Từ trước cho đến hiện nay, tôi vẫn kính  trọng ông Hà Sĩ Phu, vì đọc những bài viết của Ông, tôi càng thương đất  nước Việt Nam, tự hào mình là dân đất Việt.

Cũng  qua những bài viết của Ông Hà Sĩ Phu, tôi hiểu rằng, đã là dân đất Việt  không được bao giờ quỳ gối trước ngoại bang khi chúng mưu tính xâm lược  và vô cùng cảnh giác với kẻ thù, khi kẻ thù  giở những trò ma giáo sỉ  nhục dân tộc.

Bức thư của Ông Hà Sĩ  Phu gửi Chủ Tịch Nước, tôi càng hiểu điều đó và tôi tin, bạn đọc, đọc  bức thư này trên trankytrung.com , là dân đất Việt sẽ cùng chung suy  nghĩ với tôi.


Kính gửi : Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết

Tôi  là công dân Nguyễn Xuân Tụ, tiến sĩ Sinh học, bút danh Hà Sĩ Phu, 71  tuổi, thường trú tại 4E Bùi Thị Xuân, Đà Lạt, Lâm đồng, trân trọng gửi  đến Chủ tịch một ý kiến ngắn liên quan đến việc tổ chức Đại lễ “1000 năm  Thăng long-Hà nội”.
Kỷ niệm 1000 năm ngày ra đời và phát triển thủ  đô Thăng long-Hà nội là một sự kiện có ý nghĩa rất thiêng liêng trong  suốt chặng đường dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ta, việc kỷ  niệm long trọng là một chủ trương rất đúng.
Tuy vậy, Đại lễ này tiến  hành trong tình hình đất nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách  thức phức tạp : cả về xây dựng cũng như bảo vệ đất nước đều có hai mặt,  mặt thành tựu đáng vui mừng và mặt yếu kém đáng lo âu. Mọi mặt đều có sự  phân hóa theo hai đầu trái ngược.
Trong dịp diễn ra Lễ hội, không  người Việt Nam yêu nước nào lại có thể mải vui mà quên tình trạng đất  nước mình vẫn còn bị xếp hạng là một nước nghèo, số đông dân chúng vẫn  còn phải kiếm sống rất chật vật, số đông vẫn chưa được hưởng quyền dân  chủ để làm chủ đất nước.
Mối đe dọa bị xâm lấn và đồng hóa của nước  láng giềng phương Bắc từ lịch sử 1000 năm đang hiện về rõ hơn lúc nào  hết, và sự tự vệ, tự cường chủ quan của ta hiện nay nhiều mặt tỏ ra thua  kém tổ tiên oai hùng thuở trước, trong khi điều kiện khách quan của thế  giới hiện nay đã thuận lợi hơn trước rất nhiều. Mọi hiện tượng đã phơi  bày trên báo chí khắp nơi, trong và ngoài nước, thiết tưởng không cần  nhắc lại dài dòng.
Trong bối cảnh như vậy, tôi muốn bày tỏ 3 điều lo lắng cũng là ba đề nghị như sau:
1.  Không thể khai mạc đại lễ vào ngày 1-10-2010. Ngày ấy không phải ngày  vua Lý Công Uẩn thảo Chiếu dời đô, không phải ngày khởi sự dời đô (động  thổ), nhưng lại là ngày Quốc khánh Trung Hoa!
Đã thế ngày kết thúc là  10 tháng 10 lại trúng Quốc khánh của Trung hoa dân quốc tại Đài Bắc !  Một nhà nước biết tự trọng phải tránh sự trùng hợp ấy, nhất là trong  tình trạng tranh chấp Việt Trung hiện nay. Đọc diễn văn trịnh trọng vào  những ngày ấy khác nào lăng nhục từng người dân Việt, tránh sao khỏi  miệng thế mỉa mai về thân phận của kẻ chư hầu? Riêng điều này sẽ làm cho  Lễ kỷ niệm không nêu cao được truyền thống anh hùng chống ngoại xâm  đáng tự hào của dân tộc, khiến kẻ thù phải kiêng nể, mà sẽ gây tác dụng  ngược rất nguy hiểm.
2. Loại bỏ những hình thức hội hè, tuyên truyền  quá tốn kém. Báo chí đã nêu chi phí Đại lễ khoảng 4,5 tỉ Mỹ kim, tức gần  1 phần 10 ngân sách quốc gia. Cần phải giảm bớt. Nhà nghèo không cứ  phải khoe sang mới gây phấn khởi, trái lại sẽ là vết nhục trước cảnh bao  nhiêu trường học còn đổ nát, học sinh phải đu dây qua sông đến trường,  bệnh nhân không có giường nằm, bao nhiêu bé gái phải bán mình khắp năm  châu làm nô lệ...    
3. Không chiếu cuốn phim “Lý Công Uẩn-Đường tới  thành Thăng long” trong đợt kỷ niệm 1000 năm này, vì cuốn phim chưa  được chuẩn bị kỹ lưỡng, mắc những sai lầm ngay từ gốc, sẽ gây phản cảm  rất bất lợi trong dân chúng, có hại cho việc bồi dưỡng lòng yêu nước và  giữ gìn văn hóa dân tộc.
Thưa Chủ tịch, kỷ niệm 1000 năm xây dựng Thủ  đô văn hiến và bất khuất là một việc lớn lao vô cùng thiêng liêng, động  đến tâm khảm của mỗi con dân nước Việt, mỗi thành công hay sai sót đều  khắc sâu dấu ấn vào lịch sử. Với tâm sự ấy tôi viết thư này (cá nhân tôi  cũng được thành người Hà nội từ năm 1949), nhờ báo chí chuyển đến Chủ  tịch nước, mong được ông lưu ý. Công hay tội của thế hệ chúng ta sẽ được  khắc vào bia đá, mà người khắc sẽ là muôn đời hậu thế, không phải chúng  ta.
Kính chúc Chủ tịch sức khoẻ.
Xin gửi Chủ tịch lời trân trọng và thống thiết của một công dân.

