Nước Vệ, năm Canh Dần, triều nhà Sản.

Năm ấy nơi thì hạn hán, cà chết khô ngoài đồng, nơi lũ lụt nước ngập mái nhà. Thiên tai kinh khủng, vật giá lại leo thang. Người dân chen chúc nhau đi mua đồ tích trữ, đồng tiền nươc Vệ chẳng khác gì tờ giấy lộn, mở mắt là lại thấy thực phẩm ngoài chợ tăng giá so với ngày hôm qua. Triều đình lại tới kỳ đại hội nhân sự bầu vua mới, chính sự rối ren vô cùng.

Thế sự nát bét như vậy, khiến lòng người bất mãn, tiếng ca thán vang khắp hang cùng ngõ hẹp. Nhân sĩ, trí thức, kẻ sĩ lớn tiếng chê bai triều đình bất tài, quan lại ươn hèn, bạc nhược chỉ lo vun vén cho bản thân. Việc nước làm qua loa cho lấy lệ, đến nỗi nước Đại Vệ hùng cường 4000 năm lịch sử, nay chỉ còn đống đất hoang tàn, biển đảo thị ngoại bang cướp,nợ nước ngoài không trả nổi, tài nguyên, đất đai bán và cho thuê sạch bách chả còn chỗ nào nữa.

Nông dân bị lấy đất canh tác, công nhân bị lấy mất nhà xưởng, giáo dân bị lấy mất nhà thờ. Cảnh dân tình các loại tụ lại đòi đất đai ngày càng nhiều, trong thành phần đó không thiếu gì cựu chiến binh, bà mẹ nước Vệ anh hùng...nội cảnh đó đã khiến triều đình bối rối không biết xử trí ra sao, lại thêm các tiếng nói từ mọi thành phần trí thức cất lên đòi hỏi trách nhiệm của triều đình. Triều Sản lo lắng lắm, trước lúc đai hội nhân sự mới họp lại mà luận rằng.

- Năm qua đã mở hội hè , tiệc tùng nhân dịp đại lễ kinh thành để át cái những tiếng dị nghị trong dân gian, mất đến hàng vạn lượng vàng. Ấy thế mà không ăn thua, nay đại hội nhân sự đến gần, cứ để lan truyền mãi tiếng xấu trong dân gian không phải là điều không thể. Dưới yên thì trên mới ấm, xin các đại thần nghị việc này.

Triều đình nhà Sản lao xao, kẻ bàn tăng thuế cho dân chúng cắm đầu mà lo đóng, không còn hơi đâu mà để ý việc khác. Kẻ nói tăng tuyền truyền những chỗ nào tốt đẹp để dân chúng hy vọng. Người thì nói là tạm thời đi vay tiền để hỗ trợ đồng tiền nước Vệ. Bàn bạc, cắt đặt đâu ra đấy vẫn chưa yên tâm. Đang còn phân vân thì bỗng có đại thần lớn tiếng.

- Triều ta chuyên chính cầm quyền, không việc gì phải nhún nhường bon dân đen. Thằng nào chịu khổ được thì sống, thằng nào không chịu khổ được mà ca thán, bắt hết bỏ tù. Đứa khác trông thấy ắt phải sợ mà kinh hãi. Không phải nói nhiều với chúng.

Trong các quan có người nói.

- Bắt thế sợ dân không phục.

Kẻ kia cười

- Từ xưa đến này, triều nhà Sản ta chỉ cần dân sợ chứ đâu cần dân phục. Ông nói thế là tư tưởng chính kiến chưa vững vàng, là kẽ hở để bọn thế lực thù địch chĩa mũi dùi vào khoét hai triều ta. Phải khẳng định lập trường kiên định, bắt cho kẻ khác sợ chứ không phải bắt cho người ta phục.

Trong triều lại có người nói.

- Thế bắt sao để được như vậy ?

Kẻ kia cao giọng.

- Bắt khắp trong Nam ngoài Bắc, bắt thằng nào vợ sắp sinh, bắt thằng đang ở tù bắt tù tiếp, bắt nào kiến thức pháp luật , bằng cấp đầy mình.Bắt bọn trí thức nước ngoài về, bắt cả bọn sinh viên cấu kết với công nhân. Càng thành phần nào chúng nghĩ ta không dám làm thì ta chọn đúng thành phần đó mà xử lý. Mọi việc tất yên.

