5
Tôi không dấu, qua cái chết của Bình, tự nhiên tôi với Hạnh thân nhau hơn. Hạnh cứ hay bắt tôi kể những kỷ niệm về Bình. Mỗi lần nghe tôi kể như vậy, Hạnh lại khóc rồi tự trách mình:
- Lẽ ra Bình không chết đâu, Thắng ạ! Thắng biết không? Lúc ấy Hạnh cũng mệt. Cô Phương đi xuống, thấy thế nói với tụi mình: “ Các em mệt rồi đấy, nghỉ đi, chuẩn bị ăn cơm. Mọi việc cứ để để đấy, chiều tất cả tiếp tục làm...”.Thế mà...
Nghe Hạnh kể, tôi cũng gật đầu xác nhận:
- Lúc ấy đám con trai bọn tớ, kể cả Bình cũng mệt lắm rồi, chỉ chờ các bạn giặt xong đám bao tải đó là kéo nhau đi ăn cơm...
Hạnh vừa khóc, vừa kể tiếp:
- Bọn tớ không nghe lời cô Phương, cố làm cho xong việc. Tớ giũ cái bao tải cuối cùng trong khi hai tay đã mỏi nhừ. Thế là khi nâng cái bao tải lên, cầm không chặt, bị tuột, bao tải trôi theo dòng nước. Nếu cứ để nó trôi, thì cũng chẳng sao, quá lắm là đền cho xí nghiệp. Tớ lại tiếc, lao theo như một phản sạ để giữ bao tải. Có ai ngờ...Chính tớ, vì không nghe lừoi cô Phương, đã làm cho Bình chết.
Hạnh kể xong, gục vào vai tôi khóc nức nở.
Không, lỗi đó không phải do Hạnh, mà thực ra do chính tôi và Oanh gây ra. Giá như chúng tôi không rủ Bình đi làm...Giá như chúng tôi xuống giúp Hạnh...Giá như...
Thôi, chuyện đã xảy ra rồi, bao nhiêu cái “ giá như...”, bao nhiêu điều tự trách mình cũng không thể làm cho Bình sống lại được với chúng tôi.
Chiều nào, tôi, Oanh, Hạnh và các bạn trong lớp cũng ra thăm mộ của Bình, đặt lên đó những bó hoa tươi chúng tôi kiếm được. Chúng tôi vẫn cảm giác Bình ở gần đây, không chết. Với Bình, có lẽ chúng tôi có sống tốt bao nhiêu cũng không thể bằng nó.
Cũng chính trong thời kỳ này, gia đình tôi có một sự kiện quan trọng. Bố tôi đi chiến đấu ở miền Nam ( Thời đó người ta thường hay gọi là đi B). Thực ra, chuyện này mãi về sau, khi bố tôi đi rồi, trong một đêm mưa tầm tã bên ngoài, mấy mẹ con nằm bên nhau, mẹ mới cho tôi biết.
Lần ấy, bố tôi nghỉ phép. Khác với mọi lần, lần này bố được nghỉ phép hình như sớm hơn, thời gian ở nhà cũng lâu hơn. Bố dẫn tôi đi thăm gần như tất cả những người quen trong thị xã. Rồi bố cặm cụi đóng cái chuồng gà, làm lại cái chuồng lợn, lợp lại mái nhà. Bố cố làm thật nhanh như chạy đua với thời gian.
Bố dặn tôi;
- Ở nhà, con phải giúp mẹ. Bây giờ không như hồi nhà mình ở Quốc nữa đâu, tình hình này sẽ có nhiều biến đổi trong thời gian tới. Các con sẽ phải làm quen với cảnh chiến tranh. Con phải lo cho em Minh giúp mẹ bởi sắp tới bố sẽ không có nhà.
- Thế bố đi đâu mà không có nhà ? – Tôi thắc mắc.
Bố ôm tôi vào lòng, nét mặt trầm ngâm, không nói. Sau này tôi biết, bố phải giữ bí mật chuyện này theo yêu cầu của tổ chức.