Kính thư
Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu)                                                                    

 

 

[no-readmore]Lại một vụ tai nạn thương tâm nữa xảy ra ngay giữa thủ đô Hà Nội. Chuyện xảy ra tai nạn, rồi chuyện người tử nạn do tai nạn đó... không riêng ở Việt Nam ,mà cả thế giới, có rất nhiều. Điều duy nhất khác, cách giải quyết hậu quả đó như thế nào?

Có một nỗi buồn, rất đau là trong những vụ tai nạn giao thông thương tâm, kẻ gây hậu quả nghiêm trọng ở Việt Nam thường do lái ẩu, say rượu, không tôn trọng luật pháp, nhưng còn buồn và đau hơn, những kẻ gây tội ác đó cậy thế nhiều tiền, con ông cháu cha coi mạng sống của dân thường, người hiền lành... như rác. Chúng sẵn sàng phóng xe bạt mạng, cán chết người, rồi phủi tay với sự trợ giúp của những kẻ đạo đức tồi một cách tệ hại  trong cơ quan công quyền, làm thay đổi toàn bộ vụ án.

Bài  viết của tác giả Bùi Đức Lai, nguyên cán bộ công tác nhiều năm ở Ban tổ  chức Trung ương, đăng tại vietnamnet, kytrungtran.com xin phép  vietnamnet và tác giả đăng tải lại, giới thiệu với đông đảo bạn đọc.  kytrungtran.com nhận thấy rằng đây là bài viết tâm huyết, có nhiều ý  kiến hay, làm rõ vấn đề mà dân tộc và đất nước đang hướng tới.

              Hãy dũng cảm thừa nhận, có những học thuyết, như học thuyết Mác - Lê  Nin, đã bị thực tế lịch sử bác bỏ nhiều điều, những điều còn lại,không  thể áp dụng vào Cách mạng Việt Nam. Nếu có áp dụng để lại những di hại  hết sức nặng nề.

             Đảng cộng sản Việt Nam muốn giữ được vai trò lãnh đạo đất nước, không  còn con đường nào khác, phải gắn với quyền lợi dân tộc, đi theo con  đường dân tộc Việt Nam đã lựa chọn, sự lựa chọn thực sự, chứ không phải  áp đặt.

           Cương lĩnh của Đảng phải thể hiện được điều đó.

 

                                            --------------------------

 

1-  Cương lĩnh là văn kiện chính trị quan trọng nhất của một chính đảng. Nó  trình bày quan điểm, các chủ trương, chính sách cơ bản của đảng trước  hiện tình đất nước.

Trong  các thể chế chính trị dân chủ phổ biến ở nhiều nước hiện nay trên thế  giới, cương lĩnh của mỗi chính đảng thường là cương lĩnh tranh cử, phục  vụ trực tiếp cho việc giành phiếu trong bầu cử. Do đó, các quan điểm,  chính sách được trình bày trong cương lĩnh phải đề cập có sức thuyết  phục những vấn đề mà xã hội và cử tri quan tâm. Nhân dân - cử tri lựa  chọn chính đảng cầm quyền thông qua bầu cử, cũng là thừa nhận cương lĩnh  của đảng đó. 

Cách  làm này, có thể có những mặt yếu như khuyến khích những khuynh hướng và  thủ đoạn mị dân, hứa hẹn những điều không khả thi nhưng hợp với tâm  trạng cử tri tại thời điểm đó… Nhưng đó vẫn là cách làm khả dĩ tốt hơn  cả. Việc lạm dụng chính sách mị dân, hứa suông, nói mà không làm có thể  nhất thời lừa phỉnh dư luận xã hội, đưa một chính đảng vào vị trí cầm  quyền… sẽ nhanh chóng trở thành gánh nặng, thành mối nợ chính trị mà nó  phải trả giá trong thời gian cầm quyền và trong kỳ bầu cử sau.