Triều đình nghị luận cũng xong.

Mùa thu năm Canh Dần, triều đình cho công sai tỏa đi khắp nơi, bắt bớ một loạt các nhân sĩ, trí thức, đem bọn thanh niên mạn phía Nam ra kết án tù thật nặng. Dân chúng khiếp hãi mà im thin thít, nhà nào cũng đóng cửa cài then chặt không dám giao du với hàng xóm. Lúc sự sợ hãi đã lan rộng, bấy giờ nhà Sản mang đạo đức tiên đế ra tổng kết thắng lợi hoàn toàn trên cả nước.

Trong dân gian, chẳng ai dám bàn đến chuyện thế sự.

Nước Vệ trở lại cảnh thanh bình, dân chúng yên ổn làm ăn.


----------------------
nguồn: basam

 

Đó là điều mà công luận đã lên tiếng báo  động cách đây ngót một năm trước con số 60% bài thi sử Ðại học – Cao  đẳng 2005 dưới điểm 1. Nhưng rồi thời gian cứ bình thản trôi qua như cái  bình thản của những người có trách nhiệm với nền sử học và sự nghiệp  chấn hưng giáo dục nước nhà, để tới năm nay, một điệp khúc tương tự lại  diễn ra. Trong bài báo này, chỉ xin đề cập chút ít về tư liệu sử hiện  đại Việt Nam để lẩy ra vài lý do vì sao không phải chỉ học sinh, mà cả  người lớn cũng không mấy quan tâm đến lịch sử nữa. Biết đâu trong đó có  bóng dáng cái nguyên nhân của mọi nguyên nhân, từ đó mới hình dung xem  tình trạng này liệu có cứu vãn được hay không.

 

1. Trước hết điểm qua vài sách sử

Bộ  Ðại cương lịch sử Việt Nam – tập III: 1945-2000 [1] được soạn nhắm  nhiều đến các nhà giáo-nhà sử học tương lai, người sẽ trực tiếp truyền  vào tim thế hệ đi sau niềm hứng khởi với môn sử. Dù được dành một phần  đáng kể (55 năm – nhưng chiếm già 1 phần 3 pho quốc sử 4000 năm. Quả là  bất bình thường!), viết về hiện thời, với phương tiện thông tin, lưu trữ  hiện đại, nguồn sử liệu vô cùng phong phú (trong, ngoài nước), thế mà  đọc hết lại thấy một cảm giác rất lạ, như sau bữa ăn thời “bao cấp”,  hiếm thịt cá, chỉ toàn rau mì, bụng căng mà mắt vẫn hoa, rõ là bị thiếu  những chất đang rất cần cho cơ thể, mà quá thừa những gì không cần nữa,  hay khó tiêu hoá nổi. Ðó là:

Cuốn  sách như để giảng dạy, ca ngợi về học thuyết chiến tranh cách mạng hơn  là một thứ thông sử. Sử liệu thì ít, chủ yếu về chiến tranh, lại quá  nhiều lời bình luận, đánh giá kiểu đại ngôn mang tính “định hướng tư  tưởng” của những thập niên 50-60 thế kỷ trước.
Tuy thiên về chiến  tranh nhưng toàn thấy “ta thắng, địch thua”, làm giảm tính chất ác liệt  của cuộc chiến, sự hy sinh, tổn thương ghê gớm của dân tộc.
Tư liệu  hầu hết là về cách mạng, miền Bắc, quá ít về xã hội thuộc Pháp, Mỹ –  chính quyền Sài Gòn (chỉ chưa tới 10 trong 340 trang sách).
Về kinh  tế, xã hội ở miền Bắc, cả nước sau 1975 cũng toàn “thành công”, “đúng  đắn”, còn tổn thất, sai lầm chỉ sơ qua vài trang (kể cả những sai lầm đã  được công khai thừa nhận); đầy những trích dẫn (hoặc giọng văn) của các  báo cáo tổng kết thành tích, Văn kiện Ðại hội.
Ðáng lo nữa là với một cuốn chính sử mà lại toát lên một cách nhìn quá thấp về lớp trẻ hiện nay.

