Để phát triển nền giáo dục nước nhà, ta cần nhận thức được vị trí của mình trong mối tương quan với các nước khác. Muốn biết rõ hơn Việt Nam hiện nay đang đứng ở đâu trên bản đồ giáo dục thế giới, trước hết, ta hãy nhìn lại những vị thế của giáo dục Việt Nam trong quá khứ.

Việt Nam đã từng tiếp xúc mật thiết với các nền giáo dục hàng đầu thế giới. Thời phong kiến, ta chịu ảnh hưởng sâu sắc giáo dục Trung Quốc, lấy Nho giáo làm nền tảng triết lý giáo dục. Hệ thống giáo dục Trung Quốc thuộc hàng đồ sộ thế giới, qua đó, Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa của giáo dục nhân loại. Chúng ta có quyền tự hào về thành tích khoa cử và những di sản văn hóa, giáo dục mà cha ông để lại. Có lẽ trong nền giáo dục châu Á thời trung đại, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc.

Thời cận đại, giáo dục Việt Nam rẽ theo quỹ đạo Phương Tây, chịu ảnh hưởng sâu sắc nền giáo dục Pháp – trung tâm văn minh thế giới. Ta đã hình thành một hệ thống giáo dục bài bản, đào tạo ra những trí thức bậc cao, đóng góp rất nhiều cho đất nước. Trong bản đồ giáo dục thế giới thời đó, Việt Nam đứng trong hệ thống giáo dục Pháp (nếu tính yếu tố hiện đại, ở châu Á, có lẽ ta chỉ đứng sau Nhật).

Ở miền Nam giai đoạn 1954 – 1975, bên cạnh tiếp thu những thành tựu giáo dục từ thời phong kiến và Pháp thuộc, nay bổ sung thêm những thành tựu giáo dục của Mỹ - nền giáo dục hiện đại nhất thế giới. Hệ thống giáo dục đại học phát triển lên một tầm cao mới, trong đó có Viện đại học Sài Gòn đạt đẳng cấp quốc tế, đào tạo cả cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ. Nền giáo dục Việt Nam cộng hòa đứng trong hệ thống giáo dục TBCN và là một trong những nền giáo dục hàng đầu châu Á.

Ở miền Bắc sau 1954, hệ thống giáo dục chuyển sang quỹ đạo XHCN, chịu ảnh hưởng sâu sắc mô hình giáo dục Liên Xô từ mục tiêu đào tạo, chương trình học đến quan điểm học thuật... Các trí thức được đào tạo từ Liên Xô, Đông Âu, Trung Quốc… về đã tạo ra một không khí mới cho giáo dục Việt Nam, làm nên một số thành tựu nổi bật trong lĩnh vực khoa học cơ bản, nhất là Toán học. Trong bản đồ giáo dục thế giới 1955 – 1990, Việt Nam đứng trong hệ thống giáo dục XHCN.

Sau khi hệ thống XHCN tan rã, giáo dục Việt Nam rơi vào bi kịch vì không biết tựa vào đâu. Những thành tựu của giáo dục Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Liên Xô… vẫn còn đó tạo ra thế mạnh nhưng cũng là vấn đề khó khăn vì không biết vận dụng và lắp ghép chúng sao cho hợp lý. Người chủ trương theo mô hình này thì bị người theo mô hình kia phản đối. Người ta cũng dung hợp các mô hình lại nhưng mỗi vị lãnh đạo thiết kế theo một kiểu khác nhau, làm nửa chừng phải bỏ, rồi làm lại…. Suốt 20 năm nay, người ta vẫn loay hoay tranh cãi chưa biết giáo dục Việt Nam nên đặt bệ phóng ở đâu.

Sau Đổi mới, giáo dục Việt Nam đạt được những thành tựu lớn. Tuy nhiên, ta phát triển thì các nước khác cũng phát triển, vậy, giáo dục của ta đứng ở vị thứ nào ? Nhìn vào danh sách các trường đại học hàng đầu thế giới, Việt Nam không có. Nhìn vào giải Nobel và các thành tựu khoa học lớn, ta cũng không có. Nếu có người Việt Nam nào tài giỏi thì vinh dự đã thuộc về nước khác mất rồi ! Việt Nam chỉ có công sinh thành chứ không có công dưỡng dục các nhân tài đẳng cấp quốc tế.

Thế giới thừa nhận người Việt Nam thông minh, cần cù nhưng hình như chúng ta chưa biết sử dụng những ưu thế đó để làm việc gì thích hợp. Có thể ta đã dùng nó vào những việc lạc hậu như học thuộc lòng các loại kinh kệ cổ lỗ thay vì phải viết ra một cuốn sách mới. Nhiều nhà khoa học có tư duy hiện đại, năng động nhưng không có đất dụng võ ở Việt Nam . Lâu nay, ta chỉ quen mang tiền đi học nước ngoài chứ không thu hút sinh viên nước ngoài mang đô-la sang học Việt Nam . Như vậy giáo dục Việt Nam chưa có vị trí nào trên thương trường thế giới.

Có người tự hào rằng, tỷ số GDP đầu tư cho giáo dục của Việt Nam rất lớn so với nhiều nước khác. Việc này chẳng nói lên điều gì vì không biết số tiền ấy sẽ rơi vào túi ai và cơ chế bao cấp không giúp ích cho sự cạnh tranh giáo dục. Có người chủ trương bỏ ra khoản tiền khổng lồ phổ cập trung học (để khoe với thế giới). Xin thưa rằng, cơ chế nước ta còn tạo điều kiện phổ cập cả bậc cử nhân ! Nhưng nếu Việt Nam là nước đầu tiên thế giới phổ cập đại học thì liệu có ra khỏi danh sách các nước nghèo ?!!

Nhiều cơ quan vẽ ra chỉ tiêu (và hợp thức hóa) bao nhiêu phần trăm thạc sĩ, tiến sĩ để nâng tầm giáo dục. Thực ra, đó cũng là một dạng của bệnh thành tích, bệnh háo danh đang gây cản trở trên đường hội nhập. Ta coi trọng danh hão nên đào tạo cái bằng để hợp thức hóa việc làm và chức vụ trong các cơ quan nhà nước. Trong khi đó, nền kinh tế thị trường cần người thực tài, cho nên kỹ sư của ta ra nước ngoài bị chê, phải đào tạo lại. Bằng đại học ở Việt Nam hiện nay hầu như không có giá trị quốc tế.
Nhìn vào bản đồ giáo dục thế giới, ta không thấy Việt Nam đâu cả ? Trí ta đã có, lực ta đã sẵn nhưng có lẽ do ta chưa xác định rõ mình phải đứng ở đâu nên thế giới chưa biết xếp ta vào vị trí nào !!!

----------------------
nguồn: Phongdiep.net

LIỆU CÓ TIN ĐƯỢC KHÔNG?

[Không rõ 23/03/2011 15:20 | by kytrung ]

Như  VietNamNet đã thông tin, ngày 27/12/2010, bà Nguyễn Thị Thơm – mẹ của  bị can Nguyễn Thị Thanh Thúy đã lên gặp lãnh đạo TAND tỉnh Hà Giang để  tiến hành làm các thủ tục tiếp nhận mời luật sư bào chữa cho con mình.

               Tòa án tỉnh Hà Giang đã tiếp nhận hồ sơ của Văn phòng Luật sư Vì Dân về  việc cử luật sư Trần Đình Triển bào chữa cho bị can Nguyễn Thị Thanh  Thúy theo nguyện vọng của bà Thơm.

 

                                    
                                                                
 

            
                                    
 

  

 

 

              

 

                    Tại thông báo số 01/2010/TB.TA ngày 29/12/2010 do Chánh án TAND tỉnh Hà  Giang, ông Nông Văn Toàn ký có nội dung: T.A tỉnh Hà Giang đã giao trực  tiếp (hồ sơ mời luật sư Triển) cho bị can Thúy. Sau khi nhận được thông  báo nói trên của TA tỉnh Hà Giang, bị can Thúy có ý kiến không đồng ý  để luật sư Trần Đình Triển bào chữa và cũng không mời người bào chữa nào  khác.