Khi nghe tôi kể chuyện về sự hy sinh của Bình để cứu Hạnh, bố rất xúc động. Bố nói với tôi:
- Thế đấy con ạ! Những tấm gương như thế con cần học tập, học để thành người, học để sống có ích. Bố đi xa, nếu biết con trưởng thành, sống có ích, được mọi người quý trọng như bạn Bình của con, học giỏi nữa là bố rất mừng.
Sau ngày bố tôi lên đường vào chiến trường, cả nhà tôi trải qua những ngày tháng rất nặng nề. Nét mặt của mẹ tôi trầm hẳn lại, trông khắc khổ hơn. Nhiều đêm mẹ ôm thằng Minh, khóc lặng lẽ. Trước đây, cứ độ hai tuần là bố tôi từ đơn vị đóng quân về thăm nhà. Biết lịch như vây, khoảng hơn năm giờ chiều là thằng Minh, em tôi chạy lon ton ra đầu đường, trông về phía hun hút xa xa kia để đón chờ bố. Khi thấy bố đạp chiếc xe đạp “Thống Nhất” đạp từ đằng xa tới, nó đã reo lên rất to: “ Bố về ! Bố về ! Anh Thắng ơi! Bố về. bố về rồi...”. Rồi nó xoắn xuýt chạy về phía bố. Bố tôi, mặt nhễ nhại mồ hôi, dựng vội chiếc xe đạp vào bên đường, rồi ông bế thốc thằng Minh lên, hôn tới tấp vào mặt , vào trán nó... Giờ đây, cảnh đó đã xa. Ấy vậy, thằng Minh vẫn không bỏ được thói quen đó. Cứ chiều thú bảy, như thường lệ, nó lại lủi thủi ra đầu đường chờ để đón bố . Chờ mãi, chờ mãi, không thấy bố đâu, nó về hỏi tôi:“ Anh Thắng ơi! Miền nam có xa không mà sao bố đi lâu vậy?”.
Tôi không biết trả lời cho em Minh như thế nào?
Trên đời, tôi thấy bố là người đàn ông tuyệt vời nhất. Ông có một tấm lòng vị tha, cao thượng, hiếm thấy.
Một lần, bố tôi về nhà cuối tuần, không hiểu sao ông lại về muộn. Tôi đi đá bóng về, bụng đói ngấu. Lúc ấy gần như không để ý phần cơm mẹ để dành cho bố, cứ thế tôi mang ra đánh chén sạch. Trong chạn chỉ còn phầm cơm vét nồi và cơm quét rơi dưới đất, mẹ trộn lẫn với xương cá để dành cho mèo. Bố tôi về không hề biết, cứ tưởng cơm đó để phần cho mình. Bố bưng bát cơm phần cho mèo đó ra, ăn ngon lành. Mẹ tôi biết chuyện, toan rút roi mây đánh tôi vì cái tội vô ý đó. Bố tôi liền can:
- Em đừng đánh con. Nó ăn khỏe như thế là anh mừng. Còn chuyện bát cơm phần cho mèo kia, không sao đâu. Ở đây là phần cho mèo, chứ sau này vào chiến trường, lúc đói mà có bát cơm như thế là “ ăn vàng” đấy!
Nói thế, sau đó bố lại quay sang nói với tôi:
- Bố nói với mẹ như thế, nhưng con cũng phải rút kinh nghiệm. “ Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” nghe con!
Chuyện của bố ăn nhầm “ cơm phần cho mèo ” tôi ân hận mãi cho đến tận bây giờ. Nếu có ai hỏi tôi thích điều gì nhất? Tôi trả lời ngay không cần phải suy nghĩ: Mong bố không phải đi đánh nhau, về cùng mẹ và anh em tôi ngay lắp tự.
Nói chung, tôi và em Minh không được gần bố nhiều. Chỉ đến ngày bố được nghỉ phép, nghỉ lễ hoặc nghỉ tết, bố mới về thăm mẹ và anh em tôi.Tính bố tôi rất nóng, nhưng thực ra ông rất thương người, thương anh em tôi. Thằng Minh thấy bố về là nó khoái lắm vì bố sẽ làm ngựa cho nó cưỡi. Còn tôi thích nhất là bố về, đúng ngày chủ nhật sân vận động có bóng đá, thế nào bố cũng dẫn tôi đi xem.