Ðọc  thêm bộ Việt Nam những sự kiện lịch sử, cuốn 4: 1945-1975 [2] và cả bộ  Những sự kiện lịch sử Việt Nam [3] . Tuy không dàn trải những bình luận,  ngợi ca ngoài sử liệu (vì thuộc loại sử biên niên), nhưng hai bộ này  đều mắc những “bệnh” hệt như bộ Ðại cương lịch sử Việt Nam. Hãy thử nghe  các tác giả giãi bày: “…có hai dòng trái ngược: dòng lịch sử chính  thống, cách mạng… và dòng lịch sử đối lập, phản bội…” Lý do của sự thiên  lệch quá mức về sử liệu là “vì khuôn khổ có hạn của cuốn sách”(?) nên  cái dòng gọi là “đối lập, phản bội” kia chỉ được đề cập “trong chừng mực  có thể” (nghĩa là khoảng 5-7 trong 600 trang). Không hổ thẹn sao, với  khoa học, với lịch sử mà có thể bằng giọng lấp liếm dễ dãi đến thế?

Bước  qua một “địa hạt” khác, bộ Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II:  1955-1975 thì khác hẳn [4] . Mặc dù rất nhiều điều còn phải bàn về những  sự thiên lệch cố hữu, nhưng dù sao trong bộ này cũng đã ít đi những  mảng “tối” của sự thiếu vắng, sai lệch, che lấp tư liệu. Bên cạnh nỗ lực  kiên cường của quân dân trong lao động và chiến đấu, những mất mát đau  đớn trong những đợt cải cách ruộng đất, chỉnh đốn đảng, cải tạo tư bản,  nền kinh tế bao cấp… cũng được nêu kha khá, kể cả đôi nét về vụ án bí ẩn  được gọi là “nhóm xét lại chống Ðảng”. Ðặc biệt có hẳn một phần về vùng  chính quyền Sài Gòn kiểm soát (những 250/1100 trang). Ngoài ra, cùng bộ  sách này, còn có cuốn Kinh tế miền Nam Việt Nam thời kỳ 1955-1975 rất  công phu, cho ta biết được một nền kinh tế năng động và có khả năng hội  nhập, có thể phát huy khi đất nước được giải phóng, nhất là từ khi đổi  mới, như tác giả – chủ biên Ðặng Phong viết.

2. Vài chuyện sử bên ngoài sách sử

Ðể  có được ham thích học, tìm tòi về lịch sử nói chung đã là vô cùng khó  với lớp trẻ thời nay, nên không chỉ có những cuốn sử khô khan, mà rất  cần nhiều đóng góp của báo chí-thông tin, văn hoá nghệ thuật, làm cho  từng nhân vật, sự kiện lịch sử xa mờ sống động lại trong mắt hậu thế,  khơi gợi trí tưởng tượng cho chính sử gia để có được lý giải, tìm tòi  những trang sử bị khuất lấp. Vậy thử điểm vài món ăn tinh thần qua mấy  chục năm nay.