            Với ý kiến từ chối luật sư bào chữa của bị can Thúy, đề nghị tham gia bào chữa của luật sư Triển không được đáp ứng.

             Thông báo này đã được gửi cho bà Nguyễn Thị Thơm.

              Thời điểm vụ việc được khởi tố và các phiên xét xử sơ thẩm, phúc thẩm  của vụ án môi giới mại dâm, bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy chưa đủ tuổi  thành niên (bị cáo Thúy sinh ngày 01/01/1992). Đến năm 2010, Thúy đã đủ  tuổi thành niên. Việc luật sư vào cuộc để bào chữa cho bị cáo phải do  chính bị cáo mời.

              Trao đổi với VietNamNet, luật sư Triển cho hay: “Tôi cũng đã dự liệu  tình huống này xảy ra. Việc TAND tỉnh Hà Giang có thông báo nói trên,  tôi không bất ngờ. Khi nào nhận được thông báo của TA tỉnh Hà Giang gửi  tới Văn phòng của tôi, tôi sẽ trực tiếp lên Hà Giang để có ý kiến!”.

             Luật sư Triển cho biết: “Việc cháu Thúy từ chối luật sư bào chữa theo  như thông báo của Tòa án, phải có bút tích của cháu Thúy và do Thúy  viết, còn như chỉ là nội dung được tòa án đánh máy thì tôi hoàn toàn có  quyền nghi ngờ. Ai cũng biết bị cáo tha thiết muốn có luật sư bào chữa  cho mình, nên không có lý do gì mà cháu lại thay đổi và từ chối luật sư  bào chữa một cách dễ dàng thế. Hơn nữa, cháu đang bị giam giữ nên mọi  thủ tục đều phải thông qua các cơ quan của Hà Giang, tôi nghi ngờ tính  khách quan của thông tin từ chối này!”.

             Mẹ của bị cáo Thúy từ khi nhận được thông báo trên tỏ ra vô cùng lo  lắng và thất vọng. Chị khẳng định, nguyện vọng mời luật sư của cháu Thúy  là có thật.

              “Trong một vài lần hiếm hoi được vào thăm cháu, cháu đều nói với tôi cố  gắng mời luật sư bào chữa. Vì thế, tôi rất lo và thất vọng khi biết  cháu lại từ chối mời luật sư Triển như thông báo của Tòa án. Tôi cảm  thấy điều này là vô lý!”.

        
  • Kiên Trung
  •     
  • ---------------
  •     
  • Nguon:vietnamnet

CHU CẨM PHONG  CÓ VIẾT 2 CUỐN NHẬT KÝ TRONG CÙNG MỘT THỜI GIAN ?Đó  là câu hỏi cần đặt ra sau khi có các thông tin của nhà thơ Thanh Quế  công bố trên báo Công an Nhân dân ngày 17.05.2010 ( bài “Nhật ký chiến  tranh” được bảo quản như thế nào ?”) và trên báo Văn Nghệ ngày  11.12.2010 ( bài “Về tập sách “Nhật ký chiến tranh” của Chu Cẩm Phong”)  mà gần đây tôi mới được đọc.Nhưng  trước khi đi sâu vào vấn đề nêu trên, xin được bày tỏ cùng nhà thơ  Thanh Quế, nhà thơ Ngô Thế Oanh cùng tất cả các đồng nghiệp và bạn đọc,  và trên hết là với hồn thiêng người bạn đã khuất Chu Cẩm Phong lời cáo  lỗi chân thành của tôi, bởi khi viết giới thiệu “Nhật ký chiến tranh”  tôi đã không nêu thật rõ ràng cuốn sách được cấu tạo từ 2 nguồn bản thảo  lưu giữ tại 2 nơi khác nhau với các chủ thể khác nhau : phần nhiều được  lưu giữ ở cơ quan trên núi do nhà thơ Thanh Quế và tiếp sau là nhà thơ  Ngô Thế Oanh, phần ít là do một cựu sĩ quan quân đội Sài Gòn – anh Hoàng  Đình Hiếu - sống trong lòng Đà Nẵng dưới chế độ cũ và tiếp sau anh  Hoàng Đình Hiếu trao lại cho tôi (BMQ).Tôi càng lấy làm áy náy về sự  viết thiếu rõ ràng của mình khi đọc trong 2 bài báo nêu trên những dòng  nhắc nhở nghiêm khắc của thi sĩ – chiến sĩ Thanh Quế : “Gần đây ở Quảng  Nam - Đà Nẵng và một số nơi rộ lên ý kiến: "Nhật ký chiến tranh" của Chu  Cẩm Phong là do một sĩ quan ngụy cung cấp toàn bộ như "Nhật ký Đặng  Thùy Trâm" do một người lính Mỹ cung cấp vậy. Do đó, tôi xin viết lại  những dòng này trong lúc tôi còn sống, nhà thơ Ngô Thế Oanh còn sống,  chị PL, người yêu Chu Cẩm Phong còn sống, nhà văn Cao Duy Thảo còn sống  để cung cấp rõ về mọi thông tin của tập sách "Nhật ký chiến tranh" của  Chu Cẩm Phong chứ không phải để kể công lênh gì (vì làm gì có chuyện  công lênh khi giữ hiện vật của đồng đội, đó là trách nhiệm).Chúng tôi  chỉ muốn có sự rõ ràng mà thôi”.