Tối hôm trước ngày trở về đơn vị, bố nói chuyện với mẹ rất lâu. Không biết bố nói những gì mà tôi nghe thấy tiếng mẹ lúc rõ, lúc không: “ ...Em hiểu...em hiểu... Chỉ mong anh đừng làm sao...Anh cố gắng viết thư về...”. Rồi tôi nghe cả tiếng mẹ khóc. Thế là thế nào ? Chắc lần này cũng như mọi lần, bố đi công tác rồi lại về, thế mà tại sao mẹ lại khóc? Tôi nghe thấy tiếng của bố cũng như vậy, tiếng được, tiếng mất: “ ...Cũng không biết được...em thay anh cố chăm sóc các con, nhất là thằng Thắng. Nó lớn...nhưng còn dại lắm...Anh sẽ viết thư về...Nhất định...”.Tiếng bố thở dài. Đêm im lặng. Nghe rõ cả tiếng muỗi kêu. Rồi tôi nghe thấy tiếng bố xỏ dép. Bố đi qua chỗ hai anh em tôi ngủ. Bố vén màn, ôm hôn từng đứa. Tôi cảm thấy hình như có giọt nước mắt của bố in vào, ướt cả hai bên má của tôi...
Cũng trong thời gian này, có một chuyện... không biết tôi có nên kể ra đây không ?
Bữa đó, tôi mấy thằng bạn nữa đi học về, qua của hàng Bách hóa, thấy mọi người xúm đông, xúm đỏ vòng trong, vòng ngoài. Không biết có chuyện gì xảy ra? Vốn có tính tò mò, tôi và mấy thằng nữa len vào bên trong xem có chuyện gì? Một điều đập thẳng vào mắt tôi mà không thể tin được. Chú Nhiên bị mấy anh Công an bắt vì tội chui vào cửa hàng ăn cắp. Hai tay chú Nhiên bị trói quặt ra đằng sau. Đầu chú chúi thấp xuống, không dám ngẩn lên nhìn ai, tóc tai rũ rượi, trông chú thật khổ. Nhìn thấy chú như vậy, tôi vội quay ngay ra ngoài. Lời chú còn văng vẳng bên tai tôi hôm nào: “ Đồ phản bội!”. Bây giờ thì... May cho tôi, “ phản bội” chú, chứ nếu mình “ không phản bội” đi theo con đường của chú rồi sẽ ra sao nhỉ ?
Tôi rùng mình.
Cả buổi sáng ấy, quanh chợ Gừng, chỗ nào tôi cũng thấy họ bàn tán chuyện chú Nhiên ăn cắp bị công an bắt. Anh Cường nhân chuyện này nói với chúng tôi:
- Các em thấy không ? Cái tốt, cái xấu bây giờ dễ lẫn lộn. Chơi với bạn, các em phải quan sát, để ý. Tuyệt đối không lấy cảm tình của mình ra để nhận xét. Bạn Bình của chúng ta, ăn mặc không lành lặn, có lúc sống rất khổ, nhưng bạn đó có trái tim vàng. Còn chú Nhiên, ăn mặc lịch sự, lại cán bộ nhà nước nữa, chắc chắn biết chữ nhiều hơn bạn Bình nhưng suy nghĩ, hành động của chú ấy là không tốt...
Những chuyện như vậy, kể cả những lời khuyên của bố ,của anh Cường đã làm cho tôi hiểu thêm những chuỵen ngoài xã hội.