Cách đây khoảng phần tư  thế kỷ, có hai vở kịch lịch sử của Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Trãi ở Ðông  quan và Rừng trúc và bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt. Nhưng số  phận chúng khá khốn khổ, không phải do giá trị nghệ thuật (vì người xem  rất hưởng ứng), mà lại là những đánh giá không thuận của lãnh đạo.
Cũng  thời đó có bộ phim tài liệu Hà nội trong mắt ai của đạo diễn Trần Văn  Thủy, báo động về hiểu biết, thái độ của chúng ta đối với lịch sử. Bộ  phim tạo nên một lúc hai làn sóng, một là sự thích thú của đại đa số  công chúng, một khác là những bất đồng quá mức ở cấp cao nhất về việc có  cho nó lưu hành không.
Tiếp đến, trong không khí được “tự cởi trói”  của giới văn nghệ, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã làm sôi sục văn đàn bằng  hàng loạt truyện ngắn; nhưng trong đó, những truyện có nhân vật Quang  Trung, Nguyễn Du cũng đã chịu không ít “búa rìu” của giới phê bình quan  phương. Ðơn giản vì người ta đã “phong thánh” những anh hùng, danh nhân  dân tộc, sẽ không thể chịu nổi một tài năng nhưng có “tật” là muốn “lật  đổ thần tượng” bằng lối “người hoá” trở lại nhân vật.
Tương tự, cuốn  Búp sen xanh của nhà văn Sơn Tùng, và gần đây là phim truyện về vụ án  Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông đều có đề cập đến người phụ nữ đầu tiên trong  cuộc đời riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều mà từ lâu coi như húy kỵ.  Chỉ tiếc rằng hai tác phẩm có lẽ ở vào hai thời điểm quá cách xa nhau,  xuất phát từ hai chủ thể khác nhau (một đằng cá nhân, một đằng là Nhà  nước) nên đã chịu hai thái độ nhìn nhận rất khác nhau của những người có  trách nhiệm.
Gần đây, qua văn học nước ngoài, ta cũng có thêm chút  sử liệu quý giá, dù còn quá ít, dưới dạng hồi ký, như những cuốn Tại sao  Việt Nam?, Cuộc chiến tranh Ðông Dương, Paris Saigon Hanoi… ít bị cắt  xén, hoặc của những nhân vật tiếng tăm trong chế độ Sài Gòn được trích  đăng báo, tập hợp thành sách như Ðỗ Mậu, Phạm Duy, Nguyễn Tiến Hưng… Có  lẽ phải bằng việc gia nhập WTO thì chúng ta mới có thể dễ được tiếp cận  hơn những tư liệu về chính mình đến từ bên ngoài?
Có một thứ tuy  không phải là món ăn tinh thần thuần túy như những tác phẩm văn học,  điện ảnh, nhưng lại quá đặc biệt trong mối tương giao giữa chính  trị-lịch sử-văn hoá truyền thống-tâm linh, đó là di chúc và ngày mất của  Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không nghi ngờ gì nữa, việc thông tin sai lệch  rồi miễn cưỡng trả lại tính chân xác hiển nhiên của những sự kiện này  chính là điển hình nhất cho thái độ của chúng ta đối với lịch sử.

3. Mấy lời bàn

Chỉ  qua một vài phác hoạ trên, dù cho thấy có những lối tư duy đã xa lạ với  hôm nay, hay sự ấu trĩ mà chúng ta cứ mãi đối mặt, để rồi khi nhìn lại  phải xót xa nuối tiếc cho bao mất mát, thì cũng góp phần nhận diện rõ  thêm một phần bức tranh về nền sử học nước nhà, thường hay bị ám ảnh  “duy cảm”, “duy tâm” thay vì “duy vật” như đáng ra nó phải là.

Trước  hết ta thấy chút căn nguyên cho lời giải đáp vì sao học sinh không  thích môn sử. Mới tạm điểm qua sách dành cho thầy cô, cho “người lớn”  thôi mà đã thấy nặng tư duy “thời chiến”, “cái búa cái liềm” trong lối  viết sử ở thời đại văn minh, bùng nổ thông tin này. Khi cả nước trải qua  liên tiếp mấy cuộc kháng chiến trong hơn nửa thế kỷ, rồi đối đầu bằng  chiến tranh lạnh, đời sống xã hội mọi mặt đã phải đặt “nhiệm vụ chính  trị” lên hàng đầu. Ðó là minh hoạ đường lối, nhấn mạnh truyền thống  chống ngoại xâm, kể cả cường điệu cái xấu của kẻ thù, vẻ đẹp của “ta”…,  tạm gác lại thiên chức nhà sử học để mà viết ra những gì có lợi cho “ta”  thôi. Mặt trái của “tấm huân chương” chính là cái giá đắt phải trả cho  lối thực dụng tiểu nông đó. Nhưng không thể cứ tiếp tục trả giá mãi khi  mà đất nước đã độc lập, thống nhất, chiến tranh lạnh cũng chấm dứt từ  lâu. Việc xây dựng một xã hội văn minh hiện đại giờ là yêu cầu hàng đầu,  nên thế hệ sau rất cần hiểu nhiều, đầy đủ, chính xác, khách quan nền  tảng văn hoá, đời sống lao động sản xuất, giao thương… của tiền nhân (đủ  cả cái hay, cái dở).

