Khai phá những con đường

[Không rõ 23/03/2011 00:10 | by kytrung ]

[no-readmore](Bài này đăng trên Sinh viên Việt Nam số Tết, nhưng tít bị đổi từ "khai phá" thành "khám phá" và biên tập mất những đoạn chữ đỏ (chắc nghỉ chơi với SVVN quá à), theo tôi là đoạn hay nhất. Lý do chưa rõ.)


Giáp Văn Dương


Nói đến thành công, người ta thường nói đến việc chinh phục các đỉnh cao mà không mấy ai nghĩ đến việc khai phá những con đường.
Chinh phục đỉnh cao là khó khăn, là gian nan, là vinh quang và đáng ghi nhận. Không có khát vọng cháy bỏng, không có đam mê cùng cực thì không thể vươn tới những đỉnh cao, dù ở bất cứ lĩnh vực nào.

 Tập II
Trưởng Thành
Tập II - Phần 2
3
Vài hôm sau, sân đình làng bên, đoàn cải lương Hoa Ban về diễn vở kịch “HÙNG CA CỦA MỘT ANH HÙNG”, anh Cường nói với chị nuôi cho chúng tôi ăn cơm sớm để đi xem. Còn sung sướng nào bằng. Cả trại râm ran bàn tán. Về đây suốt mấy tháng nay, chúng tôi không được xem phim, không có đài công cộng để nghe thời sự và chương trình “Măng non đất nước” mà tôi rất thích. Cứ bảy giờ tối là ai về nhà nấy, trừ mấy đêm trăng còn đùa được, ngoài ra chỉ ngọn đèn dầu tù mù hắt một ánh sáng vàng vọt, buồn đến lạ. Hồi còn ở Sơn Hà, đôi ba lần, chúng tôi đến nhà hát nhân dân ngoài trời xem các đoàn kịch về biểu diễn. Thực tế, hồi ấy xem kịch chỉ là phụ, chúng tôi bày trò trêu mấy ông gác cổng, tìm cách “đột nhập” vào bên trong cứ như “đặc công”... Đến lúc phát hiện được, mấy người gác cổng đó đuổi theo chúng tôi làm náo loạn cả một góc sân, rất vui. Có khi quá vui, thậm chí vào bên trong rồi, chúng tôi lại đi ra, chui lại để trêu tức mấy ông gác cổng. Còn nếu đi cửa chính, chúng tôi bám vào mấy người lớn đi vào không mất tiền, để tiền mua mía, mua kem... Cứ thế, còn thiết gì đến xem?
Còn lần này... Tôi hỏi:
- Hạnh đi xem với bọn mình chứ?
Hạnh lắc đầu:
- Tớ chẳng đi đâu! Đi với các đằng ấy, các đằng ấy lại dọa ma như hôm nọ ấy à?
Tôi cười, trong thâm tâm lại trách cái trò đùa quái ác của thằng Oanh:
- Đấy là thằng Oanh đùa Hạnh và chị Liên chứ không phải mình. Mà nói thật nhé, đi xem phải có con trai đi cạnh, Hạnh mới không bị bắt nạt...
Hạnh thoáng suy nghĩ rồi cũng đồng ý đi với chúng tôi.
Tôi gửi thằng Minh đến nhà ông bà Mẹo rồi cùng chúng bạn đi xem. Đường đi cũng tương đối xa, phải đi qua một rặng nhãn và một bãi tha ma. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện trên đời để bớt sợ. Hạnh vẫn đi cạnh tôi, thỉnh thoảng Hạnh lại cười vì những câu chuyện vui mà tôi hoặc ai đó kể.
Khi chúng tôi đến sân đình, mọi người tập trung xem rất đông, khó tìm được chỗ chen chân. Tôi nắm tay Hạnh, cả hai tìm cách lách vào. Đang chen tìm chỗ như vậy, một người nắm tay tôi định lôi ra: “Đi đây thế này! Còn chỗ đâu mà vào?”. Mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, cả cái mùi... bùn của ai đó chưa rửa sạch, đặc quánh, bay thốc vào mũi. Tôi với Hạnh bị cái nóng hầm hập của hơi người làm ngột ngạt. Đã thế, lúc này, tôi và Hạnh hoàn toàn bị lạc với các bạn cùng đi. Hạnh cố dướn người nhìn lên phía sân khấu. Tôi cũng vậy. Cả hai chúng tôi chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy toàn... gáy với đầu người. Hạnh chán nản nói với tôi:
- Thắng ơi! Mình với bạn ra chỗ khác thôi, ở đây chẳng xem được!
Hai chúng tôi lại đi tìm chỗ khác. Ở đâu cũng thế, khó tìm được một vị trí tốt. May cho tôi và Hạnh, không hiểu sao, chỗ gần sân khấu, tự nhiên mọi người đứng dậy, nhốn nháo. Có tiếng người nào đó kêu lên: “Ối giời ôi! Đứa nào lại chơi cái trò quỷ này!”. Ai đó nghịch ngầm, lấy kim băng cài áo người nữ này với áo người nam kia. Có đến hai, ba đôi bị “dính”, mọi người phải đứng dậy gỡ kim. Tranh thủ lúc ấy còn chỗ trống, tôi kéo Hạnh đến ngồi sát sân khấu. Ở đây chúng tôi nhìn lên sân khấu tương đối rõ.
Trên sân khấu lúc này đang diễn tả một chiến sĩ cách mạng không may bị địch bắt, chúng đem anh ra xử tử. Đứng xung quanh anh là đông đảo quần chúng. Tôi nhìn thấy nét mặt của họ: đau khổ, uất hận, thương xót, căm thù... Chứ chả lẽ trước sự “hy sinh” của anh ấy, dù là trên sân khấu, lại... nhe răng ra cười? Tôi nghe thấy tiếng người diễn viên đóng vai thằng đội Pháp hô to: “Chuẩn bị! Bắn!”. Mấy người diễn viên đóng lính Pháp đứng cách “chiến sĩ cách mạng” độ ba mét giương súng lên. Một loạt tiếng súng nổ, người “chiến sĩ cách mạng” gục xuống. Không! Anh đứng thẳng dậy, giơ cánh tay bị xích ra trước mặt, ca liền một câu vọng cổ thật dài: “Không, không, chúng bay không bắn được ta, cũng không giết được ta, cái chết của ta sẽ là lời hiệu triệu chiến đấu, kêu gọi mọi người chống lại bè lũ xâm lăng, chống lại bè lũ tay sai thối nát. Các đồng chí ơi! Hãy coi cái chết của tôi là một lời nhắn nhủ mọi người đoàn kết, đồng tâm tiêu diệt kẻ thù cho đến ngày thắng lợi, cờ hồng tung bay trên khắp nước non. Cũng nhờ bà con nhắn vợ con tôi rằng, cho đến lúc chết tôi không có điều gì ân hận vì biết mình hy sinh cho sự tự do dân tộc, em hãy nuôi con khôn lớn tiếp bước con đường của... anh... đây...”. Tôi rất phục, phải nói hơi của anh diễn viên ấy dài thật. Anh đổ một câu dài như thế theo một làn điệu của ca cải lương dễ gần đến... mấy phút. Lúc này, lại một tràng súng nữa nổi lên. “Người chiến sĩ cách mạng” vẫn chưa chết. Anh hùng dũng ưỡn ngực tiến về phía “bọn lính” vừa “bắn” anh. “Bọn lính” vừa “bắn” anh hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Lúc đó, “người chiến sĩ cách mạng” mới ngã vào tay đồng bào. Mọi người nâng “xác” người “chiến sĩ cách mạng” lên cao, hô to: “Đả đảo quân khủng bố!”. Bên dưới người xem, xen lẫn tiếng vỗ tay có cả tiếng...cười.Tôi không biết họ cười vì cái gì...
Tôi với Hạnh mải xem thì tiếng kẻng báo động trên chòi gác ở ngọn cây gạo cạnh đấy gõ dồn dập, báo động có máy bay Mỹ. Đèn trên sân khấu tắt phụt. Tiếng loa nhắc nhở: “Đề nghị đồng bào đứng nguyên tại chỗ, không chạy lộn xộn làm lộ bí mật. Máy bay địch bay khỏi, chúng ta lại tiếp tục...”. Tiếng loa mới nhắc được có thế, một chiếc máy bay Mỹ, nó bay rất thấp lướt qua ngay trên đầu, tiếng rít đến rợn người như xé toác màng nhĩ, chẻ bóng đêm ra thành trăm mảnh. Xung quanh tôi, mọi người hoảng loạn thực sự, nháo nhào trong bóng đêm tìm chỗ núp. “Ầm”, cả tôi và Hạnh ngã bổ ngửa vì một bóng đen ngã đè lên mình. Người đó, không nhìn thấy mặt nhưng nghe miệng anh ta nói lắp bắp, ngay cạnh tôi:“ Chết mất... Lạy giời, máy bay ném bom vào chỗ khác, đừng ném trúng con...”. Tiếng máy bay Mỹ rợn óc đó xẹt qua rồi tất cả trở lại yên tĩnh. Tiếng kẻng báo yên trên cây gạo gõ lên, mọi người ai nấy về chỗ cũ để tiếp tục xem kịch. Đèn trên sân khấu bật sáng. Tôi ngỡ ngàng. Người lúc nãy nhảy ngã đè vào tôi và Hạnh không ai khác, chính là anh vừa đóng vai “chiến sĩ cách mạng” bị quân Pháp “xử tử”! Anh ấy nhìn tôi và Hạnh ngượng ngùng rồi trèo lên sân khấu, diễn lại đoạn kịch vừa rồi...
Tôi thấy không thích xem kịch như thế này nữa. Đang định nói với Hạnh, Hạnh lại kéo tay tôi:
- Ta về thôi Thắng ơi! Ở đây tớ sợ ăn bom lắm!
Đúng ý tôi. Cả tôi và Hạnh bỏ dở vở kịch, đi về. Thoát khỏi đám đông, thoát khỏi cả những mùi mồ hôi ngột ngạt, thoát cả cảnh phải nghếch cổ lên xem đến mỏi nhừ, ra đến đường trống, tôi với Hạnh thấy nhẹ cả người.
Trên cao, những ngôi sao lấp lánh, tỏa ánh sáng mờ mờ xuống mặt đất. Gió đồng nội thổi từng cơn, từng cơn mát dịu. Thích nhất là thỉnh thoảng, theo chiều gió, những sợi tóc dài của Hạnh lại bay vờn trước mặt tôi gây ra cảm giác buồn buồn, nhột nhột... Hai chúng tôi đi được một đoạn đường dài mà gần như không nói với nhau câu nào. Hạnh phá cái không khí im lặng đó, nói:
- Thắng kể với Hạnh chuyện gì đi chứ?
Tưởng trả lời thì dễ, thế mà tôi lại lúng túng:
- Hạnh bảo mình kể chuyện gì mới được chứ!
- Thì chuyện nào... Thắng cho là hay, kể đi!
Tôi bực mình vì trí nhớ của mình. Bao nhiêu chuyện anh Cường kể, thế mà giờ thì nó trốn tận ngóc ngách nào trong óc, không thể lôi ra được. Tôi đành thú nhận sự kém cỏi này của mình:
- Nói thật, mình chẳng có chuyện gì...
Hạnh cười:
- Sao Thắng lại nói thế, buồn cười thật đấy! Thế chẳng lẽ ở nhà Thắng chơi với em Minh lại không có chuyện gì nói sao?
Sự gợi ý của Hạnh thật tuyệt vời, chuyện gì chứ chuyện em Minh thì tôi có thể kể cả ngày không hết... tội của nó. Nào là cu cậu chuyên đi dép trái, đánh vào chân tưởng nó nhớ, thế mà một lúc, đi dép trái vẫn hoàn đi dép trái. Lại còn chuyện nó lấy nước đổ vào cái đài của các cô chú cơ quan mẹ, vì theo nó: “Người ta nói nhiều như thế là khát nước!”. Rồi còn chuyện nó lấy bàn chải đánh răng vạch mồm con chó nhà tôi để định đánh răng cho con chó, bị nó đớp cho một miếng... Hạnh nghe chuyện tôi kể, cười ngặt nghẽo rồi nói:
- Thắng kể chuyện em Minh gần giống chuyện Oanh kể chuyện đứa em con ông cậu nhà Oanh...
Tự nhiên tôi thấy tức thằng Oanh. Té ra, nó cũng đã đi chơi với Hạnh, thậm chí còn nói chuyện với Hạnh. Thế mà nó cứ leo lẻo:
- Con Hạnh... hôi nách bỏ mẹ, không thể ngồi gần được.
Thấy tôi tự nhiên im lặng, Hạnh ngạc nhiên:
- Thắng làm sao thế? Kể tiếp chuyện đi...
- Tớ không kể nữa. Mà chẳng có gì để kể nữa...
Hai chúng tôi lầm lũi bước đi, trong đầu tôi tự nhiên cứ ghen tức với thằng Oanh. Vì sao thế nhỉ? Tôi không lý giải được. Tôi cũng bực luôn với Hạnh. Như vậy, Hạnh đâu có chơi thân với tôi, đâu có coi tôi... coi tôi... là “bạn thân”. Thế thì... Tôi vượt lên đi trước Hạnh, không đi với Hạnh nữa. Hạnh thấy tôi đi nhanh quá, vội đuổi theo:
- Thắng ơi! Đợi Hạnh với, sao đi nhanh thế?
Hạnh đuổi sát theo tôi, cầm tay tôi, giữ lại:
- Mình chẳng hiểu thái độ của Thắng đấy! Đang nói chuyện vui như thế lại đùng đùng bỏ mình, đi lên trước...
Tôi vẫn không nguôi tức giận, toan giật tay để đi. Bỗng... Hạnh giật tay tôi, ra hiệu:
- Thắng nhìn kìa! Dưới gốc cây nhãn hình như... có người...
Tôi vội dừng lại, căng mắt ra nhìn. Đúng là dưới gốc cây nhãn to có người thật, không phải một người mà những... hai người. Họ làm cái trò gì thế nhỉ? Tôi ra hiệu cho Hạnh dừng lại để tôi bò đến. Hạnh lắc đầu:
- Đừng để mình ở đây, sợ lắm. Cho mình đi đến đó với!
Trước sự việc nghiêm trọng như thế này, tôi quên hết chuyện bực dọc, nói thì thầm:
- Không được, anh Cường chẳng nói, muốn bắt được kẻ thù phải bí mật, bất ngờ... Đi hai người, lộ mất. Hạnh cứ ngồi đây để mình mò đến xem chúng làm gì. Có gì, mình sẽ báo Hạnh sau.
Hạnh đành bằng lòng, ngồi thụp xuống. Tôi lò dò bò đến, cố làm thật nhẹ nhàng, không đánh động. Hai bóng đen dưới gốc cây nhãn hình như không biết, vẫn say sưa... ôm nhau. Tôi đã nghe tiếng họ thở, rồi cả tiếng người nói:
- Đừng... Đừng... Cường... Đừng... Liên xin Cường đấy... Liên xin Cường...
Tôi choáng váng. Tưởng ai, té ra anh Cường với chị Liên. Tôi vội quay đầu, chẳng hiểu vì sao lại chạy. Vấp phải hòn đất to, tôi ngã sấp nhưng vẫn còn tỉnh táo ngồi ngay dậy, kéo Hạnh phóng đi. Nghe thấy tiếng động, anh Cường với chị Liên buông ngay ra. Hình như hai người cũng bỏ chạy thì phải, nhưng ở hướng ngược với chúng tôi. Đến một chỗ dừng lại thở, Hạnh hỏi:
- Họ làm gì thế? Mà sao Thắng lại chạy?
Tôi không nói, vì còn phải thở. Tự nhiên Hạnh nhìn ra phía sau tôi kêu lên, sợ hãi:
- Thắng ơi, nhìn kìa, có phải ma không?
Theo hướng Hạnh chỉ rõ ràng tôi thấy có ba, bốn đốm lửa xanh lè bay lơ lửng giữa đám đất gần mấy cái mả. Hình như... nó đang nhằm hướng của tôi và Hạnh bay tới. Hết ngạc nhiên này lại đến nỗi sợ hãi khác. Quá hoảng hốt, tôi cầm tay Hạnh, hét tướng lên:
- Chạy!







Anh Cường có lệnh phải về ngay Ủy ban để khám nghĩa vụ quân sự. Đích thân anh Khanh xuống tận trại trao quyết định triệu tập anh Cường về khám nghĩa vụ quân sự. Anh Khanh nhìn anh Cường với ánh mắt đắc thắng.
- Đồng chí nhớ ngày, giờ trong giấy triệu tập này mà tập trung đúng giờ, không được viện bất cứ lý do gì để ở nhà. Không chấp hành giấy triệu tập này là chúng tôi sẽ kỷ luật nặng.
Anh Cường cầm giấy triệu tập, nét mặt bình tĩnh, nói một cách từ tốn:
- Anh yên tâm đi, tôi sẽ về khám nghĩa vụ đúng theo yêu cầu của giấy triệu tập này.
Anh Khanh còn làm một việc nữa, tôi không thể chấp nhận. Anh gọi tôi ra một chỗ hỏi nhỏ:
- Dạo này em có thấy anh Cường với chị Liên còn quan hệ thân thiết với nhau không?
Tôi bực mình:
- Chuyện đó thì anh đi hỏi hai người ấy chứ sao lại hỏi em?
- Là vì anh thấy chị Liên có vẻ thân với em.
- Chị Liên thân với em nhưng còn chuyện hai người quan hệ như thế nào, làm sao em biết được?
Anh Khanh có vẻ bực với tôi nhưng chẳng làm gì được vì tôi ở đây còn anh ấy ở Sơn Hà, không thể bắt tôi đi canh “gián điệp” như dạo nào.
Trước khi về lại Sơn Hà khám sức khỏe, anh Cường giao nhiệm vụ cho tôi và Hạnh:
- Hai em ở lại, quản lý trại giúp anh một thời gian. Tí nữa, Hạnh sang anh sẽ bàn giao sổ sách, tem phiếu, tiền... Các em bàn với chị nuôi, cố gắng chi tiêu thật tiết kiệm, nhưng cố gắng có đủ chất cho các bạn trong trại. Còn Thắng, em phải thay anh quản lý giờ giấc học hành, nghỉ ngơi, phải giữ bằng được nội quy của trại. Nhất là với Oanh, em là bạn thân của nó, nên khuyên bảo Oanh không nên nghịch những trò như vừa rồi, không hay...
Tôi ngạc nhiên:
- Chị Liên không ở lại với bọn em sao?
Anh Cường trả lời, giọng nhỏ hẳn lại:
- Chị ấy sẽ đi với anh về Sơn Hà rồi sẽ quay về đây với các em...
Tôi lờ mờ hiểu trong đầu việc chị ấy phải đi với anh Cường. Trong tôi lại hiện lên hình ảnh bố chia tay với mẹ đêm ấy, trước khi ông đi B, có nước mắt, có đầy nỗi buồn... và có cả nỗi sợ hãi không thể nói ra bằng lời.
Anh Cường hỏi tôi:
- Thế Thắng có thích anh đi bộ đội không?
Đi bộ đội đánh nhau ai chẳng thích, nhưng với điều kiện... mình không được chết như trong phim chiến đấu của Trung Quốc hồi ở Sơn Hà tôi hay xem ấy. Nghe tôi nói vậy, anh Cường lắc đầu:
- Làm gì có chuyện đó hả em? Đã đánh nhau là có người chết, người sống chứ!
Tôi, Hạnh và các bạn trong trại tiễn anh Cường về Sơn Hà trong tâm trạng thật buồn. Tôi biết chắc, họ gọi anh Cường về khám sức khỏe cho nó có hình thức thế thôi, chứ nhìn vóc dáng, chiều cao của anh và cả tác phong nhanh nhẹn của anh ấy nữa thì chắc chắn anh Cường sẽ đi bộ đội, cần gì phải khám. Thế là anh Cường phải bỏ học giữa chừng. Tôi tiếc cho anh. Anh Cường học giỏi toàn diện. Tôi có cảm giác không điều gì là anh không làm được. Đứa nào không giải được bài toán khó, lại đến anh. Anh Cường có lối diễn giải gọn, súc tích, dễ hiểu. Anh Cường còn học giỏi các môn xã hội. Cứ chiều chủ nhật, anh và chị Liên hay dẫn chúng tôi đi cắm trại ở ngoài trời. Anh giải thích cho chúng tôi về hiện tượng tự nhiên, những sự tích đền chùa gặp trên đường đi. Những buổi đi chơi như thế không bao giờ chán cả, ngược lại, chúng tôi còn thu được bao nhiêu điều bổ ích...
Chị Liên đi bên anh Cường, nét mặt trĩu nặng âu lo. Tôi nghe chị nói nhỏ điều gì đó, anh Cường lắc đầu: “Không được Liên ạ! Nếu khám đủ sức khỏe thì Cường phải đi thôi. Chẳng có cách gì qua mặt được họ đâu. Còn... như cách Liên nói, lại càng không được. Trốn ở đâu họ cũng có thể bắt được...”. Anh Cường thở dài: “Có người nói đi bộ đội chưa chắc đã bị bắn, bắn chưa chắc đã bị thương, bị thương chưa chắc đã chết...”. Nghe anh Cường nói vậy, chị Liên đấm nhẹ vào vai anh ấy:
- Liên cấm Cường nói gở. Chưa đi bộ đội mà nói đến từ “chết”, Liên nghe sờ sợ thế nào ấy...
Anh Cường, chị Liên đi rồi. Biết là anh, chị đi một thời gian ngắn rồi lại về, đợi giấy gọi nhập ngũ, thế mà tôi thấy nhiều nỗi lo. Thằng Oanh khoái ra mặt. Gặp tôi, nó tự nhận một việc mà chính tôi đang phân vân chưa biết phân công cho ai làm:
- Mày cho tao làm thủ kho, phân phối thực phẩm cho các chị nuôi nấu ăn đi...
Thấy ánh mắt ngạc nhiên của tôi, nó thuyết phục:
- Mày chưa tin tao chứ gì? Xin lỗi, hồi ở nhà, mẹ tao giao cho tao tem phiếu, tiền ăn cả tháng của cả nhà, thế mà có tháng, tao chi tiêu còn thừa tiền đấy. Mẹ tao bảo: “Thằng Oanh khá thật, lớn lên con của mẹ sẽ làm kế toán”.
Không biết nó nói thật hay nói láo nhưng đang thiếu người làm thủ kho mà có người tình nguyện nhận thì tốt quá còn gì. Tôi đồng ý cho Oanh nhận việc đó. Tôi chỉ dặn:
- Mày cứ căn cứ số lượng người ăn trong trại mà phân phối lượng thực phẩm trong ngày cho chị nuôi nấu ăn. Thừa thì không sao, còn thiếu thì mày hoàn toàn chịu trách nhiệm, bỏ túi tiền ra mà đền...
Oanh xoa xoa tay ra chiều hoan hỉ:
- Yên tâm đi, Oanh này phân phối thực phẩm thì cứ gọi là... ăn từ “tươi” đến “tươi”, từ “bổ” đến “bổ”, từ “khoái” đến “khoái”...
- Thôi đi! Đừng có bốc phét. Chưa làm mà nói, tao sợ bước không qua.
Tôi cũng phải giả vờ lên giọng người phụ trách quát vào mặt nó. Thằng Oanh không hề giận, còn cúi người bắt tay tôi một cách thành kính:
- Dạ... dạ... “Binh nhất” xin nghe lời “ Đại úy”! – Chắc nó lại nghĩ đến “chức vụ” mà anh Cường phong cho chúng tôi khi... đánh trận giả xưa kia.
Biết chuyện tôi phân công Oanh làm thủ kho, Hạnh có vẻ không bằng lòng:
- Thắng đã nghĩ kỹ chưa mà phân công Oanh làm việc này. Tính Oanh liều lắm, hết gạo, hết mì, hết cả thực phẩm là khổ cho chúng mình đấy.
Tôi trấn an:
- Thắng cũng biết thế, nhưng Oanh hứa rồi. Mình tin nó sẽ làm tốt. Với lại, có gì còn mình với các bạn cùng kiểm tra nữa mà.
Mấy ngày đầu, quả thật thức ăn có vẻ tươi hẳn lên. Ai cũng nhận thấy rau xào nhiều hẳn mỡ, bóng nhẫy. Cơm đã có tóp mỡ kho với dưa, điều chưa từng thấy ở trại này kể từ hồi đi sơ tán đến giờ. Lại nữa, buổi sáng những nắm mì ăn sáng có vẻ to hơn. Mấy chị nuôi nấu ăn có vẻ vui vì đồ ăn không phải đắn đo khi chia từng suất, cũng không phải khổ vì cái cảnh cuối bữa ăn mấy đứa tranh nhau miếng cơm cháy. Một chị khen thằng Oanh: “Trông cậu Oanh nghịch như thế nhưng cũng giỏi ra trò. Thực phẩm cậu ấy quản lý hôm nào chia cho chúng tôi cũng nhiều, nấu ăn đỡ vất vả”. Mấy đứa ở trại sau bữa ăn bắt tay Oanh có vẻ trịnh trọng:
- Mày làm khá lắm, hơn hẳn chị Liên làm...
Mũi thằng Oanh phập phồng. Thằng Phiến vốn chẳng ưa gì thằng Oanh, mấy bữa được ăn no, có lẽ phởn chí mà hứa với tôi cùng thằng Oanh:
- Tối nay mày có đi tắm ở giếng làng, tao thưởng cho mày với thằng Oanh tắm xà phòng Hoa Lan.
Ở nơi chúng tôi sơ tán, có cái giếng làng to bằng cái miệng ao, xung quanh người ta xây bờ thành bằng đá ong, có bậc lên xuống. Nếu đến đó lấy nước, thay việc thả gầu múc nước thì người dân ở đây họ cứ gánh cả đôi thùng trên vai, đi theo bậc lên xuống, cho chân xuống khỏa nước, rồi vục đôi thùng nước, gánh nước lên. Cũng không giải thích được, giếng xây bên cạnh, dù nước có trong veo, uống nước cũng không ngon bằng giếng làng. Có lần, tôi đã chứng kiến một chị vừa đi làm đồng về, chân còn dính phân chuồng, dính cả bùn nữa, chị chẳng thèm rửa, cứ thế lội xuống giếng múc nước gánh về nấu ăn. Thế mà cơm ăn vẫn cứ ngon như thường, chẳng thấy ai bị đau bụng, kể cũng lạ. Lại nữa, nước ở giếng làng cũng mát hơn vì không phải một lần chúng tôi tắm ở đó...
Tất nhiên vì là giếng nước ăn, dân làng cấm tiệt tắm rửa cạnh giếng, còn vùng vẫy trong giếng thì lại càng nghiêm cấm. Nhưng với chúng tôi, nước mát thì phải vùng vẫy trong đó mới thích. Đã đôi lần, vào những đêm hè, lợi dụng lúc vắng người gánh nước, chúng tôi nhảy tùm xuống, ướt hết quần áo, khoái vô cùng. Còn lần này, thằng Phiến cho xà phòng Hoa Lan thì nhất định phải tắm một trận cho đã.
Buổi tối, khi mọi người đi gánh nước ở giếng làng đã vãn, thằng Oanh đến gọi tôi;
- Mày với tao đến rủ thằng Phiến ra giếng làng tắm, nó hứa cho xà phòng Hoa Lan lúc trưa, nhớ không?
Tất nhiên tôi quên thế nào được. Tôi với Oanh đến gặp Phiến. Phiến biết mình bị hớ khi hứa với chúng tôi là cho xà phòng Hoa Lan. Nó vốn là thằng “đại kiết lỵ”, chưa ai lấy được của nó một xu, thế mà lần này phải cho chúng tôi bôi lên đầu xà phòng Hoa Lan, một loại xà phòng mà trước đây tôi và Oanh chỉ mới sờ với ngửi chứ chưa bao giờ được bôi, chắc cu cậu cũng tiếc lắm. Nhưng biết thế nào được, vì đã hứa rồi. Thằng Phiến vào đầu giường mở hòm sắt ra, lấy bánh xà phòng Hoa Lan được bọc kỹ càng bằng mấy lớp giấy báo. Nhìn trước nhìn sau thấy không có ai, Phiến lấy nước bọt nhổ vào lòng bàn tay rồi nó xoa lên đầu từng thằng một. Tiếp đến, nó lấy miếng xà phòng xát mạnh lên đầu từng đứa. Sau đó, nó lấy giấy báo gói lại miếng xà phòng, cất vào hòm sắt. Nó giải thích:
- Phải tiết kiệm, chúng mày biết không? Mang bánh xà phòng này ra giếng, bọn trong trại biết, chúng nó ùa ra xin tao để bôi lên đầu thì... chỉ một lúc là hết. Tao dùng miếng xà phòng này gần hai tháng rồi đấy, mà gần như... còn nguyên.
Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao mấy lần trước cùng tắm với Phiến, quái lạ, rõ ràng thấy nó đổ nước lên vò đầu, mùi xà phòng bay ra thơm lừng mà để ý thì không thấy Phiến mang xà phòng. Xin Phiến, Phiến trả lời không có! Cả bọn đi tìm, không thấy. Bây giờ tôi mới hiểu cái kiểu bôi xà phòng của thằng Phiến “kiết lỵ” này. Chả trách thằng Oanh ghét nó cũng... đúng thôi!
Cả bọn ra giếng làng. Trăng cuối mùa chênh chếch đầu ngọn tre. Tiết cuối hè, đầu thu, trời lành lạnh. Trong làng, mọi vật yên tĩnh, thỉnh thoảng đâu đó có tiếng chó sủa khan, không gay gắt... Giờ này, bọn tôi yên tâm không có ai ra gánh nước, và thế là...
Đầu tiên, thằng Oanh cởi quần áo, tồng ngồng lội xuống trước. Sau đó đến tôi và thằng Phiến. Nghĩ thế nào, thằng Phiến trèo lên lấy đống áo quần của cả bọn bỏ xuống cạnh chỗ tắm. Nó giải thích: “Không tin được bọn ở đây đâu. Biết đâu thấy bọn mình tắm như thế này, chúng lên đến lấy hết quần áo, thì chỉ có nước... cởi truồng mà đi về”. Thằng này lúc nào cũng chi li từng tí một. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ, thì nó nói cũng có lý, cẩn thận chẳng bao giờ thừa cả.
Chúng tôi đứng trên bậc đá ong, khỏa nước cho đám bèo tây dạt ra. Ánh trăng rọi xuống nước sóng sánh, mát lạnh. Chúng tôi vốc nước lên đầu rồi lấy tay vò tóc, mùi xà phòng bay ra, bọt xà phòng nở ra, một lúc đã thấy trắng cả đầu. Thế này thì đầu của bọn tôi cứ gọi là... sạch nhất trại. Thằng Oanh nói với tôi:
- Tắm vừa thôi, để còn... mùi xà phòng, chứng tỏ là mình là người “ Văn minh”.
Tôi cười:
- Mày nói thế mà cũng gọi là thằng biết tắm xà phòng. Mày nghe tao giải thích đây này. Trên người còn mùi xà phòng tức là mày tắm chưa sạch, còn bẩn, không “ Văn minh”. Hiểu chưa “con”?
Oanh vẫn không chịu:
- Mày nói thế mà cũng nghe được à? Mùi xà phòng là mùi tinh dầu, họ dùng để cho xà phòng thơm chứ đâu phải hết mùi đó mới gọi là tắm sạch?Mày nói...ngu bỏ mẹ!
- Mày ngu thì có!
- Mày ngu.
Chỉ có thế thôi mà hai đứa chúng tôi cãi nhau. Thằng Phiến đứng cạnh, kệ chúng tôi cãi nhau, vẫn mải tắm. Còn hai chúng tôi vẫn hăng tiết “mày ngu”, “tao khôn”. Bỗng... cả hai thằng, tôi và Oanh đều ngưng lại cuộc cãi nhau bởi... có tiếng một bà già:
- Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Phiến sợ quá, nói run run:
- Chết rồi chúng mày ơi! Có người!
Làm sao bây giờ khi cả ba chúng tôi đều đang ở cái thế lên bờ là lộ. Trên bờ, giọng bà già càng gay gắt:
- Quái lạ, tại sao tôi hỏi không ai trả lời thế? Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Oanh ra hiệu cho chúng tôi không được nói, nó nói nhỏ:
- Chúng mày phải nghe lời tao, làm đúng như tao chỉ mới thoát được. Chứ để bà ấy hô hoán, mọi người kéo ra đây là chúng mình chết.
Oanh lấy bèo tây phủ lên đầu cả ba thằng, rễ bèo tây trùm kín mặt, trông cứ như... ma. Thế là “của thiên lại trả địa”, cái đầu vừa đấy sạch bong, thơm lừng mùi xà phòng Hoa Lan, bây giờ lại... tanh om mùi bèo tây. Phủ bèo lên đầu xong, thằng Oanh lấy đống quần áo, bắt thằng Phiến ôm trước ngực. Oanh ra hiệu cho tôi cùng nó khiêng thằng Phiến lên. Phía bên trên, tiếng bà già lẩm bẩm:
- Vừa mới nghe thấy ì oạp ở phía dưới như hai người nói chuyện, giờ sao lại im ắng thế - Tiếng bà già lại vọng xuống – Có ai ở dưới đấy không nhẩy?
Tất cả vẫn im lặng. Bà già xách một cái thùng tôn định lò dò bước xuống thì trước mặt bà một “con ma” đi bốn chân, có ba đầu, tóc tai rũ rượi, cởi truồng nồng nỗng từ dưới giếng bước lên. Cứ nhằm phía bà già, “con ma” thẳng tiến. Bà già quá sợ, ú ớ không thốt nên lời, hoảng hồn ngã lăn ra đất. Rồi bà ngồi bật ngay dậy, quỳ xuống lạy “con ma” như tế sao:
- Lạy thánh Cầu Đông, lạy ông Cầu Gõ, lạy mõ Chùa Hà, lạy bà Đồng Đậu, lạy cậu Vân Gia, phù hộ cho con, ma đừng có bắt, ơn trên độ trì, nam mô di đà...
Thằng Oanh với tôi đang khiêng thằng Phiến, thấy bà già lạy như vậy, buồn cười quá mà cố mím môi, không dám cười. Đi qua bà già một đoạn, tôi và Oanh thả oạch thằng Phiến xuống đất. Phiến la oai oái. Tôi với Oanh mặc kệ nó, ù té chạy...
Thoát nạn, cả bọn hoàn hồn.
... Mấy ngày sau, bữa ăn của chúng tôi, hôm thì có cá rô rán, hôm thì có ốc om chuối, hôm lại có cá diếc kho tương... Chuyện này cả trại chưa bao giờ nghĩ tới. Phải nói sự thông minh của thằng Oanh “phát tiết” dữ thật. Sau chuyện “sáng kiến” giả ma ở giếng làng, đến chính thằng Phiến cũng phải nói:
- Tao nghĩ lại chuyện đó cũng thấy sợ toát mồ hôi hột huống hồ bà già. Không có thằng Oanh nghĩ ra chuyện đó, chẳng biết làm thế nào để thoát.
Bây giớ đến chuyện Oanh lo thực phẩm cho cả trại. Tôi và Hạnh rất ngạc nhiên Oanh lấy đâu ra tiền mà mua lắm thứ thế? Hỏi nó, nó cứ ầm ừ cho qua chuyện:
- Chuyện vặt, chúng mày để ý làm gì? Cứ có cá kho tương, ốc om chuối... ăn được nhiều cơm là được rồi – Nó còn lên giọng ông kễnh – Đừng tò mò nhiều quá, tò mò là không tốt đâu.
- Mày đừng có đi ăn cắp đấy nhé! Chỉ một lần thôi đấy, lần này mà tái phạm, anh Cường và chị Liên về biết được là không tha đâu.
Oanh lấy tay chỉ vào mặt mình;
- Đừng “bỉ” tao nhá! Tao hiểu vấn đề chứ, dại gì làm chuyện đó? Tao chỉ muốn chứng minh một điều là bọn mình lớn cả rồi, có thể lo được mọi chuyện thế thôi.
Nó nói thì đơn giản, nhưng chúng tôi muốn tìm ra sự thật. Nước da nó mấy hôm nay trông có vẻ đen hơn, lại còn chuyện nghỉ học vì lý do “mệt”. Thực ra nó có mệt gì đâu. Tôi truy mãi, rồi Oanh cũng phải thú nhận:
- Tao nghĩ rồi, đến hai ba tháng nay, cả trại chúng mình có bao giờ được ăn bữa cơm no, được ăn bữa rau xào nào có tóp mỡ. Tranh thủ chị Liên, anh Cường đi vắng, tao cho cả trại ăn thả dàn vài bữa. Còn sau đó, mày biết tao làm thế nào không? Tao lấy lý do “mệt” nghỉ học rồi đi tát cá. Còn nữa, giữa trưa, tao nghĩ ra cách mang rổ đến mấy đám bèo tây trong mấy cái ao, hứng ở dưới, lấy gậy đập ở trên. Nước nóng, lũ cua đang bám vào rễ bèo rơi vào rổ. Đấy, chăm chỉ một tí cả trại có cái ăn thôi.
Nghe Oanh nói, chúng tôi rất thương nó. Thì ra trong con người của nó vẫn ẩn chứa những tình thương đồng loại mà trước đây tôi không phát hiện ra. Tính cách của thằng Oanh cũng có mặt xấu, nhưng cũng có mặt tốt. Nó không phải là một đứa chỉ nghĩ ra những trò nghịch ngợm hay ăn cắp vặt. Nếu biết động viên, tin tưởng Oanh, Oanh sẽ làm được nhiều việc tốt. Tuy thế tôi lại nghĩ, Oanh có thể làm một, hai ngày thì được, chứ làm sao như vậy cả tuần. Tôi nói với nó:
- Tất nhiên việc mày làm là tốt, nhưng một mình mày làm sẽ ảnh hưởng đến việc học và sức khỏe của mày, rồi chúng tao lại mang tiếng là ăn bám vào mày. Thế này nhé, từ giờ trở đi, đi tát cá hoặc vớt cua bám bèo, mày gọi chúng tao đi cùng, cùng làm với mày, hay hơn...
Từ hôm đó, bà con trong xóm không khỏi ngạc nhiên thấy đám trẻ thành phố về sơ tán cứ trưa trưa lại cắp rổ đến các ao bèo giũ cua bám rễ bèo hoặc chiều chiều lại ra mấy chỗ ruộng xâm xấp nước tát cá. Họ thán phục;
- Con trai thành phố mà chăm không khác mấy đứa trẻ ở nông thôn.
Chúng tôi vui với lời khen đó, mà vui nhất là thằng Oanh.