Cuối Năm chuyển cấp của tôi cũng là lúc Mỹ chuẩn bị gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay ném bom ở miền bắc. Từ trước cho đến lúc ấy, trong suy nghĩ của tôi, gần như không có hai từ “ chiến tranh”, mà nếu có thì chắc cũng giống như trên phim chiến đấu của Liên Xô mà tôi thường được xem. Máy bay của bọn phát xít Đức bay từng đàn, đen ngòm với những tiếng rú gầm ầm ĩ. Chúng bị pháo cao xạ của Hồng quân Liên Xô bắn nổ liên tục, nòng cao xạ khạc đạn tóe lửa, hết chiếc máy bay này đến chiếc máy bay khác của bọn phát xít Đức bốc cháy, rơi xuống đất trong tiếng hoan hô của người trên màn ảnh và cả... người đang ngồi xem phim.
Còn chiến tranh ở Việt Nam.
Chỗ nào trong thị xã người ta cũng đào hầm, nhất là vỉa hè. Dọc con đường tôi đi đến lớp, những hố cá nhân thi nhau xuất hiện. Rồi có đêm, tôi giật mình thức giấc bởi tiếng ô tô kéo pháo, tiếng xe bánh xích nghiến trên mặt đường vọng đến tận chỗ tôi đang ngủ. Giờ giấc học của lớp chúng tôi cũng thay đổi. Bắt đầu học từ lúc bốn giờ sáng, tan học vào lúc tám giờ để tránh giờ cao điểm. Mỗi chúng tôi tự trang bị cho mình một cái đèn dầu để học bằng cách đục một lỗ trên thân ống bơ sữa bò, cổ đèn dầu làm bằng lọ mực Cửu Long để vào bên trong, cho ánh sáng vừa rọi đủ mặt trang giấy. Chúng tôi không được mặc áo trắng hoặc áo có màu sáng nữa, phải mặc áo xanh hoặc áo màu đen để “ khỏi bị lộ”. Thỉnh thoảng, trong thị xã, người ta tập báo động giả tránh máy máy bay ném bom. Mọi việc đang bình thường, tự nhiên, cái còi trên tháp nước giữa thị xã, ré lên. Tiếng còi dữ dội như xoáy vào tai từng người, kéo dài từng hồi, từng hồi một. Cả thị xã tắt hết đèn điện, mọi người trong nhà vội vàng chạy ra hầm trú ẩn. Tiếng loa phóng thanh mắc ở trên các cột đèn hay ở một cây cao nhắc nhở: “ ...Đồng bào chú ý ! Đồng bào chú ý ! Máy bay địch cách thị xã một trăm cây số về hướng tây - nam. Mọi người xuống ngay hầm trú ẩn. Ai không có nhiệm vụ tuyệt đối không được lên mặt hầm. Các lực lượng vũ trang chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Đồng bào chú ý ! Đồng bào chú ý...”.
Không khí chiến tranh đó, bây giờ tôi không phải thấy trên phim mà diễn ra ngay trước mặt tôi như “sờ” thấy, làm cho tôi sợ.
Mẹ nói với tôi:
- Nếu máy bay Mỹ đến đây ném bom, có lẽ con và em phải đi sơ tán thôi. Mẹ sẽ gửi em Minh và con đi theo trại của Liên Cơ (1). Con chuẩn bị sách vở, áo quần...Có lệnh là đi ngay.
Tôi nói điều này với Hạnh và Oanh. Hạnh cho tôi biết:
- Mẹ của Thắng nói đúng đấy. Khu phố mình cùng một số khu phố khác sẽ tổ chức tập trung thành một trại sơ tán để tổ chức cho chúng mình tiếp tục học tập và nghỉ hè luôn.
- Thế ai chỉ huy bọn mình? Có phải anh Khanh không ? – Tôi hỏi lại Hạnh mà lạy giời, Hạnh trả lời “không phải”.
Hạnh lắc đầu:
- Không phải anh Khanh đâu, Thắng ạ! Anh ấy ở lại để chỉ huy đội dân quân khu phố sẵn sàng chiến đấu với máy bay Mỹ. Tớ nghe anh Cường cùng với mấy chị nữa sẽ đi theo tụi mình trong mấy tháng hè.
Nếu đúng như thế thì còn gì bằng!