Tôi xin hứa sẽ sửa lỗi ngay khi  “Nhật ký chiến tranh” hoặc “Tuyển tập Chu Cẩm Phong” được tái bản, một  việc mà tôi tin chắc rằng thế nào NXB Hội nhà văn cũng sớm thực hiện  trước dịp kỷ niệm lần thứ 40 nhà văn anh hùng Chu Cẩm Phong hy sinh  (01.05.1971 – 01.05.2011).
Chỉ lấy làm tiếc một điều, tôi được nhắc  nhở hơi muộn, để thiếu sót kéo dài, gây hậu quả (chắc là ) lớn.“Nhật ký  chiến tranh”(NXBVăn Học)ấn hành từ năm 2000, “Tuyển tập Chu Cẩm Phong”   (NXB ĐÀ NẴNG) ra mắt từ 2005, vậy mà Thanh Quế, Ngô Thế Oanh, Cao Duy  Thảo, rồi PL, người yêu, của Chu Cẩm Phong, chị Phan Thị Phi Phi, người  chị kết nghĩa của Chu Cẩm Phong, anh Nguyên Ngọc, anh Nguyễn Chí Trung,  đều là những người thân thiết với Chu Cẩm Phong và tôi , chả ai nhắc nhở  tôi lấy nửa lời.Chỉ cần một cú điện thọai, một dòng thư ngắn, là tôi  lập tức viết bài “Nói cho rõ” đăng lên các báo ngay từ năm 2000, khỏi  mắc lỗi kéo dài.
Đó là chuyện từ 05 tháng 06.2006  trở về trước.
Ngày  11 tháng 05.2006, tại Hội An, Hội Văn Học Nghệ Thuật tỉnh Quảng Nam tổ  chức hội thảo “Nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong - cuộc đời và sáng tác”.Các  anh Thanh Quế, Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Cao Duy Thảo đều dự và  phát biểu, không anh nào nhắc nhở tôi để tôi sửa lỗi.Tôi cũng phát  biểu.Vì mải tập trung vào chủ đề “chuyển phẩm chất anh hùng của Chu Cẩm  Phong vào mỗi chúng ta trong cuộc chiến đấu hôm nay” mà tôi quên mất  không trình bày phần tự kiểm điểm và nói lại cho rõ ràng.Sau hội thảo,  tôi soạn lại bài phát biểu của mình với phần mở đầu dùng làm “Lời tòa  sọan” (LTS) giới thiệu thân thế sự nghiệp của Chu Cẩm Phong trong đó có  câu này : “ Đặc biệt cuốn nhật ký cuối cùng mà nhà văn đem theo bên mình  tưởng đã bị mất vĩnh viễn không ngờ đã được một sĩ quan quân đội Sài  Gòn trân trọng gìn giữ, sau ngày giải phóng Đà Nẵng tìm đến trao lại cho  nhà thơ Bùi Minh Quốc, năm 2000 tập hợp với các phần nhật ký Chu Cẩm  Phong viết trước đó in thành sách mang tên “Nhật ký chiến tranh” (NXB  Văn Học xuất bản), được Hội Nhà Văn Việt Nam trao tặng thưởng”.(Sắp tới,  khi tái bản, tôi sẽ bổ sung cụ thể như sau : “ Đặc biệt cuốn nhật ký  cuối cùng mà nhà văn đem theo bên mình tưởng đã bị mất vĩnh viễn không  ngờ đã được một sĩ quan quân đội Sài Gòn trân trọng gìn giữ, sau ngày  giải phóng Đà Nẵng tìm đến trao lại cho nhà thơ Bùi Minh Quốc, năm 2000  tập hợp với CÁC CUỐN nhật ký Chu Cẩm Phong viết trước đó DO NHÀ THƠ  THANH QUẾ VÀ NHÀ THƠ NGÔ THẾ OANH LƯU GIỮ TẠI CƠ QUAN TRÊN NÚI, in thành  sách mang tên “Nhật ký chiến tranh(NXB Văn Học xuất bản), được Hội Nhà  Văn Việt Nam trao tặng thưởng”).                          
Ngày 06.06.2006, tôi gửi đi bài phát biểu với phần giới thiệu có câu nêu trên nhờ công bố.
Gửi những đâu ?
Nơi  gửi đầu tiên là ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam; gửi toàn ban chấp  hành và gửi từng ủy viên ban chấp hành, nhờ anh Đào Thắng chánh văn  phòng Hội chuyển tận tay mỗi người một bản, gồm anh Hữu Thỉnh chủ tịch  (người có dự hội thảo về Chu Cẩm Phong và có phát biểu), anh Lê Văn Thảo  phó chủ tịch, anh Nguyễn Trí Huân phó chủ tịch, anh Trần Đăng Khoa ủy  viên, anh Hồ Anh Thái ủy viên, chị Phan Thị Vàng Anh ủy viên (xin xem  trong phần phụ lục toàn văn bức thư tôi gửi Ban chấp hành Hội).Tôi cũng  gửi thêm một bản cho anh Nguyễn Trí Huân ngay khi anh về làm tổng biên  tập báo Văn Nghệ đúng thời gian ấy, lại kiên trì ba bốn lần gọi điện  giục anh đăng.Nhưng nghe giọng anh Huân trả lời không mấy mặn mà, nên  tiếp đó tôi liền gửi đến báo Người đại biểu Nhân dân và các báo, tạp chí  khác.
Bài phát biểu của tôi về nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong (tất  nhiên luôn có câu năm 2000 tập hợp với các phần nhật ký Chu Cẩm Phong  viết trước đó in thành sách mang tên “Nhật ký chiến tranh” trong phần  LTS)đã đăng trên các báo và tạp chí sau đây :
-Báo Người Đại biểu Nhân dân số ra ngày 21 và 22.6.2006
-Báo Lâm Đồng số ra ngày 21.6.2006
-Tạp chí VĂN HIẾN VIỆT NAM số tháng 6.2006
-Báo TIỀN PHONG số ra ngày 30.7.2006
-Tạp chí BIỂN VÀ BỜ số tháng 7.2006
-Tạp chí CHƯ JANG SIN số tháng 7.2006
-Tạp chí SÔNG TRÀ số tháng 7.2006
-Tạp chí VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI số tháng 9.2006
-Báo NGƯỜI CAO TUỔI số xuân Đinh Hợi 2007
Đồng  thời tôi cũng nhờ công bố trên trang nhà của các đồng nghiệp hội viên  như nhà thơ Trần Nhương, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, và anh Nguyễn Hòa,  một đồng nghiệp không hội viên có trang nhà mang tên vanchuongviet.org.
Riêng báo Văn Nghệ vẫn nhất định không đăng.
Mà  tôi thì luôn thiết tha mong mỏi được đăng trên báo Văn Nghệ, cơ quan  ngôn luận chính của Hội, bởi tôi đã nghe và tin những lời anh Hữu Thỉnh  phát biểu rất hùng hồn tại hội thảo về phẩm chất anh hùng của Chu Cẩm  Phong cùng những việc Hội sẽ làm về Chu Cẩm Phong như tổ chức hội thảo ở  qui mô toàn quốc, xúc tiến các thủ tục để đề nghị phong anh hùng v.v…  Ngày 02.09.2007 tôi gửi thư cho anh Nguyễn Trí Huân nhắc lại yêu cầu của  mình (xin xem toàn văn bức thư ở phần phụ lục).Sau đó khá lâu, hình như  mãi đến dịp 27.07 hoặc 02.09 năm 2008 báo Văn Nghệ mới chịu đăng (nhưng  cắt bỏ một số đoạn quan trọng), vì tôi không lưu giữ báo nên không ghi  ra đây được chính xác số nào, mong bạn đọc lượng thứ. Tháng 03 năm 2010,  nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong được truy phong anh hùng.Nhân dịp này,  tôi đổi tên bài thành “Chu Cẩm Phong, nhà văn anh hùng” và thêm câu đầu,  câu kết cho cập nhật, gửi đến một số báo và trang nhà nhờ công bố  lại.Rất mừng là báo điện tử của Hội nhà văn Việt Nam, trang nhà  boxitvn.net, boxitvn.wordpress.com, boxitvn.blogspot.com của nhà văn  giáo sư Nguyễn Huệ Chi, trannhuong.com của nhà thơ Trần Nhương,  nguyentrongtao.org của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, lethieunhon.com của nhà  thơ Lê Thiếu Nhơn đã nhiệt tình công bố liền.