4

Anh Cường đi bộ đội đã được hai tháng. Nghe đâu ânh cùng đơn vị huấn luyện ở tận Hải Dương, chuẩn bị vào chiến trường ở miền nam. Mới đó tôi và mẹ tiễn bố vào chiến trường cũng hơn hai năm rồi. Bố vào chiến trường, nói sẽ gửi thư ra, mà gia đình tôi cũng chẳng thấy tin tức gì? Em Minh thỉnh thoảng lại nhớ bố, nó hay hỏi mẹ:“ Mẹ ơi! Bố đi bao giờ về ? Con nhớ bố lắm.”. Mẹ ôm thằng Minh vào lòng, nước mắt chảy dài. Thương nhất có lúc mẹ nói: “ Lạy giời! Bố của hai con đừng chết, về với gia đình mình, có que, cụt, mù mắt... khổ mấy mẹ cũng nuôi được.”. Với chị Liên, từ ngày anh Cường lên đường đi bộ đội, nét mặt của chị trông ưu tư hẳn. Chúng tôi không còn nghe thấy tiếng cười hồn nhiên vô tư của chị như hồi anh Cường còn ở nhà. Không phải chỉ riêng tôi mà tất cả bọn trẻ của trại sơ tán Liên Cơ đều biết chị Liên và anh Cường chơi thân với nhau. Mọi việc ở trại hai người đều trao đổi với nhau, đi đâu cũng có hai người. Tôi còn có cảm giác hai người yêu nhau nữa kia. Không phải vì chuyện tôi và Hạnh bắt gặp hai người hôm đi xem cải lương về mà tình cảm của chị Liên dành cho anh Cường khác với mọi người. Khi anh Cường đi khám nghĩa vụ quân sự, chị Liên đi cùng anh ấy về Sơn Hà trong tâm trạng thấp thỏm. Những ngày chờ quyết định của thị đội, nét mặt chị Liên rất buồn, anh Cường cứ phải động viên suốt. Rồi đến ngày anh Cường lên đường, đó là ngày nặng nề của chị. Trông nét mặt chị Liên già hẳn. Anh Cường nhập ngũ, mọi việc ở trại dồn lên hai vai chị. Trừ những buổi đi học, thời gian còn lại chị Liên lo cho chúng tôi , từ chuyện đi mua gạo, thực phẩm đến chuyện học hành, ốm đau...của từng đứa. Thương chị, tôi và Hạnh cũng cố giúp chị. Thằng Oanh cũng bớt nghịch, nó hiểu mọi việc hơn, có ý thức những việc làm của mình.
Còn chuyện tôi với Hạnh.
Không hiểu sao, lúc nào tôi cũng muốn giúp Hạnh, để hai đứa được gần nhau. Hôm tôi thấy Hạnh chuẩn bị rổ rá đi vớt bèo cho lợn hộ bà chủ nhà, tôi vội sốt sắng bỏ tất cả để cùng đi với Hạnh. Hạnh rất ngạc nhiên:
- Sao Thắng không ở nhà học bài? Đi nhặt bèo với Hạnh bẩn lắm.
- Thắng học bài xong rồi! Để Thắng giúp Hạnh nhặt bèo cho nhanh – Tôi chỉ trả lời có vậy, rồi sợ Hạnh không đồng ý, tôi giằng lấy cái rổ trên tay Hạnh, kéo Hạnh cùng đi với mình. Cái ruộng bèo cạnh rìa làng cạn nước, bèo nằm phơi trên mặt bùn. Chân tôi và chân của Hạnh lồi bì bõm. Có chỗ bùn nhão, lún đến tận trên bắp chân. Đưa tay cho Hạnh nắm, tôi cố sức kéo Hạnh lên. Quá đà, chỉ một chút nữa là Hạnh ngã cả người vào người của tôi. Chỉ có thế thôi, mà sao tôi có cảm giác vui vui. Mặt trời lên cao, rổ bèo cũng gần đầy, mồ hôi hai đứa nhễ nhại, không biết lúc đó nét mặt của tôi ra sao ? Còn Hạnh, một khuôn mặt đỏ hồng với ánh mắt long lanh. Tôi nhìn Hạnh chăm chú, Hạnh có vẻ ngượng:
- Thắng đừng nhìn Hạnh như thế nữa, trông chán lắm. Cứ y như hôm Hạnh ngồi trong lớp bị Thắng nhìn ấy...
Ở lớp, Hạnh ngồi gần bàn cuối, còn tôi ngồi ở phía trên, cách bàn của Hạnh mấy dãy. Không hiểu sao, hôm ấy tôi đứng lên, quay xuống phía dưới, bắt gặp khuôn mặt của Hạnh, nhất là ánh mắt, cái ánh mắt như hút hồn, như không cho tôi quay mặt sang hướng khác. Thấy tôi nhìn chăm chăm vào mình, Hạnh buồn cười quá, nhắc tôi:
- Thắng ơi! Ngồi xuống đi...
Tôi giật mình, ngồi xuống, ngượng ngùng.
Bây giờ Hạnh nhắc lại chuyện này. Hôm đó đúng là tôi ngượng, còn hôm nay tôi mạnh mồm:
- Thắng thích thế đấy, Hạnh cấm à !
Hạnh lấy tay đấm khẽ vào lưng tôi:
- Thắng đừng nhìn như thế, Hạnh không thích đâu.
Tôi hỏi Hạnh:
- Hạnh có thích Thắng làm giúp không ?
Hạnh cười, nhìn tôi với ánh mắt rất lạ:
- Không hiểu sao Thắng hỏi Hạnh câu ấy nhỉ? Với lại ...- Hạnh quay mặt đi chỗ khác – Mọi việc Hạnh đều tự làm được. Lúc nào khó, Hạnh sẽ nhờ Thắng. Ở trại, Hạnh thấy Thắng còn bận bao nhiêu việc giúp chị Liên.
Nghe Hạnh nói như vậy, máu tự ái trong người tôi nổi dậy. À ! Nói như thế hả, đây cũng cóc cần. Cũng đừng tưởng đấy là cái gì ghê gớm. Bình thường thôi!Người ta “ quý” mới đến giúp. Còn không cần, đây cũng chẳng dại cầu xin.
Nghĩ như vây, tôi đùng đùng bỏ về, mặc cho chân lội bùn thụt lên, thụt xuống. Bùn bắn lên đến tận mặt, tôi cũng mặc kệ. Hạnh thấy tôi không nói, không rằng tự nhiên bỏ về, gọi với theo:
- Ơ! Thắng ơi, giúp Hạnh bê rổ bèo này về với.
Tôi như không nghe thấy, cứ thế bỏ đi thẳng.
Về nhà, bình tâm, ngồi nghĩ lại, thấy suy nghĩ và hành động của mình cũng vô lý. Hạnh nói thế cũng là bình thường , nào ý gì khinh mình đâu. Hơn nữa, Hạnh nói đúng quá rồi còn gì. Thì cũng giống mình, khi nào có những việc không thể một mình làm được mới đi nhờ người khác. Như hôm nọ, áo tôi bục một đường chỉ, thực ra tôi còn xé ...cho đường chỉ bục to hơn, không khâu được. Tôi mang chiếc áo bị bục đường chỉ đó đến nhờ Hạnh khâu hộ. Hạnh khâu lại cho tôi rất cẩn thận, đâu có từ nan. Mọi chuyện Hạnh nói đúng, đơn giản, có lý tôi lại biến nó thành “ phức tạp”, đi tự ái, quả là vô lý. Tôi phải đến xin lỗi Hạnh.
Tôi đi tìm Hạnh, nghe mấy bạn trong trại nói, Hạnh đã bê rổ bèo về đến nhà rồi. Tôi vội sang đó, trong đầu hình thành những câu nói sao cho nó có tình, có lý nhất để Hạnh hiểu, tha lỗi cho tôi. Cũng coi như đây là một lần để tôi rút kinh nghiệm. Nghĩ trong đầu như thế, nhưng đến ngõ nhà mà Hạnh đang ở, cái gì đập vào mắt tôi thế kia? Thằng Oanh đang ngồi cùng Hạnh thái bèo. Nó với Hạnh nói chuyện gì mà trông có vẻ rôm rả lắm, Hạnh cười ngất. Tôi nép vào bên cống quan sát thấy hết tất cả. Trong người tôi lúc ấy, sự tức giận dâng lên không thể tưởng. Hạnh phải là của tôi, Hạnh không được nói chuyện với bất kỳ ai khác, ngoài tôi. Tại sao Hạnh có thể cợt nhả với thằng Oanh được nhỉ? Chính Hạnh cũng từng có lần khuyên tôi không nên chơi thân quá mức với Oanh, vì tính Oanh còn trẻ con lắm. Hạnh nói với tôi như thế, sao giờ đây Hạnh lại có thể ngồi nói chuyện được với Oanh? Còn chuyện gì thế kia nữa? Thằng Oanh thái bèo bị dao cứa đứt tay. Ối giời! Chảy có tý máu mà làm ra vẻ! Thằng Oanh ôm ngón tay, nét mặt nhăn nhó. Nét mặt lo lắng, Hạnh chạy vội vào trong nhà lấy cái bát điếu của ông chủ nhà quay ra ngay, lẫy bã thuốc lào đắp vào chỗ Oanh bị đứt tay. Trông Hạnh và Oanh có vẻ tình tứ. Thế kia thì...thôi, thế là Hạnh đã phản bội tôi, không còn chơi thân với tôi nữa. Những suy nghĩ ban đầu của tôi về Hạnh đâu có sai. Tôi phải dạy cho Hạnh và cả thằng Oanh nữa một bài học. Đang cùng sôi sục với những suy nghĩ đó, bàn tay tôi bám vào thành cổng bóp vụn những mảng tường vôi bở. Ông chủ nhà dắt con bò đến gần lúc nào mà tôi không hay:
- Cháu làm gì ở đây? Sao không vào nhà?
Tiếng của ông chủ nhà hỏi làm tôi giật mình:
- Không ạ! Cháu...cháu... chờ bạn...
Tôi tìm cách chống chế, rồi không kịp chào ông ấy, tôi quay đầu đi thẳng.
Cả mấy hôm liền, tôi học bài không vào. Thằng Oanh có hỏi, tôi cũng không muốn trả lời. Hạnh lo lắng cho tôi:
- Thắng ốm à?
Tôi im lặng, có cảm giác tủi thân, nhưng tôi cố kìm không muốn thể hiện ra bên ngoài. Sau buổi học, tôi hay tha thẩn dọc bờ mương với một nỗi buồn không thể giải thích được.
Tôi gặp chị Liên, mong ở chị một lời khuyên và hy vọng, biết đâu lại giải tỏa nỗi buồn.
Đêm ấy, trăng sáng lắm. Trăng thu hắt một ánh sáng vàng nhẹ khắp cả cánh đồng. Tôi và chị Liên ngồi trên một vệ cỏ nhìn ra xa. Phía ấy, có ánh chớp liên hồi, sau đó có tiếng nổ ì ầm, rồi tiếng máy bay văng vẳng... Nơi ấy đang bị máy bay Mỹ ném bom. Không biết bao giờ chiến tranh mới chấm dứt. Nỗi buồn này liên tiếp với nỗi buồn khác. Chị Liên hỏi tôi:
- Nào, em có điều gì muốn tâm sự với chị?
Tôi thấy lúng túng thật sự. Chị Liên giục:
- Nói đi em!
Tôi hỏi chị Liên:
- Chị Liên ơi, thế nào là... tình yêu?
Chị Liên hỏi lại tôi:
- Tại sao em lại hỏi chị câu ấy? Năm nay Thắng bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?
- Em mười sáu.
Chị Liên im lặng. Tôi cũng không hiểu chị hỏi tuổi của mình để làm gì. Chị Liên thở dài, tiếng thở dài như nuối tiếc, rồi chị bảo:
- Bằng tuổi của em, chị với anh Cường cùng các em đi sơ tán. Mới đó đã hơn hai năm rồi. Nhưng hồi đó, chị và anh Cường cũng chỉ chơi với nhau thôi, chứ không phải yêu...
- Nhưng em muốn hỏi chị thế nào là tình yêu cơ mà...
- Tình yêu... – Chị Liên nói gần như thì thầm – Có lẽ với tuổi em cũng là hơi sớm, cả với tuổi của chị nữa, có khi chị cũng chưa hiểu hết hai từ đó đâu. Nhưng... tình yêu là... hai người phải thực sự thương nhau, hiểu nhau, không giấu nhau một điều gì cả và đặc biệt đi xa phải nhớ nhau... Nó như thế này, cũng một tối giống như đêm nay, em ngồi cạnh chị, có khác tối ấy là anh Cường. Anh Cường nói với chị nhiều điều lắm. Đến bây giờ chị nhớ như in, thậm chí, chị có cảm giác... hơi ấm của bàn tay anh Cường tối ấy nắm tay chị vẫn còn ấm đến tận giờ. Nhớ ghê gớm như thế. Chị tin anh Cường cũng rất nhớ chị... – Chị Liên nhìn vào tôi – Em có nhớ người ta không?
- Em cũng không hiểu nữa, vì em có xa người ta đâu? Nhưng... – Tôi cố gắng diễn giải – Em chơi thân với người đó, người đó nói chuyện với em vui lắm. Thế sao người ấy cũng lại chơi thân với người khác... giống như chơi thân với em?
Chị Liên giải thích:
- Đó không phải là yêu, em ạ. Mà tại sao em lại cấm người ta chơi thân với người khác cơ chứ? Em nói là mới “chơi thân”, thế người ta đã là gì của em đâu. Hơn nữa, đến khi đã yêu, theo chị nghĩ, cũng không thể nào bắt người kia phải lệ thuộc vào mình, không được chơi với ai. Như vậy là ích kỷ.
- Nhưng... – Tôi cố gắng bảo vệ ý kiến của mình – đã chơi thân với em lại chơi thân với người khác nữa, thế không phải là...là... là bạn tốt...
- Em nhầm, em nghĩ về tình bạn như vậy đã sai, tình yêu lại càng sai. Thôi em ạ, bao giờ em lớn em sẽ hiểu. Tuổi em bây giờ là phải học thật tốt. À, chị hỏi em, bạn thân của em là... ai vậy?
Tôi không nói. Tôi sợ nói cho chị Liên, Hạnh biết được sẽ giận tôi. Chị Liên thấy tôi có vẻ khó xử, xoa đầu tôi:
- Thôi, cậu bé ạ! Cậu còn trẻ con lắm, chưa đến tuổi yêu đâu. Nói thật nhé, tôi cũng biết bạn thân của cậu là ai rồi... Đứng dậy về đi, sương rơi nhiều quá, ở đây lạnh đấy. Em nhớ phải học giỏi đã, đừng yêu sớm như chị, khổ lắm.
Hai chị em tôi trở về trại.
Trong trại còn đôi ba đứa chụm đầu vào nhau học dưới ánh đèn dầu leo lét. Thằng Oanh nằm cạnh giường tôi ngủ vùi. Tôi biết chắc nó ngủ say bởi chiều nay đội bóng của trại đá với đội bóng trong làng, Oanh là thằng tiền đạo, nó chạy nhiều nhất. Mà hình như Oanh cũng chẳng để ý đến nỗi buồn của tôi. Nó hỏi, tôi không nói, nó vẫn vô tư, không để ý, không giận, vẫn chơi với Hạnh, vẫn đá bóng, thỉnh thoảng lại nói đứa này hôi nách, đứa kia thối mồm, đứa nọ đầu đầy chấy, trong đó có cả Hạnh. Khiếp bỏ mẹ! Ấy vậy mà tôi lại túc với Oanh khi nó chơi với Hạnh. Kể cũng ...vô lý to đùng đùng!
Tôi đi qua chỗ Hạnh thường ngồi học, ngạc nhiên không thấy Hạnh ở đó. Tất nhiên tôi biết rất rõ lúc này Hạnh không đi nói chuyện với Oanh rồi. Vậy Hạnh đi đâu? Tự nhiên tôi muốn đi tìm để nói chuyện với Hạnh. Khi tức giận, rất dễ mất bình tĩnh, lúc ấy mọi lỗi lầm tôi cứ nghĩ chỉ do Hạnh, lúc bình tĩnh trở lại mới thấy lỗi đó lại do mình. Không biết chuyện này có ai giống tôi không ? Đi khỏi trại một đoạn, trên con đường làng thưa vắng bóng người, chỉ có đom đóm bay lập lòe trước mặt lúc xa, lúc gần và vài cơn gió lạnh thổi từng đợt, từng đợt. Bỗng tôi thấy một bóng đen đi ngược chiều với mình, dáng rất vội vã. Nhìn kỹ, hóa ra là Hạnh. Tôi chưa kịp hỏi, Hạnh đã hỏi luôn:
- Thắng phải không ? Thắng có thấy chị Liên ở đâu không?
Mọi chuyện định nói chuyện với Hạnh tan biến. Mà hình như Hạnh cũng không để ý đến chuyện giận dỗi của tôi thì phải. Tôi trả lời với Hạnh trong tâm trạng hoàn toàn thỏa mái:
- Chị Liên vừa ngồi nói chuyện với Thắng xong. Hình như chị ghé lại chỗ mấy chị nuôi...
- Thắng đi với mình, có chuyện gấp lắm! – Hạnh kéo tay tôi đi, vừa đi vừa nói có vẻ chuyện đang xảy ra rất trầm trọng- Chuyện này chỉ có thể nói với Thắng thôi...
- Sao Hạnh không nói chuyện đó với Oanh? – Tôi vẫn chưa nguôi chuyện cũ.
-Tính Oanh bộp chộp lắm, không giữ được bí mật đâu. Hạnh chỉ tin Thắng thôi – Hạnh giải thích cho tôi.
Tôi nghe Hạnh trả lời như vậy, thở ra một cách nhẹ nhõm. Thấy mọi việc trở nên dễ dàng biết bao nhiêu. Mọi chuyện đã rõ ràng, sao tôi cứ tự hành hạ mình, nghĩ Hạnh thế này, thế nọ. Lúc này Hạnh có rủ tôi đi lên trời tôi cũng cũng đi. Tôi hỏi Hạnh:
- Có việc gì mà gấp thế ? Hạnh nói cho Thắng biết đi.
Cả hai chúng tôi dừng lai. Hạnh nói thì thầm :
- Anh Cường trốn đơn vị về thăm trại mình và...chị Liên. Mình đi tìm chị Liên suốt từ tối đến giờ.
- Anh Cường đào ngũ! – Tôi sửng sốt.
Hạnh vội lấy tay bịt miệng tôi lại:
- Sao Thắng nói to thế. Không phải anh Cường đào ngũ mà là, như anh ấy nói ...nhớ chúng mình ...nhớ chị Liên quá...Anh ấy về thăm ít hôm rồi sẽ quay về lại đơn vị...
- Sao anh Cường không xin phép đơn vị mà phải trốn? – Tôi vẫn thắc măc.
- Hôm nay Hạnh thấy Thắng thật lạ, hỏi lắm thế ? Làm sao chuyện đó Hạnh biết được? Nhưng có lẽ anh ấy xin về ...thăm chúng mình mà họ... không cho, nên anh tìm cách trốn...
Hạnh dẫn tôi đến gặp anh Cường, anh ấy đang ngồi thu lu trong góc sân đình làng. Đình làng này ban ngày vốn là lớp học của chúng tôi. Anh Cường gặp tôi mừng lắm, còn tôi khỏi phải nói, cứ muốn ôm rít lấy anh. Mới có hơn một tháng xa anh Cường, mà sao tôi thấy lâu là vậy. Tôi nói với anh Cường, anh cứ ngồi đây, để tôi đi tìm chị Liên, còn Hạnh sẽ đi tìm cái ăn cho anh ấy.Anh Cường cho chúng tôi biết, anh phải đi bộ từ ba giờ sáng, mà đi toàn đường tắt, không dám đi đường lớn sợ bị bắt. Từ sáng đến giờ chưa có cái gì vào bụng, trừ mấy củ khoai lang non anh móc ở ruộng, uống vội mấy ngụm nước lã. Nghe anh Cường nói vậy, tôi thương quá. Không biết sau này mình đi bộ đội, rồi cũng yêu, có dám làm như anh Cường không ?
Tôi tìm được chị Liên, bí mật báo tin này cho chị biết. Khỏi phải nói chị Liên mừng đến độ nào. Trên con đường làng lồi thụt lỗ chân trâu ấy, tôi chạy đôi khi còn vấp ngã mà chị Liên chạy, thật lạ, chẳng vấp ngã gì cả, cứ như bay thì đúng hơn...
Khi chị Liên gặp anh Cường, Hạnh kéo tay tôi ra hiệu đi ra ngoài để cho hai người nói chuyện tự nhiên. Hạnh nhắc khéo tôi:
- Thắng chẳng tế nhị một chút nào. Bây giờ không phải như hai đứa mình đi xem cải lương về gặp hai người đâu.
Tôi cười trừ, nhận lỗi, đi theo Hạnh. Phải công nhận những chuyện như thế này bao giờ con gái cũng xử lý khéo hơn con trai. Hạnh cho tôi biết:
- Hạnh đến bác chủ nhà mà hồi trước anh Cường ở cho bác biết là anh Cường đã về. Thế là bác gái cùng mình bê cả nồi cơm và mang cả bát cá rô kho tương ra cho anh Cường. Cả gia đình bác ấy thương anh Cường ghê.
Nghe Hạnh nói vậy, tôi giật mình:
- Sao Hạnh làm thế, lộ ra là chết!
- Anh Cường nói với mình đến đó đấy! – Hạnh giải thích – Nhà bác ấy cũng có con đi bộ đội, bác ấy hiểu. Hồi anh Cường ở đấy, hai bác thương anh ấy như con...
Chuyện anh Cường trốn đơn vị về thăm trại, chỉ hôm sau, cả trại biết. Làm sao mà dấu mọi người được, nhưng chúng tôi thống nhất một cách tuyệt đối là không cho người ngoài biết. Sự thống nhất của chúng tôi đã có một tác dụng không thể tưởng tượng nổi.
Hai hôm sau, kể từ tối anh Cường trốn đơn vị về thăm chúng tôi, anh Khanh dẫn hai anh bộ đội, một anh đeo súng ngắn, còn anh kia trẻ hơn, khoác một khẩu súng dài, về trại chúng tôi để truy tìm anh Cường. Đã rất lâu chúng tôi không gặp anh Khanh, mà trong trí nhớ của từng đứa, có khi chúng tôi cũng quên anh ấy rồi. Bây giờ nghe đâu anh Khanh đã lên chức Phó bí thư Đảng ủy khu phố Lê Lợi, phụ trách công tác tuyển quân. Thế nên anh ấy mới đi truy tìm anh Cường. Anh Khanh tập hợp hết chúng tôi lại ở giữa sân hợp tác, lên giọng:
- Trong khi cả dân tộc đang dồn sức chống xâm lược Mỹ thì tên Cường, một quân nhân, đã đào ngũ. Tên Cường biểu hiện hèn nhát, sợ chết, đầu hàng trốn về phía sau làm hoen ố truyền thống kiên cường cách mạng của khu phố chúng ta. Các em có trách nhiệm giúp các anh đây - Anh Khanh chỉ hai anh bộ đội đứng bên cạnh - Bắt bằng được tên Cường, đưa Cường ra tòa án quân sự để xử. Mấy hôm nay các em có thấy tên Cường về đây không ? - Anh Khanh hỏi chúng tôi.
Chúng tôi đều trả lời là không thấy. Hôm ấy anh Khanh cùng hai anh bộ đội đi lùng anh Cường khắp mọi chỗ, hỏi rất nhiều người, trong đó có cả hai bác chủ nhà, nơi anh Cường đã ở. Mọi người đều nói, không biết, không thấy. Trước khi về lại Sơn Hà, anh Khanh gọi tôi ra , dặn dò, giọng có vẻ uất lắm:
- Thế này Thắng ạ! Việc tên Cường đào ngũ, anh thấy nhục quá. Làm sao ở một khu phố chúng ta lại có một thằng hèn như vậy. Vì thế, em thấy Cường lảng vảng quanh đây, phải lập tức báo ngay cho người lớn biết, bắt tại chỗ. Em làm tốt nhiệm vụ này, anh sẽ khen.
Tôi im lặng, không trả lời.
Tội cho anh Cường, mấy ngày anh bí mật về thăm trại mang tiếng là “ đào ngũ”, điều anh lo nhất là mấy cái hầm trú ẩn quanh trại. Anh nói: “ Các em đắp đất mỏng như thế này làm sao mà chống được với bom bi? Phải đắp đất dày lên.”.Anh cùng chúng tôi không kể sáng tối, đắp đất thành hầm thật cật lực. Anh làm như sợ không đủ thời gian. Anh bàn với chị Liên nên tranh thủ lúc mọi người gặt lúa trại nên xin một ít rạ lợp lại mái nhà tập thể. Có mấy tối anh ở lại với chúng tôi, anh Cường bắt mấy đứa dốt toán nhất mang vở ra cho anh ấy kiểm tra. Chúng tôi không muốn anh Cường đi xa.Không thể có điều đó, anh Cường là người có tự trọng. Trước lúc về lại đơn vị, anh Cường gọi tôi, Hạnh với thằng Oanh cùng mấy đứa nữa, lớn tuổi nhất trong trại đến để anh dặn dò:
- Anh phải về lại đơn vị. Anh không phải là một thằng “ hèn” như anh Khanh đánh giá – Anh nói với chúng tôi như một lời tâm sự của người anh với mấy đứa em – Anh thấy kiểu huấn luyện vừa rồi chắc sắp đi chiến đấu ở Quảng Trị, khó có thể về thăm các em và chị Liên. Xin về, chắc chắn họ không cho, anh đành liều vì nhớ các em và chị Liên quá. Về lại lần này rồi không biết còn có thể gặp lại các em nữa không ? Còn có ngày nhìn thấy nhau nữa không ?- Anh Cường ôm từng đứa vào lòng – Các em sống ở đây phải thương lấy nhau, đừng làm việc gì xấu để bố, mẹ , chị, em và các bác, các cô ở đây buồn phiền. Phải biết nhường nhịn, học thật giỏi, có đạo đức thế là anh mừng. Dù ở phương trời nào anh vẫn rất nhớ các em.
Anh Cường không khóc, nhưng mắt anh đỏ hoe. Hạnh và chị Liên khóc thành tiếng. Còn tôi, thằng Oanh và mấy đứa khác đứng chết lặng.
Anh Cường tạm biệt chúng tôi, bước mạnh ra phía trước, để lại cho tất cả một nỗi trống vắng không thể tả...