Càng gần đến lúc kết thúc năm học, chúng tôi càng bận bịu hơn. Ngoài việc ôn tập cho kỳ thi tốt nghiệp cấp hai, học cả ngày lẫn đêm, chúng tôi còn phải tranh thủ đào hầm. Đào hầm trong lớp rồi đào cả những giao thông hào dẫn từ lớp ra hầm trú ẩn. Chúng tôi còn đi vào thôn xin rơm về đan mũ rơm chống bom bi. Việc đã nhiều như vậy, anh Khanh còn tập hợp chúng tôi lại làm một việc mà theo anh nói “ rất quan trọng”:
- Các em biết đấy, bọn đế quốc Mỹ đang thua nặng ở miền Nam. Để gỡ cho bọn tay sai khỏi lún sâu vào thất bại, chúng sẽ cho máy bay mang bom ra ném ở miền Bắc. Nhưng sự hung hăng của chúng càng chứng tỏ sự thất bại thảm hại đang đến gần. Chúng ta, những đoàn viên thanh niên lao động Việt Nam, những đội viên thiếu niên tiền phong phải thể hiện khí phách hiên ngang của mình ...
Nghe anh Khanh nói, cứ như đang nghe... loa phát thanh. Sợ thật! Anh Khanh nói hùng hồn:
- Các em nghe anh phổ biến tình hình mới đây. Sắp tới mọi người trong khu phố ta cũng như nhiều khu phố khác trong thị xã sẽ tham gia bầu cử Quốc hội. Bọn đế quốc Mỹ và lũ tay sai trong miền Nam rất muốn cuộc bầu cử Quốc hội này thất bại nên chúng rắp tâm phá hoại cùng với việc ném bom của máy bay. Bắt đầu từ hôm nay, ngoài việc học văn hóa, các em phải cùng các anh đi canh gác mọi ngóc ngách trong khu phố, đề phòng những âm mưu phá hoại của địch, sẵn sàng bắt bọn biệt kích...
Với anh Khanh, hình như lúc nào, ở đâu cũng có “ biệt kích”.
Tối ấy, chúng tôi nghe thấy tiếng kẻng báo động. Theo đúng quy định của anh Khanh, chúng tôi tập trung rất nhanh. Nét mặt anh Khanh trong có vẻ nghiêm trọng, tay cầm một cái gậy. Thấy chúng tôi đã tập trung, anh bỏ cái còi trong mồm ra, hỏi:
- Các em kiểm tra lại xem còn thiếu ai nữa không ?
Kiểm tra, không thấy thiếu ai cả. Tôi rụt rè hỏi:
- Có việc gì không ? Anh Khanh ơi! Em đang ăn cơm...
- Ăn cơm cũng phải bỏ, có chuyện đấy...- Anh Khanh nói chậm từng câu như sợ chúng tôi không nghe rõ - Ở khu phố ta đã có bọn biệt kích xuất hiện, có một số dấu hiệu nghi vấn chúng phá hoại cuộc bầu cử Quốc hội...
Nghe anh Khanh nói vậy, chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, hơi lo. Chẳng lẽ có chuyện biệt kích “ xuất hiện” trong khu phố này thật sao?
Anh Khanh nhìn từng đứa chúng tôi, mắt anh không chớp, rồi giải thích:
- Anh đã báo động cho các em biết là cuộc bầu cử Quốc hội của chúng ta thế nào đế quốc Mỹ cũng sẽ thả bọn biệt kích ra ngoài bắc để phá hoại. Đến bây giờ thì y như rằng. Chiều nay, câu khẩu hiệu viết bằng phấn trắng lên bảng tin khu phố :“ NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG NGÀY BẦU CỬ QUỐC HỘI” đã bị bọn “ biệt kích” bí mật đột nhập xóa bỏ. Thay vào đó, chúng kẻ khẩu hiệu rất phản động: “ ĂN THỊT GÀ NGON LẮM!”. Các em thấy chúng có thâm độc không? Bọn đế quốc Mỹ rất coi khinh chúng ta, cứ như chúng ta sắp chết đói ấy. Phải chặn đứng âm mưu này và tìm cách bắt bằng được thủ phạm. Các bác lãnh đạo khu phố đã họp khẩn cấp và giao nhiệm vụ cho chúng ta phải truy tìm bằng được thủ phạm.