Công bố rộng rãi và  liên tục một thời gian dài như thế mà vẫn đểanh Thanh Quế phải báo động  với công luận “Gần đây ở Quảng Nam - Đà Nẵng và một số nơi rộ lên ý kiến  : "Nhật ký chiến tranh" của Chu Cẩm Phong là do một sĩ quan ngụy cung  cấp toàn bộ như "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" do một người lính Mỹ cung cấp…”  thì tôi cũng chẳng biết nói sao ngoài việc phải nói lại lời xin lỗi.Mà  lỗi này cũng có phần của anh Thanh Thảo nữa.Anh Thanh Thảo cứ viết “  “Nhật ký chiến tranh”, một tác phẩm văn học kỳ lạ” mà chẳng đưa giúp tôi  cái câu “năm 2000 tập hợp với các phần nhật ký Chu Cẩm Phong viết trước  đó in thành sách mang tên “Nhật ký chiến tranh”” dù anh đã cho đăng bài  của tôi trên tạp chí Sông Trà do anh làm tổng biên tập.Mong anh Thanh  Thảo tìm đọc ngay lời nhắc nhở/cảnh cáo của anh Thanh Quể trên báo Văn  Nghệ ngày 11.12.2010 : “Viết những dòng này, chúng tôi mong rằng, được  cung cấp thông tin cho bạn đọc, cho các nhà nghiên cứu (cho cả những ai  biết rõ sự thật mà cố tình nói khác đi)…” .Tôi đoán rằng mấy chữ “những  ai biết rõ sự thật mà cố tình nói khác đi” là ám chỉ tôi và anh Thanh  Thảo đấy.Tôi đoán thế vì mới vừa đây, ngày 18.12.2010, tại cuộc tọa đàm  về nhà văn anh hùng Chu Cẩm Phong do Liên hiệp các Hội VHNT TP Đà Nẵng  và trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng tổ chức, anh Thanh Quế (ngồi hàng ghế  trước sát tôi trong hội trường) đọc xong bản tham luận của anh Thanh  Thảo liền quay xuống nhìn tôi bực bội kêu “ viết tầm bậy ! viết tầm bậy  !” và cầm đưa cho tôi kèm lời phê gay gắt : “Tội là tại ông, tội là tại  ông đấy !”.Có lẽ vì vậy mà bản tham luận của nhà thơ Thanh Thảo dù đã  được ban tổ chức sắp xếp để nhà thơ Nguyễn Kim Huy lên diễn đàn đọc (vì  anh Thanh Thảo vắng mặt) đã bị gác lại với lý do không có thời gian.
Xin trở lại vấn đề Chu Cẩm Phong có viết 2 cuốn nhật ký trong cùng một thời gian ?
Nhà  thơ Thanh Quế viết : “Nhật ký của Chu Cẩm Phong viết từ ngày 11/7/1967  đến 27/4/1971, ngày anh hy sinh”(…)“Trước khi đi công tác ở Quảng Đà vào  cuối tháng 3/1971, Chu Cẩm Phong gửi lại cho tôi các quyển sổ ghi nhật  ký anh viết từ năm 1967 đến cuối năm 1970…”.Ở một đọan khác trong bài  viết nêu trên, anh Thanh Quế lại nhấn mạnh “Như vậy là khoảng 4/5 tập  "Nhật ký chiến tranh" của Chu Cẩm Phong sau này (từ tháng 7/1967 đến  cuối 1970), Chu Cẩm Phong giao cho tôi giữ”.
Tôi xin phép nhấn mạnh lại để lưu ý bạn đọc mấy chữ của anh Thanh Quế : “đến cuối năm 1970”.
Cần  lưu ý, bởi vì cuốn nhật ký cuối cùng mà Chu Cẩm Phong đem theo bên mình  được lấy lên từ dưới hầm bí mật khi anh hy sinh rồi lưu chuyển đến anh  Hoàng Đình Hiếu và về sau anh Hiếu trao lại cho tôi lại ghi từ ngày 12  tháng 01.1970 (mồng 5 tháng chạp Kỷ Dậu) và dừng lại ở ngày 27.4.1971,  ba ngày trước khi anh hy sinh vào ngày 01.05.1971 (chứ không phải hy  sinh ngày 27.04.1971 như anh Thanh Quế viết).
Qua thông tin của anh  Thanh Quế, ta thấy Chu Cẩm Phong còn một cuốn nhật ký nữa ghi đến cuối  năm 1970 và gửi cho Thanh Quế cùng các cuốn ghi từ 11.07.1967.Kết luận  tất yếu phải rút ra : Trong năm 1970, Chu Cẩm Phong đã viết 2 cuốn nhật  ký, một cuốn gửi lại cho Thanh Quế khi đi công tác, một cuốn đem theo  bên mình.Liệu có thể như thế không ? Kể cũng khó tin, mặc dù Chu Cẩm  Phong là người rất chịu khó ghi, tôi cũng cứ thử hỏi liệu có nhu cầu đặc  biệt gì, trong hoàn cảnh thì giờ dành cho ngòi bút rất eo hẹp, mà Chu  Cẩm Phong lại phải ghi 2 cuốn nhật ký song song trong cùng thời gian ?  Khó tin lắm, nhưng anh Thanh Quế đã khăng khăng nhấn mạnh tới 2 lần như  nêu trên thì tôi phải cố mà tin.Và tất cả chúng ta, trước hết là hai anh  Thanh Quế và Ngô Thế Oanh phải có trách nhiệm tìm cho ra cuốn đó.Tìm ở  đâu ? Khó nghĩ thật.Anh Thanh Quế, anh Ngô Thế Oanh nghĩ xem nên tìm ở  đâu ?
Khi tiến hành chuẩn bị bản thảo để in “Nhật ký chiến tranh” tôi  dựa vào 2 nguồn văn bản : 1/ Phần ghi từ 11.07.1967 đến ngày 11.01.1970  tôi photo ở bản gốc của gia đình (do anh Ngô Thế Oanh trao) 2/ Phần ghi  từ ngày12 tháng 01 (mồng 5 tháng chạp Kỷ Dậu)đến ngày 27.04.1971 trong  cuốn nhật ký cuối cùng mà anh Hoàng Đình Hiếu trao cho tôi.Cuốn này có  một đặc điểm độc nhất vô nhị, khác hẳn các cuốn khác của Chu Cẩm Phong :  vết xé của mảnh lựu đạn chém vào suốt chiều dày mép trên cuốn sổ, cái  bìa được anh Hoàng Đình Hiếu bọc lại và trang trí hình một cái cây đỏ  thắm vươn thẳng dưới ánh mặt trời.Cuốn sổ này anh Hiếu giữ gìn cẩn trong  suốt 4 năm rồi trao cho tôi, tôi giữ suốt 30 năm từ 1975 đến 2005, sau  khi hoàn tất việc xuất bản “Tuyển tập Chu Cẩm Phong”  (NXB ĐÀ NẴNG), tôi  đem trao lại cho anh Trần Mạnh Hùng, em ruột anh Chu Cẩm Phong (Trần  Tiến) với lời dặn : “Đây là một báu vật quốc gia của văn hóa Việt, Hùng  giữ gìn cẩn trọng và đừng trao cho bất kỳ ai khác nữa nhé ”.
Về dung lượng 2 phần nhật ký thể hiện trên ấn bản như sau :
-                Ở sách “Nhật ký chiến tranh” (NXB Văn Học), phần nhật ký  do anh Thanh Quế và anh Ngô Thế Oanh giữ trên núi, in từ trang 07 đến  1/4 trang 573, tổng cộng hơn 566 trang; phần nhật ký do anh Hoàng Đình  Hiếu giữ và trao cho tôi, in từ già nửa trang 573 đến nửa trang 907,  tổng cộng gần 334 trang, tỷ lệ của phần giữ trên núi là 566/900.
-                Ở sách “Tuyển tập Chu Cẩm Phong” (NXB Đà Nẵng), phần nhật ký  do anh Thanh Quế và anh Ngô Thế Oanh giữ trên núi, in từ trang 166 đến  non nửa trang 566, tổng cộng hơn 400 trang; phần nhật ký do anh Hoàng  Đình Hiếu giữ và trao cho tôi, in từ già nửa trang 566 đến non nửa trang  804, tổng cộng 238 trang, tỷ lệ của phần giữ trên núi là 400/638
Nhờ  anh Thanh Quế tính giúp các tỷ lệ trên ra phân số xem có phải là 4/5  như anh viết không ? Chắc chắn là không.Như vậy tỷ lệ 4/5 là phải bao  gồm cả cuốn ghi đến cuối năm 1970 mà anh Thanh Quế và anh Ngô Thế Oanh  giữ trên núi, nay không biết nằm ở đâu.
Tôi rất mong tìm thấy cuốn  Chu Cẩm Phong ghi đến cuối năm 1970 do anh Thanh Quế và anh Ngô Thế Oanh  giữ để đối chiếu với cuốn do anh Hiếu và tôi giữ, trước hết là để thẩm  định một sự kiện mà Thanh Quế sau này viết khác, còn Chu Cẩm Phong lại  ghi khác.Ấy là sự kiện 7 anh em văn nghệ chúng tôi suýt chui đầu vào ổ  đóng quân của Mỹ trong một chuyến đi nhận gạo.
Tháng giêng năm 1995,  trong bài “Nhớ Chu Cẩm Phong trong cái rét tháng giêng”, in ở phần cuối  “Tuyển tập Chu Cẩm Phong”  (trang 810, 811), Thanh Quế viết: “…Đoàn đi  cõng gạo do Chu Cẩm Phong dẫn đầu, có Bùi Minh Quốc, Cao Duy Thảo, Hà  Xuân Phong, Lê Văn Phước, Hiền Minh và tôi.(…)Khi chúng tôi đi dọc sông  Re thì có tin Mỹ đang càn ở vùng này.Nhưng không nắm được tình hình ở  vùng này nên chúng tôi cứ tiếp tục đi xuống.Đến một ngọn đồi trống,  chúng tôi thấy lố nhố lính Mỹ đang đóng tăng trong bóng chiều.Tôi nói  với anh Phong :
-         Mỹ, anh Tiến !”
Còn trong “Nhật ký chiến tranh” ( NXB Văn Học) trang 615, ngày 10.05.1970 Chu Cẩm Phong ghi như sau :