Mùa đông năm ấy không hiểu sao tiết trời lại lạnh một cách ghê gớm như thế. Ngoài trời, gió bấc thổi hun hút, mấy tàu chuối lá chuối cạnh trại rách tơi tả, rũ rượi mặc cho gió muốn làm gì thì làm. Đã vậy, còn có những cơn mưa phùn dầm dề làm cho cái lạnh thấm vào người thật tái tê. Mấy cái áo bông mẹ gửi cho tôi và em Minh mặc cũng không đủ ấm. Ngồi trong lớp với ánh sáng tù mù, tay tôi cầm bút, hơi lạnh thấm vào làm cho các ngón tay cứ như bị khô cứng cả lại. Những tối về ngủ, cả bọn bên giường con trai cố quấn chặt vào nhau, thằng nào cũng muốn len vào giữa. Bên con gái cũng thế, không đứa nào chịu nằm bên ngoài. Chị Liên phải đứng ra làm trọng tài để xếp chỗ...
Từ chiều đến giờ, tôi đang có một nỗi lo cháy ruột: Không hiểu sao Hạnh và một số bạn nữa, được chị Liên phân công đi mua gạo cho trại đến bây giờ vẫn chưa về? Trời lạnh thế này, đường quê lại khó đi, không đèn đóm, mang vác nặng, không biết Hạnh và mấy bạn sẽ xoay xở ra sao? Lẽ ra, tôi và Oanh làm việc này, nhưng có việc đột xuất nhà trường phân công, nên không đi được, chị Liên phân công Hạnh và mấy bạn nữa, đi thay. Cứ nghĩ, độ bốn, năm giờ chiều là Hạnh và các bạn có mặt ở nhà, thế mà đến bây giờ hơn bảy giờ tối, chẳng thấy mọi người đâu. Cơm canh để phần cũng nguội lạnh hết cả rồi.
Tôi ăn cơn cùng mấy bạn không hề có cảm giác, cố ăn nhanh để đứng lên. Nhìn sang mâm cơm để phần cho Hạnh cùng mấy bạn mà tôi tưởng tượng ra đủ thứ chuyện. Có lẽ gạo bị đổ, hoặc các bạn đi lạc, cũng có khi... các bạn bị bọn xấu cướp hết tiền, tem phiếu. Tôi đã nghe một câu chuyện tương tự xảy ra ở xã bên.
Thấy tôi cứ bồn chồn hết ra lại vào thỉnh thoảng lại hỏi chị Liên làm chị Liên cũng sốt ruột. Chị gọi tôi với Oanh lại:
- Không biết vì sao bây giờ mà Hạnh cùng với mấy bạn vẫn chưa về. Chị cũng cảm thấy lo lo. Hai em thử đi xem tình hình như thế nào? Lẽ ra chị sẽ đi cùng các em, nhưng ở trại có hai bạn đang cấp cứu vì sốt, chị phải ở lại. Có chuyện gì thì một trong hai em phải về đây ngay báo cho chị biết.
Nói xong, chị Liên giục tôi và Oanh mặc thêm áo ấm, khoác áo mưa, tay mỗi đứa cầm thêm một cái gậy đi ngay trong đêm.
Đêm mùa đông đen kịt như đặc quánh lại. Oanh đi trước tôi có nửa mét mà chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe ở phía trước tiếng sột soạt của áo mưa, tiếng nước mưa rơi xuống mặt đường tí tách, tiếng gió thổi rít bên tai. Có lẽ cảm nhận rõ nhất là cái lạnh ngắt của mặt đất thấm vào gan bàn chân. Oanh quay lại dặn tôi:
- Mày cố bám sát vào tao, đi gần sát nhau cũng có khi cũng bớt lạnh. Tao nghe một số người nói như thế.
Bớt lạnh thì chưa chắc, nhưng bớt sợ, bớt đi nỗi cô quạnh thì đúng hơn. Hai chúng tôi vẫn lầm lũi đi. Mưa rây nặng hạt, chưa có dấu hiệu ngừng. Gió vẫn thổi lúc nhẹ, lúc mạnh. Hai tay tôi tê cứng bởi một tay nắm chặt hai mép áo mưa vào nhau. Còn tay kia nắm chặt cây gậy chống chọi với đường trơn và gió.
Dọc đường, hầu như chúng tôi chẳng gặp ai đi ngược chiều để hỏi chuyện. Giời lạnh thế này, có phát rồ mới ra đường. Khi Tôi và Oanh đến cửa hàng gạo mà trại thường mua, xung quanh đóng cửa im ỉm, trước cửa hàng lạnh ngắt không một bóng người. Tìm mãi, mới thấy ở góc cửa hàng có một ánh đèn dầu le lói. Tôi với Oanh lò dò tiến đến chỗ có ánh sáng của ngọn đèn dầu đó. Tiếp chúng tôi là một người đàn ông, nghe tiếng nói có thể đó là một người trung niên, không biết béo hay gầy vì ông ta khoác trên mình một tấm chăn chiên to xù. Chúng tôi chào người ấy và hỏi có thấy mấy bạn chúng tôi đến đây mua gạo không ?Người đàn ông này cho biết:
- Cửa hàng này hết gạo và hết mỳ gần một tuần nay. Muốn mua gạo và mỳ phải đi sang cửa hàng gạo đóng ở Minh Trung, cách đây gần hai chục cây số, có lẽ mấy em ở trại Liên Cơ đi sang đó mua gạo rồi.
Chỉ có thể như thế thôi nên Hạnh và các bạn đi bây giờ mới chưa về. Một tình huống tôi và Oanh không tính đến. Tôi và Oanh chào người đàn ông rồi đi ra. Phải đi tìm bằng được Hạnh và mấy bạn. Hai chúng tôi bàn với nhau. Oanh sẽ quay về trại báo tin này cho chị Liên biết để chị cử thêm người tiếp viện, còn tôi sẽ đi sang Minh Trung giúp Hạnh và các bạn.
Oanh quay về, còn tôi, một tay cầm gậy chống, một tay tiếp tục túm chặt tấm ni lông, lần theo con đường cái sang Minh Trung.
Hạnh ơi! Bạn ở chỗ nào? Bạn có biết bây giờ Thắng lo cho bạn và các bạn cùng đi, nhiều như thế nào không ? Lẽ ra, cửa hàng hết gạo các bạn quay về báo cho chị Liên và bọn mình biết, làm sao thân con gái, bạn liều như thế?
Mưa hình như mỗi lúc một nhiều hơn, gió thổi mỗi lúc cũng như mạnh hơn. Lúc nãy đi cạnh Oanh, có lúc tôi cũng thấy sờ sợ khi nhìn ra xung quanh. Nhưng không hiểu sao bây giờ tôi chẳng sợ một điều gì cả. Xung quanh tôi, vẫn đồng không, mông quạnh, không một bóng người, tiêng côn trùng rỉ rả.. .sao tôi lại thấy bình thường, cố nhìn ở phía trước, mong phát hiện ra Hạnh và các bạn.
Trời vẫn mưa.
Gió vẫn thổi.
Có lẽ tôi đã đi được một đoạn đường cũng khá xa. Mệt, lạnh và cả sốt ruột nữa. Tôi tựa vào một thân cây đứng ven đường, nghỉ một chút lấy sức. Tự nhiên có tiếng người lao xao ở phía trước làm cho tôi bừng tỉnh, mọi mỏi mệt như tan biến. Có thể Hạnh và các bạn đang về! Đúng như suy nghĩ của tôi, đúng là nhóm của Hạnh đang vác gạo trở về.
Gặp tôi, các bạn reo lên mừng rỡ. Tôi vội đỡ ngay chiếc ba lô đựng gạo của của Hạnh. Hạnh ngăn lại, lắc đầu:
- Thắng vác gạo hộ cho Tiến đi. Bạn ấy mệt lắm rồi. Hạnh còn sức, còn đi được!
Sức vóc của Tiến không được khỏe vẫn xung phong đi vác gạo, giờ đã mệt. Tôi đỡ bao gạo cho Tiến, quay lại trách nhẹ Hạnh:
- Không có gạo ở cửa hàng chúng mình hay mua, thì Hạnh cho các bạn quay về có sao đâu, để ngày mai mua cũng được. Sao Hạnh với các bạn liều thế!
Hạnh giải thích:
- Thắng không biết sao? Các kho gạo chỉ bán từ ba giờ chiều trở đi thôi vì họ sợ máy bay Mỹ ném bom. Hơn nữa, phải tranh thủ đi ngay mà mua, trại của chúng mình cũng sắp hết gạo rồi. Đến lúc trại mình không còn lương thực, ở đây cũng hết gao, cửa hàng bên Minh Trung cũng hết gạo, bọn mình lấy cái gì mà ăn? Nghĩ thế, cả bọn quyết tâm sang luôn Minh Trung mua gạo.
- Mua gạo với mỳ xong thì gửi đấy rồi về báo cho chúng mình biết để cả trại đi lấy gạo có tốt hơn không ?
- Mình cũng định thế - Hạnh nói – Nhưng từ trại mình sang Minh Trung đâu có gần, mỗi người cố một tý để đỡ vất vả lần sau.
Trong khó khăn, chúng tôi đã sống vì nhau, vì cái tập thể nhỏ nhoi này. Gần như mỗi người trong chúng tôi đều quên hết những vất vả của bản thân, mội người như gần lại nhau hơn, thân nhau hơn. Riêng với Hạnh, tôi không thể dấu dược tình cảm của mình. Tôi chủ định đi lùi phía sau Hạnh, lấy hai tay nâng ba lô của Hạnh lên, cho Hạnh thấy bớt nặng. Hạnh hiểu động cơ của tôi, quay lại phía sau, nói nhỏ:
- Thắng ơi! Đừng lo cho Hạnh nhiều. Hạnh còn sức mà. Thắng giúp mấy bạn khác đi.
Hạnh nói thế nhưng tôi biết Hạnh rất mệt.Tiếng thở của Hạnh nghe có vẻ nặng nhọc. Thỉnh thoảng Hạnh phải đứng lại xốc ba lô gạo, nếu không có tôi đỡ, Hạnh dễ ngã lắm.
Khi chúng tôi gặp chị Liên, Oanh và gần như tất cả các bạn trong trại Liên Cơ thì đã gần nửa đêm. Tất cả ôm nhau, mừng mừng, tủi tủi. Sao lúc đó chúng tôi thân nhau đến thế.
Sau buổi đi lấy gạo về, tưởng Hạnh hoặc ai đó sẽ sốt chứ không phải tôi. Ấy vậy mà ngược lại, tôi lại sốt. Có lẽ tôi nhiễm nước mưa, bị cảm lạnh. Những ngày tôi đau, Hạnh luôn luôn ở bên cạnh, lúc giúp tôi nấu nồi nước xông, lúc giặt hộ bộ quần áo, chăm sóc em Minh thay tôi. Nhìn Hạnh tất bật với bao công việc của trại, giúp chị Liên phân chia thực phẩm, giúp các em học tổ, nay lại còn lo cho tôi ... Tôi nghĩ, khỏi sốt tôi sẽ nói cho Hạnh biết tình cảm của mình. Tôi rất tin, Hạnh sẽ đáp lại tình cảm của tôi.
Nghĩ thì dễ như thế, nhưng đến lúc nói thì cực kỳ khó. Không biết Hạnh có hiểu tình cảm của tôi dành cho Hạnh không? Cứ nghĩ đến Hạnh, tôi học không vào. Nhìn thấy Hạnh trong lớp, cùng sinh hoạt trong trại... đâm quá quen. Tôi phải đi đâu đó, vắng Hạnh có một buổi đã nhớ quay quắt rồi lại liên tưởng, suy diễn ra đủ thứ chuyện. Tôi muốn nói thực suy nghĩ của mình để Hạnh mãi mãi thuộc về tôi. Nghĩ mãi, một tối, sau buổi học nhóm, tôi nói với Hạnh:
- Hạnh có thể đi với Thắng ra ngoài này, Thắng muốn nói với Hạnh một chuyện, được không ?
Đắn đo một lúc rồi Hạnh đi theo tôi.
Hai chúng tôi đi ra rìa làng, đúng cái chỗ mà tôi và chị Liên đã từng ngồi. Hai chúng tôi ngồi xuống. Hạnh hỏi:
- Thắng định nói chuyện gì với mình mà phải ra đây?Trời tối đen thế này, mình sợ quá. – Hạnh xích lại gần tôi một chút nữa.
Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập, nghe rõ cả tiếng con dế nấp dưới bụi cỏ đang kêu, nghe rõ cả tiếng lá tre khô rơi. Nghe rõ tất cả. Hạnh lại giục:
- Thắng nói đi, sao lại im lặng như thế ?
Nói như thế nào nhỉ ?Tôi thấy tức thở, cố tìm một từ để diễn đạt, sao lúc này thấy khó thế:
- Mình muốn nói với Hạnh là ... là... thế này. Hai đứa mình chơi thân...chơi thân... thân với nhau...
Hạnh cười nho nhỏ:
- Thì mình với Thắng vẫn chơi thân với nhau đấy chứ!
Tôi đã lấy được bình tĩnh:
- Nhưng... mình với Hạnh...thân khác với kiểu thân của mọi người.
- Hạnh có thấy cái gì khác đâu, tình bạn của mình với Thắng giống như các tình bạn khác, khó khăn cùng giúp nhau, có niềm vui cùng hưởng chung. Thắng nói khác chỗ nào? – Hình như Hạnh cố tình chọc tức tôi.
Tôi hơi tự ái;
- Thế Hạnh không hiểu tình cảm của Thắng dành cho Hạnh à ?
Hạnh lắc đầu:
- Hạnh thấy tình cảm của Thắng dành cho Hạnh cũng giống như dành cho mọi người khác, có gì khác đâu!
Hạnh nói thế làm sao tôi chịu được. Không thể giữ được bình tĩnh, tôi nói liền một hơi:
- Hạnh có hiểu Thắng lo cho Hạnh nhiều như thế nào không? Hạnh hơi mệt, Thắng cũng lo. Đấy, như buổi Hạnh đi lấy gạo vừa rồi, ở nhà thấy Hạnh về muộn không biết lý do, là Thắng không chịu được. Cứ nghĩ, Hạnh có bị làm sao thì hình như trong chuyện đó, Thắng có lỗi, vì chuyện nặng nhọc như thế, Thắng phải đi chứ. Rồi còn chuyện chị Liên phân công quản lý trại, bao giờ Thắng cũng nhận phần hơn, vì nghĩ Hạnh quá vất vả, không nên để Hạnh làm nhiều. Cho đến tận bây giờ, Thắng vẫn nghĩ sẽ ở cạnh Hạnh, phải giúp Hạnh làm mọi việc để việc đến với Hạnh sẽ nhẹ nhàng hơn, dễ làm hơn...- Tôi nắm lấy tay Hạnh – Hạnh có biết ...Thắng ...Thắng cần Hạnh như thế nào không ?
Hạnh rút tay ra khỏi tay tôi, mà hình như Hạnh cũng ngồi lùi ra xa tôi một chút, không cho hai người chạm vào nhau.
- Thắng nói hết chưa ?
Tôi im lặng. Có lẽ Hạnh nhìn tôi, một lúc sau Hạnh nói thật bình tĩnh, đủ cho tôi nghe rõ:
- Hạnh rất cảm ơn những điều Thắng đã giúp Hạnh bấy lâu nay. Còn từ bây giờ, Thắng đừng giúp Hạnh như thế nữa, Hạnh đều tự làm được. Hạnh tưởng Thắng rủ Hạnh ra đây nói điều gì chứ, chứ những điều Thắng vừa nói với Hạnh, Hạnh hiểu, sắp tới Hạnh sẽ phải làm gì để trả ơn lòng tốt của Thắng. Thắng tin đi, bao giờ Hạnh cũng là bạn tốt của bạn. Còn bây giờ...Thắng ạ! Mình phải về thôi, khuya rồi...
- Hạnh! Hai chúng mình phải nói chuyện một lúc nữa chứ. – Tôi có cảm giác mình sắp đánh mất một thứ gì đó vô cùng quý giá – Hạnh mà bỏ về, Thắng vẫn ngồi đây đấy!
- Không ! – Thái độ Hạnh vẫn rất cương quyết, tôi chưa từng thấy – Thắng có ngồi đây, Hạnh cũng về. Về để chuẩn bị bài vở ngày mai đi học.
Tôi nghĩ, chắc Hạnh chỉ dọa tôi thôi, đường tối đen thế kia, lại là thân con gái, không có tôi bên cạnh, có cho kẹo Hạnh cũng không dám về. Lúc nãy Hạnh còn sợ cơ mà! Tôi đã lầm. Hạnh hỏi lại tôi một lần nữa :
- Thắng có về không ?
- Không! Thắng muốn ngồi đây một lúc nữa – Tôi trả lời.
- Thế thì...Thắng ngồi lại nhé ! Chào Thắng, Hạnh về trước.
Và Hạnh về thật. Hạnh bước mạnh bạo, không hề sợ hãi. Bóng Hạnh vừa đấy đã mất hút.
Những bước chân của Hạnh, tôi nghe xa dần.
Tôi ngồi lại, cảm nhận một thất bại ê chề. Chưa bao giờ tôi khóc, thế mà tối đó, tôi đã khóc....




HẾT TẬP II – PHẦN II

Tập II
Trưởng Thành

Tập II - Phần 2
3

Vài hôm sau, sân đình làng bên, đoàn cải lương Hoa Ban về diễn vở kịch “HÙNG CA CỦA MỘT ANH HÙNG”, anh Cường nói với chị nuôi cho chúng tôi ăn cơm sớm để đi xem. Còn sung sướng nào bằng. Cả trại râm ran bàn tán. Về đây suốt mấy tháng nay, chúng tôi không được xem phim, không có đài công cộng để nghe thời sự và chương trình “Măng non đất nước” mà tôi rất thích. Cứ bảy giờ tối là ai về nhà nấy, trừ mấy đêm trăng còn đùa được, ngoài ra chỉ ngọn đèn dầu tù mù hắt một ánh sáng vàng vọt, buồn đến lạ. Hồi còn ở Sơn Hà, đôi ba lần, chúng tôi đến nhà hát nhân dân ngoài trời xem các đoàn kịch về biểu diễn. Thực tế, hồi ấy xem kịch chỉ là phụ, chúng tôi bày trò trêu mấy ông gác cổng, tìm cách “đột nhập” vào bên trong cứ như “đặc công”... Đến lúc phát hiện được, mấy người gác cổng đó đuổi theo chúng tôi làm náo loạn cả một góc sân, rất vui. Có khi quá vui, thậm chí vào bên trong rồi, chúng tôi lại đi ra, chui lại để trêu tức mấy ông gác cổng. Còn nếu đi cửa chính, chúng tôi bám vào mấy người lớn đi vào không mất tiền, để tiền mua mía, mua kem... Cứ thế, còn thiết gì đến xem?
Còn lần này... Tôi hỏi:
- Hạnh đi xem với bọn mình chứ?
Hạnh lắc đầu:
- Tớ chẳng đi đâu! Đi với các đằng ấy, các đằng ấy lại dọa ma như hôm nọ ấy à?
Tôi cười, trong thâm tâm lại trách cái trò đùa quái ác của thằng Oanh:
- Đấy là thằng Oanh đùa Hạnh và chị Liên chứ không phải mình. Mà nói thật nhé, đi xem phải có con trai đi cạnh, Hạnh mới không bị bắt nạt...
Hạnh thoáng suy nghĩ rồi cũng đồng ý đi với chúng tôi.
Tôi gửi thằng Minh đến nhà ông bà Mẹo rồi cùng chúng bạn đi xem. Đường đi cũng tương đối xa, phải đi qua một rặng nhãn và một bãi tha ma. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện trên đời để bớt sợ. Hạnh vẫn đi cạnh tôi, thỉnh thoảng Hạnh lại cười vì những câu chuyện vui mà tôi hoặc ai đó kể.
Khi chúng tôi đến sân đình, mọi người tập trung xem rất đông, khó tìm được chỗ chen chân. Tôi nắm tay Hạnh, cả hai tìm cách lách vào. Đang chen tìm chỗ như vậy, một người nắm tay tôi định lôi ra: “Đi đây thế này! Còn chỗ đâu mà vào?”. Mùi mồ hôi, mùi thuốc lá, cả cái mùi... bùn của ai đó chưa rửa sạch, đặc quánh, bay thốc vào mũi. Tôi với Hạnh bị cái nóng hầm hập của hơi người làm ngột ngạt. Đã thế, lúc này, tôi và Hạnh hoàn toàn bị lạc với các bạn cùng đi. Hạnh cố dướn người nhìn lên phía sân khấu. Tôi cũng vậy. Cả hai chúng tôi chẳng nhìn thấy gì, chỉ thấy toàn... gáy với đầu người. Hạnh chán nản nói với tôi:
- Thắng ơi! Mình với bạn ra chỗ khác thôi, ở đây chẳng xem được!
Hai chúng tôi lại đi tìm chỗ khác. Ở đâu cũng thế, khó tìm được một vị trí tốt. May cho tôi và Hạnh, không hiểu sao, chỗ gần sân khấu, tự nhiên mọi người đứng dậy, nhốn nháo. Có tiếng người nào đó kêu lên: “Ối giời ôi! Đứa nào lại chơi cái trò quỷ này!”. Ai đó nghịch ngầm, lấy kim băng cài áo người nữ này với áo người nam kia. Có đến hai, ba đôi bị “dính”, mọi người phải đứng dậy gỡ kim. Tranh thủ lúc ấy còn chỗ trống, tôi kéo Hạnh đến ngồi sát sân khấu. Ở đây chúng tôi nhìn lên sân khấu tương đối rõ.
Trên sân khấu lúc này đang diễn tả một chiến sĩ cách mạng không may bị địch bắt, chúng đem anh ra xử tử. Đứng xung quanh anh là đông đảo quần chúng. Tôi nhìn thấy nét mặt của họ: đau khổ, uất hận, thương xót, căm thù... Chứ chả lẽ trước sự “hy sinh” của anh ấy, dù là trên sân khấu, lại... nhe răng ra cười? Tôi nghe thấy tiếng người diễn viên đóng vai thằng đội Pháp hô to: “Chuẩn bị! Bắn!”. Mấy người diễn viên đóng lính Pháp đứng cách “chiến sĩ cách mạng” độ ba mét giương súng lên. Một loạt tiếng súng nổ, người “chiến sĩ cách mạng” gục xuống. Không! Anh đứng thẳng dậy, giơ cánh tay bị xích ra trước mặt, ca liền một câu vọng cổ thật dài: “Không, không, chúng bay không bắn được ta, cũng không giết được ta, cái chết của ta sẽ là lời hiệu triệu chiến đấu, kêu gọi mọi người chống lại bè lũ xâm lăng, chống lại bè lũ tay sai thối nát. Các đồng chí ơi! Hãy coi cái chết của tôi là một lời nhắn nhủ mọi người đoàn kết, đồng tâm tiêu diệt kẻ thù cho đến ngày thắng lợi, cờ hồng tung bay trên khắp nước non. Cũng nhờ bà con nhắn vợ con tôi rằng, cho đến lúc chết tôi không có điều gì ân hận vì biết mình hy sinh cho sự tự do dân tộc, em hãy nuôi con khôn lớn tiếp bước con đường của... anh... đây...”. Tôi rất phục, phải nói hơi của anh diễn viên ấy dài thật. Anh đổ một câu dài như thế theo một làn điệu của ca cải lương dễ gần đến... mấy phút. Lúc này, lại một tràng súng nữa nổi lên. “Người chiến sĩ cách mạng” vẫn chưa chết. Anh hùng dũng ưỡn ngực tiến về phía “bọn lính” vừa “bắn” anh. “Bọn lính” vừa “bắn” anh hoảng sợ bỏ chạy tán loạn. Lúc đó, “người chiến sĩ cách mạng” mới ngã vào tay đồng bào. Mọi người nâng “xác” người “chiến sĩ cách mạng” lên cao, hô to: “Đả đảo quân khủng bố!”. Bên dưới người xem, xen lẫn tiếng vỗ tay có cả tiếng...cười.Tôi không biết họ cười vì cái gì...
Tôi với Hạnh mải xem thì tiếng kẻng báo động trên chòi gác ở ngọn cây gạo cạnh đấy gõ dồn dập, báo động có máy bay Mỹ. Đèn trên sân khấu tắt phụt. Tiếng loa nhắc nhở: “Đề nghị đồng bào đứng nguyên tại chỗ, không chạy lộn xộn làm lộ bí mật. Máy bay địch bay khỏi, chúng ta lại tiếp tục...”. Tiếng loa mới nhắc được có thế, một chiếc máy bay Mỹ, nó bay rất thấp lướt qua ngay trên đầu, tiếng rít đến rợn người như xé toác màng nhĩ, chẻ bóng đêm ra thành trăm mảnh. Xung quanh tôi, mọi người hoảng loạn thực sự, nháo nhào trong bóng đêm tìm chỗ núp. “Ầm”, cả tôi và Hạnh ngã bổ ngửa vì một bóng đen ngã đè lên mình. Người đó, không nhìn thấy mặt nhưng nghe miệng anh ta nói lắp bắp, ngay cạnh tôi:“ Chết mất... Lạy giời, máy bay ném bom vào chỗ khác, đừng ném trúng con...”. Tiếng máy bay Mỹ rợn óc đó xẹt qua rồi tất cả trở lại yên tĩnh. Tiếng kẻng báo yên trên cây gạo gõ lên, mọi người ai nấy về chỗ cũ để tiếp tục xem kịch. Đèn trên sân khấu bật sáng. Tôi ngỡ ngàng. Người lúc nãy nhảy ngã đè vào tôi và Hạnh không ai khác, chính là anh vừa đóng vai “chiến sĩ cách mạng” bị quân Pháp “xử tử”! Anh ấy nhìn tôi và Hạnh ngượng ngùng rồi trèo lên sân khấu, diễn lại đoạn kịch vừa rồi...
Tôi thấy không thích xem kịch như thế này nữa. Đang định nói với Hạnh, Hạnh lại kéo tay tôi:
- Ta về thôi Thắng ơi! Ở đây tớ sợ ăn bom lắm!
Đúng ý tôi. Cả tôi và Hạnh bỏ dở vở kịch, đi về. Thoát khỏi đám đông, thoát khỏi cả những mùi mồ hôi ngột ngạt, thoát cả cảnh phải nghếch cổ lên xem đến mỏi nhừ, ra đến đường trống, tôi với Hạnh thấy nhẹ cả người.
Trên cao, những ngôi sao lấp lánh, tỏa ánh sáng mờ mờ xuống mặt đất. Gió đồng nội thổi từng cơn, từng cơn mát dịu. Thích nhất là thỉnh thoảng, theo chiều gió, những sợi tóc dài của Hạnh lại bay vờn trước mặt tôi gây ra cảm giác buồn buồn, nhột nhột... Hai chúng tôi đi được một đoạn đường dài mà gần như không nói với nhau câu nào. Hạnh phá cái không khí im lặng đó, nói:
- Thắng kể với Hạnh chuyện gì đi chứ?
Tưởng trả lời thì dễ, thế mà tôi lại lúng túng:
- Hạnh bảo mình kể chuyện gì mới được chứ!
- Thì chuyện nào... Thắng cho là hay, kể đi!
Tôi bực mình vì trí nhớ của mình. Bao nhiêu chuyện anh Cường kể, thế mà giờ thì nó trốn tận ngóc ngách nào trong óc, không thể lôi ra được. Tôi đành thú nhận sự kém cỏi này của mình:
- Nói thật, mình chẳng có chuyện gì...
Hạnh cười:
- Sao Thắng lại nói thế, buồn cười thật đấy! Thế chẳng lẽ ở nhà Thắng chơi với em Minh lại không có chuyện gì nói sao?
Sự gợi ý của Hạnh thật tuyệt vời, chuyện gì chứ chuyện em Minh thì tôi có thể kể cả ngày không hết... tội của nó. Nào là cu cậu chuyên đi dép trái, đánh vào chân tưởng nó nhớ, thế mà một lúc, đi dép trái vẫn hoàn đi dép trái. Lại còn chuyện nó lấy nước đổ vào cái đài của các cô chú cơ quan mẹ, vì theo nó: “Người ta nói nhiều như thế là khát nước!”. Rồi còn chuyện nó lấy bàn chải đánh răng vạch mồm con chó nhà tôi để định đánh răng cho con chó, bị nó đớp cho một miếng... Hạnh nghe chuyện tôi kể, cười ngặt nghẽo rồi nói:
- Thắng kể chuyện em Minh gần giống chuyện Oanh kể chuyện đứa em con ông cậu nhà Oanh...
Tự nhiên tôi thấy tức thằng Oanh. Té ra, nó cũng đã đi chơi với Hạnh, thậm chí còn nói chuyện với Hạnh. Thế mà nó cứ leo lẻo:
- Con Hạnh... hôi nách bỏ mẹ, không thể ngồi gần được.
Thấy tôi tự nhiên im lặng, Hạnh ngạc nhiên:
- Thắng làm sao thế? Kể tiếp chuyện đi...
- Tớ không kể nữa. Mà chẳng có gì để kể nữa...
Hai chúng tôi lầm lũi bước đi, trong đầu tôi tự nhiên cứ ghen tức với thằng Oanh. Vì sao thế nhỉ? Tôi không lý giải được. Tôi cũng bực luôn với Hạnh. Như vậy, Hạnh đâu có chơi thân với tôi, đâu có coi tôi... coi tôi... là “bạn thân”. Thế thì... Tôi vượt lên đi trước Hạnh, không đi với Hạnh nữa. Hạnh thấy tôi đi nhanh quá, vội đuổi theo:
- Thắng ơi! Đợi Hạnh với, sao đi nhanh thế?
Hạnh đuổi sát theo tôi, cầm tay tôi, giữ lại:
- Mình chẳng hiểu thái độ của Thắng đấy! Đang nói chuyện vui như thế lại đùng đùng bỏ mình, đi lên trước...
Tôi vẫn không nguôi tức giận, toan giật tay để đi. Bỗng... Hạnh giật tay tôi, ra hiệu:
- Thắng nhìn kìa! Dưới gốc cây nhãn hình như... có người...
Tôi vội dừng lại, căng mắt ra nhìn. Đúng là dưới gốc cây nhãn to có người thật, không phải một người mà những... hai người. Họ làm cái trò gì thế nhỉ? Tôi ra hiệu cho Hạnh dừng lại để tôi bò đến. Hạnh lắc đầu:
- Đừng để mình ở đây, sợ lắm. Cho mình đi đến đó với!
Trước sự việc nghiêm trọng như thế này, tôi quên hết chuyện bực dọc, nói thì thầm:
- Không được, anh Cường chẳng nói, muốn bắt được kẻ thù phải bí mật, bất ngờ... Đi hai người, lộ mất. Hạnh cứ ngồi đây để mình mò đến xem chúng làm gì. Có gì, mình sẽ báo Hạnh sau.
Hạnh đành bằng lòng, ngồi thụp xuống. Tôi lò dò bò đến, cố làm thật nhẹ nhàng, không đánh động. Hai bóng đen dưới gốc cây nhãn hình như không biết, vẫn say sưa... ôm nhau. Tôi đã nghe tiếng họ thở, rồi cả tiếng người nói:
- Đừng... Đừng... Cường... Đừng... Liên xin Cường đấy... Liên xin Cường...
Tôi choáng váng. Tưởng ai, té ra anh Cường với chị Liên. Tôi vội quay đầu, chẳng hiểu vì sao lại chạy. Vấp phải hòn đất to, tôi ngã sấp nhưng vẫn còn tỉnh táo ngồi ngay dậy, kéo Hạnh phóng đi. Nghe thấy tiếng động, anh Cường với chị Liên buông ngay ra. Hình như hai người cũng bỏ chạy thì phải, nhưng ở hướng ngược với chúng tôi. Đến một chỗ dừng lại thở, Hạnh hỏi:
- Họ làm gì thế? Mà sao Thắng lại chạy?
Tôi không nói, vì còn phải thở. Tự nhiên Hạnh nhìn ra phía sau tôi kêu lên, sợ hãi:
- Thắng ơi, nhìn kìa, có phải ma không?
Theo hướng Hạnh chỉ rõ ràng tôi thấy có ba, bốn đốm lửa xanh lè bay lơ lửng giữa đám đất gần mấy cái mả. Hình như... nó đang nhằm hướng của tôi và Hạnh bay tới. Hết ngạc nhiên này lại đến nỗi sợ hãi khác. Quá hoảng hốt, tôi cầm tay Hạnh, hét tướng lên:
- Chạy!