Nghĩ cũng ...kinh thật! Cái bảng đen thông tin để ngay chỗ đông người qua lại, lại được đèn đường chiếu thẳng vào, thế mà “ biệt kích của đế quốc Mỹ ” đột nhập, xóa đi thay vào khẩu hiệu : “ Ăn thịt gà...”. Chúng tài thế!!!
Anh Khanh phân công :
- Thế này các em nhé ! Từ bảy giờ tối đến mười rưỡi tối, tất cả những chỗ có kẻ khẩu hiệu trong khu phố ta, anh sẽ phân công từng nhóm, hai em một chịu trách nhiệm bảo vệ và theo dõi những người đến đọc khẩu hiệu. Các em chú ý, nếu phát hiện thấy những dấu hiệu nghi vấn, phải tìm cách thông báo ngay cho anh biết để anh báo cho các anh công an. Các em nghe rõ cả chưa?
Chúng tôi đáp lại:
- Rõ!
Sau đó, theo sự phân công của anh Khanh, tôi với Oanh lại vào một nhóm, canh gác, theo dõi mọi nghi vấn ngay tại khẩu hiệu:“ Ăn thịt gà...!”.
Tôi hỏi anh Khanh:
- Anh Khanh ơi! Thế khẩu hiệu của bọn “biệt kích” có cần xóa đi không?
Anh Khanh bặm môi suy nghĩ:
- Cứ để đấy đã vì việc này anh đã báo cho các anh phụ trách khu phố và các anh công an rồi. Các anh công an nói sẽ xuống xem xét.
Anh còn dặn thêm chúng tôi:
- Chuyện này, các em tuyệt đối giữ bí mật, không được để cho người ngoài biết. Bọn “biệt kích” biết động sẽ chuồn mất. Các em cứ núp vào một chỗ kín, theo dõi mọi nghi vấn.
Thằng Oanh đứng cạnh tôi hình như hơi giật mình. Sau khi anh Khanh đi khỏi, các bạn tản ra về vị trí theo sự phân công của anh Khanh.Thằng Oanh thẽ thọt hỏi:
- Theo mày, công an có xuống điều tra không?
Chuyện đã báo cho công an, công an họ sẽ xuống để xem xét... như anh Khanh nói, rồi cả mấy ông lãnh đạo khu phố phải “họp khẩn cấp”, tất nhiên đó là vụ “nghiêm trọng”. Tôi nói với nó:
- Họ phải theo xuống chứ. Một khẩu hiệu chào mừng ngày bầu cử Quốc Hội bị xóa đi, cho "gà qué" vào như thế, công an phải truy tìm bằng được thủ phạm.
- Nếu tìm được thủ phạm thì các anh công an sẽ xử lý như thế nào? Có bị “ tra tấn” không ?
Ơ, cái thằng này... Sao nó cứ hỏi mãi về chuyện đó thế nhỉ? Tự nhiên, tôi có cảm giác, hay là...
- Sao mày cứ hỏi tao điều đó, có phải mày...
Oanh vội thanh minh ngay:
- Đừng nghĩ như thế. Không phải tao viết. Tao thề đấy!
- Mày không viết thì việc gì cứ hỏi lằng nhằng! -Tôi bực mình
Hai đứa chúng tôi đi ra chỗ bảng thông tin có câu khẩu hiệu kia. Nhìn kỹ, vết phấn lau khẩu hiệu cũ có lẽ bằng tay trông nham nhở, vết tay còn khá rõ. Còn khẩu hiệu mới, tuy viết chữ in nhưng trông cũng còn vụng về. Bọn “biệt kích” này trình độ chắc cũng... bằng chúng tôi thôi!