Đảng  Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất cầm quyền chính trị và lãnh  đạo toàn xã hội, do đó cương lĩnh của Đảng mặc nhiên trở thành cương  lĩnh chung của cả đất nước, liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc. Xây  dựng cương lĩnh trở thành vấn đề của nhân dân; nhân dân cần tham gia  quyết định. Việc này không chỉ có tính đạo lý, mà tiến tới còn phải mang  tính pháp lý nữa.

Đưa  dự thảo cương lĩnh của Đảng để nhân dân thảo luận, tham gia ý kiến  trước Đại hội Đảng là một chủ trương đúng đắn theo tinh thần đó. Những  tổ chức và cá nhân có chức năng chuẩn bị dự thảo cần nghiêm chỉnh thực  sự tiếp thu các ý kiến xác đáng của nhân dân để bổ sung, sửa chữa; thẳng  thắn, công khai tranh luận, trao đổi về những ý kiến khác trên tinh  thần bình đẳng, cầu thị. Cần tập hợp và trình bày trung thực, đầy đủ  những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau để Đại hội thảo luận và cho ý  kiến quyết định.

Mặt  khác, để giảm bớt nguy cơ chậm nhận biết và khắc phục những sai lầm,  trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền, một mặt cần có sự thận trọng  cao nhất khi xây dựng cương lĩnh, mặt khác không nên xem nó là khuôn  vàng thước ngọc, nhất thành bất biến. Trái lại, sau khi có cương lĩnh  cần thực sự mở rộng dân chủ, lắng nghe các ý kiến phê bình, phản biện,  đi sát thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm nghiệm cương lĩnh, sẵn sàng bổ  khuyết, sửa đổi những điều không sát đúng. Cần xây dựng và thực hiện các  quy chế khuyến khích thảo luận thường xuyên, công khai, không hạn chế  về các nội dung của cương lĩnh trong quá trình thực hiện.

 

                                                                
Mô tả ảnh.
Bỏ phiếu tại đại hội đảng bộ Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh hôm 16/9. Ảnh: Trang thông tin điện tử Đại hội Đảng XI

Cương  lĩnh nên tập trung đề cập những vấn đề chiến lược, những nhiệm vụ trung  tâm, những giải pháp lớn, dự kiến trong khoảng thời gian mươi mười lăm  năm (hai, ba kỳ đại hội). Chưa có điều kiện xây dựng một cương lĩnh với  tầm xa hơn.

Không  “gài” vào cương lĩnh và những văn kiện có tầm chiến lược nói chung  những vấn đề quá cụ thể dù lớn. Cố gắng tránh cách diễn đạt “chiết  trung”, nước đôi, mập mờ, sử dụng những khái niệm và thuật ngữ chưa có  nội hàm rõ ràng.

Chỉ đưa vào cương lĩnh những nội dung đã được thực tiễn chứng minh

2-  Ban Chấp hành Trung ương đã đưa ra quan điểm chỉ đạo là chỉ đưa vào  cương lĩnh những nội dung đã rõ, đã được thực tiễn chứng minh. Một thái  độ thận trọng như vậy là sự lựa chọn hợp lý hơn cả trong điều kiện hiện  nay, cần thực sự quán triệt đầy đủ và sâu sắc khi tiếp cận và giải quyết  vấn đề trung tâm của cương lĩnh là nhận thức về CNXH và con đường đi  lên CNXH ở Việt Nam.

Sự  sụp đổ của Liên Xô và chế độ XHCN ở Đông Âu đã phủ định mô hình chủ  nghĩa xã hội hiện thực đã từng tồn tại gần ¾ thế kỷ, kéo theo sự đổ vỡ  của tòa nhà lý luận đồ sộ gắn liền với nó. Nhiều vấn đề một thời được  xem là nguyên lý học thuyết Mác - Lênin về CNXH, là quy luật khách quan  đã không được thực tiễn khẳng định. Thực tế đó đặt ra yêu cầu xem xét  lại một cách khách quan nhiều điều cơ bản trong tư duy lý luận về chủ  nghĩa xã hội và con đường đi tới của loài người. Chọn lọc, bảo vệ đúng  những giá trị đích thực mà Mác, Lênin và những người khác đã góp vào kho  tàng trí tuệ của nhân loại, nằm lẫn trong cái đống đổ nát của toà nhà  đã sụp đổ này là một công việc to lớn, đòi hỏi sự tham gia của nhiều  nguồn trí tuệ, đòi hỏi thời gian và sự phát triển của thực tiễn, là một  con đường dài và đầy khó khăn.