Anh Cường có lệnh phải về ngay Ủy ban để khám nghĩa vụ quân sự. Đích thân anh Khanh xuống tận trại trao quyết định triệu tập anh Cường về khám nghĩa vụ quân sự. Anh Khanh nhìn anh Cường với ánh mắt đắc thắng.
- Đồng chí nhớ ngày, giờ trong giấy triệu tập này mà tập trung đúng giờ, không được viện bất cứ lý do gì để ở nhà. Không chấp hành giấy triệu tập này là chúng tôi sẽ kỷ luật nặng.
Anh Cường cầm giấy triệu tập, nét mặt bình tĩnh, nói một cách từ tốn:
- Anh yên tâm đi, tôi sẽ về khám nghĩa vụ đúng theo yêu cầu của giấy triệu tập này.
Anh Khanh còn làm một việc nữa, tôi không thể chấp nhận. Anh gọi tôi ra một chỗ hỏi nhỏ:
- Dạo này em có thấy anh Cường với chị Liên còn quan hệ thân thiết với nhau không?
Tôi bực mình:
- Chuyện đó thì anh đi hỏi hai người ấy chứ sao lại hỏi em?
- Là vì anh thấy chị Liên có vẻ thân với em.
- Chị Liên thân với em nhưng còn chuyện hai người quan hệ như thế nào, làm sao em biết được?
Anh Khanh có vẻ bực với tôi nhưng chẳng làm gì được vì tôi ở đây còn anh ấy ở Sơn Hà, không thể bắt tôi đi canh “gián điệp” như dạo nào.
Trước khi về lại Sơn Hà khám sức khỏe, anh Cường giao nhiệm vụ cho tôi và Hạnh:
- Hai em ở lại, quản lý trại giúp anh một thời gian. Tí nữa, Hạnh sang anh sẽ bàn giao sổ sách, tem phiếu, tiền... Các em bàn với chị nuôi, cố gắng chi tiêu thật tiết kiệm, nhưng cố gắng có đủ chất cho các bạn trong trại. Còn Thắng, em phải thay anh quản lý giờ giấc học hành, nghỉ ngơi, phải giữ bằng được nội quy của trại. Nhất là với Oanh, em là bạn thân của nó, nên khuyên bảo Oanh không nên nghịch những trò như vừa rồi, không hay...
Tôi ngạc nhiên:
- Chị Liên không ở lại với bọn em sao?
Anh Cường trả lời, giọng nhỏ hẳn lại:
- Chị ấy sẽ đi với anh về Sơn Hà rồi sẽ quay về đây với các em...
Tôi lờ mờ hiểu trong đầu việc chị ấy phải đi với anh Cường. Trong tôi lại hiện lên hình ảnh bố chia tay với mẹ đêm ấy, trước khi ông đi B, có nước mắt, có đầy nỗi buồn... và có cả nỗi sợ hãi không thể nói ra bằng lời.
Anh Cường hỏi tôi:
- Thế Thắng có thích anh đi bộ đội không?
Đi bộ đội đánh nhau ai chẳng thích, nhưng với điều kiện... mình không được chết như trong phim chiến đấu của Trung Quốc hồi ở Sơn Hà tôi hay xem ấy. Nghe tôi nói vậy, anh Cường lắc đầu:
- Làm gì có chuyện đó hả em? Đã đánh nhau là có người chết, người sống chứ!
Tôi, Hạnh và các bạn trong trại tiễn anh Cường về Sơn Hà trong tâm trạng thật buồn. Tôi biết chắc, họ gọi anh Cường về khám sức khỏe cho nó có hình thức thế thôi, chứ nhìn vóc dáng, chiều cao của anh và cả tác phong nhanh nhẹn của anh ấy nữa thì chắc chắn anh Cường sẽ đi bộ đội, cần gì phải khám. Thế là anh Cường phải bỏ học giữa chừng. Tôi tiếc cho anh. Anh Cường học giỏi toàn diện. Tôi có cảm giác không điều gì là anh không làm được. Đứa nào không giải được bài toán khó, lại đến anh. Anh Cường có lối diễn giải gọn, súc tích, dễ hiểu. Anh Cường còn học giỏi các môn xã hội. Cứ chiều chủ nhật, anh và chị Liên hay dẫn chúng tôi đi cắm trại ở ngoài trời. Anh giải thích cho chúng tôi về hiện tượng tự nhiên, những sự tích đền chùa gặp trên đường đi. Những buổi đi chơi như thế không bao giờ chán cả, ngược lại, chúng tôi còn thu được bao nhiêu điều bổ ích...
Chị Liên đi bên anh Cường, nét mặt trĩu nặng âu lo. Tôi nghe chị nói nhỏ điều gì đó, anh Cường lắc đầu: “Không được Liên ạ! Nếu khám đủ sức khỏe thì Cường phải đi thôi. Chẳng có cách gì qua mặt được họ đâu. Còn... như cách Liên nói, lại càng không được. Trốn ở đâu họ cũng có thể bắt được...”. Anh Cường thở dài: “Có người nói đi bộ đội chưa chắc đã bị bắn, bắn chưa chắc đã bị thương, bị thương chưa chắc đã chết...”. Nghe anh Cường nói vậy, chị Liên đấm nhẹ vào vai anh ấy:
- Liên cấm Cường nói gở. Chưa đi bộ đội mà nói đến từ “chết”, Liên nghe sờ sợ thế nào ấy...
Anh Cường, chị Liên đi rồi. Biết là anh, chị đi một thời gian ngắn rồi lại về, đợi giấy gọi nhập ngũ, thế mà tôi thấy nhiều nỗi lo. Thằng Oanh khoái ra mặt. Gặp tôi, nó tự nhận một việc mà chính tôi đang phân vân chưa biết phân công cho ai làm:
- Mày cho tao làm thủ kho, phân phối thực phẩm cho các chị nuôi nấu ăn đi...
Thấy ánh mắt ngạc nhiên của tôi, nó thuyết phục:
- Mày chưa tin tao chứ gì? Xin lỗi, hồi ở nhà, mẹ tao giao cho tao tem phiếu, tiền ăn cả tháng của cả nhà, thế mà có tháng, tao chi tiêu còn thừa tiền đấy. Mẹ tao bảo: “Thằng Oanh khá thật, lớn lên con của mẹ sẽ làm kế toán”.
Không biết nó nói thật hay nói láo nhưng đang thiếu người làm thủ kho mà có người tình nguyện nhận thì tốt quá còn gì. Tôi đồng ý cho Oanh nhận việc đó. Tôi chỉ dặn:
- Mày cứ căn cứ số lượng người ăn trong trại mà phân phối lượng thực phẩm trong ngày cho chị nuôi nấu ăn. Thừa thì không sao, còn thiếu thì mày hoàn toàn chịu trách nhiệm, bỏ túi tiền ra mà đền...
Oanh xoa xoa tay ra chiều hoan hỉ:
- Yên tâm đi, Oanh này phân phối thực phẩm thì cứ gọi là... ăn từ “tươi” đến “tươi”, từ “bổ” đến “bổ”, từ “khoái” đến “khoái”...
- Thôi đi! Đừng có bốc phét. Chưa làm mà nói, tao sợ bước không qua.
Tôi cũng phải giả vờ lên giọng người phụ trách quát vào mặt nó. Thằng Oanh không hề giận, còn cúi người bắt tay tôi một cách thành kính:
- Dạ... dạ... “Binh nhất” xin nghe lời “ Đại úy”! – Chắc nó lại nghĩ đến “chức vụ” mà anh Cường phong cho chúng tôi khi... đánh trận giả xưa kia.
Biết chuyện tôi phân công Oanh làm thủ kho, Hạnh có vẻ không bằng lòng:
- Thắng đã nghĩ kỹ chưa mà phân công Oanh làm việc này. Tính Oanh liều lắm, hết gạo, hết mì, hết cả thực phẩm là khổ cho chúng mình đấy.
Tôi trấn an:
- Thắng cũng biết thế, nhưng Oanh hứa rồi. Mình tin nó sẽ làm tốt. Với lại, có gì còn mình với các bạn cùng kiểm tra nữa mà.
Mấy ngày đầu, quả thật thức ăn có vẻ tươi hẳn lên. Ai cũng nhận thấy rau xào nhiều hẳn mỡ, bóng nhẫy. Cơm đã có tóp mỡ kho với dưa, điều chưa từng thấy ở trại này kể từ hồi đi sơ tán đến giờ. Lại nữa, buổi sáng những nắm mì ăn sáng có vẻ to hơn. Mấy chị nuôi nấu ăn có vẻ vui vì đồ ăn không phải đắn đo khi chia từng suất, cũng không phải khổ vì cái cảnh cuối bữa ăn mấy đứa tranh nhau miếng cơm cháy. Một chị khen thằng Oanh: “Trông cậu Oanh nghịch như thế nhưng cũng giỏi ra trò. Thực phẩm cậu ấy quản lý hôm nào chia cho chúng tôi cũng nhiều, nấu ăn đỡ vất vả”. Mấy đứa ở trại sau bữa ăn bắt tay Oanh có vẻ trịnh trọng:
- Mày làm khá lắm, hơn hẳn chị Liên làm...
Mũi thằng Oanh phập phồng. Thằng Phiến vốn chẳng ưa gì thằng Oanh, mấy bữa được ăn no, có lẽ phởn chí mà hứa với tôi cùng thằng Oanh:
- Tối nay mày có đi tắm ở giếng làng, tao thưởng cho mày với thằng Oanh tắm xà phòng Hoa Lan.
Ở nơi chúng tôi sơ tán, có cái giếng làng to bằng cái miệng ao, xung quanh người ta xây bờ thành bằng đá ong, có bậc lên xuống. Nếu đến đó lấy nước, thay việc thả gầu múc nước thì người dân ở đây họ cứ gánh cả đôi thùng trên vai, đi theo bậc lên xuống, cho chân xuống khỏa nước, rồi vục đôi thùng nước, gánh nước lên. Cũng không giải thích được, giếng xây bên cạnh, dù nước có trong veo, uống nước cũng không ngon bằng giếng làng. Có lần, tôi đã chứng kiến một chị vừa đi làm đồng về, chân còn dính phân chuồng, dính cả bùn nữa, chị chẳng thèm rửa, cứ thế lội xuống giếng múc nước gánh về nấu ăn. Thế mà cơm ăn vẫn cứ ngon như thường, chẳng thấy ai bị đau bụng, kể cũng lạ. Lại nữa, nước ở giếng làng cũng mát hơn vì không phải một lần chúng tôi tắm ở đó...
Tất nhiên vì là giếng nước ăn, dân làng cấm tiệt tắm rửa cạnh giếng, còn vùng vẫy trong giếng thì lại càng nghiêm cấm. Nhưng với chúng tôi, nước mát thì phải vùng vẫy trong đó mới thích. Đã đôi lần, vào những đêm hè, lợi dụng lúc vắng người gánh nước, chúng tôi nhảy tùm xuống, ướt hết quần áo, khoái vô cùng. Còn lần này, thằng Phiến cho xà phòng Hoa Lan thì nhất định phải tắm một trận cho đã.
Buổi tối, khi mọi người đi gánh nước ở giếng làng đã vãn, thằng Oanh đến gọi tôi;
- Mày với tao đến rủ thằng Phiến ra giếng làng tắm, nó hứa cho xà phòng Hoa Lan lúc trưa, nhớ không?
Tất nhiên tôi quên thế nào được. Tôi với Oanh đến gặp Phiến. Phiến biết mình bị hớ khi hứa với chúng tôi là cho xà phòng Hoa Lan. Nó vốn là thằng “đại kiết lỵ”, chưa ai lấy được của nó một xu, thế mà lần này phải cho chúng tôi bôi lên đầu xà phòng Hoa Lan, một loại xà phòng mà trước đây tôi và Oanh chỉ mới sờ với ngửi chứ chưa bao giờ được bôi, chắc cu cậu cũng tiếc lắm. Nhưng biết thế nào được, vì đã hứa rồi. Thằng Phiến vào đầu giường mở hòm sắt ra, lấy bánh xà phòng Hoa Lan được bọc kỹ càng bằng mấy lớp giấy báo. Nhìn trước nhìn sau thấy không có ai, Phiến lấy nước bọt nhổ vào lòng bàn tay rồi nó xoa lên đầu từng thằng một. Tiếp đến, nó lấy miếng xà phòng xát mạnh lên đầu từng đứa. Sau đó, nó lấy giấy báo gói lại miếng xà phòng, cất vào hòm sắt. Nó giải thích:
- Phải tiết kiệm, chúng mày biết không? Mang bánh xà phòng này ra giếng, bọn trong trại biết, chúng nó ùa ra xin tao để bôi lên đầu thì... chỉ một lúc là hết. Tao dùng miếng xà phòng này gần hai tháng rồi đấy, mà gần như... còn nguyên.
Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao mấy lần trước cùng tắm với Phiến, quái lạ, rõ ràng thấy nó đổ nước lên vò đầu, mùi xà phòng bay ra thơm lừng mà để ý thì không thấy Phiến mang xà phòng. Xin Phiến, Phiến trả lời không có! Cả bọn đi tìm, không thấy. Bây giờ tôi mới hiểu cái kiểu bôi xà phòng của thằng Phiến “kiết lỵ” này. Chả trách thằng Oanh ghét nó cũng... đúng thôi!
Cả bọn ra giếng làng. Trăng cuối mùa chênh chếch đầu ngọn tre. Tiết cuối hè, đầu thu, trời lành lạnh. Trong làng, mọi vật yên tĩnh, thỉnh thoảng đâu đó có tiếng chó sủa khan, không gay gắt... Giờ này, bọn tôi yên tâm không có ai ra gánh nước, và thế là...
Đầu tiên, thằng Oanh cởi quần áo, tồng ngồng lội xuống trước. Sau đó đến tôi và thằng Phiến. Nghĩ thế nào, thằng Phiến trèo lên lấy đống áo quần của cả bọn bỏ xuống cạnh chỗ tắm. Nó giải thích: “Không tin được bọn ở đây đâu. Biết đâu thấy bọn mình tắm như thế này, chúng lên đến lấy hết quần áo, thì chỉ có nước... cởi truồng mà đi về”. Thằng này lúc nào cũng chi li từng tí một. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ, thì nó nói cũng có lý, cẩn thận chẳng bao giờ thừa cả.
Chúng tôi đứng trên bậc đá ong, khỏa nước cho đám bèo tây dạt ra. Ánh trăng rọi xuống nước sóng sánh, mát lạnh. Chúng tôi vốc nước lên đầu rồi lấy tay vò tóc, mùi xà phòng bay ra, bọt xà phòng nở ra, một lúc đã thấy trắng cả đầu. Thế này thì đầu của bọn tôi cứ gọi là... sạch nhất trại. Thằng Oanh nói với tôi:
- Tắm vừa thôi, để còn... mùi xà phòng, chứng tỏ là mình là người “ Văn minh”.
Tôi cười:
- Mày nói thế mà cũng gọi là thằng biết tắm xà phòng. Mày nghe tao giải thích đây này. Trên người còn mùi xà phòng tức là mày tắm chưa sạch, còn bẩn, không “ Văn minh”. Hiểu chưa “con”?
Oanh vẫn không chịu:
- Mày nói thế mà cũng nghe được à? Mùi xà phòng là mùi tinh dầu, họ dùng để cho xà phòng thơm chứ đâu phải hết mùi đó mới gọi là tắm sạch?Mày nói...ngu bỏ mẹ!
- Mày ngu thì có!
- Mày ngu.
Chỉ có thế thôi mà hai đứa chúng tôi cãi nhau. Thằng Phiến đứng cạnh, kệ chúng tôi cãi nhau, vẫn mải tắm. Còn hai chúng tôi vẫn hăng tiết “mày ngu”, “tao khôn”. Bỗng... cả hai thằng, tôi và Oanh đều ngưng lại cuộc cãi nhau bởi... có tiếng một bà già:
- Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Phiến sợ quá, nói run run:
- Chết rồi chúng mày ơi! Có người!
Làm sao bây giờ khi cả ba chúng tôi đều đang ở cái thế lên bờ là lộ. Trên bờ, giọng bà già càng gay gắt:
- Quái lạ, tại sao tôi hỏi không ai trả lời thế? Ai làm gì dưới giếng đó nhẩy?
Thằng Oanh ra hiệu cho chúng tôi không được nói, nó nói nhỏ:
- Chúng mày phải nghe lời tao, làm đúng như tao chỉ mới thoát được. Chứ để bà ấy hô hoán, mọi người kéo ra đây là chúng mình chết.
Oanh lấy bèo tây phủ lên đầu cả ba thằng, rễ bèo tây trùm kín mặt, trông cứ như... ma. Thế là “của thiên lại trả địa”, cái đầu vừa đấy sạch bong, thơm lừng mùi xà phòng Hoa Lan, bây giờ lại... tanh om mùi bèo tây. Phủ bèo lên đầu xong, thằng Oanh lấy đống quần áo, bắt thằng Phiến ôm trước ngực. Oanh ra hiệu cho tôi cùng nó khiêng thằng Phiến lên. Phía bên trên, tiếng bà già lẩm bẩm:
- Vừa mới nghe thấy ì oạp ở phía dưới như hai người nói chuyện, giờ sao lại im ắng thế - Tiếng bà già lại vọng xuống – Có ai ở dưới đấy không nhẩy?
Tất cả vẫn im lặng. Bà già xách một cái thùng tôn định lò dò bước xuống thì trước mặt bà một “con ma” đi bốn chân, có ba đầu, tóc tai rũ rượi, cởi truồng nồng nỗng từ dưới giếng bước lên. Cứ nhằm phía bà già, “con ma” thẳng tiến. Bà già quá sợ, ú ớ không thốt nên lời, hoảng hồn ngã lăn ra đất. Rồi bà ngồi bật ngay dậy, quỳ xuống lạy “con ma” như tế sao:
- Lạy thánh Cầu Đông, lạy ông Cầu Gõ, lạy mõ Chùa Hà, lạy bà Đồng Đậu, lạy cậu Vân Gia, phù hộ cho con, ma đừng có bắt, ơn trên độ trì, nam mô di đà...
Thằng Oanh với tôi đang khiêng thằng Phiến, thấy bà già lạy như vậy, buồn cười quá mà cố mím môi, không dám cười. Đi qua bà già một đoạn, tôi và Oanh thả oạch thằng Phiến xuống đất. Phiến la oai oái. Tôi với Oanh mặc kệ nó, ù té chạy...
Thoát nạn, cả bọn hoàn hồn.
... Mấy ngày sau, bữa ăn của chúng tôi, hôm thì có cá rô rán, hôm thì có ốc om chuối, hôm lại có cá diếc kho tương... Chuyện này cả trại chưa bao giờ nghĩ tới. Phải nói sự thông minh của thằng Oanh “phát tiết” dữ thật. Sau chuyện “sáng kiến” giả ma ở giếng làng, đến chính thằng Phiến cũng phải nói:
- Tao nghĩ lại chuyện đó cũng thấy sợ toát mồ hôi hột huống hồ bà già. Không có thằng Oanh nghĩ ra chuyện đó, chẳng biết làm thế nào để thoát.
Bây giớ đến chuyện Oanh lo thực phẩm cho cả trại. Tôi và Hạnh rất ngạc nhiên Oanh lấy đâu ra tiền mà mua lắm thứ thế? Hỏi nó, nó cứ ầm ừ cho qua chuyện:
- Chuyện vặt, chúng mày để ý làm gì? Cứ có cá kho tương, ốc om chuối... ăn được nhiều cơm là được rồi – Nó còn lên giọng ông kễnh – Đừng tò mò nhiều quá, tò mò là không tốt đâu.
- Mày đừng có đi ăn cắp đấy nhé! Chỉ một lần thôi đấy, lần này mà tái phạm, anh Cường và chị Liên về biết được là không tha đâu.
Oanh lấy tay chỉ vào mặt mình;
- Đừng “bỉ” tao nhá! Tao hiểu vấn đề chứ, dại gì làm chuyện đó? Tao chỉ muốn chứng minh một điều là bọn mình lớn cả rồi, có thể lo được mọi chuyện thế thôi.
Nó nói thì đơn giản, nhưng chúng tôi muốn tìm ra sự thật. Nước da nó mấy hôm nay trông có vẻ đen hơn, lại còn chuyện nghỉ học vì lý do “mệt”. Thực ra nó có mệt gì đâu. Tôi truy mãi, rồi Oanh cũng phải thú nhận:
- Tao nghĩ rồi, đến hai ba tháng nay, cả trại chúng mình có bao giờ được ăn bữa cơm no, được ăn bữa rau xào nào có tóp mỡ. Tranh thủ chị Liên, anh Cường đi vắng, tao cho cả trại ăn thả dàn vài bữa. Còn sau đó, mày biết tao làm thế nào không? Tao lấy lý do “mệt” nghỉ học rồi đi tát cá. Còn nữa, giữa trưa, tao nghĩ ra cách mang rổ đến mấy đám bèo tây trong mấy cái ao, hứng ở dưới, lấy gậy đập ở trên. Nước nóng, lũ cua đang bám vào rễ bèo rơi vào rổ. Đấy, chăm chỉ một tí cả trại có cái ăn thôi.
Nghe Oanh nói, chúng tôi rất thương nó. Thì ra trong con người của nó vẫn ẩn chứa những tình thương đồng loại mà trước đây tôi không phát hiện ra. Tính cách của thằng Oanh cũng có mặt xấu, nhưng cũng có mặt tốt. Nó không phải là một đứa chỉ nghĩ ra những trò nghịch ngợm hay ăn cắp vặt. Nếu biết động viên, tin tưởng Oanh, Oanh sẽ làm được nhiều việc tốt. Tuy thế tôi lại nghĩ, Oanh có thể làm một, hai ngày thì được, chứ làm sao như vậy cả tuần. Tôi nói với nó:
- Tất nhiên việc mày làm là tốt, nhưng một mình mày làm sẽ ảnh hưởng đến việc học và sức khỏe của mày, rồi chúng tao lại mang tiếng là ăn bám vào mày. Thế này nhé, từ giờ trở đi, đi tát cá hoặc vớt cua bám bèo, mày gọi chúng tao đi cùng, cùng làm với mày, hay hơn...
Từ hôm đó, bà con trong xóm không khỏi ngạc nhiên thấy đám trẻ thành phố về sơ tán cứ trưa trưa lại cắp rổ đến các ao bèo giũ cua bám rễ bèo hoặc chiều chiều lại ra mấy chỗ ruộng xâm xấp nước tát cá. Họ thán phục;
- Con trai thành phố mà chăm không khác mấy đứa trẻ ở nông thôn.
Chúng tôi vui với lời khen đó, mà vui nhất là thằng Oanh.






4

Anh Cường đi bộ đội đã được hai tháng. Nghe đâu ânh cùng đơn vị huấn luyện ở tận Hải Dương, chuẩn bị vào chiến trường ở miền nam. Mới đó tôi và mẹ tiễn bố vào chiến trường cũng hơn hai năm rồi. Bố vào chiến trường, nói sẽ gửi thư ra, mà gia đình tôi cũng chẳng thấy tin tức gì? Em Minh thỉnh thoảng lại nhớ bố, nó hay hỏi mẹ:“ Mẹ ơi! Bố đi bao giờ về ? Con nhớ bố lắm.”. Mẹ ôm thằng Minh vào lòng, nước mắt chảy dài. Thương nhất có lúc mẹ nói: “ Lạy giời! Bố của hai con đừng chết, về với gia đình mình, có que, cụt, mù mắt... khổ mấy mẹ cũng nuôi được.”. Với chị Liên, từ ngày anh Cường lên đường đi bộ đội, nét mặt của chị trông ưu tư hẳn. Chúng tôi không còn nghe thấy tiếng cười hồn nhiên vô tư của chị như hồi anh Cường còn ở nhà. Không phải chỉ riêng tôi mà tất cả bọn trẻ của trại sơ tán Liên Cơ đều biết chị Liên và anh Cường chơi thân với nhau. Mọi việc ở trại hai người đều trao đổi với nhau, đi đâu cũng có hai người. Tôi còn có cảm giác hai người yêu nhau nữa kia. Không phải vì chuyện tôi và Hạnh bắt gặp hai người hôm đi xem cải lương về mà tình cảm của chị Liên dành cho anh Cường khác với mọi người. Khi anh Cường đi khám nghĩa vụ quân sự, chị Liên đi cùng anh ấy về Sơn Hà trong tâm trạng thấp thỏm. Những ngày chờ quyết định của thị đội, nét mặt chị Liên rất buồn, anh Cường cứ phải động viên suốt. Rồi đến ngày anh Cường lên đường, đó là ngày nặng nề của chị. Trông nét mặt chị Liên già hẳn. Anh Cường nhập ngũ, mọi việc ở trại dồn lên hai vai chị. Trừ những buổi đi học, thời gian còn lại chị Liên lo cho chúng tôi , từ chuyện đi mua gạo, thực phẩm đến chuyện học hành, ốm đau...của từng đứa. Thương chị, tôi và Hạnh cũng cố giúp chị. Thằng Oanh cũng bớt nghịch, nó hiểu mọi việc hơn, có ý thức những việc làm của mình.
Còn chuyện tôi với Hạnh.
Không hiểu sao, lúc nào tôi cũng muốn giúp Hạnh, để hai đứa được gần nhau. Hôm tôi thấy Hạnh chuẩn bị rổ rá đi vớt bèo cho lợn hộ bà chủ nhà, tôi vội sốt sắng bỏ tất cả để cùng đi với Hạnh. Hạnh rất ngạc nhiên:
- Sao Thắng không ở nhà học bài? Đi nhặt bèo với Hạnh bẩn lắm.
- Thắng học bài xong rồi! Để Thắng giúp Hạnh nhặt bèo cho nhanh – Tôi chỉ trả lời có vậy, rồi sợ Hạnh không đồng ý, tôi giằng lấy cái rổ trên tay Hạnh, kéo Hạnh cùng đi với mình. Cái ruộng bèo cạnh rìa làng cạn nước, bèo nằm phơi trên mặt bùn. Chân tôi và chân của Hạnh lồi bì bõm. Có chỗ bùn nhão, lún đến tận trên bắp chân. Đưa tay cho Hạnh nắm, tôi cố sức kéo Hạnh lên. Quá đà, chỉ một chút nữa là Hạnh ngã cả người vào người của tôi. Chỉ có thế thôi, mà sao tôi có cảm giác vui vui. Mặt trời lên cao, rổ bèo cũng gần đầy, mồ hôi hai đứa nhễ nhại, không biết lúc đó nét mặt của tôi ra sao ? Còn Hạnh, một khuôn mặt đỏ hồng với ánh mắt long lanh. Tôi nhìn Hạnh chăm chú, Hạnh có vẻ ngượng:
- Thắng đừng nhìn Hạnh như thế nữa, trông chán lắm. Cứ y như hôm Hạnh ngồi trong lớp bị Thắng nhìn ấy...
Ở lớp, Hạnh ngồi gần bàn cuối, còn tôi ngồi ở phía trên, cách bàn của Hạnh mấy dãy. Không hiểu sao, hôm ấy tôi đứng lên, quay xuống phía dưới, bắt gặp khuôn mặt của Hạnh, nhất là ánh mắt, cái ánh mắt như hút hồn, như không cho tôi quay mặt sang hướng khác. Thấy tôi nhìn chăm chăm vào mình, Hạnh buồn cười quá, nhắc tôi:
- Thắng ơi! Ngồi xuống đi...
Tôi giật mình, ngồi xuống, ngượng ngùng.
Bây giờ Hạnh nhắc lại chuyện này. Hôm đó đúng là tôi ngượng, còn hôm nay tôi mạnh mồm:
- Thắng thích thế đấy, Hạnh cấm à !
Hạnh lấy tay đấm khẽ vào lưng tôi:
- Thắng đừng nhìn như thế, Hạnh không thích đâu.
Tôi hỏi Hạnh:
- Hạnh có thích Thắng làm giúp không ?
Hạnh cười, nhìn tôi với ánh mắt rất lạ:
- Không hiểu sao Thắng hỏi Hạnh câu ấy nhỉ? Với lại ...- Hạnh quay mặt đi chỗ khác – Mọi việc Hạnh đều tự làm được. Lúc nào khó, Hạnh sẽ nhờ Thắng. Ở trại, Hạnh thấy Thắng còn bận bao nhiêu việc giúp chị Liên.
Nghe Hạnh nói như vậy, máu tự ái trong người tôi nổi dậy. À ! Nói như thế hả, đây cũng cóc cần. Cũng đừng tưởng đấy là cái gì ghê gớm. Bình thường thôi!Người ta “ quý” mới đến giúp. Còn không cần, đây cũng chẳng dại cầu xin.
Nghĩ như vây, tôi đùng đùng bỏ về, mặc cho chân lội bùn thụt lên, thụt xuống. Bùn bắn lên đến tận mặt, tôi cũng mặc kệ. Hạnh thấy tôi không nói, không rằng tự nhiên bỏ về, gọi với theo:
- Ơ! Thắng ơi, giúp Hạnh bê rổ bèo này về với.
Tôi như không nghe thấy, cứ thế bỏ đi thẳng.
Về nhà, bình tâm, ngồi nghĩ lại, thấy suy nghĩ và hành động của mình cũng vô lý. Hạnh nói thế cũng là bình thường , nào ý gì khinh mình đâu. Hơn nữa, Hạnh nói đúng quá rồi còn gì. Thì cũng giống mình, khi nào có những việc không thể một mình làm được mới đi nhờ người khác. Như hôm nọ, áo tôi bục một đường chỉ, thực ra tôi còn xé ...cho đường chỉ bục to hơn, không khâu được. Tôi mang chiếc áo bị bục đường chỉ đó đến nhờ Hạnh khâu hộ. Hạnh khâu lại cho tôi rất cẩn thận, đâu có từ nan. Mọi chuyện Hạnh nói đúng, đơn giản, có lý tôi lại biến nó thành “ phức tạp”, đi tự ái, quả là vô lý. Tôi phải đến xin lỗi Hạnh.
Tôi đi tìm Hạnh, nghe mấy bạn trong trại nói, Hạnh đã bê rổ bèo về đến nhà rồi. Tôi vội sang đó, trong đầu hình thành những câu nói sao cho nó có tình, có lý nhất để Hạnh hiểu, tha lỗi cho tôi. Cũng coi như đây là một lần để tôi rút kinh nghiệm. Nghĩ trong đầu như thế, nhưng đến ngõ nhà mà Hạnh đang ở, cái gì đập vào mắt tôi thế kia? Thằng Oanh đang ngồi cùng Hạnh thái bèo. Nó với Hạnh nói chuyện gì mà trông có vẻ rôm rả lắm, Hạnh cười ngất. Tôi nép vào bên cống quan sát thấy hết tất cả. Trong người tôi lúc ấy, sự tức giận dâng lên không thể tưởng. Hạnh phải là của tôi, Hạnh không được nói chuyện với bất kỳ ai khác, ngoài tôi. Tại sao Hạnh có thể cợt nhả với thằng Oanh được nhỉ? Chính Hạnh cũng từng có lần khuyên tôi không nên chơi thân quá mức với Oanh, vì tính Oanh còn trẻ con lắm. Hạnh nói với tôi như thế, sao giờ đây Hạnh lại có thể ngồi nói chuyện được với Oanh? Còn chuyện gì thế kia nữa? Thằng Oanh thái bèo bị dao cứa đứt tay. Ối giời! Chảy có tý máu mà làm ra vẻ! Thằng Oanh ôm ngón tay, nét mặt nhăn nhó. Nét mặt lo lắng, Hạnh chạy vội vào trong nhà lấy cái bát điếu của ông chủ nhà quay ra ngay, lẫy bã thuốc lào đắp vào chỗ Oanh bị đứt tay. Trông Hạnh và Oanh có vẻ tình tứ. Thế kia thì...thôi, thế là Hạnh đã phản bội tôi, không còn chơi thân với tôi nữa. Những suy nghĩ ban đầu của tôi về Hạnh đâu có sai. Tôi phải dạy cho Hạnh và cả thằng Oanh nữa một bài học. Đang cùng sôi sục với những suy nghĩ đó, bàn tay tôi bám vào thành cổng bóp vụn những mảng tường vôi bở. Ông chủ nhà dắt con bò đến gần lúc nào mà tôi không hay:
- Cháu làm gì ở đây? Sao không vào nhà?
Tiếng của ông chủ nhà hỏi làm tôi giật mình:
- Không ạ! Cháu...cháu... chờ bạn...
Tôi tìm cách chống chế, rồi không kịp chào ông ấy, tôi quay đầu đi thẳng.
Cả mấy hôm liền, tôi học bài không vào. Thằng Oanh có hỏi, tôi cũng không muốn trả lời. Hạnh lo lắng cho tôi:
- Thắng ốm à?
Tôi im lặng, có cảm giác tủi thân, nhưng tôi cố kìm không muốn thể hiện ra bên ngoài. Sau buổi học, tôi hay tha thẩn dọc bờ mương với một nỗi buồn không thể giải thích được.
Tôi gặp chị Liên, mong ở chị một lời khuyên và hy vọng, biết đâu lại giải tỏa nỗi buồn.
Đêm ấy, trăng sáng lắm. Trăng thu hắt một ánh sáng vàng nhẹ khắp cả cánh đồng. Tôi và chị Liên ngồi trên một vệ cỏ nhìn ra xa. Phía ấy, có ánh chớp liên hồi, sau đó có tiếng nổ ì ầm, rồi tiếng máy bay văng vẳng... Nơi ấy đang bị máy bay Mỹ ném bom. Không biết bao giờ chiến tranh mới chấm dứt. Nỗi buồn này liên tiếp với nỗi buồn khác. Chị Liên hỏi tôi:
- Nào, em có điều gì muốn tâm sự với chị?
Tôi thấy lúng túng thật sự. Chị Liên giục:
- Nói đi em!
Tôi hỏi chị Liên:
- Chị Liên ơi, thế nào là... tình yêu?
Chị Liên hỏi lại tôi:
- Tại sao em lại hỏi chị câu ấy? Năm nay Thắng bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?
- Em mười sáu.
Chị Liên im lặng. Tôi cũng không hiểu chị hỏi tuổi của mình để làm gì. Chị Liên thở dài, tiếng thở dài như nuối tiếc, rồi chị bảo:
- Bằng tuổi của em, chị với anh Cường cùng các em đi sơ tán. Mới đó đã hơn hai năm rồi. Nhưng hồi đó, chị và anh Cường cũng chỉ chơi với nhau thôi, chứ không phải yêu...
- Nhưng em muốn hỏi chị thế nào là tình yêu cơ mà...
- Tình yêu... – Chị Liên nói gần như thì thầm – Có lẽ với tuổi em cũng là hơi sớm, cả với tuổi của chị nữa, có khi chị cũng chưa hiểu hết hai từ đó đâu. Nhưng... tình yêu là... hai người phải thực sự thương nhau, hiểu nhau, không giấu nhau một điều gì cả và đặc biệt đi xa phải nhớ nhau... Nó như thế này, cũng một tối giống như đêm nay, em ngồi cạnh chị, có khác tối ấy là anh Cường. Anh Cường nói với chị nhiều điều lắm. Đến bây giờ chị nhớ như in, thậm chí, chị có cảm giác... hơi ấm của bàn tay anh Cường tối ấy nắm tay chị vẫn còn ấm đến tận giờ. Nhớ ghê gớm như thế. Chị tin anh Cường cũng rất nhớ chị... – Chị Liên nhìn vào tôi – Em có nhớ người ta không?
- Em cũng không hiểu nữa, vì em có xa người ta đâu? Nhưng... – Tôi cố gắng diễn giải – Em chơi thân với người đó, người đó nói chuyện với em vui lắm. Thế sao người ấy cũng lại chơi thân với người khác... giống như chơi thân với em?
Chị Liên giải thích:
- Đó không phải là yêu, em ạ. Mà tại sao em lại cấm người ta chơi thân với người khác cơ chứ? Em nói là mới “chơi thân”, thế người ta đã là gì của em đâu. Hơn nữa, đến khi đã yêu, theo chị nghĩ, cũng không thể nào bắt người kia phải lệ thuộc vào mình, không được chơi với ai. Như vậy là ích kỷ.
- Nhưng... – Tôi cố gắng bảo vệ ý kiến của mình – đã chơi thân với em lại chơi thân với người khác nữa, thế không phải là...là... là bạn tốt...
- Em nhầm, em nghĩ về tình bạn như vậy đã sai, tình yêu lại càng sai. Thôi em ạ, bao giờ em lớn em sẽ hiểu. Tuổi em bây giờ là phải học thật tốt. À, chị hỏi em, bạn thân của em là... ai vậy?
Tôi không nói. Tôi sợ nói cho chị Liên, Hạnh biết được sẽ giận tôi. Chị Liên thấy tôi có vẻ khó xử, xoa đầu tôi:
- Thôi, cậu bé ạ! Cậu còn trẻ con lắm, chưa đến tuổi yêu đâu. Nói thật nhé, tôi cũng biết bạn thân của cậu là ai rồi... Đứng dậy về đi, sương rơi nhiều quá, ở đây lạnh đấy. Em nhớ phải học giỏi đã, đừng yêu sớm như chị, khổ lắm.
Hai chị em tôi trở về trại.
Trong trại còn đôi ba đứa chụm đầu vào nhau học dưới ánh đèn dầu leo lét. Thằng Oanh nằm cạnh giường tôi ngủ vùi. Tôi biết chắc nó ngủ say bởi chiều nay đội bóng của trại đá với đội bóng trong làng, Oanh là thằng tiền đạo, nó chạy nhiều nhất. Mà hình như Oanh cũng chẳng để ý đến nỗi buồn của tôi. Nó hỏi, tôi không nói, nó vẫn vô tư, không để ý, không giận, vẫn chơi với Hạnh, vẫn đá bóng, thỉnh thoảng lại nói đứa này hôi nách, đứa kia thối mồm, đứa nọ đầu đầy chấy, trong đó có cả Hạnh. Khiếp bỏ mẹ! Ấy vậy mà tôi lại túc với Oanh khi nó chơi với Hạnh. Kể cũng ...vô lý to đùng đùng!
Tôi đi qua chỗ Hạnh thường ngồi học, ngạc nhiên không thấy Hạnh ở đó. Tất nhiên tôi biết rất rõ lúc này Hạnh không đi nói chuyện với Oanh rồi. Vậy Hạnh đi đâu? Tự nhiên tôi muốn đi tìm để nói chuyện với Hạnh. Khi tức giận, rất dễ mất bình tĩnh, lúc ấy mọi lỗi lầm tôi cứ nghĩ chỉ do Hạnh, lúc bình tĩnh trở lại mới thấy lỗi đó lại do mình. Không biết chuyện này có ai giống tôi không ? Đi khỏi trại một đoạn, trên con đường làng thưa vắng bóng người, chỉ có đom đóm bay lập lòe trước mặt lúc xa, lúc gần và vài cơn gió lạnh thổi từng đợt, từng đợt. Bỗng tôi thấy một bóng đen đi ngược chiều với mình, dáng rất vội vã. Nhìn kỹ, hóa ra là Hạnh. Tôi chưa kịp hỏi, Hạnh đã hỏi luôn:
- Thắng phải không ? Thắng có thấy chị Liên ở đâu không?
Mọi chuyện định nói chuyện với Hạnh tan biến. Mà hình như Hạnh cũng không để ý đến chuyện giận dỗi của tôi thì phải. Tôi trả lời với Hạnh trong tâm trạng hoàn toàn thỏa mái:
- Chị Liên vừa ngồi nói chuyện với Thắng xong. Hình như chị ghé lại chỗ mấy chị nuôi...
- Thắng đi với mình, có chuyện gấp lắm! – Hạnh kéo tay tôi đi, vừa đi vừa nói có vẻ chuyện đang xảy ra rất trầm trọng- Chuyện này chỉ có thể nói với Thắng thôi...
- Sao Hạnh không nói chuyện đó với Oanh? – Tôi vẫn chưa nguôi chuyện cũ.
-Tính Oanh bộp chộp lắm, không giữ được bí mật đâu. Hạnh chỉ tin Thắng thôi – Hạnh giải thích cho tôi.
Tôi nghe Hạnh trả lời như vậy, thở ra một cách nhẹ nhõm. Thấy mọi việc trở nên dễ dàng biết bao nhiêu. Mọi chuyện đã rõ ràng, sao tôi cứ tự hành hạ mình, nghĩ Hạnh thế này, thế nọ. Lúc này Hạnh có rủ tôi đi lên trời tôi cũng cũng đi. Tôi hỏi Hạnh:
- Có việc gì mà gấp thế ? Hạnh nói cho Thắng biết đi.
Cả hai chúng tôi dừng lai. Hạnh nói thì thầm :
- Anh Cường trốn đơn vị về thăm trại mình và...chị Liên. Mình đi tìm chị Liên suốt từ tối đến giờ.
- Anh Cường đào ngũ! – Tôi sửng sốt.
Hạnh vội lấy tay bịt miệng tôi lại:
- Sao Thắng nói to thế. Không phải anh Cường đào ngũ mà là, như anh ấy nói ...nhớ chúng mình ...nhớ chị Liên quá...Anh ấy về thăm ít hôm rồi sẽ quay về lại đơn vị...
- Sao anh Cường không xin phép đơn vị mà phải trốn? – Tôi vẫn thắc măc.
- Hôm nay Hạnh thấy Thắng thật lạ, hỏi lắm thế ? Làm sao chuyện đó Hạnh biết được? Nhưng có lẽ anh ấy xin về ...thăm chúng mình mà họ... không cho, nên anh tìm cách trốn...
Hạnh dẫn tôi đến gặp anh Cường, anh ấy đang ngồi thu lu trong góc sân đình làng. Đình làng này ban ngày vốn là lớp học của chúng tôi. Anh Cường gặp tôi mừng lắm, còn tôi khỏi phải nói, cứ muốn ôm rít lấy anh. Mới có hơn một tháng xa anh Cường, mà sao tôi thấy lâu là vậy. Tôi nói với anh Cường, anh cứ ngồi đây, để tôi đi tìm chị Liên, còn Hạnh sẽ đi tìm cái ăn cho anh ấy.Anh Cường cho chúng tôi biết, anh phải đi bộ từ ba giờ sáng, mà đi toàn đường tắt, không dám đi đường lớn sợ bị bắt. Từ sáng đến giờ chưa có cái gì vào bụng, trừ mấy củ khoai lang non anh móc ở ruộng, uống vội mấy ngụm nước lã. Nghe anh Cường nói vậy, tôi thương quá. Không biết sau này mình đi bộ đội, rồi cũng yêu, có dám làm như anh Cường không ?
Tôi tìm được chị Liên, bí mật báo tin này cho chị biết. Khỏi phải nói chị Liên mừng đến độ nào. Trên con đường làng lồi thụt lỗ chân trâu ấy, tôi chạy đôi khi còn vấp ngã mà chị Liên chạy, thật lạ, chẳng vấp ngã gì cả, cứ như bay thì đúng hơn...
Khi chị Liên gặp anh Cường, Hạnh kéo tay tôi ra hiệu đi ra ngoài để cho hai người nói chuyện tự nhiên. Hạnh nhắc khéo tôi:
- Thắng chẳng tế nhị một chút nào. Bây giờ không phải như hai đứa mình đi xem cải lương về gặp hai người đâu.
Tôi cười trừ, nhận lỗi, đi theo Hạnh. Phải công nhận những chuyện như thế này bao giờ con gái cũng xử lý khéo hơn con trai. Hạnh cho tôi biết:
- Hạnh đến bác chủ nhà mà hồi trước anh Cường ở cho bác biết là anh Cường đã về. Thế là bác gái cùng mình bê cả nồi cơm và mang cả bát cá rô kho tương ra cho anh Cường. Cả gia đình bác ấy thương anh Cường ghê.
Nghe Hạnh nói vậy, tôi giật mình:
- Sao Hạnh làm thế, lộ ra là chết!
- Anh Cường nói với mình đến đó đấy! – Hạnh giải thích – Nhà bác ấy cũng có con đi bộ đội, bác ấy hiểu. Hồi anh Cường ở đấy, hai bác thương anh ấy như con...
Chuyện anh Cường trốn đơn vị về thăm trại, chỉ hôm sau, cả trại biết. Làm sao mà dấu mọi người được, nhưng chúng tôi thống nhất một cách tuyệt đối là không cho người ngoài biết. Sự thống nhất của chúng tôi đã có một tác dụng không thể tưởng tượng nổi.
Hai hôm sau, kể từ tối anh Cường trốn đơn vị về thăm chúng tôi, anh Khanh dẫn hai anh bộ đội, một anh đeo súng ngắn, còn anh kia trẻ hơn, khoác một khẩu súng dài, về trại chúng tôi để truy tìm anh Cường. Đã rất lâu chúng tôi không gặp anh Khanh, mà trong trí nhớ của từng đứa, có khi chúng tôi cũng quên anh ấy rồi. Bây giờ nghe đâu anh Khanh đã lên chức Phó bí thư Đảng ủy khu phố Lê Lợi, phụ trách công tác tuyển quân. Thế nên anh ấy mới đi truy tìm anh Cường. Anh Khanh tập hợp hết chúng tôi lại ở giữa sân hợp tác, lên giọng:
- Trong khi cả dân tộc đang dồn sức chống xâm lược Mỹ thì tên Cường, một quân nhân, đã đào ngũ. Tên Cường biểu hiện hèn nhát, sợ chết, đầu hàng trốn về phía sau làm hoen ố truyền thống kiên cường cách mạng của khu phố chúng ta. Các em có trách nhiệm giúp các anh đây - Anh Khanh chỉ hai anh bộ đội đứng bên cạnh - Bắt bằng được tên Cường, đưa Cường ra tòa án quân sự để xử. Mấy hôm nay các em có thấy tên Cường về đây không ? - Anh Khanh hỏi chúng tôi.
Chúng tôi đều trả lời là không thấy. Hôm ấy anh Khanh cùng hai anh bộ đội đi lùng anh Cường khắp mọi chỗ, hỏi rất nhiều người, trong đó có cả hai bác chủ nhà, nơi anh Cường đã ở. Mọi người đều nói, không biết, không thấy. Trước khi về lại Sơn Hà, anh Khanh gọi tôi ra , dặn dò, giọng có vẻ uất lắm:
- Thế này Thắng ạ! Việc tên Cường đào ngũ, anh thấy nhục quá. Làm sao ở một khu phố chúng ta lại có một thằng hèn như vậy. Vì thế, em thấy Cường lảng vảng quanh đây, phải lập tức báo ngay cho người lớn biết, bắt tại chỗ. Em làm tốt nhiệm vụ này, anh sẽ khen.
Tôi im lặng, không trả lời.
Tội cho anh Cường, mấy ngày anh bí mật về thăm trại mang tiếng là “ đào ngũ”, điều anh lo nhất là mấy cái hầm trú ẩn quanh trại. Anh nói: “ Các em đắp đất mỏng như thế này làm sao mà chống được với bom bi? Phải đắp đất dày lên.”.Anh cùng chúng tôi không kể sáng tối, đắp đất thành hầm thật cật lực. Anh làm như sợ không đủ thời gian. Anh bàn với chị Liên nên tranh thủ lúc mọi người gặt lúa trại nên xin một ít rạ lợp lại mái nhà tập thể. Có mấy tối anh ở lại với chúng tôi, anh Cường bắt mấy đứa dốt toán nhất mang vở ra cho anh ấy kiểm tra. Chúng tôi không muốn anh Cường đi xa.Không thể có điều đó, anh Cường là người có tự trọng. Trước lúc về lại đơn vị, anh Cường gọi tôi, Hạnh với thằng Oanh cùng mấy đứa nữa, lớn tuổi nhất trong trại đến để anh dặn dò:
- Anh phải về lại đơn vị. Anh không phải là một thằng “ hèn” như anh Khanh đánh giá – Anh nói với chúng tôi như một lời tâm sự của người anh với mấy đứa em – Anh thấy kiểu huấn luyện vừa rồi chắc sắp đi chiến đấu ở Quảng Trị, khó có thể về thăm các em và chị Liên. Xin về, chắc chắn họ không cho, anh đành liều vì nhớ các em và chị Liên quá. Về lại lần này rồi không biết còn có thể gặp lại các em nữa không ? Còn có ngày nhìn thấy nhau nữa không ?- Anh Cường ôm từng đứa vào lòng – Các em sống ở đây phải thương lấy nhau, đừng làm việc gì xấu để bố, mẹ , chị, em và các bác, các cô ở đây buồn phiền. Phải biết nhường nhịn, học thật giỏi, có đạo đức thế là anh mừng. Dù ở phương trời nào anh vẫn rất nhớ các em.
Anh Cường không khóc, nhưng mắt anh đỏ hoe. Hạnh và chị Liên khóc thành tiếng. Còn tôi, thằng Oanh và mấy đứa khác đứng chết lặng.
Anh Cường tạm biệt chúng tôi, bước mạnh ra phía trước, để lại cho tất cả một nỗi trống vắng không thể tả...