Thời “bao cấp”  kéo dài từ trong chiến tranh cho tới giai đoạn 1975-1986, nhưng không  phải chỉ trong kinh tế, mà mọi mặt, có sử học. Tiếp đến là thời “đổi  mới”, nhưng những thay đổi mới tập trung cho phát triển kinh tế; tâm lý e  ngại, những thói quen do tình trạng trì trệ quá lâu đã tự làm khó sử  gia trong việc thay đổi căn bản lối tư duy-viết sử (nói rộng hơn là cả  về khoa học xã hội). Phải chăng chúng ta mới chỉ đang xoá “bao cấp”  trong kinh tế thôi chứ chưa dám xoá “bao cấp” về tư tưởng? Nghĩ giản dị  rằng con người hễ “no cơm ấm áo” là khắc văn minh, vui tươi yêu đời? Có  phải vì thế mà thông sử thì vẫn không thoát được cái “vòng kim cô” xưa  cũ, nhưng chuyên sử kinh tế thì được “cởi trói” dần theo với nền kinh tế  thị trường? Hay đó còn là cả một quan điểm giáo dục, muốn thông qua môn  sử và vài môn xã hội khác để “đúc sẵn” vào đầu những nhận thức chính  trị, lòng trung thành với chế độ cho lớp trẻ? Chiến tranh đã kết thúc  hơn 30 năm, rồi nào là “mở cửa”, hội nhập… mà vẫn quanh quẩn với lối  nghĩ đó thì thật tai hại; khi mà cũng chỉ với từng đó thời gian thôi,  nước Nhật phong kiến Minh trị Duy tân đã làm cuộc đổi thay cách mạng mới  có được như ngày hôm nay, trước hết là do biết nâng cao dân trí, ý thức  sớm việc bảo vệ độc lập quốc gia phải bằng một nền dân chủ văn minh  tiên tiến thay vì bằng súng đạn, máu xương.

Một  điều trái ngược với thực trạng đáng buồn này là lịch sử hiện đại của  Việt Nam lại vô cùng đa dạng, phong phú, đầy “kịch tính” trên mọi lĩnh  vực, là “đất màu mỡ” cho những khám phá, tranh luận… tạo hấp dẫn thêm  cho mọi tìm tòi phát hiện táo bạo của các sử gia. Nhưng cũng ngược lại,  với những đa dạng phức tạp đó, nếu ta không sớm định cho nó một “hình  hài” đúng như nó vốn có mà để các sử gia tiền bối nhắm mắt xuôi tay, cả  bao “pho sử sống” dần khuất núi đem theo xuống mồ bí ẩn lịch sử, rồi phó  mặc cho hậu thế thì sẽ vô cùng nan giải cho cái việc nắn lại một “cơ  thể” đã mang đầy khiếm khuyết, dị tật. Ấy thế mà ít nhất chúng ta vẫn  đang có tới 2500 sử gia để mà lo lắng cho điều này!

Nhiều  nhà nghiên cứu – trong, ngoài giới sử học – từng một thời phơi phới  hăng say nghiên cứu khoa học mà không nhận ra sớm thực tế rằng phải “uốn  mình” theo khuôn mẫu để phục vụ nhiệm vụ chính trị, nên họ đã gặp bao  khốn đốn. Giờ như “con chim đậu phải cành cong”, họ chọn giải pháp an  toàn, dễ trở thành bảo thủ, thậm chí mang tiếng vô trách nhiệm mặc dù có  thể chưa đến nỗi hoàn toàn buông xuôi. Vẫn còn đó không ít người đã,  đang bị lương tâm cắn rứt trước những sự thật lịch sử bị che giấu, xuyên  tạc! Họ quá hiểu đã là một sử gia, phải biết đặt mình ra ngoài mọi  thiên kiến chính trị, để tìm kiếm, sắp xếp sử liệu sao cho đúng với sự  thật khách quan. Làm sao khi đọc tác phẩm, chỉ thấy được nhà sử học hoàn  toàn thuộc về nhân dân, dân tộc muôn đời, chứ không phải của nhất thời,  làm tôi tớ cho chính trị đương quyền. Cách đây ngót 20 năm, nhà báo  được kêu gọi “không bẻ cong ngòi bút”, vậy với nhà sử học “không bẻ cong  sự thực lịch sử” âu cũng là cái đức để được sống mãi trong lòng hậu  thế.