“Hôm  thứ năm 7.5 bọn mình suýt chết (…)Nghe tin địch phía bên kia sông Xà Lò  cách điểm nhận gạo một tiếng đồng hồ, như vậy có thể đi được.Gặp một  vài người họ bảo qua loa “Có thể địch đã qua sông, có cả biệt kích, coi  chừng chúng ra ngồi mát trên cầu đó”.Mình không tin bởi vì im ắng  quá..Buổi chiều thật êm ả.Không có dấu hiệu nào chứng tỏ địch ở trên mặt  đất gần ta.Chỉ có một điều mình lo lắng là vắng lặng quá, cánh đồng  không một bóng người, đường lạnh ngắt.Mình rút súng ngắn cầm tay lên đạn  đi trước, Phước dẫn đường.Anh em đi sau cách vài trăm mét.(…)Mình đi  sát Phước.Phước đã đi cõng một chuyến trước đây nên chịu trách nhiệm dẫn  đường.(…)Vừa nhô lên đỉnh gò thì thật là đột ngột, bọn lính Mỹ đang lố  nhố đào công sự ngay trước mắt mình, chỉ cách khoảng150 mét”.
Giữa  đọan hồi ký Thanh Quế viết năm 1995 với đoạn Chu Cẩm Phong ghi 3 ngày  sau sự kiện, có sự sai biệt ở một số chi tiết quan trọng.Theo Thanh Quế,  thì Quế đi trước, sát bên Chu Cẩm Phong, Quế là người nhìn thấy Mỹ  trước và báo với Chu Cẩm Phong :“Mỹ, anh Tiến !”. Còn Chu Cẩm Phong thì  ghi “Anh em đi sau cách vài trăm mét”.Theo trí nhớ của tôi thì Chu Cẩm  Phong đã ghi đúng : chỉ có Chu Cẩm Phong và Lê Văn Phước (biên đạo múa)  đi trước nhìn thấy Mỹ, còn 5 anh em gồm Bùi Minh Quốc, Thanh Quế, Cao  Duy Thảo, Hiền Minh (biên đạo múa), Hà Xuân Phong (họa sĩ, năm 1974 đã  tử nạn trong nhiệm vụ, vì nước lũ) đi sau cách vài trăm mét.Tôi không  nhìn thấy Mỹ.Tôi chỉ nhìn thấy Chu Cẩm Phong và Lê Văn Phước trên mỏm  đồi xoay người lại, cúi khom, ra hiệu bằng tay : “Có địch, hãy quay lui  !”.Tôi mong bài viết này đến tay các anh Lê Văn Phước (hiện ở Nha  Trang), Cao Duy Thảo (hiện ở Nha Trang), Hiền Minh (hiện ở TP HCM) và  mong các anh cho biết chi tiết nêu trên trong trí nhớ của các anh có  giống với tôi và những dòng nhật ký của Chu Cẩm Phong không ? Chúng ta  phải cùng nhau cố xác minh lại điều này kẻo oan cho Chu Cẩm Phong bởi  trong nhật ký anh đã bỏ sót không ghi hình ảnh Thanh Quế xông xáo đi đầu  sát bên anh, đã nhanh nhạy phát hiện địch và báo cáo với anh.
Thanh  Quế lại viết : “Sáng hôm sau, vừa thức dậy, chúng tôi thấy một toán Mỹ  đi qua trước mặt.May mà chúng không phát hiện ra chúng tôi.Hú vía”.Không  thấy Chu Cẩm Phong ghi chuyện này.Anh chỉ ghi : “Nửa buổi hôm sau nhận  ra đường cũ, và khi gặp một đồng chí thanh niên mang khẩu AK, mình mới  giắt súng vào bao”.Theo trí nhớ của tôi thì hoàn toàn không có chuyện  “sáng hôm sau, vừa thức dậy, chúng tôi thấy một toán Mỹ đi qua trước  mặt”.Xin các anh Lê Văn Phước, Cao Duy Thảo, Hiền Minh nhớ lại giùm xem  có chuyện này không ?
Chu Cẩm Phong ghi đoạn kết về chuyến đi nhận  gạo suýt chết ấy như sau : “Trở về hết gạo, nhưng không đói, nhờ gặp anh  em quen biết dưới tỉnh và bà con đi đường giúp đỡ, kẻ thì cho nắm cơm,  người thì cho mươi củ khoai, kẻ thì cho 3 lon gạo…”
Nhưng với Thanh Quế thì lại có một đêm khá rùng rợn được nhớ và tả lại vào năm 1995 thế này :
“Tối  hôm ấy, chúng tôi về tới Nước Biếc, căn cứ của Quảng Ngãi.Chúng tôi  dừng lại bên một cái giàn cây đã cũ để mắc võng.(…) Anh (Chu Cẩm Phong)  và anh Quốc đi lùng vào rẫy mua khoai sắn.(…)Khi anh về, mọi người đã  ngủ.Thấy tôi còn cựa quậy, anh hỏi :
- Sao Quế chưa ngủ.Bây giờ người nóng hay lạnh ?
– Dạ, còn nóng, mà sao có mùi thúi anh à.
–                                 Đâu có mà
–                                 Có, anh Tiến.
Sáng hôm sau tôi thấy tôi nằm trên một cái thây người bị lấp sơ sài, hai bàn chân còn lòi ra…”
Tôi  thật sự kinh ngạc khi đọc đoạn trên.Theo trí nhớ của tôi thì hoàn toàn  không có chuyện “một cái thây người bị lấp sơ sài, hai bàn chân còn lòi  ra…”.Chỗ chúng tôi trú đêm rất gần vị trí đóng cơ quan của Đoàn văn công  tỉnh Quảng Ngãi, đơn vị mà Chu Cẩm Phong và tôi đều quen. Chúng tôi vào  đó xin khoai lang chứ không phải “đi lùng vào rẫy mua khoai sắn” như  Thanh Quế viết.Trong khu vực có các cơ quan tỉnh đóng mà lại có “một cái  thây người bị lấp sơ sài, hai bàn chân còn lòi ra…” thì lạ quá, bởi nếu  có thế thì người chết, nhiều phần chắc là anh chị em mình, trong tình  hình không hề có địch càn quét ở vùng căn cứ thời gian ấy mà lại không  được chôn cất tử tế thì lạ quá ! Để thận trọng với trí nhớ của mình, tôi  mở nhật ký của Chu Cẩm Phong ra, tuyệt không thấy anh ghi một dòng một  chữ nào về chuyện này.Xin các anh Lê Văn Phước, Cao Duy Thảo, Hiền Minh  nhớ lại giùm xem có chuyện này không ? Tôi e rằng anh chị em cán bộ nhân  viên Ban tuyên giáo tỉnh ủy và Đoàn văn công Quảng Ngãi hồi đó, nay đọc  đoạn hồi ký trên đây của Thanh Quế sẽ rất lấy làm áy náy tự hỏi : chả  lẽ bấy giờ mình lại quan liêu vô trách nhiệm với tình hình khu vực đóng  cơ quan đến vậy ư ?
Anh Thanh Quế yêu cầu :“Chúng tôi chỉ muốn có sự rõ ràng mà thôi”.
Tôi cũng thế.
Tôi cũng chỉ muốn có sự rõ ràng mà thôi.
Phải  rõ ràng về việc có hay không một cuốn nhật ký của Chu Cẩm Phong ghi đến  cuối năm 1970 mà Thanh Quế và Ngô Thế Oanh giữ trên núi ? Phải rõ ràng  về lý do tại sao có sự sai chệch giữa “hồi ký” của Thanh Quế viết 24 năm  sau với nhật ký của Chu Cẩm Phong ghi chỉ 3 ngày sau về cùng một sự  kiện ? Và trên hết phải rõ ràng về lý do tại sao báo cáo chính trị tại  đại hội lần thứ 8 của Hội nhà văn Việt Nam không có một dòng một chữ nào  về sự kiện Chu Cẩm Phong, nhà văn đầu tiên của Hội được phong anh hùng  với tư cách nhà văn, mà Thanh Quế và Ngô Thế Oanh lại im lặng không dám  yêu cầu chủ tịch hội Hữu Thỉnh (người đọc báo cáo) giải trình cho rõ  ràng ? Im lặng từ trong hội nghị đảng viên, im lặng khi ra đại hội,  Thanh Quế, Ngô Thế Oanh ngồi im lặng suốt 2 ngày trên chủ tịch đoàn và  thư ký đoàn ? Như vậy ở Thanh Quế và Ngô Thế Oanh không có một nhu cầu  tự thân nào thôi thúc phải lên tiếng về Chu Cẩm Phong, nhưng lại có một  nhu cầu tự thân khác buộc hai anh phải im lặng tại đại hội, tôi nghĩ thế  có đúng không, thưa hai anh ?
Thanh Quế và Ngô Thế Oanh có thể vẫn  tiếp tục im lặng với bài viết này của tôi. Nhưng linh hồn Chu Cẩm Phong  thì không im lặng đâu.
Bởi  vì Chu Cẩm Phong rất thiêng.Vâng, tôi tin  thế.Đấy là ý kiến tôi mở đầu phần phát biểu của mình tại diễn đàn cuộc  tọa đàm về anh hùng Chu Cẩm Phong do Liên hiệp các Hội VHNT TP Đà Nẵng  và trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng tổ chức ngày 18.12.2010.Hẹn với hai  thi sĩ – chiến sĩ Thanh Quế, Ngô Thế Oanh và bạn đọc, sau khi nhận được ý  kiến công khai trả lời rõ ràng của hai anh về mấy điều cần rõ ràng nêu  trên, tôi sẽ viết bài “CHU CẨM PHONG RẤT THIÊNG”.
Đà Lạt 20g46 ngày 31.12.2010.
BMQ