Từ  yêu cầu chỉ đạo thực tiễn, qua tổng kết kinh nghiệm bước đầu, đã có  những bước tiến nhất định đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội,  nhưng chỉ mới là những khám phá, thể nghiệm ban đầu. Tư duy lý luận mới  chưa hình thành, còn rất nhiều mảng trống chưa thể san lấp trong tương  lai gần. Đó không chỉ do sự thiếu hụt những trí tuệ kiệt xuất, mà còn vì  thực tiễn chưa phát triển đủ mức.

Trong  điều kiện đó, vội vàng minh định một cách chủ quan, phiến diện, cái này  là chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXH đích thực; cái kia là chủ nghĩa Mác -  Lênin, CNXH đã bị xuyên tạc, biến dạng là một cách làm cẩu thả, không  thể chấp nhận.

Cách  làm đó dẫn đến một thái độ cơ hội nguy hiểm: treo biển Mác - Lênin  nhưng tùy tiện bán trong cửa hàng các món thời trang; cái gì muốn giữ  thì dán nhãn trung thành với học thuyết, cái gì muốn bỏ, cắt xén, thêm  bớt thì dán nhãn phát triển. Cách làm đó nhất định cuối cùng bị phá sản  về lý luận và thực tiễn, nhưng trước khi phá sản, nó cũng kịp gây tác  hại, tổn thất to lớn cho sự nghiệp chung.

Nhận  thức về CNXH và con đường đi tới đó vốn đã là vấn đề phức tạp trong  lịch sử nhiều thế kỷ. Đã có không ít trào lưu, khuynh hướng khác nhau,  thậm chí thù địch với nhau, dán nhãn hiệu CNXH, mà Mác chỉ kịp “điểm  danh” một số trong Tuyên ngôn đảng cộng sản. Sau khi ông qua đời đã nảy  nở nhiều “chủng loại” mới. Việc nhận diện đúng sai, thật giả tưởng như  đã được giải quyết xong về cơ bản cùng với sự ra đời của mô hình XHCN  Liên Xô; nhưng lịch sử đã không chứng minh như vậy.

Cũng  có nước lớn trên thế giới hiện đang nói về một mô hình XHCN mang đặc  sắc của họ (nghĩa là có thể chẳng giống ai, chẳng giống cái gì) và cho  đó là chuyện của hàng trăm năm (nghĩa là việc còn đang dò dẫm). Ở Việt  Nam, sau nhiều năm sau đổi mới, dù có nhiều cố gắng tổng kết thực tiễn  và nghiên cứu lý luận, nhưng cho đến nay, về cơ bản chưa hình thành nhận  thức mới về CNXH và con đường đi lên CNXH. Mô hình XHCN đề cập trong dự  thảo cương lĩnh nặng về mô tả một xã hội lý tưởng muốn có hơn là thiết  kế một chế độ, một hình thái kinh tế - xã hội theo quan điểm chủ nghĩa  duy vật lịch sử.

Ở  Việt Nam, cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, được sự ủng hộ và giúp đỡ  của các nước XHCN, đặt vào trong những điều kiện lịch sử nửa sau thế kỷ  20, từng được xem là nằm trong dòng thác cách mạng trong cuộc đấu tranh  “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi  toàn thế giới. Còn trên thực tế thì gần một nửa thế kỷ sau 1945, đất  nước vẫn chủ yếu chiến đấu cho nền độc lập, tự do của mình. Có thể nói  CNXH ở Việt Nam trước hết là một lý tưởng và là một chế độ chính trị,  từng thời điểm đã phần nào là một thể chế kinh tế bước đầu hình thành  theo mô hình Liên Xô. Những thiếu sót của mô hình đó, phần nào bị khúc  xạ, che lấp trong điều kiện chiến tranh, đã lập tức hiện hình rõ rệt và  tác hại trong điều kiện hòa bình.

Đổi  mới 1986 thực chất là sự khước từ mô hình chính trị - kinh tế XHCN kiểu  Xô viết. Việc đó không phải do ý muốn chủ quan của ai, do sức ép của  thế lực nào, không là sự dao động, mất phương hướng nào mà là hành động  chính trị có ý thức, thuận theo yêu cầu phát triển khách quan của đất  nước. Vì vậy, sự nghiệp đổi mới đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và tạo  nên thành tựu to lớn.

Dứt khoát từ bỏ mô hình XHCN kiểu Xô viết

3- Thực tế đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là phải dứt khoát và hoàn toàn từ bỏ mô hình XHCN kiểu Xô viết.

Đối  với nhiều người Việt Nam, lý tưởng XHCN được nhận thức đồng nhất với lý  tưởng về một xã hội dân chủ, công bằng, tự do, hạnh phúc. Hướng tới một  lý tưởng như vậy có ý nghĩa nhân văn sâu sắc và vẫn có sức mạnh động  viên tinh thần to lớn. Nhưng thực tế là chưa có tiền đề, chưa đủ căn cứ  lý luận và thực tiễn để xây dựng một cương lĩnh quá độ lên CNXH đúng với  ý nghĩa một chương trình chính trị hiện thực.