Thực trạng như mảnh đất màu mỡ  cho những kẻ, những thói lười biếng, dối trá, kèn cựa địa vị, hư danh,  nhiều khi còn nấp bóng “kiên định lập trường” để che đậy tha hoá. Sự đời  chịu nhận cái xấu ở mình đã khó, huống hồ là của bề trên, thành thử hay  có lối “mẹ hát con khen”. Chỉ so với các sử gia Việt Nam ta xưa mà cũng  thấy thật xấu hổ, chưa nói tới nước ngoài. Như chuyện về quan chép sử  nước Tề, chỉ có câu “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công” mà bị  chém đầu, người em lên thay vẫn cứ viết vậy liền bị chém nốt, cho đến  người em thứ ba thì Thôi Trữ đành “thua”. Họ quả là thánh nhân chứ đâu  phải người trần nữa!

Nhưng “tiền hô  hậu ủng”. Một khi các sử gia đã vậy thì thử hỏi liệu có được bao nhiêu  nhà hoạt động văn hoá muốn đóng góp chút ít bằng tác phẩm của mình có đủ  can đảm để “xông pha” như những tài năng Tào Mạt, Nguyễn Ðình Thi, Trần  Văn Thủy, Nguyễn Huy Thiệp…?

Ðáng lo  hơn cả là suy cho cùng, những người có trách nhiệm cao nhất hình như  không muốn thay đổi thái độ trước những vấn đề liên quan đến sử học. Bởi  thực trạng hôm nay với đầy dẫy tệ nạn tham nhũng luồn lách tới mọi ngõ  ngách quyền lực chẳng lẽ không run sợ sự thực lịch sử sẽ ghi khắc cho  muôn đời?

Qua phác hoạ như trên, để  có được niềm say mê học, dạy môn sử, thầy trò sẽ phải nỗ lực rất nhiều  để nhặt nhạnh thông tin, tìm kiếm nguồn cảm hứng ở bên ngoài môi trường  học tập, bù đắp những gì mà hệ thống sách vở không đem lại, đem lại  không đúng cho họ. Khốn nỗi, họ phải theo giáo án, đi đúng trong lằn  ranh đã được vạch sẵn chứ khó dám liều để dạy “sử ngoài luồng”; cuộc  sống khó khăn với đồng lương không nuôi nổi bản thân, điều kiện giảng  dạy thì nghèo nàn không cho phép họ phiêu lưu lãng mạn với “tình yêu  nghề nghiệp” duy ý chí. Và đáng lo ngại nữa là thế hệ trẻ ngày nay sẽ  vẫn bằng mọi cách riêng để tự hiểu mình là ai, hiểu thế hệ cha ông;  đương nhiên chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt cho điều đó: Là thái độ  phản kháng bằng lên án, mất niềm tin và sự kính trọng thế hệ đi trước;  nảy nở thói đạo đức giả, thực dụng, vô ơn… Còn một giá đắt nhãn tiền mà  chúng ta đã phải trả từ lâu cho nhiều quyết định sai lầm để lại hậu quả  nặng nề là từ sự chủ tâm coi thường tính thẩm định, dự báo, phản biện  của khoa học xã hội (trong đó không thể thiếu sử học) mà chỉ sử dụng nó  như thứ công cụ để tô hồng chế độ. Sẽ như “gậy ông đập lưng ông” cho một  nền sử học-giáo dục minh hoạ phải đứng trước nhiều thế hệ nhắm mắt, bịt  tai, quay lưng lại. Như câu bất hủ của Abutaliv “Nếu anh bắn vào quá  khứ bằng súng lục thì tương lai sẽ bắn lại anh bằng đại bác”. Ở góc nhìn  khác, giản dị mà ý nhị, cố thủ tướng – giáo sư sử học Phạm Văn Ðồng lại  nói: “Lịch sử là lịch sử”. Chứ lịch sử không được để bị chính trị hoá,  không thể dối trá, có phải đó chính là điều ông ngụ ý đau xót? Bởi nó  luôn không dễ nói, nên xưa Nguyễn Trãi mới từng than:

Ai ai đều đã bằng câu hết
Nước chẳng còn có Sử Ngư! [5]

----------------------------------------------

nguồn: basam

Thế  là người mẹ gánh trọn nỗi đau mất người thân đằng đẵng gần một thế kỷ  ấy đã ra đi. Mẹ đi để trở về và gặp lại những người con thân thương mà  mẹ đã dứt ruột sinh ra, nuôi nấng trưởng thành rồi lần lượt ra đi vì độc  lập, tự do cho quê hương.