Mùa đông năm ấy không hiểu sao tiết trời lại lạnh một cách ghê gớm như thế. Ngoài trời, gió bấc thổi hun hút, mấy tàu chuối lá chuối cạnh trại rách tơi tả, rũ rượi mặc cho gió muốn làm gì thì làm. Đã vậy, còn có những cơn mưa phùn dầm dề làm cho cái lạnh thấm vào người thật tái tê. Mấy cái áo bông mẹ gửi cho tôi và em Minh mặc cũng không đủ ấm. Ngồi trong lớp với ánh sáng tù mù, tay tôi cầm bút, hơi lạnh thấm vào làm cho các ngón tay cứ như bị khô cứng cả lại. Những tối về ngủ, cả bọn bên giường con trai cố quấn chặt vào nhau, thằng nào cũng muốn len vào giữa. Bên con gái cũng thế, không đứa nào chịu nằm bên ngoài. Chị Liên phải đứng ra làm trọng tài để xếp chỗ...
Từ chiều đến giờ, tôi đang có một nỗi lo cháy ruột: Không hiểu sao Hạnh và một số bạn nữa, được chị Liên phân công đi mua gạo cho trại đến bây giờ vẫn chưa về? Trời lạnh thế này, đường quê lại khó đi, không đèn đóm, mang vác nặng, không biết Hạnh và mấy bạn sẽ xoay xở ra sao? Lẽ ra, tôi và Oanh làm việc này, nhưng có việc đột xuất nhà trường phân công, nên không đi được, chị Liên phân công Hạnh và mấy bạn nữa, đi thay. Cứ nghĩ, độ bốn, năm giờ chiều là Hạnh và các bạn có mặt ở nhà, thế mà đến bây giờ hơn bảy giờ tối, chẳng thấy mọi người đâu. Cơm canh để phần cũng nguội lạnh hết cả rồi.
Tôi ăn cơn cùng mấy bạn không hề có cảm giác, cố ăn nhanh để đứng lên. Nhìn sang mâm cơm để phần cho Hạnh cùng mấy bạn mà tôi tưởng tượng ra đủ thứ chuyện. Có lẽ gạo bị đổ, hoặc các bạn đi lạc, cũng có khi... các bạn bị bọn xấu cướp hết tiền, tem phiếu. Tôi đã nghe một câu chuyện tương tự xảy ra ở xã bên.
Thấy tôi cứ bồn chồn hết ra lại vào thỉnh thoảng lại hỏi chị Liên làm chị Liên cũng sốt ruột. Chị gọi tôi với Oanh lại:
- Không biết vì sao bây giờ mà Hạnh cùng với mấy bạn vẫn chưa về. Chị cũng cảm thấy lo lo. Hai em thử đi xem tình hình như thế nào? Lẽ ra chị sẽ đi cùng các em, nhưng ở trại có hai bạn đang cấp cứu vì sốt, chị phải ở lại. Có chuyện gì thì một trong hai em phải về đây ngay báo cho chị biết.
Nói xong, chị Liên giục tôi và Oanh mặc thêm áo ấm, khoác áo mưa, tay mỗi đứa cầm thêm một cái gậy đi ngay trong đêm.
Đêm mùa đông đen kịt như đặc quánh lại. Oanh đi trước tôi có nửa mét mà chẳng nhìn thấy gì cả, chỉ nghe ở phía trước tiếng sột soạt của áo mưa, tiếng nước mưa rơi xuống mặt đường tí tách, tiếng gió thổi rít bên tai. Có lẽ cảm nhận rõ nhất là cái lạnh ngắt của mặt đất thấm vào gan bàn chân. Oanh quay lại dặn tôi:
- Mày cố bám sát vào tao, đi gần sát nhau cũng có khi cũng bớt lạnh. Tao nghe một số người nói như thế.
Bớt lạnh thì chưa chắc, nhưng bớt sợ, bớt đi nỗi cô quạnh thì đúng hơn. Hai chúng tôi vẫn lầm lũi đi. Mưa rây nặng hạt, chưa có dấu hiệu ngừng. Gió vẫn thổi lúc nhẹ, lúc mạnh. Hai tay tôi tê cứng bởi một tay nắm chặt hai mép áo mưa vào nhau. Còn tay kia nắm chặt cây gậy chống chọi với đường trơn và gió.
Dọc đường, hầu như chúng tôi chẳng gặp ai đi ngược chiều để hỏi chuyện. Giời lạnh thế này, có phát rồ mới ra đường. Khi Tôi và Oanh đến cửa hàng gạo mà trại thường mua, xung quanh đóng cửa im ỉm, trước cửa hàng lạnh ngắt không một bóng người. Tìm mãi, mới thấy ở góc cửa hàng có một ánh đèn dầu le lói. Tôi với Oanh lò dò tiến đến chỗ có ánh sáng của ngọn đèn dầu đó. Tiếp chúng tôi là một người đàn ông, nghe tiếng nói có thể đó là một người trung niên, không biết béo hay gầy vì ông ta khoác trên mình một tấm chăn chiên to xù. Chúng tôi chào người ấy và hỏi có thấy mấy bạn chúng tôi đến đây mua gạo không ?Người đàn ông này cho biết:
- Cửa hàng này hết gạo và hết mỳ gần một tuần nay. Muốn mua gạo và mỳ phải đi sang cửa hàng gạo đóng ở Minh Trung, cách đây gần hai chục cây số, có lẽ mấy em ở trại Liên Cơ đi sang đó mua gạo rồi.
Chỉ có thể như thế thôi nên Hạnh và các bạn đi bây giờ mới chưa về. Một tình huống tôi và Oanh không tính đến. Tôi và Oanh chào người đàn ông rồi đi ra. Phải đi tìm bằng được Hạnh và mấy bạn. Hai chúng tôi bàn với nhau. Oanh sẽ quay về trại báo tin này cho chị Liên biết để chị cử thêm người tiếp viện, còn tôi sẽ đi sang Minh Trung giúp Hạnh và các bạn.
Oanh quay về, còn tôi, một tay cầm gậy chống, một tay tiếp tục túm chặt tấm ni lông, lần theo con đường cái sang Minh Trung.
Hạnh ơi! Bạn ở chỗ nào? Bạn có biết bây giờ Thắng lo cho bạn và các bạn cùng đi, nhiều như thế nào không ? Lẽ ra, cửa hàng hết gạo các bạn quay về báo cho chị Liên và bọn mình biết, làm sao thân con gái, bạn liều như thế?
Mưa hình như mỗi lúc một nhiều hơn, gió thổi mỗi lúc cũng như mạnh hơn. Lúc nãy đi cạnh Oanh, có lúc tôi cũng thấy sờ sợ khi nhìn ra xung quanh. Nhưng không hiểu sao bây giờ tôi chẳng sợ một điều gì cả. Xung quanh tôi, vẫn đồng không, mông quạnh, không một bóng người, tiêng côn trùng rỉ rả.. .sao tôi lại thấy bình thường, cố nhìn ở phía trước, mong phát hiện ra Hạnh và các bạn.
Trời vẫn mưa.
Gió vẫn thổi.
Có lẽ tôi đã đi được một đoạn đường cũng khá xa. Mệt, lạnh và cả sốt ruột nữa. Tôi tựa vào một thân cây đứng ven đường, nghỉ một chút lấy sức. Tự nhiên có tiếng người lao xao ở phía trước làm cho tôi bừng tỉnh, mọi mỏi mệt như tan biến. Có thể Hạnh và các bạn đang về! Đúng như suy nghĩ của tôi, đúng là nhóm của Hạnh đang vác gạo trở về.
Gặp tôi, các bạn reo lên mừng rỡ. Tôi vội đỡ ngay chiếc ba lô đựng gạo của của Hạnh. Hạnh ngăn lại, lắc đầu:
- Thắng vác gạo hộ cho Tiến đi. Bạn ấy mệt lắm rồi. Hạnh còn sức, còn đi được!
Sức vóc của Tiến không được khỏe vẫn xung phong đi vác gạo, giờ đã mệt. Tôi đỡ bao gạo cho Tiến, quay lại trách nhẹ Hạnh:
- Không có gạo ở cửa hàng chúng mình hay mua, thì Hạnh cho các bạn quay về có sao đâu, để ngày mai mua cũng được. Sao Hạnh với các bạn liều thế!
Hạnh giải thích:
- Thắng không biết sao? Các kho gạo chỉ bán từ ba giờ chiều trở đi thôi vì họ sợ máy bay Mỹ ném bom. Hơn nữa, phải tranh thủ đi ngay mà mua, trại của chúng mình cũng sắp hết gạo rồi. Đến lúc trại mình không còn lương thực, ở đây cũng hết gao, cửa hàng bên Minh Trung cũng hết gạo, bọn mình lấy cái gì mà ăn? Nghĩ thế, cả bọn quyết tâm sang luôn Minh Trung mua gạo.
- Mua gạo với mỳ xong thì gửi đấy rồi về báo cho chúng mình biết để cả trại đi lấy gạo có tốt hơn không ?
- Mình cũng định thế - Hạnh nói – Nhưng từ trại mình sang Minh Trung đâu có gần, mỗi người cố một tý để đỡ vất vả lần sau.
Trong khó khăn, chúng tôi đã sống vì nhau, vì cái tập thể nhỏ nhoi này. Gần như mỗi người trong chúng tôi đều quên hết những vất vả của bản thân, mội người như gần lại nhau hơn, thân nhau hơn. Riêng với Hạnh, tôi không thể dấu dược tình cảm của mình. Tôi chủ định đi lùi phía sau Hạnh, lấy hai tay nâng ba lô của Hạnh lên, cho Hạnh thấy bớt nặng. Hạnh hiểu động cơ của tôi, quay lại phía sau, nói nhỏ:
- Thắng ơi! Đừng lo cho Hạnh nhiều. Hạnh còn sức mà. Thắng giúp mấy bạn khác đi.
Hạnh nói thế nhưng tôi biết Hạnh rất mệt.Tiếng thở của Hạnh nghe có vẻ nặng nhọc. Thỉnh thoảng Hạnh phải đứng lại xốc ba lô gạo, nếu không có tôi đỡ, Hạnh dễ ngã lắm.
Khi chúng tôi gặp chị Liên, Oanh và gần như tất cả các bạn trong trại Liên Cơ thì đã gần nửa đêm. Tất cả ôm nhau, mừng mừng, tủi tủi. Sao lúc đó chúng tôi thân nhau đến thế.
Sau buổi đi lấy gạo về, tưởng Hạnh hoặc ai đó sẽ sốt chứ không phải tôi. Ấy vậy mà ngược lại, tôi lại sốt. Có lẽ tôi nhiễm nước mưa, bị cảm lạnh. Những ngày tôi đau, Hạnh luôn luôn ở bên cạnh, lúc giúp tôi nấu nồi nước xông, lúc giặt hộ bộ quần áo, chăm sóc em Minh thay tôi. Nhìn Hạnh tất bật với bao công việc của trại, giúp chị Liên phân chia thực phẩm, giúp các em học tổ, nay lại còn lo cho tôi ... Tôi nghĩ, khỏi sốt tôi sẽ nói cho Hạnh biết tình cảm của mình. Tôi rất tin, Hạnh sẽ đáp lại tình cảm của tôi.
Nghĩ thì dễ như thế, nhưng đến lúc nói thì cực kỳ khó. Không biết Hạnh có hiểu tình cảm của tôi dành cho Hạnh không? Cứ nghĩ đến Hạnh, tôi học không vào. Nhìn thấy Hạnh trong lớp, cùng sinh hoạt trong trại... đâm quá quen. Tôi phải đi đâu đó, vắng Hạnh có một buổi đã nhớ quay quắt rồi lại liên tưởng, suy diễn ra đủ thứ chuyện. Tôi muốn nói thực suy nghĩ của mình để Hạnh mãi mãi thuộc về tôi. Nghĩ mãi, một tối, sau buổi học nhóm, tôi nói với Hạnh:
- Hạnh có thể đi với Thắng ra ngoài này, Thắng muốn nói với Hạnh một chuyện, được không ?
Đắn đo một lúc rồi Hạnh đi theo tôi.
Hai chúng tôi đi ra rìa làng, đúng cái chỗ mà tôi và chị Liên đã từng ngồi. Hai chúng tôi ngồi xuống. Hạnh hỏi:
- Thắng định nói chuyện gì với mình mà phải ra đây?Trời tối đen thế này, mình sợ quá. – Hạnh xích lại gần tôi một chút nữa.
Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập, nghe rõ cả tiếng con dế nấp dưới bụi cỏ đang kêu, nghe rõ cả tiếng lá tre khô rơi. Nghe rõ tất cả. Hạnh lại giục:
- Thắng nói đi, sao lại im lặng như thế ?
Nói như thế nào nhỉ ?Tôi thấy tức thở, cố tìm một từ để diễn đạt, sao lúc này thấy khó thế:
- Mình muốn nói với Hạnh là ... là... thế này. Hai đứa mình chơi thân...chơi thân... thân với nhau...
Hạnh cười nho nhỏ:
- Thì mình với Thắng vẫn chơi thân với nhau đấy chứ!
Tôi đã lấy được bình tĩnh:
- Nhưng... mình với Hạnh...thân khác với kiểu thân của mọi người.
- Hạnh có thấy cái gì khác đâu, tình bạn của mình với Thắng giống như các tình bạn khác, khó khăn cùng giúp nhau, có niềm vui cùng hưởng chung. Thắng nói khác chỗ nào? – Hình như Hạnh cố tình chọc tức tôi.
Tôi hơi tự ái;
- Thế Hạnh không hiểu tình cảm của Thắng dành cho Hạnh à ?
Hạnh lắc đầu:
- Hạnh thấy tình cảm của Thắng dành cho Hạnh cũng giống như dành cho mọi người khác, có gì khác đâu!
Hạnh nói thế làm sao tôi chịu được. Không thể giữ được bình tĩnh, tôi nói liền một hơi:
- Hạnh có hiểu Thắng lo cho Hạnh nhiều như thế nào không? Hạnh hơi mệt, Thắng cũng lo. Đấy, như buổi Hạnh đi lấy gạo vừa rồi, ở nhà thấy Hạnh về muộn không biết lý do, là Thắng không chịu được. Cứ nghĩ, Hạnh có bị làm sao thì hình như trong chuyện đó, Thắng có lỗi, vì chuyện nặng nhọc như thế, Thắng phải đi chứ. Rồi còn chuyện chị Liên phân công quản lý trại, bao giờ Thắng cũng nhận phần hơn, vì nghĩ Hạnh quá vất vả, không nên để Hạnh làm nhiều. Cho đến tận bây giờ, Thắng vẫn nghĩ sẽ ở cạnh Hạnh, phải giúp Hạnh làm mọi việc để việc đến với Hạnh sẽ nhẹ nhàng hơn, dễ làm hơn...- Tôi nắm lấy tay Hạnh – Hạnh có biết ...Thắng ...Thắng cần Hạnh như thế nào không ?
Hạnh rút tay ra khỏi tay tôi, mà hình như Hạnh cũng ngồi lùi ra xa tôi một chút, không cho hai người chạm vào nhau.
- Thắng nói hết chưa ?
Tôi im lặng. Có lẽ Hạnh nhìn tôi, một lúc sau Hạnh nói thật bình tĩnh, đủ cho tôi nghe rõ:
- Hạnh rất cảm ơn những điều Thắng đã giúp Hạnh bấy lâu nay. Còn từ bây giờ, Thắng đừng giúp Hạnh như thế nữa, Hạnh đều tự làm được. Hạnh tưởng Thắng rủ Hạnh ra đây nói điều gì chứ, chứ những điều Thắng vừa nói với Hạnh, Hạnh hiểu, sắp tới Hạnh sẽ phải làm gì để trả ơn lòng tốt của Thắng. Thắng tin đi, bao giờ Hạnh cũng là bạn tốt của bạn. Còn bây giờ...Thắng ạ! Mình phải về thôi, khuya rồi...
- Hạnh! Hai chúng mình phải nói chuyện một lúc nữa chứ. – Tôi có cảm giác mình sắp đánh mất một thứ gì đó vô cùng quý giá – Hạnh mà bỏ về, Thắng vẫn ngồi đây đấy!
- Không ! – Thái độ Hạnh vẫn rất cương quyết, tôi chưa từng thấy – Thắng có ngồi đây, Hạnh cũng về. Về để chuẩn bị bài vở ngày mai đi học.
Tôi nghĩ, chắc Hạnh chỉ dọa tôi thôi, đường tối đen thế kia, lại là thân con gái, không có tôi bên cạnh, có cho kẹo Hạnh cũng không dám về. Lúc nãy Hạnh còn sợ cơ mà! Tôi đã lầm. Hạnh hỏi lại tôi một lần nữa :
- Thắng có về không ?
- Không! Thắng muốn ngồi đây một lúc nữa – Tôi trả lời.
- Thế thì...Thắng ngồi lại nhé ! Chào Thắng, Hạnh về trước.
Và Hạnh về thật. Hạnh bước mạnh bạo, không hề sợ hãi. Bóng Hạnh vừa đấy đã mất hút.
Những bước chân của Hạnh, tôi nghe xa dần.
Tôi ngồi lại, cảm nhận một thất bại ê chề. Chưa bao giờ tôi khóc, thế mà tối đó, tôi đã khóc....




HẾT TẬP II – PHẦN II

TẬP II

Trưởng Thành
Tập 2 – Phần 1
1
Giữa hè năm ấy, chúng tôi được lệnh đi sơ tán vì máy bay Mỹ đã ném bom rất gần thị xã. Chúng tôi không được sinh hoạt tập trung nữa, phải phân tán thành từng tổ. Những trò chơi như đá bóng, cắm trại... mà mùa hè trước chúng tôi hay tổ chức, giờ đã trở thành những ước mơ. Cũng không còn những cánh diều thả lưng chừng trời để chúng tôi nhìn lên trong ánh mắt hân hoan mỗi buổi chiều, cũng mất hẳn những trò chơi đánh trận giả hằng đêm... Trong thị xã, mọi hoạt động, nhất là về ban đêm, trầm lắng hẳn, thật buồn. Rạp chiếu phim đóng cửa, những tấm biển quảng cáo không còn đề tên phim mới, chữ phấn nhạt nhòa, không ai buồn đọc. Ban đêm, cả thị xã không một ánh đèn điện, các căn nhà đều leo lét những ánh đèn dầu. Đã thế, đèn đầu ánh sáng leo lét phải che, không cho hắt ra bên ngoài, sợ máy bay Mỹ thấy. Cả thị xã ngủ mà như thức. Chỉ một tiếng ì ì rất xa, còi báo động cất lên, tất cả mọi người vội lao ra hầm, tâm trạng chờ đợi cực kỳ căng thẳng...
Mọi thứ thực phẩm trong thời kỳ này đều rất quý. Có cái gì gọi là ăn được, nhà nào nhà nấy cố tích lũy, nhất là gạo và mì sợi. Khổ nhất đối với chúng tôi, có bao nhiêu quần áo trắng hoặc màu nổi nổi một tí đều phải nhuộm thành màu xanh tất. Mà loại áo quần kiểu ấy, tôi với thằng Oanh cũng có kha khá, nếu như mang đến cửa hàng nhuộm ở chợ thì mất nhiều tiền, xót ruột lắm. Phải có cách nào chứ? Cạnh chợ có một dãy hàng quán bán thịt lợn, bán bún chả, bán bánh kẹo... trong đó có cả cửa hàng nhuộm quần áo nữa. Thằng Oanh bỏ cả một buổi quan sát cửa hàng nhuộm của bà Béo, rồi nó nói với tôi:
- Tao với mày khỏi phải xin tiền mẹ để nhuộm áo quần rồi Thắng ạ! Tao phát hiện bà Béo để nước nhuộm màu xanh vào cái chảo ở góc bếp của cửa hàng bà ấy, ngày mai bà dùng cái nước ấy nhuộm hàng cho khách. Tối nay, khoảng mười giờ, tao với mày ôm đống áo quần, đột nhập đằng sau, nhúng quần áo vào đó thành màu xanh rồi ôm về giặt lại, đỡ tốn tiền, tiền đó để mua thứ khác.
- Đúng thế không?
- Hôm qua tao đã nhìn kỹ lắm rồi, tối nay cứ thế thực hiện thôi –Thằng Oanh nói khẳng định với tôi.
Tối ấy, cả khu chợ tối như hũ nút, trời lại mưa lâm râm xung quanh tịch bóng người. Tôi cùng thằng Oanh ôm đống quần áo chui được qua một hàng rào dựng lên bằng dây thép gai rỉ, đến được cửa hàng nhuộm của bà béo. Tôi cứ đinh ninh thằng Oanh đã quan sát kỹ. Vì từng đường đi, nước bước có vẻ nó chỉ cho tôi rành rẽ lắm. Chúng tôi đột nhập được vào trong. Đến gần một cái chảo to có úp cái vung làm bằng tôn bên trên, tôi hỏi lại thằng Oanh:
- Chắc chắn cái chảo này chứ?
- Đúng quá còn gì! – Nó giục tôi – nhấc nắp vung lên cho quần áo vào đi!
Trong đêm tối, hai thằng tôi mò mẫm, lịch kịch nhấc nắp vung tôn lên, ấn vội đống quần áo vào bên trong cái chảo... Vội vàng, lại không nhìn rõ nữa, khi đống quần áo ấn vào thì một mùi chua chua, nồng nồng xộc thẳng vào mũi hai đứa. Tôi thò hẳn tay vào bên trong. Cái gì thế này? Không có nước mà là cái gì đó sền sệt, nằng nặng... bết lấy tay tôi. Tôi đưa tay lên mũi ngửi. Chết cha tôi rồi! Tôi và Oanh đã nhúng quần áo vào cái chảo họ... nấu cám lợn!
Tôi hốt hoảng:
- Oanh ơi! Đây là chảo người ta nấu cám cho lợn ăn, sao mày lại bảo là chảo đựng nước nhuộm quần áo? Làm sao bây giờ.
Thằng Oanh cũng hốt hoảng không kém tôi:
- Tao quan sát kỹ lắm rồi cơ mà, tại sao thế nhỉ? – Nó lọ mọ ra góc nhà bếp rồi thốt lên – Bỏ mẹ, đây mới là chảo đựng thuốc nhuộm, họ lại bỏ xuống đặt cái chảo đựng cám lợn lên thay.
Tôi quá tức giận:
- Mày là thằng hậu đậu, lẽ ra phải nhìn cho kỹ chứ...
Oanh “phản pháo”:
- Họ thay chảo, làm sao tao biết được? Có giỏi mày đi làm thay tao đi...
- Mày chỉ được cái to mồm...
- Mày có hơn gì tao, cũng to mồm...
- Mày nói cái gì? Nhìn kìa, cả đống áo quần giờ thì thành cám lợn.
Cũng vừa lúc ấy, bên ngoài có ánh đèn pin chiếu loang loáng, rồi tiếng người hỏi:
- Ai trong quán đấy nhỉ, nói gì thế? Có ra ngoài này không?
Thôi chết rồi, tiếng ông Tự bảo vệ chợ. Tôi và Oanh hồn vía lên mây. Ông Tự đến cửa hàng bà Béo mở chốt cửa , chiếu đèn pin vào hai đứa. Thấy tôi và Oanh đứng như trời chồng, ông Tự giật mình:
- Hai cháu làm gì ở đây?
Ông lia ánh đèn pin vào chảo nấu cám lợn thấy lều bều một đống áo quần, ông càng ngạc nhiên:
- Các cháu định làm cái trò gì thế này?
Không còn cách nào khác, chúng tôi đành thú thật mọi chuyện. Ông Tự lắc đầu, bắt chúng tôi vớt quần áo ra, mang về nhà giặt lại. Nhìn chúng tôi khổ sở vớt quần áo dính be bét trong cái chảo cám lợn ra, ông Tự ngán ngẩm, lắc đầu:
- Thế mà ông cứ tưởng bắt được quân... ăn trộm. Ai dè “ bắt” được hai ông tướng có sáng kiến nhuộm quần áo bằng cám lợn...
Suốt hè năm ấy, nhiều đứa bạn gặp tôi và Oanh hay đề nghị:
- Bao giờ chúng mày đi nhuộm quần áo bằng cám lợn, cho chúng tao đi với. Mà này, sau khi nhuộm bằng kiểu ấy thì quần áo sẽ ra màu gì chúng mày nhỉ?
Rõ là một phút không cẩn thận để thành một bài học nhớ đời.