Nếu  cứ theo đuổi ý tưởng đề ra một cương lĩnh quá độ lên CNXH, thì không  thể tránh khỏi việc gò ép đưa vào cương lĩnh những điều chưa rõ, chưa  được thực tế chứng minh, trái với tinh thần chỉ đạo đã đề ra. Có thể  điểm ra một số vấn đề sau đây làm ví dụ:

-  Dự thảo phải khăng khăng khẳng định quan điểm xem thời đại hiện nay là  thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới, xem đó là xuất phát  điểm của việc lựa chọn định hướng XHCN ở Việt Nam. Đây là điều chưa rõ,  chưa được thực tế chứng minh, đã được phân tích chi tiết hơn trong bài  trước.

-  Dự thảo phải tiếp tục nhắc lại mệnh đề “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm  nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Không ai có thể phủ  định sạch trơn giá trị của học thuyết Mác - Lênin, nhưng không thể không  thừa nhận rằng học thuyết này chẳng những không toàn bích, mà còn đã bị  biến dạng, bị tổn thất nặng nề từ thất bại của mô hình XHCN Liên Xô.  Chưa lọc ra được những hạt nhân hợp lý, vượt qua thử thách của thời  gian, mà cứ khăng khăng lấy nó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho  hành động là việc làm thiếu tinh thần cách mạng và khoa học, chưa rõ,  chưa được thực tế chứng minh.

-  Dự thảo phải tiếp tục nêu cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, một  điều chưa rõ, thậm chí thực tế chứng minh điều ngược lại. Khu vực này  chiếm một khối lượng vốn và lao động xã hội to lớn, được hưởng ưu đãi  hơn so với các khu vực khác, nhưng hiệu quả kinh tế và xã hội thấp, ngày  càng bị thu hẹp tương đối so với các khu vực khác, đang phải đối mặt  với những nan đề chưa có lời giải. Không nên lẫn lộn vấn đề nhà nước  hướng các nguồn lực của mình vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng với vai trò  chủ đạo của kinh tế nhà nước.

-  Dự thảo phải tiếp tục gắn mác “xã hội chủ nghĩa” cho một loạt khái niệm  mà nội hàm không rõ, chưa được (và chưa thể) xác định như: Tổ quốc  XHCN, cơ chế thị trường (định hướng) XHCN, dân chủ XHCN, nhà nước pháp  quyền XHCN… Nói cho cùng, giả sử có minh định được nội hàm của các khái  niệm đó, thì cũng không có ý nghĩa gì, trong khi cả xã hội đang trong  giai đoạn hướng tới sự phát triển XHCN (có nghĩa là nó chưa có) mà các  thể chế của nó thì đã là XHCN rồi.

Đưa vào dự thảo cương lĩnh những điều như vậy là chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh.

-  Dự thảo phải tiếp tục đề cập nhiều về một chính sách xã hội đậm màu sắc  “xã hội chủ nghĩa” như đảm bảo công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách  giàu nghèo, chính sách giáo dục, y tế, bảo hiểm xã hội… Không thể phủ  nhận những nguồn tài lực lớn đã bỏ ra theo hướng này, đã có tác động  nhất định đến một số mặt xã hội, nhưng hiệu quả tổng quát chưa rõ, nhiều  khi còn là một phân phối lại bất công, không đến các đối tượng cần đến.  Trong thể chế hiện hành, nhiều lợi ích cơ bản, chính đáng của công  nhân, nông dân, trí thức chưa được bảo đảm. Sự ưu việt “biểu kiến” được  xem là làm nên nét riêng của CNXH, chưa được thể hiện, chưa được thực tế  chứng minh.

 

 

                                    
 
                                    
Mời bạn đọc gửi góp ý cho các dự thảo văn kiện của Đảng về địa chỉ
                                    
banchinhtri@vietnamnet.vn

  

Việc  biện hộ cho những điều chưa rõ, chưa được thực tế chứng minh nói trên,  là những thiếu sức thuyết phục về lý luận, không được thực tiễn chứng  minh.

Rõ  ràng một cương lĩnh như vậy khó có sức thuyết phục thực sự, không phù  hợp với yêu cầu khách quan đối với sự phát triển của Việt Nam hiện nay.

Tưởng cũng cần nói thêm rằng:

- Mác chưa bao giờ đặt ra vấn đề khả năng đi lên CNXH đối với các nước kém phát triển, chưa công nghiệp hóa như Việt Nam.

