tạo ra thế mạnh nhưng cũng là vấn đề khó khăn vì không biết vận dụng và lắp ghép chúng sao cho hợp lý. Người chủ trương theo mô hình này thì bị người theo mô hình kia phản đối. Người ta cũng dung hợp các mô hình lại nhưng mỗi vị lãnh đạo thiết kế theo một kiểu khác nhau, làm nửa chừng phải bỏ, rồi làm lại…. Suốt 20 năm nay, người ta vẫn loay hoay tranh cãi chưa biết giáo dục Việt Nam nên đặt bệ phóng ở đâu.

Sau Đổi mới, giáo dục Việt Nam đạt được những thành tựu lớn. Tuy nhiên, ta phát triển thì các nước khác cũng phát triển, vậy, giáo dục của ta đứng ở vị thứ nào ? Nhìn vào danh sách các trường đại học hàng đầu thế giới, Việt Nam không có. Nhìn vào giải Nobel và các thành tựu khoa học lớn, ta cũng không có. Nếu có người Việt Nam nào tài giỏi thì vinh dự đã thuộc về nước khác mất rồi ! Việt Nam chỉ có công sinh thành chứ không có công dưỡng dục các nhân tài đẳng cấp quốc tế.

Thế giới thừa nhận người Việt Nam thông minh, cần cù nhưng hình như chúng ta chưa biết sử dụng những ưu thế đó để làm việc gì thích hợp. Có thể ta đã dùng nó vào những việc lạc hậu như học thuộc lòng các loại kinh kệ cổ lỗ thay vì phải viết ra một cuốn sách mới. Nhiều nhà khoa học có tư duy hiện đại, năng động nhưng không có đất dụng võ ở Việt Nam . Lâu nay, ta chỉ quen mang tiền đi học nước ngoài chứ không thu hút sinh viên nước ngoài mang đô-la sang học Việt Nam . Như vậy giáo dục Việt Nam chưa có vị trí nào trên thương trường thế giới.

Có người tự hào rằng, tỷ số GDP đầu tư cho giáo dục của Việt Nam rất lớn so với nhiều nước khác. Việc này chẳng nói lên điều gì vì không biết số tiền ấy sẽ rơi vào túi ai và cơ chế bao cấp không giúp ích cho sự cạnh tranh giáo dục. Có người chủ trương bỏ ra khoản tiền khổng lồ phổ cập trung học (để khoe với thế giới). Xin thưa rằng, cơ chế nước ta còn tạo điều kiện phổ cập cả bậc cử nhân ! Nhưng nếu Việt Nam là nước đầu tiên thế giới phổ cập đại học thì liệu có ra khỏi danh sách các nước nghèo ?!!

Nhiều cơ quan vẽ ra chỉ tiêu (và hợp thức hóa) bao nhiêu phần trăm thạc sĩ, tiến sĩ để nâng tầm giáo dục. Thực ra, đó cũng là một dạng của bệnh thành tích, bệnh háo danh đang gây cản trở trên đường hội nhập. Ta coi trọng danh hão nên đào tạo cái bằng để hợp thức hóa việc làm và chức vụ trong các cơ quan nhà nước. Trong khi đó, nền kinh tế thị trường cần người thực tài, cho nên kỹ sư của ta ra nước ngoài bị chê, phải đào tạo lại. Bằng đại học ở Việt Nam hiện nay hầu như không có giá trị quốc tế.
Nhìn vào bản đồ giáo dục thế giới, ta không thấy Việt Nam đâu cả ? Trí ta đã có, lực ta đã sẵn nhưng có lẽ do ta chưa xác định rõ mình phải đứng ở đâu nên thế giới chưa biết xếp ta vào vị trí nào !!!

----------------------
nguồn: Phongdiep.net

LIỆU CÓ TIN ĐƯỢC KHÔNG?