Không khí chiến tranh tràn ngập thị xã. Không ngày nào là không nghe thấy tiếng bom nổ, ban đêm nhìn lên, đạn bắn lên đỏ cả một góc trời. Chỉ thị của trên là phải cho tất cả học sinh đi sơ tán gấp.
Thế là chúng tôi lên đường.
Mẹ cho hết áo quần, chăn màn của tôi và em Minh vào một cái bọc vải to đùng. Mẹ lấy thịt nạc giã làm ruốc để ăn dần. Trước khi anh em tôi đi sơ tán, mẹ còn đưa mấy phong lương khô Trung Quốc. Mẹ dặn tôi:
- Mấy phong lương khô này chỉ dùng khi nào thật cần thiết, nghĩa là không còn cái gì, con với em Minh mới được mang ra ăn. Đi sơ tán, hai anh em không được nghịch ngợm. Thứ bảy, thu xếp được, mẹ sẽ lên thăm...
Không hiểu với người khác thế nào chứ đi sơ tán về lại vùng nông thôn, tôi khoái lắm. Bao nhiêu kỷ niệm hồi ở Quốc cứ lần lượt hiện về. Sẽ có trò đi tát cá, có cả trò đi chăn trâu bắt dế để nướng, rồi thả diều nữa...Tôi sẽ chứng tỏ cho thằng Oanh biết.
Tất cả bọn tôi được tập trung thành một đoàn, cũng không đông lắm. Chịu trách nhiệm chung là anh Cường và chị Liên, đúng theo ý nguyện của chúng tôi mà cũng đúng theo ý nguyện của hai người - Đó là suy nghĩ của tôi. Anh Khanh phải ở lại phụ trách dân quân và công tác tuyển quân cho khu phố. Lúc anh Cường đứng cạnh chị Liên phổ biến những nội quy khi đi sơ tán, tôi để ý thấy anh Khanh nhìn anh Cường với ánh mắt rất tức tối. Tôi biết chắc anh Khanh không thích anh Cường gần chị Liên, nhưng không biết làm sao.
Nơi chúng tôi đến là một nơi thật xa thị xã, đạp xe đạp cũng phải mất gần một ngày... Bọc quanh làng là những hàng tre xanh ngát. Ngay rìa làng bên này là một cái đầm sen lớn, chúng tôi đến đúng lúc sen nở, nhìn đến hút tầm mắt chỉ thấy những cánh sen hồng đung đưa theo gió, hương thơm dìu dịu. Rìa bên kia làng là một nhánh của con sông lớn, mùa này nước cạn, rất trong, chúng tôi không cần bơi mà có thể lội qua, lội về không sợ chết đuối. Tôi khoái ra mặt. Nhìn con sông, tôi nhớ hồi ở Quốc tắm ao với chúng bạn. Tưởng sẽ không còn bao giờ được vùng vẫy trong làn nước trong xanh nữa...
Trước mắt, do chưa làm được trại tập thể, anh Cường và chị Liên phân chúng tôi ra thành từng nhóm nhỏ tỏa về các gia đình trong làng. Anh em tôi được phân về ở với gia đình ông Mẹo.
Vợ chồng ông Mẹo có hai người con, người con trai nghe đâu làm tận Hòn Gai - Móng Cái, một năm về nhà đôi ba lần, còn người con gái của ông bà lấy chồng ở tỉnh bên, thỉnh thoảng có đưa con về thăm ông bà ngoại. Chúng tôi được ông, bà coi như cháu con trong nhà. Khi anh Cường đưa hai anh em tôi đến, ông bà mừng lắm. Ông Mẹo ra tận cổng đón chúng tôi, đưa cả hai vào nhà, chỉ một tấm phản rộng kê ở góc nhà, nói xởi lởi:
- Hai cháu nằm đây. Ăn cơm với nhà ông cũng được. Ông có sẵn hai chum cà muối, cứ gọi là ăn cả năm cũng không hết...
Anh Cường có vẻ vui vì không khí thân mật của gia đình ông Mẹo:
- Thưa ông, tạm thời chưa có trại nên chúng cháu gửi hai em đến ở tạm nhà ông bà, khi nào trại làm xong, chúng cháu sẽ đón hai em về. Các em còn nhỏ tuổi, có điều gì không phải, mong hai ông bà cứ chỉ bảo.
Bà Mẹo nói vui:
- Không nghe là tôi lấy roi quật quắn đít ấy chứ! Ấy, bà nói vui thế thôi – Bà xoa đầu em Minh – Trông kháu khỉnh thế này, nỡ nào bà đánh cháu, có phải không nào?
Tối đầu tiên ngủ trong nhà lạ, em Minh nhớ mẹ, khóc thút thít. Tôi không ngủ được, nhớ mẹ, nhớ bố. Giờ này, không biết bố đã ở tận đâu? Còn mẹ chắc cũng nhớ anh em tôi, không ngủ được. Tôi lại nhớ cái thị xã nhỏ nhoi của tôi, nhớ đến từng gốc cây bàng, nhớ những tối cùng Oanh đi bắt ve, rồi chiều nào hai đứa vác một cái sào dài ngoẵng, một đầu dính nhựa mít đi lang thang bắt chuồn chuồn... Khuôn mặt tôi nhớ nhất là thằng Bình. Giá như nó còn sống, biết đâu nó cũng đi sơ tán với chúng tôi. Nó là thằng chịu khó, ở hoàn cảnh này, nó sẽ bày cho chúng tôi bao nhiêu trò...
Tôi đang miên man với bao kỷ niệm thì từ trong buồng bà Mẹo bước ra, tay cầm ngọn đèn dầu. Bà lại gần chỗ anh em tôi nằm. Có lẽ tiếng khóc của em Minh làm bà thức giấc. Bà hỏi tôi:
- Thắng ngủ chưa cháu?
- Dạ, cháu chưa ngủ! – Tôi trả lời.
- Thế sao em Minh lại khóc? – Bà Mẹo để cái đèn dầu lên bàn, vén màn đến ngồi cạnh em Minh.
- Có lẽ em nhớ mẹ, bà ạ. Anh em cháu chẳng bao giờ xa mẹ như thế này.
- Ờ, ờ... bà hiểu rồi. Sư bố thằng Mỹ, làm cho cháu của bà phải xa bố, mẹ.
Rồi bà Mẹo dỗ dành thằng Minh bằng tiếng ru:
À... ơi...
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều...
À... ơi...
Con ơi, con nhớ câu này
Công cha, nghĩa mẹ đều dày như nhau
Có sống đến muôn ngày sau
Ơn trả, nghĩa đáp chẳng bao giờ bằng...
Cứ thế, bà Mẹo ru hết câu này đến câu khác. Em Minh và cả tôi nữa chìm vào giấc ngủ say lúc nào không hay...
Tôi nhập vào gia đình ông bà Mẹo rất nhanh. Mót lúa tôi cũng làm được, phơi rơm đối với tôi không hề xa lạ, cắt cỏ cho trâu, tôi từng quen tay.
Bà Mẹo khen:
- Bà phục cháu đấy! Con trai thành thị mà làm chẳng thua mấy đứa ở thôn quê. Ai dạy mà cháu làm giỏi thế?
Bà Mẹo có biết đâu tôi đã có một thời kỳ dài ở nông thôn. Hảo đi đâu, tôi đi đấy, Hảo làm cái gì, tôi làm cái nấy, thạo hết tất cả các công việc. Nghe bà Mẹo hỏi thế, tôi chỉ cười, không trả lời.
Đến giờ thì thằng Minh cũng quen nơi ở mới. Nó giống tôi, coi ông bà Mẹo như ông bà của mình. Bà Mẹo tội lắm, có củ khoai nướng cũng để dành cho anh em tôi. Đi làm đồng bắt được con cà cuống, bà cũng lấy rơm buộc cánh về đưa cho em Minh... Mẹ tôi lên thăm hai anh em, thấy tình cảm của ông bà Mẹo như vậy, có vẻ yên tâm. Bà Mẹo nói với Mẹ:
- Cô cứ để hai cháu ở đây, tôi trông cho. Chú ấy vì nước phải đi bộ đội, còn cô lại bận công tác nhà nước phân công, toàn là việc vất vả...
Mẹ tôi nói mà rơm rớm nước mắt:
- Con biết ơn bố mẹ lắm...
Hàng ngày, tôi và em Minh lên trại sinh hoạt đội do anh Cường và chị Liên chỉ huy. Buổi trưa và buổi chiều thì hai anh em tôi đến bếp ăn cơm, còn buổi tối chỉ điểm danh rồi về từng gia đình ngủ. Tối có trăng là tôi thích nhất, có thể đùa thoải mái mà chẳng ai cấm đoán. Bọn trẻ trong làng cũng rất thích đùa với chúng tôi. Từ ngày trại sơ tán về đây, không khí ồn ào hơn. Ở đây có những bãi cỏ rộng tít tắp, đêm trăng chia phe đánh trận giả thích ơi là thích. Chúng tôi có thể chơi đến tận khuya. Chơi xong, nếu đói, bọn trẻ trong làng lại rủ chúng tôi lội qua sông, đến các bãi ngô của mấy xã bên ăn trộm mang về nhà luộc.
Tối hôm ấy, mấy đứa ở trong thôn cùng bọn tôi quyết định sang bên kia sông ăn trộm ngô. Chúng tôi phân công mấy đứa con gái ở bên này bờ trông quần áo, còn bọn con trai bí mật lội qua sông. Sông cạn, nước chỉ đến lưng chừng bụng, bọn tôi nhón chân đi thật khẽ, cố không để phát ra tiếng động, đầu cố cúi thật thấp, thần kinh căng thẳng, mắt không chớp, cố phát hiện ra những điều bất trắc, tai tập trung lắng nghe mọi tiếng động. Thật lòng, tôi khoái cảm giác này. Cứ như các chú bộ đội đi trinh sát đồn địch. Cánh đồng ngô, ngô đang lên bắp, ken dày. Dưới ánh trăng, bãi ngô như được tráng một lớp mỡ mỏng, lấp lóa thật đẹp. Bọn trẻ trong làng cho tôi biết, chúng cũng đã mấy lần ăn cắp ngô trót lọt. Còn lần này...
Chúng tôi tiến lại gần bờ, nhìn quanh thấy im ắng, hơi yên tâm, toan tiến vào gần tí nữa. Bỗng từ đâu, đất ném ra tới tấp, có những tiếng hét:
- Ném mạnh vào! Bọn thành phố đến ăn cắp ngô, chúng mày ơi!
Bọn tôi hoảng quá, vội quay ngược trở lại. Đất vẫn thi nhau choảng xuống. Thằng đi cạnh tôi nói:
- Mày phải lặn xuống nước mà đi. Hở đầu lên, chúng thấy là ném trúng đấy!
Tôi vội làm theo lời nó. Cũng còn may, sông cạn, hai bờ hẹp, chỉ mấy bước, chúng tôi sang được bên bờ bên này, hoàn hồn...
Sáng sau, anh Cường biết chuyện, lôi chúng tôi ra kiểm điểm một trận ra trò. Cũng sợ những trò chơi dại dột, chị Liên góp ý với tôi:
- Sang năm, các em học lên cấp ba rồi, không còn là trẻ nhỏ nữa, làm thế nào để mọi người nhìn vào thấy chúng ta là người có văn hóa...
Bình tâm, tôi mới hiểu lời góp ý của chị Liên. Có lẽ không nên có những trò chơi như vậy nữa...
Cũng nhờ về lại thôn quê, tôi biết được bao nhiêu điều mới. Như chuyện uống trà chẳng hạn. Tôi cứ nghĩ việc pha trà quá đơn giản. Mỗi lần về phép, ăn cơm xong, bố thường tự pha trà. Bố súc cái ấm thật sạch, cho vào nhúm trà, rót nước sôi, mang ra bàn, vừa đọc báo Nhân Dân, vừa xỉa răng tanh tách, đợi trà ngấm, rót nước trà ra cái chén mẻ miệng... Đấy là tôi kể dài dòng chứ có hôm, còn đơn giản hơn nhiều.
Nhưng với ông Mẹo, việc uống trà là cả một quá trình, như ông nói: “Đó là thể hiện một cách sống, cháu ạ!”.
Như tôi nói ở trên, rìa làng này có một đầm sen rộng. Cứ khoảng chín giờ rưỡi tối, ông Mẹo lại rủ tôi đi ra đầm sen bằng một cái thuyền nan nhỏ. Trên thuyền, ông để một gói trà. Đi thuyền ban đêm giữa mùa hè trên đầm sen cũng có cái thú. Trên giời, sao chi chít như người ta phơi thóc. Hai ông cháu bơi thuyền trong không gian thật yên tĩnh, chỉ còn nghe tiếng mái chèo động vào mặt nước. Hơi nước bốc lên mát lạnh. Thuyền len lỏi giữa cả một rừng hoa sen. Hương thơm của hoa như quyện với không khí, thấm vào hơi thở làm cho tôi thấy khoan khoái lạ. Đã vậy, cánh hoa mềm, chạm vào chỗ nào cũng thấy buồn buồn, thinh thích. Thỉnh thoảng, có tiếng cá đớp mồi, nghe rất gần mà không biết ở chỗ nào.
Đi thuyền ban đêm như thế mà chẳng bao giờ ông Mẹo lầm. Tay ông luôn chọn được những bông sen nở to. Ông cho trà vào bông sen đó rồi buộc túm lại. Tiếp theo, ông cho thuyền đi dọc đầm, trải những lá sen thật rộng để đón sương đêm. Xong mọi việc cũng phải gần tiếng đồng hồ, ông mới đưa tôi về nhà.
Khoảng năm giờ sáng, ông Mẹo đã gọi tôi dậy, theo ông ra lại đầm sen. Trên chiếc thuyền nan, ông đặt một niêu đất để hứng nước sương rơi trong những lá sen mà ông trải đêm qua. Sương mờ lan tỏa khắp mặt hồ, hơi nước bốc lên lành lạnh. Tôi cầm hai mái chèo chỉ to bản hơn chiếc đòn gánh một chút cố gắng lái chiếc thuyền theo sự chỉ bảo của ông Mẹo ngồi trước mũi. Có lúc tôi điều khiển chiếc thuyền, nhưng cũng có lúc ông Mẹo dùng tay khỏa nước hoặc vít lấy cành sen để thuyền đi theo hướng mình muốn. Ông Mẹo nhớ từng vị trí mấy bông sen tối qua ủ trà. Chẳng mấy chốc, trà ủ trong hoa sen được ông Mẹo gói gọn vào một lá sen non để trước mặt. Xong mọi việc, hai ông cháu bơi thuyền tiếp tục lấy nước đọng từ sương. Mỗi lá sen chỉ đọng lại độ một phần ba ly nước trong veo, mát lạnh. Ông Mẹo lấy hai tay nâng nhẹ lá sen lên, hơi nghiêng đi cho những giọt nước tinh khiết đó chảy vào niêu đất. Ông làm cẩn thận, không muốn một giọt nước nào rơi ra ngoài. Chiếc thuyền đi vòng một lượt, trong niêu đất, nước sương đêm vừa đủ pha một ấm trà.
Tôi với ông Mẹo về đến nhà, xung quanh đã có tiếng người gọi nhau ra đồng. Khói lam bốc lên từ những mái rạ, nồng nồng. Đặt niêu đất hứng nước sương lên một cái kiềng ba chân, ông Mẹo bắt đầu đun bằng những cây dâu tằm phơi khô, lửa cháy xanh, không khói.
Trong lúc ông Mẹo đun nước, bà Mẹo đi súc ấm, rửa chén. Cái ấm da lươn chỉ to hơn nắm tay, mấy cái chén chỉ to hơn hạt mít một chút mà bà Mẹo rửa lâu lắm. Rửa xong mấy cái chén đó, bà Mẹo đặt ấm chén ấy lên một chiếc chõng tre để dưới gốc cây bưởi đang trổ hoa.
Nước sôi, ông Mẹo nói với bà cho trà vào ấm, còn ông vào nhà mặc một chiếc áo dài the màu đen. Trang trọng, cầm ba cây hương, ônglạy trời đất một cách thành kính, rồi ông mới ra chõng tre, ngồi xếp bằng, rót nước trà ra chén. Ông nâng chén trà lên bằng hai tay. Chẳng có ai ngồi uống với ông mà sao nét mặt ông có vẻ vui và thư thả đến thế.




2.

Chiến tranh phá hoại của Mỹ lan rộng, chúng tôi ăn uống có phần kham khổ hơn. Không còn bánh mì ăn sáng, thay vào đó, cơm độn nhiều ngô, sắn. Chỉ hôm nào gia đình sớm tiếp tế thì chúng tôi được ăn cơm độn mì sợi. Thức ăn của chúng tôi giờ đây toàn rau muống luộc chấm nước muối. Chúng tôi thèm thịt, nhưng kiếm đâu ra? Một tối, thằng Oanh đến tìm tôi:
- Mày có thích ăn thịt gà không?
Tôi hơi ngạc nhiên nhưng nhìn ánh mắt có phần lém lỉnh tự nhiên của nó, tôi tin là Oanh có thể cho tôi ăn thịt gà lúc này:
- Mày kiếm được à!
- Tất nhiên rồi, nhưng muốn ăn thịt gà, phải có lòng dũng cảm.
- Mày nói tao chẳng hiểu gì cả.
Nó ghé sát tai tôi nói nhỏ:
- Bắt trộm gà. Mày còn nhớ cái trò làm cho gà sợ không? Cái trò mà thằng Bình nó kể cho chúng mình nghe ấy!
Tôi nhớ ra rồi. Hồi ấy, thằng Bình kể chuyện, có lần bà dì không cho nó ăn cơm. Nó tức quá, tối đến, kiếm một đọt khoai ngứa đem nướng. Thò đọt khoai ngứa đã nướng ấy vào chuồng gà, lũ gà tưởng rắn, rụt hết cả cổ. Thế là nó nhẹ nhàng tóm từng con, không một tiếng động. Bài học này thằng Oanh ghi lòng, nay tính đem ra áp dụng. Nhưng tôi sờ sợ:
- Tao sợ... Họ mà bắt được thì chết, như chuyện ăn cắp ngô vừa rồi ấy. Anh Cường với chị Liên biết chuyện, không tha đâu.
- Sao mày nhát thế? Đã làm thì không sợ bị bắt chứ! Mà họ bắt mình thế quái nào được? Tao tính toán hết cả rồi. Có mấy thằng nữa cũng tán thành với tao việc này. Chuyện ăn cắp ngô vừa rồi là mình a dua theo bọn trong thôn, chúng nó dốt lắm. Mày không làm, bọn tao làm, chỉ yêu cầu mày im lặng thôi.
Trước khi bỏ đi, nó nói đúng một câu:
- Mày là một thằng hèn!
Được, tôi sẽ chứng tỏ cho nó biết. Tôi đồng ý đi ngay với nó. Nó vừa nhìn tôi “căm thù” là vậy mà giờ lại toe toét, tay khoác vai tôi, gật gù:
- Mày đúng là thằng bạn thân của tao!
Cái chuồng gà nhà ông Toản ở gần cuối làng làm rất sơ sài, nhốt hai con gà béo mượt lông. Tôi với Oanh cùng hai thằng nữa bò men theo bờ ao, vòng ra đằng sau chuồng gà. Thằng Oanh nhẹ nhàng đưa vào chuồng gà mấy đọt khoai nước đã nướng theo cách của thằng Bình. Đúng là hai con gà tưởng rắn sợ rụt hết cả cổ lại, không dám kêu. Chúng tôi thò tay nâng bụng hai con gà lên, bịt mỏ, bẻ quặt cổ, cho vào cái túi rồi mang chúng ra đầm sen mổ. Ruột, gan, lông gà, chúng tôi gói vào lá sen, buộc chặt với mấy viên gạch, dìm luôn xuống đầm. Bây giờ mới rầy rà. Lấy cái gì để luộc gà? Mượn nồi mà luộc có khác gì “lậy ông tôi ở bụi này”, mà nấu ở ngoài đồng, họ đi làm thì có khác nào “không đánh cũng khai”? Cầm hai con gà làm xong, thằng nọ nhìn thằng kia. Cuối cùng, lại thằng Oanh. Mắt nó sáng lên trong đêm:
- Tao có kế rồi!
- Kế thế nào? - Chúng tôi vội hỏi.
- Rất đơn giản. Chúng mày mang về bếp tập thể của mình, luộc gà ngay bây giờ.
Tôi tức khí:
- Mày nói ngu bỏ mẹ! Làm thế có khác nào tự nộp mạng? Anh Cường hay chị Liên xuống bếp kiểm tra thường xuyên, làm thế nào mà luộc?
Thằng Oanh khẳng định:
- Tao nói là luộc được, thậm chí trước mặt mọi người. Thế mới tài.Mày cứ về ngủ đi, bao giờ luộc xong gà, tao gọi.
Tôi về, trong đầu cứ xoay câu hỏi lởn vởn, không biết thằng này nó luộc gà kiểu gì?
Đến gần nửa đêm, tôi đang ngủ, thằng Oanh đến kều chân gọi tôi dậy:
- Thắng ơi! Dậy...dậy...
Tôi vội dụi mắt, sấp ngửa đi theo nó. Đến góc một nhà kho lúa bỏ hoang, lờ mờ trong bóng tối có hai, ba thằng cùng nhóm. Hơi nóng của con gà luộc còn bốc nghi ngút. Thằng Oanh tài thật, không biết nó luộc gà như thế nào? Thằng Oanh giục tôi và mấy thằng đứng xung quanh ngồi xuống, lấy tay xe gà. Tôi cũng được nó chia phần một miếng đùi gà. Tôi nuốt nước bọt, đưa vội miếng đùi gà ấy lên miệng. Thằng Oang hỷ hả:
- Ăn mấy “ ky lô gam đạm” thế này, cứ gọi là...đầu óc sáng suốt phải biết.
Còn tôi, vừa lấy răng cắn vào miếng thịt gà thì có mùi oi nồng, khai... xộc thẳng vào mũi. Miếng thịt gà béo ngậy nhưng tại sao nó lại có mùi” hơi khó ngửi “ thế này. Tôi buông vội miếng thịt gà xuống hỏi Oanh:
- Sao miếng thịt gà của tao nó hôi thế?
Mấy thằng ngồi cạnh cũng đồng tình với ý kiến của tôi. Thằng Oanh ngồi đần ra một lúc, rồi nó “ à” một tiếng, nói:
- Bỏ mẹ rồi, cái chăn của tao dễ đến gần năm nay không giặt. Đã thế, hôm nọ hình như có thằng đái dầm, chưa giặt, chỉ phơi khô rồi đắp thôi nên khi luộc chung, gà mới có mùi này.
Té ra, thằng Oanh lừa mấy chị nuôi mượn chảo của bếp tập thể “ luộc chăn màn để diệt rệp” rồi nó cho con gà ăn cắp vào cái chăn vừa bẩn, vừa dính nước đái ấy vào luộc chung. Hèn gì khi ăn cắp gà xong, thằng Oanh khẳng định với tôi sẽ luộc được gà “ trước mặt mọi người” là như thế này đây!
Nghe thằng Oanh nói vậy ăn mất cả ngon. Mấy thằng đưa mắt nhìn nhau, thằng Oanh cười khẩy:
- Chúng mày có ăn không? Sợ bẩn à? Xin lỗi nhé “ buồn ngủ còn chê chiếu manh” ! Chúng mày nhìn đây!
Nó xé con gà ra thành từng miếng, đút vào mồm nhai nhồm nhoàm, mỡ gà chảy ra hai bên mép. Mấy thằng thấy vậy cũng ăn, còn tôi lắc đầu:
- Tao chịu, trông chúng mày ăn bẩn quá.
Thằng Oanh dẩu môi:
- Thằng bệnh “sĩ”. Đói bỏ mẹ còn ra vẻ...
Biết nói với nó thế nào? Phần vì luộc gà như kiểu thằng Oanh thì bẩn thật, nghĩ đã thấy kinh rồi, phần nữa là vì tôi thấy xấu hổ, hay ho gì chuyện ăn cắp. Tôi không tranh cãi với nó nữa, bỏ đi...
Cái chuyện ăn cắp gà sau này mới “phát sinh” nhiều rắc rối. Đầu tiên là bà vợ ông Toản, vì mất hai con gà, bà cứ đứng đầu làng mà chửi. Bà chửi từ sáng đến trưa, trưa đến chiều... Cả làng phải nghe. Mà hình như bà đoán ra... bọn tôi ăn cắp hay sao ấy. Bà chửi: “Chúng mày ăn con gà của tao thì con chúng mày mù mắt, đi không biết đường về. Chúng mày ăn con gà mỏ đỏ sẽ đẻ ra sâu róm, bọ hung. Chúng mày ăn con gà mỏ đen cả nhà chúng mày không chết đầu đường thì cũng chết ở xó chợ, không ma nào nó biết, bớ quân thành phố kia ơi!”.
Anh Cường nghe bực lắm, hỏi chúng tôi, cả bọn đều lắc đầu. Lộ ra thì chết cả đám, nhất là khi biết mấy con gà đó ông Toản để dành chuẩn bị làm đám cưới cho con trai. Nhìn nét mặt buồn của ông Toản khi đứng trước chuồng gà, tôi cũng thấy ân hận nhưng không dám thú nhận, chỉ nghĩ thầm: “Cương quyết không dính vào những trò như vậy nữa, nhục lắm!”. Còn thằng Oanh, mặt nó vẫn cứ nhơn nhơn,như không có chuyện gì xảy ra. Có lúc tự nhiên tôi lại đâm ghét nó.




Tôi thích cách kể chuyện của anh Cường. Không biết anh đọc ở đây mà trong đầu anh lắm chuyện thế, gần như kể mãi không hết. Mỗi đêm trăng, giữa sân gạch phơi lúa của hợp tác, sau buổi sinh hoạt, anh Cường giữ vài đứa ở lại kể chuyện anh vừa đọc. Những chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới của Ma Gien Lăng, rồi cả sự chống trọi một cách đơn độc của Rô Bin Sơn giữa đảo hoang để tồn tại, hay như tình bạn thật cảm động và lớn lao của Rê Mi và Mát chi a trong quyển tiểu thuyết “ Không gia đình”... Chúng tôi nghe mãi không chán. Thích nhất là anh kể những câu chuyện cổ tích của An Đéc Xen, như chuyện nàng tiên cá mơ lấy hoàng tử, cô Bạch Tuyết với bảy chú lùn rồi chú lính chì dũng cảm... Hay thật, có ai đó nói cho chúng tôi một điều ước nhỉ, chúng tôi sẽ ước hết chiến tranh, bố tôi trở về, tôi và em Minh về lại với bố mẹ. Lớn lên tý nữa, tôi sẽ trở thành một nhà văn, kể chuyện giỏi như anh Cường. Điều ấy liệu có thể đến không?
Có một điều tôi không ngờ, Hảo đến thăm tôi. Mới có hai năm mà trông nó phổng phao hẳn lên, bắp tay, bắp chân của nó to, rắn chắc, nước da đen sậm lại. Nó đã cao hơn tôi đến gần nửa cái đầu. Gặp tôi, nó mừng mừng, tủi tủi:
- Tao đi bộ lên Sơn Hà từ chiều hôm qua, rồi ngủ lại ở nhà mày, đến sáng nay lại đi bộ xuống đây...
Tôi thương quá. Hảo bắt tôi dẫn ngay đến gặp em Minh. Nó lôi từ trong túi ra một con châu chấu làm bằng lá dừa đưa cho em Minh:
- Anh làm đấy! Anh cho em.
Thằng Minh cầm con châu chấu có vẻ thích thú. Hảo hỏi tôi:
- Thế con sáo mỏ vàng tao cho, còn không?
Tôi lúng túng rồi thú thật:
- Tao vô ý đóng cửa lồng không cài chốt, nó bay mất rồi...
- Tiếc nhỉ! Con sáo ấy khôn lắm, thế nào cũng có người bắt được vì nó quen hơi người rồi mà.
Nói xong Hảo báo với tôi một tin buồn:
- À! Tao báo mày một tin, thầy Dũng chết rồi...
- Cái gì? Sao? Mày nói lại đi, thầy Dũng chết rồi à? – Tôi thảnh thốt.
- Mày chuyển lên đây được gần sáu tháng thì thầy bị bệnh. Bệnh thầy nặng lắm, nằm ở bệnh viện huyện không khỏi, định chuyển lên bệnh viện tỉnh... thì thầy đi...
Thầy Dũng của tôi! Làm sao tôi quên được khuôn mặt khắc khổ của thầy. Tôi định hè này, nếu không đi sơ tán, tôi sẽ xin phép mẹ cho về Quốc thăm thầy và các bạn cũ. Giờ đây, dù tôi có về được Quốc cũng không thể thăm thầy được nữa. Cô và các em sống thế nào khi vắng thầy. Thầy Dũng tính nghiêm khắc, điều ấy rõ rồi, nhưng thương học trò, tôi nghĩ không ai bằng thầy. Tôi nhớ mỗi lần đến lớp, thầy bắt chúng tôi xòe bàn tay ra xem có sạch không? đã cắt móng tay chưa? áo quần có nghiêm chỉnh không... Thầy dặn:
- Đi học, tất cả phải chỉn chu các em ạ, vì các em đang học chữ của ông bà, của thánh hiền. Ăn mặc không nghiêm túc, học dốt là các em có tội, mà thầy cũng có tội...
Bản thân thầy cũng là một mẫu mực về sự chỉn chu. Đến lớp, khoác bên ngoài là chiếc áo đại cán đã bạc màu, bên trong bao giờ thầy cũng mặc một cái áo hở cổ màu trắng, trông rất lịch sự. Chắc thầy có nhiều áo mới nên hôm nay thấy thầy hở cổ áo màu xanh hòa bình, ngày mai lại cổ áo màu trắng, hôm khác lại cổ áo màu vàng... Hồi ấy, lớp tôi có thằng Tiếu, nhà nó nghèo nhưng nó học rất giỏi. Hôm ấy, gió bấc tràn về, cái lạnh thấm vào da thịt. Thấy Tiếu phong phanh trong chiếc áo mỏng, thầy Dũng thương lắm. Hôm sau, thầy cho nó một mảnh vải may vừa cái áo. Cầm mảnh vải thầy đưa, Tiếu cảm động, khóc. Tôi và các bạn trong lớp nghĩ chắc thầy Dũng có nhiều áo lắm thầy mới làm thế. Hóa ra không phải...
Thầy thường dặn chúng tôi khi nào đến nhà phải báo trước, để thầy đón. Nhưng hôm ấy, cả bọn kéo nhau qua làng Bùng chơi, tiện thể qua nhà thầy, chúng tôi ghé vào thăm không báo cho thầy biết. Mái rạ nhà thầy đã mủn gần như sắp bệt xuống đất, tường đất bở ra từng mảng, hở cả nan tre bên trong. Thầy đang ngồi giữa sân chẻ củi, lưng quay ra ngoài mặt đường nên không thấy chúng tôi. Thầy mặc một cái áo bạc mầu thấm mồ hôi, vá khắp chỗ. Điều đặc biệt, chỉ có cái cổ áo của thầy là mới. Cạnh chỗ thầy ngồi phơi ba bốn cái áo cổ áo màu trắng, vàng... Thế là bọn tôi hiểu, cái áo của thầy mặc chỉ thay mỗi cái cổ áo. Thầy khoác bên ngoài chiếc áo đại cán, hở cổ áo mới nên lúc nào chúng tôi cũng tưởng thầy có áo mới, thực tình thầy mặc toàn áo vá. Nhìn thầy ngồi chẻ củi khoác trên mình tấm áo màu đã bạc, đầy mảnh vá, chúng tôi đứng lặng người, không nói được câu nào.
Bây giờ thầy Dũng đi xa, nhớ thầy vô cùng. Tôi tự hứa thế nào cũng về lại Quốc viếng mộ thầy.
Ngoài cái tin đó ra, Hảo còn cho tôi biết một tin khác cũng khiến tôi ngạc nhiên:
- Tao đến tạm biệt mày để đi bộ đội!
- Mày chưa đến tuổi cơ mà? – Tôi thắc mắc.
- Tao khai gian tuổi. Với lại, mày thấy đấy, tao to hơn mày.
Nó nói thế thì tôi chịu, nhưng đây không phải là chuyện đùa. Tôi nói với nó:
- Mày phải biết, đi bộ đội bắn nhau là có người chết, đừng có dại!
- Nhưng chẳng trước thì sau, tao cũng phải đi thôi. Cả làng tao đi gần hết con trai rồi. Có học tiếp cũng chẳng làm gì, đi bộ đội là hơn... – Hảo giải thích với tôi.
- Thế mày như thế này mà họ cũng nhận à?
- Đã bảo tao xung phong mà lại. Họ hoan nghênh quá đi chứ. Gia đình tao được cái bằng khen của xã nữa... – Hảo nói với tôi, cái giọng cũng chẳng buồn, chẳng vui.
Hảo ở với tôi hai ngày. Tôi dẫn Hảo đi chơi với các bạn trong trại sơ tán. Đi cạnh Hảo, tôi thấy tự hào. Chẳng gì thì có một người đồng lứa chuẩn bị trở thành một anh bộ đội, thế là chúng tôi đã lớn rồi. Biết Hảo xung phong vào bộ đội, các bạn trong trại phục lăn. Khi Hảo ra về, ai cũng muốn tặng quà cho Hảo, Hảo gần như không nhận gì hết, chỉ nhận có quyển sổ tay với cây bút Trường Sơn của thằng Oanh: “Để tao viết thư cho chúng mày”.
Ngày hôm sau, tôi với mấy bạn khác tiễn Hảo đi một đoạn đường dài. Khác lần Hảo tiễn tôi từ Quốc lên Sơn Hà, lần này Hảo lại giục tôi:
- Thôi, mày với mấy bạn về đi. Đi với tao đến đoạn đường này là được rồi. Ở đâu rồi tao cũng viết thư về thăm chúng mày.
Tôi vẫn muốn đi với Hảo thêm một đoạn đường nữa. Tự nhiên tôi sợ, biết đâu đây là cuộc chia tay cuối cùng giữa tôi và nó. Nhưng Hảo không đồng ý, cứ giục chúng tôi:
- Chúng mày về đi, gần giữa trưa rồi...
Bọn tôi đứng lại, còn ở phía trước, Hảo bươn bả bước những bước vội. Tôi đứng lặng nhìn theo nó. Bóng Hảo phía xa cùng chiếc lá sen đội đầu khuất dần...
Tôi thấy thương Hảo vô hạn.