-  Luận điểm nổi tiếng (thường được cho của Lênin), từng làm xuất phát  điểm cho cương lĩnh của các nước kém phát triển đi lên CNXH đề ra những  điều kiện tiền đề là: Có hệ thống XHCN thế giới đã hình thành; có sự  giúp đỡ quốc tế của các nước XHCN phát triển đi trước. Các tiền đề đó  hiện nay không còn nữa và chắn chắn sẽ không xuất hiện lại trong các  thập kỷ tới đây.

Tiền đề cương lĩnh xây chế độ dân chủ nhân dân

4-  Đất nước đang cần có một bản cương lĩnh xây dựng và hoàn thiện chế độ  dân chủ nhân dân. Đây là yêu cầu thiết thực nhất, không mâu thuẫn với lý  tưởng XHCN, là cái mà Đảng lãnh đạo cần chủ trương và đưa ra trình bày  trước nhân dân trong thời điểm hiện nay, là việc Đảng đã khởi xướng từ  1930, đặt nền tảng từ 1945, đã tạo ra sức mạnh cách mạng to lớn của dân  tộc ta. Do những lý do khách quan và chủ quan, việc thực hiện một cương  lĩnh như vậy đã bị gián đoạn, đã phải chịu những “quanh co của lịch sử”,  là những thử nghiệm theo mô hình Xô viết.

Chính  công cuộc đổi mới đã tạo ra được những tiền đề chính trị, kinh tế, xã  hội cho một cương lĩnh như vậy. Đã hình thành kinh tế thị trường, hội  nhập quốc tế sâu rộng; hình thành các thành phần kinh tế ngoài nhà nước,  ngoài công hữu, quyền cạnh tranh bình đẳng giữa các khu vực kinh tế  được thừa nhận về pháp lý. Đã có tiền đề thực tiễn để xóa bỏ các ưu đãi  về chính sách và nguồn lực đối với khu vực kinh tế nhà nước, từ bỏ việc  nhà nước can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,  làm đúng chức năng quản lý nhà nước.

Đổi  mới cũng đã tạo ra những cơ sở lý luận đủ làm khung cơ bản cho một chế  độ chính trị dân chủ nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm  quốc tế. Các văn kiện của Đảng và Nhà nước đã đề cập về nguyên tắc những  nét cơ bản nhất về một chế độ như vậy. Đó là chế độ dân chủ, nhà nước  của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; mọi quyền lực thuộc về nhân dân.  Đảng lãnh đạo là để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân về  mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động  lực của cách mạng. Đó là đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam  không phân biệt chính kiến, tôn giáo… Đảng lãnh đạo hoạt động trong  khuôn khổ Hiến pháp và luật pháp, Đảng không làm thay nhà nước; Đảng  chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng; trong Đảng  thực hành dân chủ rộng rãi, nghiêm chỉnh thực hiện đúng các nội dung của  nguyên tắc tập trung dân chủ..

Phải chăng đó không phải là những nét cơ bản nhất của một cương lĩnh xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam.

Vấn  đề là thống nhất nhận thức, nhất quán thực hiện đúng những nguyên tắc  đã được vạch ra đó trong toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của  đất nước thông qua các thiết chế, chính sách cụ thể.

Các  giai cấp và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước mong muốn có một  chế độ như vậy, một chế độ mà dân tộc đã cảm nhận được tính ưu việt và  sức mạnh của nó trong những năm tháng đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám.

Với  một chế độ như vậy, Việt Nam có nhiều thuận lợi hơn trong việc hòa nhập  với cộng đồng thế giới, giữ vững và phát triển bản sắc.

Nhưng  trong nhiều năm nay, các quan điểm đó vẫn chưa được luật pháp hóa, thể  chế hóa và tổ chức thực hiện đúng những quan điểm cơ bản nói trên.

Sự  chậm chạp đó có nhiều nguyên nhân, trước hết là tư tưởng bảo thủ, vẫn  kiên trì tư duy cũ, không dứt khoát từ bỏ về thực chất mô hình XHCN kiểu  cũ, tìm cách ngụy trang bằng vỏ ngôn từ mới và một số điều chỉnh chi  tiết. Những quan điểm bảo thủ đó được gán cho cái nhãn mác đẹp đẽ là  trung thành với lý tưởng XHCN, đã bị lợi dụng cho những lợi ích phe nhóm  với những đặc quyền đặc lợi phát sinh trong cơ chế thị trường. Nó hù  dọa xã hội về mọi tai ương đe dọa, bóp nghẹt mọi ý kiến đòi thực hiện  đúng nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước, chụp cho nó mọi cái  mũ xấu xa… Đã có một bộ phận miệng nói XHCN, nhưng chân bước đi theo  con đường man rợ mà chủ nghĩa tư bản từng bắt buộc phải đi qua vào một  thời điểm lịch sử khác, trong giai đoạn tích lũy ban đầu: bóc lột, tàn  phá thiên nhiên, bóc lột sức lao động, chiếm đoạt đất đai, của cải, tài  sản nhà nước, lũng đoạn quyền lực. Đối với nó, XHCN là một khái niệm  hoàn toàn trống rỗng, nhưng nó muốn lợi dụng đến cùng để che đậy bản  chất thật và trục lợi, trước khi công khai xé bỏ hoàn toàn khi đủ điều  kiện.