PHỤ LỤC

THƯ GỬI BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Đà Lạt ngày 6 tháng 6 năm 2006

Kính gửi Ban chấp hành Hội Nhà Văn Việt Nam :
Anh Hữu Thỉnh chủ tịch
Anh Lê Văn Thảo phó chủ tịch
Anh Nguyễn Trí Huân phó chủ tịch
Anh Trần Đăng Khoa ủy viên
Anh Hồ Anh Thái ủy viên
Chị Phan Thị Vàng Anh ủy viên
(Nhờ anh Đào Thắng chánh văn phòng Hội chuyển)
Tôi  trân trọng gửi đến các anh chị bài phát biểu của tôi trong cuộc hội  thảo về nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong do Hội Văn Học Nghệ Thuật Quảng  Nam tổ chức tại Hội An ngày 11 tháng 05.2006 (anh Hữu Thỉnh có dự và  phát biểu), mong được đọc và cùng trao đổi ý kiến.Tôi cũng đề nghị tổng  biên tập báo Văn Nghệ (nay chắc đã do anh Nguyễn Trí Huân đảm trách) sớm  cho đăng (xin đừng cắt xén) bài này của tôi để được trao đổi ý kiến  rộng rãi với đồng nghiệp trong toàn Hội và đông đảo bạn đọc.
Điều  mong mỏi tha thiết của tôi là khi tôn vinh những phẩm chất cao quý của  những nhà văn như Chu Cẩm Phong thì đồng thời chúng ta cũng phải lấy tấm  gương ấy mà soi rọi vào bản thân mình hiện nay, do đó, một cuộc hội  thảo cấp bách hơn hết mà Hội chúng ta cần phải sớm tổ chức là hội thảo  về vấn đề : ĐẠO ĐỨC XÃ HỘI XUỐNG CẤP NGHIÊM TRỌNG, CÒN TÌNH TRẠNG ĐẠO  ĐỨC CÁC NHÀ VĂN TRONG HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM THÌ SAO ?
Mùa xuân năm  1959, tôi được dự Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ nhất. Tổng  thư ký Hội Nhà Văn Việt Nam hồi ấy là nhà văn Nguyễn Đình Thi đọc báo  cáo, ông nói với chúng tôi về cái chợ trời văn chương Việt Nam trước  cách mạng Tháng Tám 1945 và khẳng định từ sau cách mạng văn học ta không  còn chỗ đứng cho đám văn nhân chợ trời, văn học ta được xây dựng bởi  một đội ngũ những nhà văn lấy sự làm người làm nền tảng cho sự làm văn.
Sau  nửa thế kỷ phấn đấu, nay chúng ta hãy cùng nhau nhìn thẳng vào sự thật  xem cái chợ trời văn chương và đám văn nhân chợ trời kia đã bị đẩy lùi  vào quá khứ, hay ngược lại, nó đang bạo phát với qui mô lớn và với mánh  khoé chợ trời điêu luyện nhởn nhơ chưa từng thấy ?
Mấy ý kiến thành tâm đề xuất, mong được sớm phúc đáp.
Kính chào.
BÙI MINH QUỐC
03 Nguyễn Thượng Hiền - Đà Lạt