Bom Mỹ ném càng ngày càng gần chỗ chúng tôi sơ tán. Đứng ở đây có thể nhìn thấy những đụn khói bốc xa xa. Tiếng bom nổ rung cả mặt đất. Chiều chiều, bọn tôi hay tập trung tại nhà anh Cường. Bác chủ nhà nơi anh Cường ở có cái đài bán dẫn buộc lòng thòng mấy chiếc pin Con Thỏ bên ngoài hay đưa tin chiến sự, nhất là ngày nào cũng đưa tin máy bay Mỹ bị bắn cháy, chúng tôi rất khoái.
Buổi trưa ấy, tôi đang nằm trên cái chõng tre, dưới gốc cây bưởi nhà ông Mẹo thiu thiu ngủ, bỗng, giật mình bởi tiếng nổ “ầm” rất lớn giữa lưng chừng trời. Cái gì thế? Tôi choàng tỉnh nhưng chưa định thần thì xung quanh là tiếng hò reo vang dậy:
- Bà con ơi! Máy bay Mỹ cháy rồi! Phi công nhảy dù kìa, bà con ơi! Đi bắt phi công...
Còn gì sung sướng bằng. Tôi nhảy cẫng lên, cầm luôn cái đòn gánh để ở góc bếp lao ra cổng. Ông Mẹo đang nằm trên phản đọc sách, nghe vậy, không kịp mặc quần dài cũng lao vội theo, vừa chạy, ông Mẹo vừa hô:
- Đả đảo bọn xâm lược Mỹ! Bà con ơi, đi bắt giặc Mỹ!
Xung quanh tôi người ta chạy ào ào, người vác cuốc, người vác mai... Hình như cả làng cùng túa ra. Lần này, tôi sẽ nhìn tận mắt thằng giặc lái Mỹ. Chắc nó nhìn thấy bọn tôi cứ gọi là... run như dẽ! Ai bảo nó mang bom ra đây ném làm gì? Mày cứ tưởng ở trên giời muốn làm gì thì làm à? Đừng hòng nhé!
Bọn tôi chạy nhanh ra cánh đồng theo hướng người ta đang chạy. Phía xa ấy, một cái dù trắng đang hạ dần, hạ dần...
Cái dù vừa chạm đất cũng là vừa lúc mọi người đổ xô đến. Bên trong cái dù, có người động đậy. Một người định lao vào thì có ai đó nói: “Cẩn thận, nó có súng đấy!”. Nghe vậy, người ấy dạt vội ra ngoài, nằm thụp xuống nói với người bên cạnh: “Ông cầm súng lao vào đi”. Người cầm súng trường nòng dài định lao vào thì cái dù được gỡ ra. Một người phi công dáng tầm thước, tóc đen, mũi tẹt, da vàng đứng dậy. Khuôn mặt anh đau khổ. Anh chỉ một lá cờ màu đỏ, sao vàng in trên cánh tay bộ áo phi công, nói:
- Bà con đừng bắn. Tôi là phi công của Quân đội nhân dân Việt Nam, bị trúng đạn của máy bay Mỹ. Mong bà con liên lạc với cấp trên đưa tôi về đơn vị...
Một người hét tướng lên:
- Nó nói láo đấy! Khéo là giặc lái ngụy bị bắn rơi chứ máy bay ta làm sao mà bị máy bay Mỹ bắn trúng được? Cứ gô cổ nó vào, đưa lên huyện!
Nhìn xung quanh toàn những ánh mắt căm thù, khí thế đằng đằng, anh phi công càng hoảng, vội bỏ chiếc mũ bay đang cầm trên tay xuống đất, lấy trong túi mấy thứ giấy tờ, thanh minh:
- Bà con xem, các đồng chí xem hộ... Tôi đúng là phi công của Quân đội nhân dân Việt Nam đánh nhau với máy bay Mỹ, không phải ngụy.
Thấy thái độ anh ấy không có gì có vẻ chống đối, một thanh niên mạnh dạn cầm giấy tờ anh ấy đưa. Xem xong anh lại đưa cho người bên cạnh, nói:
- Không khéo, đúng là phi công của ta thật, ông ạ!
Người kia xem xong giấy tờ cũng gật gù:
- Đúng là phi công của ta rồi. Bỏ mẹ, thế ra máy bay của ta cũng bị... bắn rơi à? Thôi, bà con thu xếp hết đồ đạc của anh ấy, đưa anh ấy về trụ sở của hợp tác rồi ta báo cho huyện biết...
Tưởng bắt được phi công Mỹ hóa ra lại được xem phi công của ta. Cũng tốt. Trước đây, tôi cứ nghĩ phi công là những người cao to, lông mày rậm, mặt vuông chữ điền... nghĩa là rất đẹp trai, nhưng anh phi công này trông cũng không đẹp trai lắm, dáng chỉ cao hơn anh Cường một tí. Thế mà anh ấy cũng lái được máy bay, tài nhỉ!
Trước đây, hồi còn ở Sơn Hà, tôi nhớ có lần xem một bộ phim của Liên Xô nói về các anh hùng không quân. Tôi ao ước đến một lúc nào đó mình cũng sẽ trở thành một phi công lái máy bay, bay vút lên tận các tầng mây. Máy bay của tôi lái cũng sẽ chao lượn như những cánh chim và khi máy bay hạ cánh xuống đường băng, sẽ có biết bao người đến tặng hoa với những ánh mắt thán phục. Nhưng giờ đây, nhìn thấy anh phi công của ta bị máy bay Mỹ bắn rơi, tôi cũng... sờ sợ. Cái ước mơ có phần viển vông kia tan biến đi lúc nào không biết.
Được bà con chăm sóc chu đáo, anh phi công rất cảm động. Mái tóc ngắn bết đất được gội sạch, chải ngay ngắn; quần áo mới thay cho bộ quần áo cũ, trông tinh tươm. Trước khi lên chiếc ô tô đít vuông trên tỉnh về đón, anh nói:
- Xin đồng bào hãy ghi nhớ lời tôi nói: lần sau, tôi sẽ bắn hạ máy bay Mỹ, không phải một chiếc mà vài chiếc. Máu phải trả bằng máu!
Nói xong anh giơ tay chào mọi người rồi chui vào ô tô, chiếc ô tô nổ máy phóng rồ đi.
Phía bên dưới, mọi người vẫy tay chào anh ấy. Có cả tiếng hoan hô...


Trại dựng xong, tôi và em Minh tạm biệt ông bà Mẹo, ra ở trại với các bạn. Trại cách nhà ông bà không xa nhưng không hiểu sao, khi chia tay cũng có vẻ quyến luyến. Ông bà gói hộ đồ cho tôi. Thằng Minh cứ níu tay bà Mẹo, không muốn rời. May cho anh em chúng tôi, sống giữa tình thương của ông bà, có thiếu thốn vật chất nhưng không phải là nhiều. Có ông bà bên cạnh nên nỗi nhớ bố mẹ của anh em tôi cũng dịu bớt.
Bà Mẹo tiễn hai anh em tôi ra cổng, nói:
- Cứ lên đây ở, lúc nào thích thì về nhà với ông bà. Có thời gian, thế nào bà cũng lên thăm hai cháu. Bà thương hai cháu lắm!
Rồi bà Mẹo lại ôm thằng Minh.
Tôi nhớ cái tối ấy, gió to, mưa lớn, sấm chớp cứ đùng đùng, oàng oàng, tôi ôm em Minh, lo thắt ruột. Không hiểu sao từ chiều đến giờ, đầu em nóng thế. Nó thiếp đi, thở mệt nhọc. Thuốc uống không có, không biết em đau bệnh gì? Bệnh viện thì xa... Nếu không có ông bà Mẹo, không biết tôi xoay xở thế nào. Ông Mẹo sờ trán, sờ bụng em Minh rồi trong cơn mưa gió sấm chớp ấy, ông mặc ngay cái áo lá cọ, đội nón đi tìm hái lá xông cho em. Còn bà Mẹo lúc đó đội nón ra vườn hái lá khế non về xoa lưng, đắp trán cho em Minh. Thấy tôi lo lắng, bà Mẹo động viên:
- Em cháu không sao đâu, có lẽ bị cảm nắng. Cháu đi ngủ đi, lấy sức ngày mai đi học. Tối nay, ông bà lo cho, em Minh sẽ qua khỏi thôi!
Bà Mẹo còn cẩn thận dặn tôi:
- Chuyện em Minh bị ốm đau như thế này, cháu đừng tin cho mẹ biết, mẹ sẽ lo. Mọi chuyện ở đây đều có ông bà, để mẹ cháu còn lo việc nước...
Sống với ông bà Mẹo tình cảm như vậy, làm sao anh em tôi không quyến luyến.
Chúng tôi về trại mới. Trại là ngôi nhà rộng làm từ tranh, tre, nứa, bên trong có hai dãy giường đôi, một bên nam, một bên nữ. Tôi với em Minh ngủ chung. Sáng sáng, anh Cường thổi còi là tất cả phải dậy. Chị Liên hướng dẫn tập thể dục bên nữ, anh Cường hướng dẫn bên nam, sau đó tất cả đánh răng, rửa mặt rồi đến bếp tập thể ăn sáng.
Hết hè, bọn tôi phải ở lại đây đi học với các bạn mới ở nông thôn. Đã chuyển cấp, lại xa gia đình, sống tự lập là chính, tôi cảm nhận được rất rõ sự trưởng thành của minh. Rõ nhất là trong quan hệ của tôi và Hạnh. Trong khi bọn trẻ nông thôn trạc tuổi tôi sau buổi đi học thường lao động thêm giúp gia đình, đến chiều kéo nhau ra tắm ở đầm sen, la hét váng cả một vùng thì tôi và Hạnh về lại trại, giúp các em nhỏ học. Rồi chúng tôi chụm đầu giải từng bài toán, cùng nhau tìm ý văn. Trong lúc trò chuyện, chúng tôi thường nghĩ đến cảnh hết chiến tranh, về lại thị xã học tiếp, học đến tận đại học. Hạnh sẽ trở thành cô giáo, còn tôi sẽ là bác sĩ làm ở bệnh viện tỉnh... Những ước mơ như thế chỉ hai chúng tôi tâm sự với nhau thôi, chứ nói với lũ bạn cùng lứa, chắc gì chúng nó hiểu...
Hạnh giúp tôi chăm sóc em Minh từ việc đánh răng, rửa mặt đến tắm giặt. Hạnh còn giúp em Minh học. Chị gái dạy em bao giờ cũng mềm mỏng hơn anh trai. Đã vậy, tính tôi lại lười, toàn giả “ đau bụng”, thế là bao nhiêu quần áo bẩn của hai anh em, Hạnh đều giặt hộ. Thậm chí có khi Hạnh sang mắc màn cho anh em tôi rồi mới mắc màn cho mình. Cái hôm trại tổ chức đi gặt lúa giúp dân, trừ mấy đứa nhỏ, còn bọn tôi gồm Hạnh, Oanh và rất nhiều đứa khác, đi gặt với tâm trạng hồ hởi. Riêng tôi, tôi muốn ra oai với chúng nó vì những chuyện gánh lúa, gặt lúa, hồi ở Quốc, tôi đã quen. Hôm ấy, tôi làm nhiệt tình nhất, một phần vì mình thạo việc hơn các bạn nhưng phần chính là do có Hạnh, tôi làm quên mệt. Thấy mồ hôi tôi đổ giọt trên má, Hạnh đưa một cái khăn tay:
- Thắng lấy khăn của mình lau mặt đi.
Cái khăn tay của Hạnh có mùi hương bưởi, thơm thơm. Tôi đưa lại chiếc khăn tay cho Hạnh, hầu như không để ý ánh mắt của mấy đứa bạn đang nháy nhau, tay chỉ trỏ, miệng nói thì thầm điều gì đó, cười khúc khích. Phía xa kia, anh Cường cũng đang gặt lúa cạnh chị Liên. Không biết hai người nói chuyện gì mà chị Liên cười như nắc nẻ. Bất giác, tôi nhìn sang Hạnh. Khuôn mặt Hạnh đỏ hồng, ánh mắt của Hạnh hôm nay trông khác lạ lắm, đẹp hẳn lên. Tại sao điều này hôm nay tôi mới phát hiện nhỉ? Hay là...
Thấy tôi nhìn chằm chằm, Hạnh ngượng:
- Tớ có cái gì mà Thắng nhìn tớ ghê thế?
Câu hỏi của Hạnh làm tôi sực tỉnh. Tôi ngượng ngùng, chống chế:
- Không tớ nhìn... đằng kia mà! – Tôi chỉ vu vơ rồi cúi xuống gặt lúa tiếp.
Oanh đến gần tôi lúc nào không hay. Cả người nó lấm đầy bùn đất. Cu cậu cũng chăm nhưng làm không quen, mấy ngón tay bị lá lúa cứa rớm máu, bàn tay đỏ lựng lên, có chỗ phồng nước. Nó giơ tay cho tôi xem, lắc đầu ngao ngán:
- Tao chỉ làm ngày hôm nay nữa thôi, mai là tao cáo ốm xin nghỉ! Làm thế này tao khiếp quá rồi. Mệt thấy ông bà, ông vải.
Buổi tối, ăn cơm xong, cả trại đi ngủ. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề sau một ngày lao động quá sức. Đang ngủ như thế, tôi thấy như ai đang đẩy mình vào phía trong. Mở mắt ra thấy thằng Oanh, tôi ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao mày lại sang đây?
Nó nói khẽ:
- Mày nói nhỏ thôi, cho tao ngủ nhờ với. Tao... đái ướt hết cả chiếu với màn rồi, không ngủ được. Có lẽ tại ban ngày tao làm mệt quá nên đái dầm mà không biết...
- Mày thay quần áo chưa?
- Thay rồi.
- Sao tao vẫn thấy mùi khai khai...
- Tao đã rửa đâu! Để sáng mai. Cho tao ngủ đi.
Nó chưa kịp chui vào màn thì bên giường của nó, tiếng Phiến “lại gái”, người ẻo lả như tàu chuối héo, nằm chung giường với nó, chu chéo:
- Anh Cường ơi, thằng Oanh đái ướt hết em rồi. Người thành thị mà... đái dầm.
Thế là cả khu trại nhốn nháo. Chuyện Oanh đái dầm lan ra. Từ đó, Oanh mang thêm biệt hiệu: Oanh “dấm đài”. Cũng vì thế mà thằng Oanh thù thằng Phiến ra mặt.
Thằng Phiến có tật buổi trưa thích ngủ một mình, nóng mấy cũng đắp một cái chăn ngang bụng cho ra dáng, như nó nói “Người thành thị phải thế!”. Thằng Oanh chúa ghét, bảo: “Đồ rởm”.
Hôm ấy, như thường lệ, thằng Phiến ngủ trưa, không biết ai để trên ngực nó một... cục gạch. Tỉnh giấc, thấy cục gạch để trên ngực, tức mình, không thèm quan sát, Phiến ném vội hòn gạch ra xa... Có ngờ đâu, hòn gạch được buộc với sợi dây, mà đầu kia là cái thòng lọng buộc vào với “của quý” của nó. Do Phiến đắp chăn nên không ai nhìn thấy, hòn gạch ném đi, thít luôn cái đầu thòng lọng bên này. Đau quá, thằng Phiến la oai oái...
Những buổi tối, tôi với thằng Oanh hay ra chùa Hạ, một ngôi chùa nhỏ nằm ở rìa làng để học bài. Còn em Minh ở lại trại học chung với mấy đứa bạn cùng lớp. Học ở chùa Hạ chẳng qua cũng là cái cớ để anh Cường hay chị Liên khỏi kiểm tra chúng tôi, chúng tôi được tự do hơn.
Bên ngoài chùa Hạ là một lớp học buổi tối bỏ trống, bên trong là một cái điện thờ, trên để một số tượng Phật và mấy cái bát nhang. Ngăn cách giữa điện thờ và lớp học là một bức mành tre. Tôi với Oanh mang cái đèn dầu và sách vào lớp học, đang định lấy quyển sách toán ra làm bài tập thì nghe thấy tiếng chị Liên, Hạnh và một số bạn nữ lao xao bên ngoài:
- Bạn Thắng và Oanh nói là học ở đây chị Liên ạ! – Tiếng của Hạnh.
- Thế thì chúng ta vào học chung với hai bạn đó – Tiếng chị Liên.
- Nhỡ trong đó có ma thì sao? – Tiếng của ai đó mà chúng tôi chưa phân biệt được.
Oanh kéo tay tôi, thì thầm:
- Hai đứa mình trèo lên điện thờ, đợi chị Liên và bọn nó vào dọa ma cho tất cả chết khiếp...
Nhất trí, cả hai tắt đèn, ôm đèn sách chui tọt vào trong, trèo lên điện thờ. Tôi và Oanh hồi hộp chờ đợi.
Chị Liên dẫn cả bọn vào bên trong lớp học. Mọi người cũng cầm sách và đèn dầu. Vào đến bên trong không thấy chúng tôi, Hạnh ngạc nhiên:
- Thắng nói với em là cùng với Oanh đến đây cơ mà. Hai bạn đó đi đâu nhỉ?
Chúng tôi vẫn cố giữ thật im lặng.
Một người bạn của Hạnh nói:
- Biết đâu hai ông ấy nói đến đây, không thấy bọn mình, kéo đi nơi khác thì sao? Ở làng này thiếu gì chỗ học.
Thế là yên tâm không có chúng tôi trong này, nghĩa là không có con trai, các nàng cùng chị Liên tha hồ tự do. Mới đầu, một đứa kêu nóng quá cởi áo ngoài ra, hở cả áo lót bên trong. Bên ngoài có ánh đèn dầu, bên trong tối thui, lại ngồi ở phía trên, qua bức mành tre chúng tôi nhìn thấy hết. Một đứa lại nói:
- Em với chị Liên đổi áo cho nhau đi, xem em có mặc vừa áo của chị không?
- Ừ thì đổi! – Chị Liên đồng ý – Chị em mình vào bên trong cởi áo.
Tình thế này ngoài dự kiến của chúng tôi. Hai chị em cởi áo chỉ cách chỗ chúng tôi ngồi trên điện thờ khoảng một mét, thậm chí tôi còn... ngửi thấy cả mùi mồ hôi của chị Liên. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy phụ nữ cởi trần. Tôi nín thở, có một cảm giác rất khác lạ chạy suốt sống lưng. Cổ tự nhiên khô không khốc. Tôi như bị thôi miên, toàn thân bất động. Hình như Oanh cũng giống tôi. Bên ấy, Oanh cố gìm hơi thở mà vẫn nghe thấy. Người đổi áo cho chị Liên chạy ra ngoài, khoe:
- Chúng mày ơi! Nhìn tao mặc áo của chị Liên có đẹp không này.
Cả bọn trầm trồ, Hạnh nói với bạn:
- Mày cho tao mặc thử đi!
Rồi Hạnh kéo người bạn đó vào bên trong, nghĩa là cũng cách chỗ tôi ngồi trên điện thờ rất gần. Cả cơ thể mới lớn của Hạnh, tôi gần như nhìn thấy hết. Tôi nín thở, một xúc cảm khó diễn tả bùng phát. Tôi cố ghìm chân tay và cả toàn thân cho bớt run. Hạnh đã mặc xong áo, toan đi ra ngoài thì thằng Oanh giả giọng, nói ồm ồm như từ ở cõi âm ti vọng về:
- Các... người... phải... đứng... lại...!
Khỏi phải nói Hạnh và chúng bạn sợ hãi đến mức độ như thế nào. Tất cả bỏ chạy tán loạn. Thậm chí Hạnh ngã dúi, chưa cài hết cúc áo mà vội ngồi dậy, lao đi. Còn chị Liên và mấy người khác chạy thục mạng, vừa chạy, vừa kêu:
- Có ma... Ai cứu chúng tôi với...
Thấy mọi người hoảng hốt bỏ chạy, tôi với Oanh buồn cười quá, cười sằng sặc nhưng cũng phải rời điện thờ mà chạy. Ở lại, anh Cường biết chuyện, chắc sẽ không tha...
Tối ấy, không hiểu sao, tôi trằn trọc rất khó ngủ. Hình ảnh Hạnh cứ chập chờn, chập chờn...



HẾT TẬP II – PHẦN I

 

5
Tôi không dấu, qua cái chết của Bình, tự nhiên tôi với Hạnh thân nhau hơn. Hạnh cứ hay bắt tôi kể những kỷ niệm về Bình. Mỗi lần nghe tôi kể như vậy, Hạnh lại khóc rồi tự trách mình:
- Lẽ ra Bình không chết đâu, Thắng ạ! Thắng biết không? Lúc ấy Hạnh cũng mệt. Cô Phương đi xuống, thấy thế nói với tụi mình: “ Các em mệt rồi đấy, nghỉ đi, chuẩn bị ăn cơm. Mọi việc cứ để để đấy, chiều tất cả tiếp tục làm...”.Thế mà...
Nghe Hạnh kể, tôi cũng gật đầu xác nhận:
- Lúc ấy đám con trai bọn tớ, kể cả Bình cũng mệt lắm rồi, chỉ chờ các bạn giặt xong đám bao tải đó là kéo nhau đi ăn cơm...
Hạnh vừa khóc, vừa kể tiếp:
- Bọn tớ không nghe lời cô Phương, cố làm cho xong việc. Tớ giũ cái bao tải cuối cùng trong khi hai tay đã mỏi nhừ. Thế là khi nâng cái bao tải lên, cầm không chặt, bị tuột, bao tải trôi theo dòng nước. Nếu cứ để nó trôi, thì cũng chẳng sao, quá lắm là đền cho xí nghiệp. Tớ lại tiếc, lao theo như một phản sạ để giữ bao tải. Có ai ngờ...Chính tớ, vì không nghe lừoi cô Phương, đã làm cho Bình chết.
Hạnh kể xong, gục vào vai tôi khóc nức nở.
Không, lỗi đó không phải do Hạnh, mà thực ra do chính tôi và Oanh gây ra. Giá như chúng tôi không rủ Bình đi làm...Giá như chúng tôi xuống giúp Hạnh...Giá như...
Thôi, chuyện đã xảy ra rồi, bao nhiêu cái “ giá như...”, bao nhiêu điều tự trách mình cũng không thể làm cho Bình sống lại được với chúng tôi.
Chiều nào, tôi, Oanh, Hạnh và các bạn trong lớp cũng ra thăm mộ của Bình, đặt lên đó những bó hoa tươi chúng tôi kiếm được. Chúng tôi vẫn cảm giác Bình ở gần đây, không chết. Với Bình, có lẽ chúng tôi có sống tốt bao nhiêu cũng không thể bằng nó.
Cũng chính trong thời kỳ này, gia đình tôi có một sự kiện quan trọng. Bố tôi đi chiến đấu ở miền Nam ( Thời đó người ta thường hay gọi là đi B). Thực ra, chuyện này mãi về sau, khi bố tôi đi rồi, trong một đêm mưa tầm tã bên ngoài, mấy mẹ con nằm bên nhau, mẹ mới cho tôi biết.
Lần ấy, bố tôi nghỉ phép. Khác với mọi lần, lần này bố được nghỉ phép hình như sớm hơn, thời gian ở nhà cũng lâu hơn. Bố dẫn tôi đi thăm gần như tất cả những người quen trong thị xã. Rồi bố cặm cụi đóng cái chuồng gà, làm lại cái chuồng lợn, lợp lại mái nhà. Bố cố làm thật nhanh như chạy đua với thời gian.
Bố dặn tôi;
- Ở nhà, con phải giúp mẹ. Bây giờ không như hồi nhà mình ở Quốc nữa đâu, tình hình này sẽ có nhiều biến đổi trong thời gian tới. Các con sẽ phải làm quen với cảnh chiến tranh. Con phải lo cho em Minh giúp mẹ bởi sắp tới bố sẽ không có nhà.
- Thế bố đi đâu mà không có nhà ? – Tôi thắc mắc.
Bố ôm tôi vào lòng, nét mặt trầm ngâm, không nói. Sau này tôi biết, bố phải giữ bí mật chuyện này theo yêu cầu của tổ chức.
Khi nghe tôi kể chuyện về sự hy sinh của Bình để cứu Hạnh, bố rất xúc động. Bố nói với tôi:
- Thế đấy con ạ! Những tấm gương như thế con cần học tập, học để thành người, học để sống có ích. Bố đi xa, nếu biết con trưởng thành, sống có ích, được mọi người quý trọng như bạn Bình của con, học giỏi nữa là bố rất mừng.
Sau ngày bố tôi lên đường vào chiến trường, cả nhà tôi trải qua những ngày tháng rất nặng nề. Nét mặt của mẹ tôi trầm hẳn lại, trông khắc khổ hơn. Nhiều đêm mẹ ôm thằng Minh, khóc lặng lẽ. Trước đây, cứ độ hai tuần là bố tôi từ đơn vị đóng quân về thăm nhà. Biết lịch như vây, khoảng hơn năm giờ chiều là thằng Minh, em tôi chạy lon ton ra đầu đường, trông về phía hun hút xa xa kia để đón chờ bố. Khi thấy bố đạp chiếc xe đạp “Thống Nhất” đạp từ đằng xa tới, nó đã reo lên rất to: “ Bố về ! Bố về ! Anh Thắng ơi! Bố về. bố về rồi...”. Rồi nó xoắn xuýt chạy về phía bố. Bố tôi, mặt nhễ nhại mồ hôi, dựng vội chiếc xe đạp vào bên đường, rồi ông bế thốc thằng Minh lên, hôn tới tấp vào mặt , vào trán nó... Giờ đây, cảnh đó đã xa. Ấy vậy, thằng Minh vẫn không bỏ được thói quen đó. Cứ chiều thú bảy, như thường lệ, nó lại lủi thủi ra đầu đường chờ để đón bố . Chờ mãi, chờ mãi, không thấy bố đâu, nó về hỏi tôi:“ Anh Thắng ơi! Miền nam có xa không mà sao bố đi lâu vậy?”.
Tôi không biết trả lời cho em Minh như thế nào?
Trên đời, tôi thấy bố là người đàn ông tuyệt vời nhất. Ông có một tấm lòng vị tha, cao thượng, hiếm thấy.
Một lần, bố tôi về nhà cuối tuần, không hiểu sao ông lại về muộn. Tôi đi đá bóng về, bụng đói ngấu. Lúc ấy gần như không để ý phần cơm mẹ để dành cho bố, cứ thế tôi mang ra đánh chén sạch. Trong chạn chỉ còn phầm cơm vét nồi và cơm quét rơi dưới đất, mẹ trộn lẫn với xương cá để dành cho mèo. Bố tôi về không hề biết, cứ tưởng cơm đó để phần cho mình. Bố bưng bát cơm phần cho mèo đó ra, ăn ngon lành. Mẹ tôi biết chuyện, toan rút roi mây đánh tôi vì cái tội vô ý đó. Bố tôi liền can:
- Em đừng đánh con. Nó ăn khỏe như thế là anh mừng. Còn chuyện bát cơm phần cho mèo kia, không sao đâu. Ở đây là phần cho mèo, chứ sau này vào chiến trường, lúc đói mà có bát cơm như thế là “ ăn vàng” đấy!
Nói thế, sau đó bố lại quay sang nói với tôi:
- Bố nói với mẹ như thế, nhưng con cũng phải rút kinh nghiệm. “ Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” nghe con!
Chuyện của bố ăn nhầm “ cơm phần cho mèo ” tôi ân hận mãi cho đến tận bây giờ. Nếu có ai hỏi tôi thích điều gì nhất? Tôi trả lời ngay không cần phải suy nghĩ: Mong bố không phải đi đánh nhau, về cùng mẹ và anh em tôi ngay lắp tự.
Nói chung, tôi và em Minh không được gần bố nhiều. Chỉ đến ngày bố được nghỉ phép, nghỉ lễ hoặc nghỉ tết, bố mới về thăm mẹ và anh em tôi.Tính bố tôi rất nóng, nhưng thực ra ông rất thương người, thương anh em tôi. Thằng Minh thấy bố về là nó khoái lắm vì bố sẽ làm ngựa cho nó cưỡi. Còn tôi thích nhất là bố về, đúng ngày chủ nhật sân vận động có bóng đá, thế nào bố cũng dẫn tôi đi xem.
Tối hôm trước ngày trở về đơn vị, bố nói chuyện với mẹ rất lâu. Không biết bố nói những gì mà tôi nghe thấy tiếng mẹ lúc rõ, lúc không: “ ...Em hiểu...em hiểu... Chỉ mong anh đừng làm sao...Anh cố gắng viết thư về...”. Rồi tôi nghe cả tiếng mẹ khóc. Thế là thế nào ? Chắc lần này cũng như mọi lần, bố đi công tác rồi lại về, thế mà tại sao mẹ lại khóc? Tôi nghe thấy tiếng của bố cũng như vậy, tiếng được, tiếng mất: “ ...Cũng không biết được...em thay anh cố chăm sóc các con, nhất là thằng Thắng. Nó lớn...nhưng còn dại lắm...Anh sẽ viết thư về...Nhất định...”.Tiếng bố thở dài. Đêm im lặng. Nghe rõ cả tiếng muỗi kêu. Rồi tôi nghe thấy tiếng bố xỏ dép. Bố đi qua chỗ hai anh em tôi ngủ. Bố vén màn, ôm hôn từng đứa. Tôi cảm thấy hình như có giọt nước mắt của bố in vào, ướt cả hai bên má của tôi...
Cũng trong thời gian này, có một chuyện... không biết tôi có nên kể ra đây không ?
Bữa đó, tôi mấy thằng bạn nữa đi học về, qua của hàng Bách hóa, thấy mọi người xúm đông, xúm đỏ vòng trong, vòng ngoài. Không biết có chuyện gì xảy ra? Vốn có tính tò mò, tôi và mấy thằng nữa len vào bên trong xem có chuyện gì? Một điều đập thẳng vào mắt tôi mà không thể tin được. Chú Nhiên bị mấy anh Công an bắt vì tội chui vào cửa hàng ăn cắp. Hai tay chú Nhiên bị trói quặt ra đằng sau. Đầu chú chúi thấp xuống, không dám ngẩn lên nhìn ai, tóc tai rũ rượi, trông chú thật khổ. Nhìn thấy chú như vậy, tôi vội quay ngay ra ngoài. Lời chú còn văng vẳng bên tai tôi hôm nào: “ Đồ phản bội!”. Bây giờ thì... May cho tôi, “ phản bội” chú, chứ nếu mình “ không phản bội” đi theo con đường của chú rồi sẽ ra sao nhỉ ?
Tôi rùng mình.
Cả buổi sáng ấy, quanh chợ Gừng, chỗ nào tôi cũng thấy họ bàn tán chuyện chú Nhiên ăn cắp bị công an bắt. Anh Cường nhân chuyện này nói với chúng tôi:
- Các em thấy không ? Cái tốt, cái xấu bây giờ dễ lẫn lộn. Chơi với bạn, các em phải quan sát, để ý. Tuyệt đối không lấy cảm tình của mình ra để nhận xét. Bạn Bình của chúng ta, ăn mặc không lành lặn, có lúc sống rất khổ, nhưng bạn đó có trái tim vàng. Còn chú Nhiên, ăn mặc lịch sự, lại cán bộ nhà nước nữa, chắc chắn biết chữ nhiều hơn bạn Bình nhưng suy nghĩ, hành động của chú ấy là không tốt...
Những chuyện như vậy, kể cả những lời khuyên của bố ,của anh Cường đã làm cho tôi hiểu thêm những chuỵen ngoài xã hội.