5- Một số kiến nghị.

Một  là, xây dựng cương lĩnh chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam, trên cơ sở  tổng kết thực tiễn, tiếp thu giá trị của các cương lĩnh của Đảng trong  80 năm qua, tham khảo và vận dụng các kinh nghiệm quốc tế. Đó là cương  lĩnh chỉ đạo và tổ chức hành động trong khoảng thời gian 15 - 20 năm.  Tính tới một thời đoạn dài hơn là chưa đủ điều kiện, cũng không phải là  việc cần thiết.

Hai  là, nếu từ nay đến Đại hội XI không đủ điều kiện và thời gian vật chất  để xây dựng một bản cương lĩnh như vậy, thì Đại hội có thể quyết định  một số quan điểm lớn chỉ đạo chuẩn bị chu đáo hơn, đưa ra thảo luận dân  chủ công khai trong toàn Đảng, toàn dân, để trình ra Đại hội XII, hoặc  Đại hội bất thường tổ chức 2, 3 năm sau Đại hội XI.

Ba là, đồng thời với chuẩn bị cương lĩnh, xúc tiến việc xây dựng Hiến pháp mới.

Bốn  là, nếu với nội dung như dự thảo hiện nay, kiến nghị Đại hội XI không  thảo luận việc sửa đổi bổ sung Cương lĩnh 1991 như dự kiến. Vì:

-  Những nội dung “mới” so với Cương lĩnh 1991 đều đã được đề cập trong  các Văn kiện Đại hội Đảng từ sau1991, bản dự thảo hiện nay chỉ tập hợp  lại, thay đổi một số cách diễn đạt, đôi chỗ còn mơ hồ hơn.

-  Đối với nhiều vấn đề lớn, bức xúc trong trong sự nghiệp xây dựng và bảo  vệ Tổ quốc dự thảo hoặc né tránh hoặc giữ cách tiếp cận và quan điểm  cũ, nên không có lời giải đáp không thuyết phục.

Sửa  đổi, bổ sung Cương lĩnh như tinh thần dự thảo vì vậy không mang lại lợi  ích thiết thực, cụ thể nào. Trái lại, một khi Đại hội XI thông qua dự  thảo thì cũng có nghĩa khép lại mọi việc thảo luận về cương lĩnh trong  hàng chục năm tiếp theo, tạo ra những trì trệ không thể chấp nhận trong  điều kiện mới. 

        
  •     

    Bùi Đức Lại

        ------------------------------------
  •     
  • nguồn : vietnamnet

[no-readmore]NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài vết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

Lâu nay, công tác nhân sự của Đảng và cả  bên chính quyền, đoàn thể, đều do các cấp ủy bàn bạc và quyết định.  Việc đưa ra bầu chỉ là việc làm để chính thức hóa cho đúng quy định. Mọi  đại biểu của Đại hội Đảng đều thấy rõ điều đó, coi đây là biểu hiện của  sự lãnh đạo tập trung của Đảng (thông qua cấp ủy) và cho là việc đương  nhiên theo tinh thần, ý thức kỷ luật Đảng. Chính điều này dẫn đến tình  trạng “Độc quyền tập thể cấp ủy”, trước đây, nhiều khi còn biến thành  độc quyền của cá nhân bí thư – điều này chính đồng chí Trường Chinh đã  nói đến khi chuẩn bị Đại hội VI của Đảng.

Hệ quả của tình trạng này là gì? Là trong cấp ủy luôn luôn chỉ  tồn tại những người nhất trí với nhau và đặc biệt là nhất trí với Bí  thư. Từ nhất trí thật, dần dần nhiều khi dẫn đến nhất trí giả vờ, xu  nịnh, và hình thành bệnh sùng bái cá nhân. Thời Lênin, Mao Trạch Đông,  Krơ rút xốp, Brêdơnhép...đều như vậy. Đến Cụ Phiđel anh minh, sáng suốt,  quyết liệt như vậy càng bị tệ “sùng bái cá nhân”, vì vậy sau 4 năm nghỉ  ngơi, ngẫm nghĩ lại, mới thấy cần cải cách, cần thay đổi cái cũ. Giá mà  Cụ không được tôn sùng đến mức như vậy, Cuba dân chủ hơn, có lẽ Cuba đã  đổi mới cùng dịp với chúng ta. Đó là nguyên nhân gốc rễ của sự trì trệ,  bảo thủ, dẫn đến tha hóa, tụt hậu rồi đi đến sụp đổ của chế độ Cộng  sản, mà Liên Xô (cũ) và Đông Âu là tiêu biểu. Cu Ba tồn tại được như vậy  là do người đứng đầu không bị tự tha hóa – đó là một điều vĩ đại đặc  biệt của Phidel. Phidel chỉ mất dân chủ thôi, đó là “của hiếm”.