        Mẹ về gặp lại các con
          Ngày mẹ Thứ ra đi, nắng vàng ươm trong tiết trời se lạnh, lung linh như  những sợi tơ mà người thôn nữ xóm Rừng bên dòng sông Thu Bồn ngày nào  miệt mài dệt lụa cùng ước mơ giản dị: được sống bình an bên người chồng  lực điền chăm chỉ và những đứa con ngoan.
          Trong ký ức của những người cao tuổi ở thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng,  mẹ Thứ là một trong những thiếu nữ đẹp nhất xóm Rừng thời đó. Mẹ mang  nghề dệt lụa về nhà chồng vốn thuần nông. Gia đình mẹ sống thuận hòa,  hạnh phúc, các con lần lượt ra đời. Hơn 20 năm chung sống, mẹ sinh được  12 người con, gồm 1 gái và 11 trai. Hồi còn khỏe, mẹ từng khoe nếu không  có chiến tranh thì vườn nhà mẹ sẽ đầy ắp con cháu...
        Hôm nay, mọi người tụ họp trong khu vườn năm xưa, tiễn đưa mẹ về với  các anh, những người con đã hy sinh cho Tổ quốc. Bà con, hàng xóm láng  giềng, những người thân quen từ mọi miền Tổ quốc nghe tin mẹ mất cũng đã  kịp đến tiễn biệt.
       Bà Hai Trị (Lê Thị Trị), con đầu lòng của mẹ Thứ, năm nay đã 86 tuổi,  được con gái dìu đến bên thi hài mẹ Thứ. Bà Trị cũng là mẹ VN anh hùng,  có chồng và con gái hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Bà Trị nhìn mẹ  lần cuối, cố không khóc. Người mẹ gánh trọn nỗi đau mất người thân đằng  đẵng gần một thế kỷ đã ra đi nhẹ nhàng. Dường như những năm tháng mẹ đã  sống chỉ để chuẩn bị cho cuộc ra đi này. Đi để trở về và gặp lại những  người con thân thương mà mẹ đã dứt ruột sinh ra, nuôi nấng trưởng thành,  rồi lần lượt ra đi vì độc lập, tự do cho quê hương.
        Ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, 3 người con  của mẹ Thứ vào Vệ quốc quân và du kích. Trong cùng một năm 1948, mẹ lần  lượt nhận tin cả 3 hy sinh. Sau đó, 6 người con khác của mẹ lần lượt lên  đường, người vào bộ đội, người đi du kích, người là biệt động thành,  hoạt động ở nhiều địa phương khác nhau. Trong số đó, 5 người hy sinh  trong lửa đạn chiến tranh, riêng anh Lê Tự Kiệt (Lê Tự Chuyển) là biệt  động thành Sài Gòn, hy sinh đúng vào ngày 30/4 lịch sử. Mỗi người con ra  đi, một khúc ruột của mẹ Thứ như bị cắt rời. Sống trong lòng địch, mẹ  chỉ biết nuốt nước mắt vào trong...
          Những năm sau khi ông Lê Tự Nghị, chồng mẹ Thứ, qua đời (năm 1989), mẹ  Thứ sống cùng bà Hai Trị. Hai mẹ con - hai người anh hùng - có cùng nỗi  đau mất con, mất người thân trong kháng chiến, đã hết mực thương yêu,  dìu đỡ nhau. Người con trai áp út của mẹ Thứ, ông Lê Tự Thạnh (68 tuổi),  kể những ngày cuối cùng của mẹ rất thanh thản. Mẹ nằm nghiêng quay mặt  vào tường như tĩnh tại và siêu thoát rồi nhẹ nhàng ra đi...
           Huyền thoại bất tử