THƯ GỬI TỔNG BIÊN TẬP BÁO VĂN NGHỆ NGUYỄN TRÍ HUÂN

Đà Lạt ngày 2.9.2007
Nguyễn Trí Huân thân mến,
Tôi  viết thư này cho Huân với tinh thần của những năm tháng chúng ta từng  gắn bó mật thiết trong đội ngũ cầm bút chiến đấu của Văn Nghệ Giải Phóng  Khu 5 - một đội ngũ được tôi luyện và trưởng thành về phẩm chất và năng  lực như thế nào thì Huân đã biết, tôi không cần nhắc lại.
Tháng  5.2006, Hội Văn Nghệ Quảng Nam tổ chức hội thảo về nhà văn liệt sĩ Chu  Cẩm Phong.Hữu Thỉnh có dự, với tư cách là chủ tịch Hội Nhà văn Việt  Nam.Cùng với một số anh chị em Văn Nghệ Khu 5 cũ, tôi đã phát biểu và  liền sau đó đã gửi bài phát biểu cho từng ủy viên ban chấp hành Hội Nhà  văn và báo Văn Nghệ, kèm thư tôi đề nghị báo Văn Nghệ đăng, cùng thời  gian ấy Huân về nhận nhiệm vụ tổng biên tập báo thay Hữu Thỉnh.Tôi đã  gọi điện trực tiếp cho Huân nhắc lại đề nghị của tôi.Chờ một thời gian,  Văn Nghệ vẫn không đăng.May sao, báo Người đại biểu Nhân dân (NĐBND) đã  đăng dịp 21.6.2006, ngày báo chí VN.Tôi liền gọi điện giục Huân đăng  trên Văn Nghệ dịp 27.7.2006, ngày thương binh liệt sĩ. Huân nói : “Báo  NĐBND đăng rồi mà”, tôi nói : “Tôi gửi cho báo Văn Nghệ trước tiên, mong  báo đăng ngay, và bài này phải đăng Văn Nghệ mới hợp lẽ thường, nay  NĐBND đã đăng rồi thì Văn Nghệ đăng lại cũng chẳng sao vì Văn Nghệ vẫn  thường đăng lại bài của các tạp chí Tia Sáng, Xưa& Nay, Sông  Hương…và một số báo chí khác”, Huân nói :”Vậy Văn Nghệ đăng nhưng anh  cho cắt một số chỗ”, tôi nói : “Phải đăng nguyên vẹn thì mới là Nguyễn  Trí Huân của Văn Nghệ Giải Phóng Khu 5 chứ, vả lại NĐBND đã đăng rồi,  Huân có chỗ dựa vững rồi, báo NĐBND là cơ quan của Quốc Hội cơ mà, việc  gì mà phải cắt, thêm mang tiếng cho Huân, Huân đăng ngay dịp 27.7 này  đi…”, Huân hẹn nếu dịp 27.7 không kịp thì để 2.9 (2006).Tôi chờ, chờ…27.  7 không thấy đăng, 2.9 cũng không thấy.Tôi lại chờ, chờ.Qua 2007, tôi  gọi điện, Huân bảo để 27.7 năm nay.27.7 năm nay cũng không thấy đăng.
Mặc dù cho tới nay bài của tôi về nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong đã đăng trên 8 tờ báo và tạp chí sau đây :
-Báo Người Đại biểu Nhân dân số ra ngày 21 và 22.6.2006
-Báo Lâm Đồng số ra ngày 21.6.2006
-Tạp chí VĂN HIẾN VIỆT NAM số tháng 6.2006
-Báo TIỀN PHONG số ra ngày 30.7.2006
-Tạp chí BIỂN VÀ BỜ số tháng 7.2006
-Tạp chí CHƯ JANG SIN số tháng 7.2006
-Tạp chí SÔNG TRÀ số tháng 7.2006
-Tạp chí VĂN NGHỆ ĐỒNG NAI số tháng 9.2006
-Báo NGƯỜI CAO TUỔI số xuân Đinh Hợi 2007
tôi  vẫn kiên trì đòi hỏi báo Văn Nghệ đăng, bởi đây là một đòi hỏi chính  đáng, bởi bài của tôi vẫn nóng bỏng tính thời sự trong tình trạng xuống  cấp nghiêm trọng về nhân cách ở không ít các nhà văn của Hội ta (điển  hình là Hữu Thỉnh chủ tịch, bí thư đảng đoàn Hội) ; đối với các liệt sĩ,  họ chỉ nặng phần trình diễn sự tưởng niệm chiếu lệ, còn thực tế hàng  ngày thì luôn sống ngược lại những giá trị mà họ tôn vinh.
Một lần  nữa, mong Huân đừng tiếp tục lảng tránh đòi hỏi chính đáng của tôi.Tôi  nhờ Trung Trung Đỉnh đưa tận tay Huân thư này, tôi cũng yêu cầu Đỉnh đọc  thư để biết nội dung sự việc, yêu cầu Đỉnh làm nhân chứng cho cuộc trao  đổi này giữa tôi với Huân, vì đây không phải việc cá nhân, đây là việc  xây dựng Hội, xây dựng tờ báo của Hội.
Tôi gửi kèm đây 21 bài thơ,  mong báo chọn đăng dần, trước mắt đăng cho một chùm ít nhất 05 bài.Lâu  lắm rồi Văn Nghệ (thời Hữu Thỉnh làm tổng biên tập) không đăng thơ tôi  dù tôi gửi nhiều lần, thậm chí phải nhờ Nguyễn Trọng Tạo đưa tận tay Hữu  Thỉnh (để Thỉnh khỏi giở cái trò bảo là không nhận được), nay tôi nhờ  Trung Trung Đỉnh đưa tận tay Huân. Thơ tôi gửi gồm các bài :
-Có một phép màu tên gọi là thơ (đã đăng tạp chí Sông Trà)
-Kính báo cụ Đồ Chiểu (đã đăng tạp chí Sông Hương)
-Gan “nhà văn”
-Nhưng dù sao, chẳng lẽ
-Trước mộ anh hùng thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ
-Bài thơ bảo vệ môi trường
-Bi kịch hót
-Lịch sử và lịch sử
-Chôn
-Chào sông Trà (đã đăng tạp chí Sông Trà)
-Gì đã khiến…
-Tôi vẫn tin
-Hèn triết
-Nghĩ ở Côn Sơn
-Hà Nội anh về(đã in trong sách “Dương Thị Xuân Quý nhật ký&tác phẩm”)
-Em ru anh…
-Mẹ ngẩn ngơ đi…(đã đăng tạp chí Non Nước và báo Phụ Nữ Thủ đô)
-Cháy
-Tổ Quốc rùng mình trong cơn nhậu nhẹt
-Đừng quên em
-SOS ! Những bãi mìn gài vào tương lai
Mong nhận được tín hiệu tích cực từ Huân.
Chào Huân.


BÙI MINH QUỐC
03 Nguyễn Thượng Hiền - Đà Lạt
ĐT : 063-815459 * 0918007842
 

Tin chưa được kiểm chứng:  Một bạn đọc có tên Lê M. hiện đang theo học cao học tại Singapore có  thông báo bằng e-mail cho TTHN biết là ngày đầu năm mới, có người đã gặp  ông Huỳnh Ngọc Sĩ đi trên tàu điện ở trung tâm tp Singapore, được biết  ông Sĩ đã được giải quyết sang Singapore để trị bệnh tim  ngay sau khi HN trung ương 14 kết thúc (?!).

Nỗi oan Huỳnh Ngọc Sỹ

Sáng  15/10/2010, Toà án nhân dân thành Hồ mở phiên xử đồng chí Huỳnh Ngọc  Sĩ, cựu Giám đốc Ban Quản Lý dự án Đại lộ Đông – Tây. Lý do là đồng  chí này vừa bị truy tố thêm về tội danh “lãng xẹt”: nhận hối lộ trên  260.000 USD từ quan chức PCI Nhật Bản.

Thực  ra thì số tiền trên chỉ bằng 1/10 số tiền mà PCI cam kết sẽ “lại quả”  cho đồng chí Sỹ vì thành tích mà đồng chí này đã chấm cho PCI trúng thầu  tư vấn dự án Đại lộ Đông- Tây.

Ở  xứ Thiên đường, việc trúng thầu phần lớn phụ thuộc vào tỷ lệ lại quả là  bao nhiêu phần trăm. Chuyện này là “xưa như trái đất”. Trước đây, công  chúng từng được biết đến chuyện đồng chí Dũng (tổng) trong vụ PMU 18  cũng đã ứng xử theo cách ấy. Đây là “lệ làng” ở xứ thiên đường. Nếu  không có lệ ấy, ngu gì mà bao nhiêu kẻ bỏ tiền ra kiếm ghế trong bộ máy  công quyền. Mỗi chiếc ghế đều được định giá, tuỳ theo cơ hội mà chiếc  ghế đó được tiêu bao nhiêu tiền từ tài chính công.

Thằng  bạn Chủ tịch, vừa từ trong bộ máy này bước ra đời sống dân sự, nói một  câu đầy triết lý: Ở đó, “người ta nói dối từ sáng đến tối”. Sống trong  môi trường ấy, chỉ có thể trông vào các khoản phần trăm từ những nguồn  chi tiêu công. Hắn cũng là người đề nghị đưa “Hoa hồng” thành Quốc hoa  của Việt Nam, y như người Hà Lan thờ hoa Tuy líp, Nhật Bản thờ hoa Anh  đào vậy.

Trở  lại việc của đồng chí Sỹ, khi biết Nhật Bản sẽ tài trợ vốn ODA cho dự  án Đại lộ Đông – Tây ở Sài gòn, các quan chức PCI quá hiểu xứ Thiên  đường bèn lên kế hoạch chi cho các “sếp” phụ trách để nhận được các gói  thầu tư vấn dự án. Ban lãnh đạo PCI tìm cách tiếp cận đồng chí Huỳnh  Ngọc Sĩ, giám đốc Ban quản lý dự án lúc đó.

Ông Sĩ vẫn tỏ thái độ lạc quan với người nhà dù bị đề nghị án chung thân. Ảnh: Vũ Mai.