Gần đây ta có sửa chữa sự mất dân chủ bằng cách có quy định là  trong danh sách bầu phải có tỷ lệ dôi ra một số phần trăm để các đại  biểu được quyền lựa chọn. Hơn nữa danh sách bầu cử vẫn phải được cấp ủy  cấp trên xem xét và “phê duyệt”. Đó cũng vẫn là dân chủ nửa vời:

1/ Cấp ủy, thay vì chọn đúng số người cần bầu, thí dụ 15  người, thì nay tăng thêm thành 16 hoặc 17! Bằng cách đó cấp ủy vẫn “gạt”  được những người không “ăn í” với mình. Mà những người không ăn í ấy  lại thường là những người có bản lĩnh, có sáng kiến riêng, không giống  của cấp ủy, nhất là không giống tư duy của bí thư.

2/ Danh sách dự kiến phải được cấp ủy cấp trên “phê duyệt”. Đây  cũng là một cách để thực hiện ý đồ về nhân sự thiếu dân chủ của cấp ủy.  Bởi vì, cái gì đã được cấp trên duyệt, thì đều là có “lãnh đạo” cả, vì  vậy cấp ủy đồng cấp nhất triết phải “lãnh đạo” Đại hội để thực hiện cho  đúng chỉ đạo của cấp trên (thực chất vẫn là do mình trình ra!) Đây là  cách để cấp ủy gây sức ép, nếu cần, với Đại hội.

3/ Ngoài ra một số cấp ủy còn tự tiện đề ra những quy định phụ,  ví dụ: Muốn tham gia cấp ủy tỉnh, thì phải có mấy nhiệm kỳ tham gia cấp  ủy huyện chẳng hạn. Tóm lại, con đường trở thành thành viên của cơ quan  lãnh đạo Đảng trước đây luôn luôn không được mở rộng cho những đảng  viên có nhiều sáng kiến, nhiều tư duy đổi mới, nhiều tự trọng, ít khéo  léo, không chịu luồn lách...Đương nhiên không phải ai đang là cấp ủy  viên cũng như vậy.

Nay Đảng  ta đã thấy rõ những nhược điểm ấy, và quyết tâm khắc phục. Sẽ xuất hiện  một số tình huống làm cho tư duy cũ có thể lại nổi lên:

1/ Số phiếu không cao, không tập trung! Theo quan niệm cũ đó  là “không thắng lợi hoàn toàn”. Ta phải chuẩn bị tinh thần là bí thư có  thể chỉ được trên 50% số phiếu bầu, chứ không 98, 99% như thời xưa nữa.  Vì bây giờ là ta chọn một đồng chí khá nhất trong số các đồng chí được  đưa ra bầu chọn. Trong số phiều bầu, đồng chí được 15%, đồng chí được  27%, đồng chí được cao nhất 58%. Vậy đồng chí được 58% đảng viên tín  nhiệm sẽ trúng cử. Trước đây chỉ bầu một người, thì chắc chắn là không  100%, thì cũng đến 97, 98%, có gì là lạ?

2/ Nên tạo thói quen, sau khi “thua” một vài phiếu, vẫn nên  vui vẻ cộng tác với người thắng cuộc: Bởi vì dầu sao, công khai đường  hoàng ra như thế này, vẫn có khá nhiều người chưa tín nhiệm mình! Và ai  thắng cuộc, cũng sẽ hiểu được rằng, mình cũng chỉ được tín nhiệm đến mức  đó mà thôi, cần cố hơn nữa! Cái cách bầu bán tín nhiệm 100% trước đây  đã dẫn đến sự hiểu lầm của các Bí thư: rằng mình là người giỏi nhất rồi!  Vậy là sinh chủ quan, ngạo mạn.

Nhưng, nói rộng hơn, có một cách khá dễ để mọi người đến Đại hội  được giải phóng khỏi cái vòng “Kim cô”. Đó là, hãy hình dung, sau đây  một số năm, khi mình nghỉ hưu, trở thành một người ít quyền lực hơn,  thậm chí hết quyền lực, mình sẽ muốn Đảng ta như thế nào, muốn xã hội ta  như thế nào. Đấy là bí quyết nẩy sinh những tư duy rất tiến bộ, rất  cách tân, khi các đảng viên lão thành đã nghỉ hưu. các vị đại biểu Đại  hội ta hãy cố sống trước thời điểm nghỉ hưu hết quyền lực đó một số năm  cho con cháu được nhờ!

----------------

nguồn: danluan

Phân trang 171/179 Trang đầu Trang trước 166 167 168 169 170 171 172 173 174 175 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]