[Không rõ 23/03/2011 15:20 | by kytrung ]

Như  VietNamNet đã thông tin, ngày 27/12/2010, bà Nguyễn Thị Thơm – mẹ của  bị can Nguyễn Thị Thanh Thúy đã lên gặp lãnh đạo TAND tỉnh Hà Giang để  tiến hành làm các thủ tục tiếp nhận mời luật sư bào chữa cho con mình.

               Tòa án tỉnh Hà Giang đã tiếp nhận hồ sơ của Văn phòng Luật sư Vì Dân về  việc cử luật sư Trần Đình Triển bào chữa cho bị can Nguyễn Thị Thanh  Thúy theo nguyện vọng của bà Thơm.

 

                                    
                                                                
 

            
                                    
 

  

 

 

              

 

                    Tại thông báo số 01/2010/TB.TA ngày 29/12/2010 do Chánh án TAND tỉnh Hà  Giang, ông Nông Văn Toàn ký có nội dung: T.A tỉnh Hà Giang đã giao trực  tiếp (hồ sơ mời luật sư Triển) cho bị can Thúy. Sau khi nhận được thông  báo nói trên của TA tỉnh Hà Giang, bị can Thúy có ý kiến không đồng ý  để luật sư Trần Đình Triển bào chữa và cũng không mời người bào chữa nào  khác.

            Với ý kiến từ chối luật sư bào chữa của bị can Thúy, đề nghị tham gia bào chữa của luật sư Triển không được đáp ứng.

             Thông báo này đã được gửi cho bà Nguyễn Thị Thơm.

              Thời điểm vụ việc được khởi tố và các phiên xét xử sơ thẩm, phúc thẩm  của vụ án môi giới mại dâm, bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy chưa đủ tuổi  thành niên (bị cáo Thúy sinh ngày 01/01/1992). Đến năm 2010, Thúy đã đủ  tuổi thành niên. Việc luật sư vào cuộc để bào chữa cho bị cáo phải do  chính bị cáo mời.

              Trao đổi với VietNamNet, luật sư Triển cho hay: “Tôi cũng đã dự liệu  tình huống này xảy ra. Việc TAND tỉnh Hà Giang có thông báo nói trên,  tôi không bất ngờ. Khi nào nhận được thông báo của TA tỉnh Hà Giang gửi  tới Văn phòng của tôi, tôi sẽ trực tiếp lên Hà Giang để có ý kiến!”.

             Luật sư Triển cho biết: “Việc cháu Thúy từ chối luật sư bào chữa theo  như thông báo của Tòa án, phải có bút tích của cháu Thúy và do Thúy  viết, còn như chỉ là nội dung được tòa án đánh máy thì tôi hoàn toàn có  quyền nghi ngờ. Ai cũng biết bị cáo tha thiết muốn có luật sư bào chữa  cho mình, nên không có lý do gì mà cháu lại thay đổi và từ chối luật sư  bào chữa một cách dễ dàng thế. Hơn nữa, cháu đang bị giam giữ nên mọi  thủ tục đều phải thông qua các cơ quan của Hà Giang, tôi nghi ngờ tính  khách quan của thông tin từ chối này!”.

             Mẹ của bị cáo Thúy từ khi nhận được thông báo trên tỏ ra vô cùng lo  lắng và thất vọng. Chị khẳng định, nguyện vọng mời luật sư của cháu Thúy  là có thật.

              “Trong một vài lần hiếm hoi được vào thăm cháu, cháu đều nói với tôi cố  gắng mời luật sư bào chữa. Vì thế, tôi rất lo và thất vọng khi biết  cháu lại từ chối mời luật sư Triển như thông báo của Tòa án. Tôi cảm  thấy điều này là vô lý!”.

        
  • Kiên Trung
  •     
  • ---------------
  •     
  • Nguon:vietnamnet
Phân trang 168/180 Trang đầu Trang trước 163 164 165 166 167 168 169 170 171 172 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]