 

Thông  qua đ/c Nguyễn Thanh Hoàng, TGĐ công ty Norfolk cũng là chủ của khách  sạn mang tên này, nơi mà các quan chức PCI trú ngụ khi vào VN. Đồng chí  Hoàng là bạn đánh golf với đ/c Huỳnh Ngọc Sĩ. Chủ tịch cũng đã có lần  gặp hai ông này ở sân golf, nhưng không đánh cùng.

Trong  một lần gặp nhau tại nhà hàng của khách sạn Norfolk, vấn đề làm thế nào  để được trúng thầu tư vấn thiết kế được nêu lên. Do có mặt đ/c Hoàng  nên đ/c Sĩ đã làm ngơ. Tuy nhiên, ngay sau khi các quan chức PCI rời nhà  hàng, đ/c Sĩ đã điện thoại nhận lời và yêu cầu: “Không được nói việc  này với bất cứ ai. Chúng ta sẽ gặp nhau tại nơi khác”.

Tháng  2/2001, hai bên thống nhất gặp nhau ở một quán karaoke. Tại đây, đ/c Sĩ  đòi phía PCI phải “chung” 20% giá trị hợp đồng. Con số này cũng là  thông lệ mà các nhà thầu VN thường phải “chung” khi muốn trúng các gói  thầu xây dựng hay tư vấn.

Phía  PCI cho rằng hơi cao, nên sau nhiều lần kì kèo, đ/c Sĩ bớt còn 10%. Dứt  giá, phía PCI đề nghị đ/c Sĩ cung cấp bản tiêu chuẩn đánh giá chi tiết  hồ sơ dự thầu để PCI soạn thảo hồ sơ dựa trên tiêu chí này. Có như thế,  việc trúng mới hợp lý. Đứa nào dẫu có đa nghi hay thóc mách cũng phải  “tâm phục khẩu phục”. PCI còn ra thêm điều kiện: “Mong đ/c nhanh chóng  thanh toán tiền trả trước cho hợp đồng tư vấn thiết kế này”. Đ/c Sỹ đồng  ý.

Để  có tiền lại quả mà vẫn có lãi, khi lập hồ sơ dự thầu gói này, phía PCI  đã tính toán đưa đơn giá lương chuyên gia tư vấn nước ngoài ở mức cao  ngất ngưởng. Đ/c Sỹ chả lạ gì chuyện này và vẫn vô tư chấp thuận, tăng  thêm lương chuyên gia nước ngoài lên gần 7 tỷ VN đồng, cắt hạ lương của  chuyên gia trong nước 2,4 tỷ VN đồng so với dự toán được duyệt.

Sau  khi trúng thầu tư vấn thiết kế với giá trị hợp đồng là 9 triệu USD,  theo tính toán của PCI, công ty này sẽ phải đưa tiền hối lộ cho đ/c Sỹ  là 900.000 USD.

Từ  phi vụ này, PCI tiếp tục nhờ đ/c Sỹ chỉ định thực hiện gói thầu tư vấn  giám sát mà không phải qua đấu thầu. Tại cuộc gặp gỡ, không để mất thời  gian, phía PCI đã hỏi thẳng đ/c Sỹ: “Bao nhiêu?”. Đồng chí chốt ngay:  “Không đối thủ cạnh tranh, không danh sách ngắn dài, để nhận được hợp  đồng này, 15%”. Lại thêm một cuộc trả giá, đ/c Sỹ bớt còn 12%. Cuối cùng  phía PCI đề nghị  lấy giá trung bình là 11%. Đ/c Sỹ ok!

Giá  trị hợp đồng này khoảng 15,5 triệu USD và PCI phải “chung” cho đ/c Sỹ  1,7 triệu USD. Con số này quy thóc có vẻ lớn, nhưng so với các đồng chí  đang quản lý những dự án hàng ngàn tỷ thì chỉ là “chuyện nhỏ như con  thỏ”.

Sau  nhiều lần nhận lót tay, tháng 4/2003, đ/c Sỹ gọi điện cho PCI yêu cầu  đưa tiếp 262.000 USD của hai lần làm ăn trên. Lúc này, do quỹ của Văn  phòng PCI tại Sài Gòn không đủ nên PCI Nhật Bản phải chuyển tiền sang  Việt Nam để chung chi cho đ/c Sỹ. Một tháng sau, các quan chức PCI phải  gom góp nhiều nguồn mới đủ số tiền trên và giao cho đ/c Sỹ ngay phòng  làm việc của đ/c tại Ban quản lý dự án.

Ngày  28/5/2003, đích thân ông Sakano Tsuneo (Trưởng Văn phòng đại diện PCI  tại Việt Nam) và ông Takasu Kunio (thành viên HĐQT, nguyên giám đốc điều  hành PCI) vừa từ Nhật Bản bay qua đã mang túi xách đựng 262.000 USD đến  Ban QLDA. Trên đường đi, ông Sakano đã gọi điện thông báo với đ/c Sỹ là  đang cùng một người bạn đến. Đến phòng đ/c Sỹ, ông Sakano gõ cửa và  được đ/c cho vào phòng để nói chuyện. Còn ông Takasu Kunio phải đứng ở  ngoài vì đ/c Sỹ cho là “người lạ mặt”.

Một  người dày dạn kinh nghiệm như đ/c Sỹ thì chuyện này chỉ là chuyện đồn  thổi, làm sao có chứng cớ. Nhưng, không biết rủi ro thế điếu nào, việc  các quan chức PCI đưa hối lộ cho đ/c Sỹ bị phía Nhật Bản xử lý về tội  “vi phạm luật chống cạnh tranh không lành mạnh” theo luật pháp nước này.  Đây chính là vận đen của đ/c Sỹ. Khi phía Nhật bản thu thập đủ hồ sơ  chứng cứ, và chuyển cho phía VN, các đồng chí của ta cũng đã hết sức  thông cảm nhưng vì “án tại hồ sơ”, chính vì vậy mà đ/c Sỹ bị rơi vào  vòng lao lý.

Thực  ra thì ngoài lần “bỏ túi” 262.000 USD trên, đ/c Huỳnh Ngọc Sỹ còn 6 lần  nhận tiền hối lộ của PCI . Tuy nhiên, chứng cứ về các lần “lót tay” này  phía Nhật Bản chưa cung cấp kịp nên cơ chức năng tạm gác lại.

Theo  số liệu từ Bộ Tài chính VN, năm ngoái, tổng chi ngân sách của VN xấp xỉ  550.000 tỷ đồng, trong đó có khoảng 140.000 tỷ chi cho đầu tư phát  triển. Tính sơ sơ theo “lệ làng” lại quả khiêm tốn 20% của khoản chi này  thì các đồng chí quản lý nguồn vốn này (hầu hết là chưa bị lộ) đã có  một khoản xấp xỉ 28.000 tỷ đồng, tương đương với 1,4 tỷ USD.

Vậy  mà đ/c Sỹ chỉ vì nhận 262.000 USD, chỉ vì bị lộ mà có nguy cơ phải đối  mặt với án tử hình. Rõ ràng, đây là một nỗi oan mang tên “Huỳnh Ngọc  Sỹ”. Chúng ta bày tỏ lòng thông cảm sâu sắc với nỗi oan ấy.

----------------------------

nguon: basam

   Báo điện tử Bee.net.vn, ngày 28/12/2010 dẫn nguồn từ TTXVN đăng bài “Mỹ: VN đóng vài trò quan trọng ở châu Á”;  Chúng ta biết rằng, trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ (VN-HK), cả  hai bên đã bỏ đi rất nhiều cơ hội và đi đến những sai lầm; Đến hôm nay,  phần thua thiệt chủ yếu thuộc về VN; Vậy, lần này cơ hội liệu có bị bỏ  lỡ?

[no-readmore]

Phân trang 168/180 Trang đầu Trang trước 163 164 165 166 167 168 169 170 171 172 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]