Mẹ Nguyễn Thị Thứ

 
        Tin Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ từ trần gây xúc động cho hàng  triệu người. Cuộc đời mẹ đã trở thành huyền thoại, thành tượng đài của  lòng yêu nước, đức hy sinh. “Mẹ thoát thai từ mảnh đất anh hùng, sinh ra  những người con anh hùng và sẽ lại hóa thân vào đất, vào non nước Việt  Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời với các thế hệ con cháu hôm nay và mai  sau”. Đó là ý tưởng mà nhà điêu khắc - họa sĩ Đinh Gia Thắng - muốn  chuyển tải vào công trình tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng lấy nguyên mẫu  từ mẹ Thứ, hiện đang được gấp rút thi công hoàn thành tại Núi Cấm, thuộc  thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, TP Tam Kỳ - Quảng Nam (khởi công từ ngày  27/7/2007).
          
           Nhiều văn nghệ sĩ, nhà báo từ lâu cũng đã trở thành những người thân  trong gia đình mẹ Thứ. Mẹ chính là nguồn cảm hứng sáng tạo để các tác  phẩm nghệ thuật của họ thăng hoa. Nữ họa sĩ Dư Dư cho biết chị bần thần  khi nghe tin mẹ Thứ ra đi. Bức tranh lụa chị vẽ chân dung Mẹ Việt Nam  anh hùng Nguyễn Thị Thứ đoạt giải nhất trong cuộc thi tranh tượng về đề  tài lực lượng vũ trang năm 2004 là cái duyên gắn kết họa sĩ này với mẹ  Thứ. Năm nào cũng một vài lần, chị đến thăm mẹ.
           Qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tỉnh Quảng Nam có hơn  6.000 Mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ Thứ là Mẹ Việt Nam anh hùng sống thọ nhất  tỉnh Quảng Nam. Bây giờ mẹ đã về bến bình yên vĩnh hằng nhưng trong  lòng con cháu người Việt bao thế hệ, mẹ vẫn là biểu tượng bất tử!
                                    
            
11 lần khóc thầm lặng lẽ
            
            
Bốn  người con của mẹ Thứ hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp gồm Lê  Tự Xuyến, Lê Tự Hàn (anh), Lê Tự Hàn (em), cùng năm 1948 và Lê Tự Lem,  năm 1954. Bảy người con, rể, cháu hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ gồm  các con trai: Lê Tự Nự, năm 1966; Lê Tự Mười, năm 1972; Lê Tự Trịnh,  năm 1972; Lê Tự Thịnh, năm 1974 và Lê Tự Kiệt (Chuyển), năm 1975; con rể  Ngô Tường, năm 1957 và cháu ngoại Ngô Thị Cúc, năm 1973.
            

 

-------------

nguon: nguoilaodong

Nếu là người Trung Hoa chắc chắn tôi sẽ không bao giờ đem ông Khổng Tử ra làm trò cười. Như ông Ðàm Trường Lưu (Tan Changliu) vừa mới làm.

Ông Ðàm Trường Lưu, thuộc trường Ðại Học Sư Phạm Bắc Kinh đã lập ra một cái giải thưởng gọi tên là Giải Hòa Bình Khổng Tử - mục đích là để cạnh tranh với Giải Hòa Bình ở Na Uy mang tên ông Alfred Nobel.

Ông Nguyễn Văn An, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức TƯ, Chủ tịch Quốc hội khóa XI tiếp tục chia sẻ góc nhìn của mình xung quanh việc chuẩn bị cho Đại hội XI. Ông bày tỏ mong muốn Đại hội XI chọn khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để cả về kinh tế và chính trị để tạo tiền đề cho đất nước tiếp tục bứt phá mạnh mẽ trong tương lai.

LTS: Đảng Cộng sản Việt Nam có hạnh phúc to lớn mà không dễ chính đảng nào có được: đó là sự tin yêu, đùm bọc, hy sinh, che chở của nhân dân trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập.

[no-readmore]

Phân trang 169/180 Trang đầu Trang trước 164 165 166 167 168 169 170 171 172 173 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]