Cuối Năm chuyển cấp của tôi cũng là lúc Mỹ chuẩn bị gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay ném bom ở miền bắc. Từ trước cho đến lúc ấy, trong suy nghĩ của tôi, gần như không có hai từ “ chiến tranh”, mà nếu có thì chắc cũng giống như trên phim chiến đấu của Liên Xô mà tôi thường được xem. Máy bay của bọn phát xít Đức bay từng đàn, đen ngòm với những tiếng rú gầm ầm ĩ. Chúng bị pháo cao xạ của Hồng quân Liên Xô bắn nổ liên tục, nòng cao xạ khạc đạn tóe lửa, hết chiếc máy bay này đến chiếc máy bay khác của bọn phát xít Đức bốc cháy, rơi xuống đất trong tiếng hoan hô của người trên màn ảnh và cả... người đang ngồi xem phim.
Còn chiến tranh ở Việt Nam.
Chỗ nào trong thị xã người ta cũng đào hầm, nhất là vỉa hè. Dọc con đường tôi đi đến lớp, những hố cá nhân thi nhau xuất hiện. Rồi có đêm, tôi giật mình thức giấc bởi tiếng ô tô kéo pháo, tiếng xe bánh xích nghiến trên mặt đường vọng đến tận chỗ tôi đang ngủ. Giờ giấc học của lớp chúng tôi cũng thay đổi. Bắt đầu học từ lúc bốn giờ sáng, tan học vào lúc tám giờ để tránh giờ cao điểm. Mỗi chúng tôi tự trang bị cho mình một cái đèn dầu để học bằng cách đục một lỗ trên thân ống bơ sữa bò, cổ đèn dầu làm bằng lọ mực Cửu Long để vào bên trong, cho ánh sáng vừa rọi đủ mặt trang giấy. Chúng tôi không được mặc áo trắng hoặc áo có màu sáng nữa, phải mặc áo xanh hoặc áo màu đen để “ khỏi bị lộ”. Thỉnh thoảng, trong thị xã, người ta tập báo động giả tránh máy máy bay ném bom. Mọi việc đang bình thường, tự nhiên, cái còi trên tháp nước giữa thị xã, ré lên. Tiếng còi dữ dội như xoáy vào tai từng người, kéo dài từng hồi, từng hồi một. Cả thị xã tắt hết đèn điện, mọi người trong nhà vội vàng chạy ra hầm trú ẩn. Tiếng loa phóng thanh mắc ở trên các cột đèn hay ở một cây cao nhắc nhở: “ ...Đồng bào chú ý ! Đồng bào chú ý ! Máy bay địch cách thị xã một trăm cây số về hướng tây - nam. Mọi người xuống ngay hầm trú ẩn. Ai không có nhiệm vụ tuyệt đối không được lên mặt hầm. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Đồng bào chú ý ! Đồng bào chú ý...”.
Không khí chiến tranh đó, bây giờ tôi không phải thấy trên phim mà diễn ra ngay trước mặt tôi như “sờ” thấy, làm cho tôi sợ.
Mẹ nói với tôi:
- Nếu máy bay Mỹ đến đây ném bom, có lẽ con và em phải đi sơ tán thôi. Mẹ sẽ gửi em Minh và con đi theo trại của Liên Cơ (1). Con chuẩn bị sách vở, áo quần...Có lệnh là đi ngay.
Tôi nói điều này với Hạnh và Oanh. Hạnh cho tôi biết:
- Mẹ của Thắng nói đúng đấy. Khu phố mình cùng một số khu phố khác sẽ tổ chức tập trung thành một trại sơ tán để tổ chức cho chúng mình tiếp tục học tập và nghỉ hè luôn.
- Thế ai chỉ huy bọn mình? Có phải anh Khanh không ? – Tôi hỏi lại Hạnh mà lạy giời, Hạnh trả lời “không phải”.
Hạnh lắc đầu:
- Không phải anh Khanh đâu, Thắng ạ! Anh ấy ở lại để chỉ huy đội dân quân khu phố sẵn sàng chiến đấu với máy bay Mỹ. Tớ nghe anh Cường cùng với mấy chị nữa sẽ đi theo tụi mình trong mấy tháng hè.
Nếu đúng như thế thì còn gì bằng!
Càng gần đến lúc kết thúc năm học, chúng tôi càng bận bịu hơn. Ngoài việc ôn tập cho kỳ thi tốt nghiệp cấp hai, học cả ngày lẫn đêm, chúng tôi còn phải tranh thủ đào hầm. Đào hầm trong lớp rồi đào cả những giao thông hào dẫn từ lớp ra hầm trú ẩn. Chúng tôi còn đi vào thôn xin rơm về đan mũ rơm chống bom bi. Việc đã nhiều như vậy, anh Khanh còn tập hợp chúng tôi lại làm một việc mà theo anh nói “ rất quan trọng”:
- Các em biết đấy, bọn đế quốc Mỹ đang thua nặng ở miền Nam. Để gỡ cho bọn tay sai khỏi lún sâu vào thất bại, chúng sẽ cho máy bay mang bom ra ném ở miền Bắc. Nhưng sự hung hăng của chúng càng chứng tỏ sự thất bại thảm hại đang đến gần. Chúng ta, những đoàn viên thanh niên lao động Việt Nam, những đội viên thiếu niên tiền phong phải thể hiện khí phách hiên ngang của mình ...
Nghe anh Khanh nói, cứ như đang nghe... loa phát thanh. Sợ thật! Anh Khanh nói hùng hồn:
- Các em nghe anh phổ biến tình hình mới đây. Sắp tới mọi người trong khu phố ta cũng như nhiều khu phố khác trong thị xã sẽ tham gia bầu cử Quốc hội. Bọn đế quốc Mỹ và lũ tay sai trong miền Nam rất muốn cuộc bầu cử Quốc hội này thất bại nên chúng rắp tâm phá hoại cùng với việc ném bom của máy bay. Bắt đầu từ hôm nay, ngoài việc học văn hóa, các em phải cùng các anh đi canh gác mọi ngóc ngách trong khu phố, đề phòng những âm mưu phá hoại của địch, sẵn sàng bắt bọn biệt kích...
Với anh Khanh, hình như lúc nào, ở đâu cũng có “ biệt kích”.
Tối ấy, chúng tôi nghe thấy tiếng kẻng báo động. Theo đúng quy định của anh Khanh, chúng tôi tập trung rất nhanh. Nét mặt anh Khanh trong có vẻ nghiêm trọng, tay cầm một cái gậy. Thấy chúng tôi đã tập trung, anh bỏ cái còi trong mồm ra, hỏi:
- Các em kiểm tra lại xem còn thiếu ai nữa không ?
Kiểm tra, không thấy thiếu ai cả. Tôi rụt rè hỏi:
- Có việc gì không ? Anh Khanh ơi! Em đang ăn cơm...
- Ăn cơm cũng phải bỏ, có chuyện đấy...- Anh Khanh nói chậm từng câu như sợ chúng tôi không nghe rõ - Ở khu phố ta đã có bọn biệt kích xuất hiện, có một số dấu hiệu nghi vấn chúng phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội...
Nghe anh Khanh nói vậy, chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, hơi lo. Chẳng lẽ có chuyện biệt kích “ xuất hiện” trong khu phố này thật sao?
Anh Khanh nhìn từng đứa chúng tôi, mắt anh không chớp, rồi giải thích:
- Anh đã báo động cho các em biết là cuộc bầu cử Quốc hội của chúng ta thế nào đế quốc Mỹ cũng sẽ thả bọn biệt kích ra ngoài bắc để phá hoại. Đến bây giờ thì y như rằng. Chiều nay, câu khẩu hiệu viết bằng phấn trắng lên bảng tin khu phố :“ NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ QUỐC HỘI” đã bị bọn “ biệt kích” bí mật đột nhập xóa bỏ. Thay vào đó, chúng kẻ khẩu hiệu rất phản động: “ ĂN THỊT GÀ NGON LẮM!”. Các em thấy chúng có thâm độc không? Bọn đế quốc Mỹ rất coi khinh chúng ta, cứ như chúng ta sắp chết đói ấy. Phải chặn đứng âm mưu này và tìm cách bắt bằng được thủ phạm. Các bác lãnh đạo khu phố đã họp khẩn cấp và giao nhiệm vụ cho chúng ta phải truy tìm bằng được thủ phạm.
Nghĩ cũng ...kinh thật! Cái bảng đen thông tin để ngay chỗ đông người qua lại, lại được đèn đường chiếu thẳng vào, thế mà “ biệt kích của đế quốc Mỹ ” đột nhập, xóa đi thay vào khẩu hiệu : “ Ăn thịt gà...”. Chúng tài thế!!!
Anh Khanh phân công :
- Thế này các em nhé ! Từ bảy giờ tối đến mười rưỡi tối, tất cả những chỗ có kẻ khẩu hiệu trong khu phố ta, anh sẽ phân công từng nhóm, hai em một chịu trách nhiệm bảo vệ và theo dõi những người đến đọc khẩu hiệu. Các em chú ý, nếu phát hiện thấy những dấu hiệu nghi vấn, phải tìm cách thông báo ngay cho anh biết để anh báo cho các anh công an. Các em nghe rõ cả chưa?
Chúng tôi đáp lại:
- Rõ!
Sau đó, theo sự phân công của anh Khanh, tôi với Oanh lại vào một nhóm, canh gác, theo dõi mọi nghi vấn ngay tại khẩu hiệu:“ Ăn thịt gà...!”.
Tôi hỏi anh Khanh:
- Anh Khanh ơi! Thế khẩu hiệu của bọn “biệt kích” có cần xóa đi không?
Anh Khanh bặm môi suy nghĩ:
- Cứ để đấy đã vì việc này anh đã báo cho các anh phụ trách khu phố và các anh công an rồi. Các anh công an nói sẽ xuống xem xét.
Anh còn dặn thêm chúng tôi:
- Chuyện này, các em tuyệt đối giữ bí mật, không được để cho người ngoài biết. Bọn “biệt kích” biết động sẽ chuồn mất. Các em cứ núp vào một chỗ kín, theo dõi mọi nghi vấn.
Thằng Oanh đứng cạnh tôi hình như hơi giật mình. Sau khi anh Khanh đi khỏi, các bạn tản ra về vị trí theo sự phân công của anh Khanh.Thằng Oanh thẽ thọt hỏi:
- Theo mày, công an có xuống điều tra không?
Chuyện đã báo cho công an, công an họ sẽ xuống để xem xét... như anh Khanh nói, rồi cả mấy ông lãnh đạo khu phố phải “họp khẩn cấp”, tất nhiên đó là vụ “nghiêm trọng”. Tôi nói với nó:
- Họ phải theo xuống chứ. Một khẩu hiệu chào mừng ngày bầu cử Quốc Hội bị xóa đi, cho "gà qué" vào như thế, công an phải truy tìm bằng được thủ phạm.
- Nếu tìm được thủ phạm thì các anh công an sẽ xử lý như thế nào? Có bị “ tra tấn” không ?
Ơ, cái thằng này... Sao nó cứ hỏi mãi về chuyện đó thế nhỉ? Tự nhiên, tôi có cảm giác, hay là...
- Sao mày cứ hỏi tao điều đó, có phải mày...
Oanh vội thanh minh ngay:
- Đừng nghĩ như thế. Không phải tao viết. Tao thề đấy!
- Mày không viết thì việc gì cứ hỏi lằng nhằng! -Tôi bực mình
Hai đứa chúng tôi đi ra chỗ bảng thông tin có câu khẩu hiệu kia. Nhìn kỹ, vết phấn lau khẩu hiệu cũ có lẽ bằng tay trông nham nhở, vết tay còn khá rõ. Còn khẩu hiệu mới, tuy viết chữ in nhưng trông cũng còn vụng về. Bọn “biệt kích” này trình độ chắc cũng... bằng chúng tôi thôi!
Hai thằng ngồi thụp xuống, núp sau cái cột đèn. Ánh sáng hắt ra phía ngoài, thành ra chúng tôi ngồi ở bên trong, phía bên ngoài nhìn vào sẽ không thấy. Ngược lạ, từ đây, chúng tôi quan sát thấy tất cả. Tự nhiên phải làm một việc, chắc thằng Oanh cũng giống tôi, không thích. Thỉnh thoảng, hai thằng phải đập muỗi đen đét. Không hiểu sao thằng Oanh có vẻ hồi hộp, lo sợ một điều gì đó. Thỉnh thoảng, nó lại hỏi:
- Không biết bao giờ các anh công an xuống mày nhỉ!
Hai chúng tôi ngồi cũng được khá lâu, chẳng thấy cái gì gọi là “nghi vấn”, cũng chẳng thấy ai đứng đọc khẩu hiệu “Ăn thịt gà...”. Hình như họ không quan tâm. Thế mà anh Khanh cứ làm như cháy nhà đến nơi...
Vừa lúc đó, cổ tôi và cổ thằng Oanh bị mấy bàn tay như gọng kìm bóp chặt, đau điếng.
Một tiếng hô to xen lẫn cả tiếng cười:
- A! Chúng tao tóm cổ được hai ông mãnh...Chúng mày định ngồi đây để... ỉa bậy phải không?
Tôi vội kêu lên:
- Không phải các anh ơi, nhầm rồi. Em ngồi đây để theo dõi nghi vấn...
Mấy anh thanh niên thả hai chúng tôi ra. Một anh hỏi:
- Nghi vấn ai?
Tôi thuật lại yêu cầu của anh Khanh khi giao nhiệm vụ cho chúng tôi. Các anh cười chảy nước mắt. Một anh nói với chúng tôi:
- Cái thằng Khanh lúc nào cũng làm ra vẻ. Có cái thằng “biệt kích” nào ngu đi viết khẩu hiệu này?
Anh ấy nói với chúng tôi:
- Thôi, các em về đi, không việc gì mà ngồi đây. Còn khẩu hiệu này, chuyện đơn giản...
Anh ấy lấy ngay một tờ giấy bỏ dưới đường chùi sạch và nhặt cục phấn để ở góc bảng đen viết lại khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng ngày bầu cử Quốc Hội” rồi anh ấy đứng ra xa ngắm nghía:
- Trông cũng được, đúng không chúng mày?
Mấy anh bạn của anh ấy gật đầu, đồng tình. Anh ấy thấy chúng tôi chần chừ chưa muốn đi, giục:
- Các em về đi mai còn học bài, đứng đây làm gì. Ngày mai, nếu anh gặp anh Khanh, anh sẽ nói cho. Về đi! Còn các anh cũng về đây...
Chẳng còn cách nào khác, tôi với Oanh đi về. Đi được một đoạn Oanh nói:
- Mày có biết ai viết khẩu hiệu: “Ăn thịt gà ngon lắm!” không?
- Mày bảo ai viết? – Tôi lờ mờ đoán ra, nhưng cũng hỏi lại nó.
Một thoáng lưỡng lự rồi Oanh trả lời:
- Tao viết đấy! Lúc chiều, tao đi qua nhìn thấy câu khẩu hiệu... Hình như chữ anh Khanh thì phải, trông xấu quá. Tức mình, nhìn trước, nhìn sau không ai để ý, tao xóa vội, rồi viết ngay câu “Ăn thịt gà ngon lắm!” . Chả là lúc trưa, nhà tao có mổ gà để cúng...
Tôi nghĩ, thế là mình đoán cũng... không lầm.






6


Thi chuyển cấp xong, cái không khí chiến tranh càng ngày càng rõ. Lúc này, chẳng còn chuyện báo động giả nữa mà toàn là báo động thật. Đã nghe thấy tiếng bom nổ ì ầm phía xa xa. Những tối thị xã tắt hết đèn điện, phía chân trời thấy rõ những ánh chớp giật từng hồi, từng hồi... và sau đó là tiếng nổ của súng, của bom âm âm u u. Từng loạt đạn cao xạ bắn lên đỏ lừ, đan chéo vào nhau, vạch trời đêm. Mọi hoạt động của thị xã dường như hối hả hơn. Người ta đi vội, nói chuyện cũng vội. Ban ngày, đường phố như thưa hẳn bóng người, chỉ có bóng mấy anh chị dân quân tự vệ, vai vác súng trường đi lên mấy nhà cao tầng hoặc mấy ụ chiến đấu ở trên mặt đê rồi họ ở lì trên đó đến tận tối... Cái không khí chiến tranh mới đầu chúng tôi sợ, nhưng dần cũng quen, không có cảm giác lạ lẫm nữa. Nghĩa là, khi không có báo động, chúng tôi vẫn chơi những trò thường chơi như đá cầu, chơi trốn tìm... Bất chợt nghe còi báo động thì tất cả chui ngay vào hầm trú ẩn gần nhất. Qua phút căng thẳng chờ đợi, sau đó, ở dưới hầm có khi lại... vui. Hầm tối đen, ngực người này áp vào lưng người kia, chật như nêm cối. Bất chợt, có anh thanh niên gào tướng lên: “Ối giời ơi, có con rắn nó cắn tôi...”. Thế là cả hầm nháo nhác, người nọ đạp người kia, ngã dúi dùi dụi, ai cũng cố vọt nhanh ra khỏi cửa hầm... Còn trong hầm, có khi mấy người đã ngã, người này níu chân người kia, nam nữ đè lên nhau, ngoi, đạp mà vẫn không ra được. Đến lúc biết bị đùa, họ nhìn nhau cùng ngược ngùng, đỏ mặt...
Những ngày này, tôi lại nhớ đến Hảo, đến các bạn cũ của tôi ở Quốc. Nơi đó, thỉnh thoảng tôi cũng nghe thấy tiếng nổ ì ầm, những vệt sáng loang lổ... Có thể nơi đó bị máy bay Mỹ ném bom. Tôi hay chạy ra chiếc loa công cộng nghe bản tin thời sự buổi chiều, xem có chuyện gì ở Quốc xảy ra không? Không có tin tức gì cả, điều đó cũng có nghĩa ở Quốc, mọi việc vẫn bình thường. Tôi cũng tự trách mình, lẽ ra nên viết thư đều đặn cho Hảo nhưng... Cái tuổi của tôi, mau nhớ cũng mau quên, nhất là khi trước mặt mình những trò chơi, những người bạn... Rồi cũng phải thừa nhận, ở Sơn Hà, cái ánh đèn đô thị, sự náo nhiệt, quan hệ bạn bè... cuốn hút tôi, làm cho nỗi nhớ về Quốc, về Hảo trở thành sự thoáng qua, chợt nhớ... Có lúc bình tâm nghĩ lại, đó cũng là sự đáng trách. Bao lần, tôi đã ngồi vào bàn cầm lấy cái bút, lật trang giấy để viết thư cho Hảo, ấy vậy rồi cũng bỏ giữa chừng vì còn nhiều trò chơi lôi tôi phía trước.
Như câu chuyện tôi sẽ kể tiếp dưới đây.
Giữa thị xã Sơn Hà có một cái thành đất, xung quanh có một hào nước bao bọc, chiều nào tôi và Oanh cũng hay ra đấy câu cá. Nếu không có chiến tranh, nghe mấy anh nói, nơi này sẽ là một công viên lớn. Còn bây giờ, thành đất ấy lại biến thành một trận địa pháo cao xạ, không được ai đến gần. Tôi với Oanh nhìn những khẩu pháo nòng dài mấy ngày liền được xe xích kéo vào mà tò mò, không biết mấy chú bộ đội bắn kiểu gì? Thằng Oanh thì quả quyết, bộ đội bắn súng cao xạ bằng cách lấy chân đạp vào cò. Còn tôi, dù chưa một lần nhìn thấy vẫn khẳng định, đã là súng thì chỉ có dùng tay bóp cò chứ ai lại lấy... chân mà... đạp? Có mỗi chuyện như vậy mà hai thằng cãi nhau cả ngày, bất phân thắng bại. Để chứng tỏ ai đúng, ai sai, chỉ còn một cách là... mò vào tận nơi xem. Nhưng vào bằng cách nào? Thằng Oanh nghĩ một hồi, rồi nói với tôi:
- Nếu tao với mày xin vào xem, chắc các chú ấy không cho vào. Nhưng tao có cách rồi. Mình lội qua hào nước vào thành, chỗ mà tao với mày hay đứng câu cá ấy! Cứ giả như hai thằng kiếm củi, thế nào cũng bị các chú bộ đội giữ lại. Mà giữ lại thì thế nào các chú cũng phải dẫn qua chỗ đặt mấy khẩu pháo. Lúc ấy, cả tao với mày có thể xem ai nói đúng? ai nói sai? Rồi thì xin các chú ấy thả ra. Ai lại bắt mấy thằng đi xem cò pháo...
Thằng Oanh còn cho tôi biết thêm:
- Tao nghe mấy thằng ở khu phố Quang Trung nói, trong thành còn có một cái hầm rất rộng do người Pháp xây từ hồi mày với tao chưa đẻ cơ. Trong hầm ấy có nhiều cái lạ lắm, ví dụ như người Pháp làm hồ bơi, làm cả chỗ để đá bóng, để vật nhau... Biết đâu các chú bộ đội cho tao với mày vào đấy tham quan thì hay nhỉ!
Thằng Oanh nói thế càng kích thích sự tò mò của tôi. Tôi đồng ý liền với kế hoạch của nó. Than ôi, chẳng có cái dại nào như cái dại nào. Nếu kế hoạch đó thực hiện đúng thì cũng chỉ đúng có một phần. Đúng là chúng tôi bị mấy chú bộ đội canh gác bắt ngay tại trận khi vừa mới mò lên bên kia thành hào, mỗi tội chưa kịp nhìn thấy pháo cao xạ thì mắt của chúng tôi đã bị họ lấy dây vải bịt ngay lại, tối đen. Và cũng đúng là bị nhốt vào hầm, nhưng là cái hầm chật chội còn hơn... cũi lợn, bẩn không thể tưởng, nước lội lõm bõm, không khí bị bí bách do không có chỗ thoát nên bốc lên một cái mùi ẩm thấp, hôi không thể tả. Trong hầm đặc muỗi, chúng bay cứ như thể phải chen nhau mới có chỗ thoát. Chúng cắn chúng tôi chí chết, hai thằng phải lấy tay đập liên hồi. Mấy anh bộ đội tống chúng tôi xuống đó rồi... gần như quên chúng tôi hay sao ấy! Chúng tôi phải đứng mỏi nhừ chân trong căn hầm ấy đến cả tiếng đồng hồ. Có lúc mỏi quá, không có chỗ dựa, chẳng có cách nào khác, hai đứa phải dựa lưng vào nhau, rồi mỗi đứa co một chân. Trong lúc khổ, được một điều, tôi và Oanh không hề trách cứ lẫn nhau. Cái lỗi ngu này là do cả hai thằng cùng... đồng tình, trách ai?
Đến giữa chiều mới có một anh bộ đội xuống mở cửa hầm. Anh ấy có nét mặt dữ dằn, hỏi chúng tôi:
- Ai xui chúng mày vào đây để làm gì?
Tôi mếu máo:
- Em với thằng này – Tôi chỉ Oanh – cuộc với nhau, đứa thì bảo là cò pháo cao xạ đạp bằng chân, đứa thì bảo bóp bằng tay, không ai chịu ai lên định vào xem...
- Xem! Xem cái gì, mấy ông oắt con? Cho mỗi thằng một cái tát!
Tưởng anh ấy nói đùa, thế mà anh... tát thật, cái tát mạnh quá cứ như mặt tôi sắp... xoay ra đằng sau. Anh ấy hỏi:
- Đau để mà nhớ. Lần sau mà còn tái phạm thì biết tay. Chỗ này không phải là chỗ chúng mày đánh đố nhau, hiểu chưa? Còn bây giờ thì nghe tao hỏi đây: Mỗi thằng phải cho tao biết học trường nào, thầy giáo chủ nhiệm là ai, nhà ở đâu, bố mẹ tên gì?... Nào, khai ra đi, tao ghi...
Đau thế này, tình cảnh khốn khổ thế này, anh ấy có hỏi tên ông... cố nội là gì? bố mẹ cãi nhau bao nhiêu lần? thậm chí ở nhà có... ăn vụng không? Tôi cũng khai tuốt tuồn tuộn, huống hồ những câu hỏi như trên. Tôi với thằng Oanh nhanh nhảu đáp ứng ngay yêu cầu của anh ấy. Ghi chép xong, nét mặt anh ấy có vẻ hơi dịu đi.
Anh bộ đội bỏ quyển sách vào cái túi xách đeo bên người, nói với chúng tôi:
- Bây giờ vẫn chưa tha được đâu! Phải đợi bố mẹ của chúng mày đến nhận, ký cam đoan... không vào đây nữa. Ngồi yên đấy!
Sau cái vụ ấy, tự nhiên tôi ác cảm với mấy chú bộ đội. Làm cái gì mà dọa nạt, đánh cả trẻ con thế? Chúng tôi chỉ tò mò tí chút chứ có là “gián điệp” đâu? Chán thật!
Từ đó, chẳng bao giờ chúng tôi mon men đến cái trận địa cao xạ giữa lòng thị xã ấy nữa.




Máy bay Mỹ ném bom miền Bắc làm cho không khí sinh hoạt của cái thị xã nhỏ bé này như căng ra. Chợ họp từ sáng sớm chưa rõ mặt người, đến bảy giờ sáng là đã tan. Mọi người đều mặc áo, quần màu xanh hay màu đen để ngụy trang. Đường phố, giao thông hào đào chằng chịt chạy dọc theo các vỉa hè. Trên những nóc nhà cao lấp ló những khẩu đại liên cùng với mấy người dân quân đầu đội mũ sắt hoặc mũ rơm đứng canh chừng. Cũng vì không khí chiến tranh này mà tôi với Oanh như có vẻ lớn hẳn ra, cứng cáp hẳn ra. Chẳng gì lớp tôi, số lượng con trai ít hơn số lượng con gái, nên những việc nặng như đào hầm, vác tre ...con trai làm tốt hơn. Hạnh hay nhờ tôi những việc như vậy. Tôi và Oanh giúp tổ của Hạnh đào xong một cái hầm chữ A ở bên ngoài cùng hào chạy từ trong lớp ra đến cái hầm đó chỉ trong vòng một buổi sáng. Các bạn nữ trong tổ của Hạnh nhìn hai thằng chúng tôi phục lắm. Tay bị phồng rộp, thở ra cả đằng tai, mồ hôi nhễ nhại, thế mà chỉ một lời khen của Hạnh: “ Các đằng ấy giỏi thật! Không có các đằng ấy, chúng tớ đào cả ngày chắc gì đã xong !”. Tôi liền ưỡn ngực lên vênh váo:
- Ăn thua gì ! Có mười cái hầm như thế này, chúng tớ cũng đào được.
Than ôi! Khổ cho lời “ khoe khoang” không phải lối. Hạnh nghe tôi nói vậy, liền đề nghị ngay:
- Hay quá ! Ngày mai,Thắng với Oanh đến nhà nhà mình, giúp bố mình đào một hầm trú ẩn nhé !
Tôi đưa mắt nhìn Oanh. Nó nhăn mặt nhưng không dám phản đối. Còn tôi, biết nói thế nào bây giờ, đành gật đầu:
- Yên tâm đi, ngày mai tớ với Oanh sẽ đến nhà bạn.
Nét mặt của Hạnh rất vui:
- Tớ sẽ nói với mẹ nấu một nồi chè đãi hai bạn.
Lúc về thằng Oanh nói với tôi, giọng bực mình:
- Ngày mai tao không đến nhà Hạnh được. Mày nói với nó, thằng Oanh ăn bậy, bị đi té re, không còn sức đào hầm. Mày chỉ chết vì cái tính hay khoe mẽ trước mặt con gái.
Biết nói với thằng Oanh thế nào? Tôi sẽ vẫn giữ lời hứa với Hạnh, dù Oanh có rút lui.
Sáng hôm sau, với bàn tay vẫn bị phồng rộp, nhưng từ rất sớm, tôi vác một cái xẻng đến nhà của Hạnh. Bố của Hạnh vốn tính cẩn thận, ông chỉ cho tôi một miếng đất dưới bụi tre:
- Bác tính rồi, đào hầm chỗ này là đắc sách nhất. Phía trước có bụi tre dày như thế này, nếu bom có rơi ở hướng đó, mảnh bom có bụi tren này ngăn lại. Còn phía này ,lấy đất cứng mà đắp hầm sẽ không sợ bom bi...
- Dạ, thưa bác – Tôi nghĩ thầm – Bom bi chưa nổ, cháu đã chết rồi! Bàn tay phồng rộp như thế này mà đào đất cứng trộn lãn vào rễ tre thế kia thì có đến ...mùa quýt mới xong !
Thấy nét mặt tôi bần thần, bác ấy vỗ vai:
- Cháu ngẫm nghĩ gì thế? Cháu xem bác chọn địa thế đào hầm có đúng không ?
Không xong rồi, đào xong cái hầm này, có khi tôi “ nát” bàn tay. Tôi nhìn ra xung quanh, thấy miếng đất phía xa, gần bờ ao có vẻ mềm. Làm ra vẻ ta đây cũng hiểu biết, tôi góp ý với bác :
- Theo cháu, bác nên đào hầm ở chỗ kia, gần bờ ao ấy, chỗ ấy trông an toàn hơn chỗ này.
- Cháu nói cái gì ? - Bố của Hạnh nghiêng một bên tai như cố nghe cho rõ.
- Là cháu nói nên đào cái hầm đó gần bờ ao – Tôi nhắc lại, giọng hơi to.
- Vì sao ?
- Vì chỗ đó ...nếu có bị bom ...- Tôi đâm ra nói ngắc ngứ - thì ...thì ... cả gia đình bác ...dễ nhảy xuống ao. Chú còn ở đây, nếu bị bom, vướng bụi tre, theo cháu, gia đình bác thoát đi đằng nào?
- Cháu nói nghe buồn cười quá!Đào hầm gần bờ ao, chắc chắn có nước. Đã thế, trong hầm lại tối, dễ thành chỗ trú cho rắn, muỗi, bò cạp... Bom nó mà ném trúng hầm thì chết ráo cả, ở đó mà nhảy...
Tôi nghe bố của Hạnh nói vậy, duối lý, đành chịu. Nói lẩm bẩm trong miệng: “ Sao mình nói ngu thế không biết.”. Tôi đang định quay sang nói với bố của Hạnh, thừa nhận bác ấy nói đúng thì thấy ông đấm hai tay vào nhau, mắt trợn ngược lên, nói với tôi, giọng to còn hơn máy bay Mỹ bỏ bom:
- Anh vừa nói câu gì ?Nói lại cho tôi xem. Nhỏ tuổi đừng có hỗn. Anh mới học lớp bảy mà đã lên giọng như vậy là thằng...mất dạy. Anh hiểu không ?Tôi không thể tưởng tượng con Hạnh nhà tôi lại có những người bạn vô giáo dục như anh –Bố của Hạnh chỉ tay ra cổng – Anh cút khỏi nhà tôi! Cút.
Chết tôi rồi, chuyện gì thế này? Tôi vội phân bua:
- Thưa bác, bác bình tĩnh cho cháu nói.
- Không có nói gì cả! Cậu đi khỏi nhà tôi ngay. Nhỏ mà láo.
- Cháu láo cái gì cơ ạ? – Quả tình tôi cũng chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra.
- Anh còn vờ vĩnh hả !Tôi không nói chuyện với anh nữa. Anh đi khỏi nhà tôi ngay. Tôi sẽ nói chuyện này với bố, mẹ anh và cả cô giáo chủ nhiệm nữa...
Nói rồi ông hầm hầm đi vào nhà.
Tôi cầm cái xẻng lủi thủi quay ra mà trong đầu chưa có câu giải thích đầy đủ về việc bố của Hạnh cáu với tôi. Đi khỏi cổng nhà Hạnh được một đoạn thì tôi nghe thấy có tiếng chân người chạy ở phía sau. Tôi quay lại, nhận ra Hạnh. Hạnh chạy lại, vội hỏi:
- Thắng nói câu gì mà để bố của Hạnh giận đấy?
Tôi im lặng, suy nghĩ rồi nói thật cho Hạnh nghe vì sao phải lấy lý do đào hầm gần chỗ bờ ao. Tôi chìa cho Hạnh xem hai bàn tay phồng rộp của mình vì hôm qua đào hầm và cả lý do vì sao mình nói những câu nói vừa rồi. Tôi lắc đầu:
- Tớ chẳng hiểu, đang yên, đang lành, bố của đằng ấy tự nhiên nổi nóng quát ầm cả lên, rồi đuổi tớ ra khỏi nhà của đằng ấy. Tớ chẳng hiểu gì cả!
Hạnh nghe tôi nói xong, cười rũ rượi:
-Thắng ơi! Hôm qua là mình nói đùa với Thắng thôi, chứ hôm nay, ngoài Thắng ra, còn rất đông các bạn trong lớp đến giúp gia đình Hạnh đào hầm. Hạnh biết Thắng bị đau tay chứ. Thắng là người đến sớm nhất nên bố của Hạnh mới ra nói chuyện. Chứ lát nữa, các bạn đến đông thì mọi chuyện sẽ khác. Với lại, Hạnh nói điều này nữa nhé! Bố của mình hơi nặng tai. Nói cái gì với bố, Thắng phải nói to lên, chứ đừng nói lẩm bẩm, cụ nghe không rõ thành ra hiểu lầm. Thế mà bố nói với mình là Thắng “ chửi” cụ, nói là cụ “ ngu”.
Thế có chết tôi không ? hèn gì, tôi nói câu nào bố của Hạnh cũng hơi nghiêng nghiêng một bên tai. Cụ không nghe rõ câu nói của tôi, nên hiểu sai, chứ đời nào tôi dám nói thế.
Đang không biết nên xử lý chuyện này như thế nào thì Hạnh đỡ cho tôi:
- Thôi, Thắng đừng lo, để mình nói cho bố hiểu. Tính của bố, Hạnh biết chứ. Ông rất nóng, nhưng ai nhận lỗi là ông tha ngay. Thắng quay lại nhà với mình đi. Mình sẽ nói cho bố hiểu.
Tôi hơi lưỡng lự, Hạnh liền cầm tay tôi kéo vào nhà. Tôi thành thực xin lỗi bố của Hạnh. Phút hiểu lầm cũng qua đi. Một lúc sau, các bạn trong lớp kéo đến, người cầm cuốc, người cầm xẻng, kẻ cầm mai... cùng giúp Hạnh đào hầm trú ẩn. Tất nhiên cái hầm đó vẫn đào bên cạnh bụi tre, chứ không phải đào bên bờ ao như tôi “ vẽ ” ra. Do bị đau tay, tôi không phải đào cùng các bạn mà làm nhiệm vụ đun nước và nấu chè giúp cho mẹ của Hạnh. Một điều tôi nói nhỏ với Hạnh:
- Hạnh đừng cho chúng nó biết chuyện lúc nãy nhé.
Hạnh giả nghiêm nét mặt, nói với tôi:
- Thắng phải cho mình cái gì , mình mới không nói!
Thấy tôi lúng túng, Hạnh cười nói nhỏ:
- Mình đùa đấy, nói làm gì. Chuyện ấy chỉ Thắng với Hạnh biết thôi.
Cũng là một kỷ niệm vui, tôi không quên.




HẾT TẬP 1

Chú thích:

(1) - Trại trẻ gồm các em của nhiều cơ quan, khu phố gộp lại thành một đoàn đi về nông thôn cho dễ quản lý, thời sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom.

Phân trang 171/173 Trang đầu Trang trước 166 167 168 169 170 171 172 173 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]