Hai thằng ngồi thụp xuống, núp sau cái cột đèn. Ánh sáng hắt ra phía ngoài, thành ra chúng tôi ngồi ở bên trong, phía bên ngoài nhìn vào sẽ không thấy. Ngược lạ, từ đây, chúng tôi quan sát thấy tất cả. Tự nhiên phải làm một việc, chắc thằng Oanh cũng giống tôi, không thích. Thỉnh thoảng, hai thằng phải đập muỗi đen đét. Không hiểu sao thằng Oanh có vẻ hồi hộp, lo sợ một điều gì đó. Thỉnh thoảng, nó lại hỏi:
- Không biết bao giờ các anh công an xuống mày nhỉ!
Hai chúng tôi ngồi cũng được khá lâu, chẳng thấy cái gì gọi là “nghi vấn”, cũng chẳng thấy ai đứng đọc khẩu hiệu “Ăn thịt gà...”. Hình như họ không quan tâm. Thế mà anh Khanh cứ làm như cháy nhà đến nơi...
Vừa lúc đó, cổ tôi và cổ thằng Oanh bị mấy bàn tay như gọng kìm bóp chặt, đau điếng.
Một tiếng hô to xen lẫn cả tiếng cười:
- A! Chúng tao tóm cổ được hai ông mãnh...Chúng mày định ngồi đây để... ỉa bậy phải không?
Tôi vội kêu lên:
- Không phải các anh ơi, nhầm rồi. Em ngồi đây để theo dõi nghi vấn...
Mấy anh thanh niên thả hai chúng tôi ra. Một anh hỏi:
- Nghi vấn ai?
Tôi thuật lại yêu cầu của anh Khanh khi giao nhiệm vụ cho chúng tôi. Các anh cười chảy nước mắt. Một anh nói với chúng tôi:
- Cái thằng Khanh lúc nào cũng làm ra vẻ. Có cái thằng “biệt kích” nào ngu đi viết khẩu hiệu này?
Anh ấy nói với chúng tôi:
- Thôi, các em về đi, không việc gì mà ngồi đây. Còn khẩu hiệu này, chuyện đơn giản...
Anh ấy lấy ngay một tờ giấy bỏ dưới đường chùi sạch và nhặt cục phấn để ở góc bảng đen viết lại khẩu hiệu: “Nhiệt liệt chào mừng ngày bầu cử Quốc Hội” rồi anh ấy đứng ra xa ngắm nghía:
- Trông cũng được, đúng không chúng mày?
Mấy anh bạn của anh ấy gật đầu, đồng tình. Anh ấy thấy chúng tôi chần chừ chưa muốn đi, giục:
- Các em về đi mai còn học bài, đứng đây làm gì. Ngày mai, nếu anh gặp anh Khanh, anh sẽ nói cho. Về đi! Còn các anh cũng về đây...
Chẳng còn cách nào khác, tôi với Oanh đi về. Đi được một đoạn Oanh nói:
- Mày có biết ai viết khẩu hiệu: “Ăn thịt gà ngon lắm!” không?
- Mày bảo ai viết? – Tôi lờ mờ đoán ra, nhưng cũng hỏi lại nó.
Một thoáng lưỡng lự rồi Oanh trả lời:
- Tao viết đấy! Lúc chiều, tao đi qua nhìn thấy câu khẩu hiệu... Hình như chữ anh Khanh thì phải, trông xấu quá. Tức mình, nhìn trước, nhìn sau không ai để ý, tao xóa vội, rồi viết ngay câu “Ăn thịt gà ngon lắm!” . Chả là lúc trưa, nhà tao có mổ gà để cúng...
Tôi nghĩ, thế là mình đoán cũng... không lầm.






6


Thi chuyển cấp xong, cái không khí chiến tranh càng ngày càng rõ. Lúc này, chẳng còn chuyện báo động giả nữa mà toàn là báo động thật. Đã nghe thấy tiếng bom nổ ì ầm phía xa xa. Những tối thị xã tắt hết đèn điện, phía chân trời thấy rõ những ánh chớp giật từng hồi, từng hồi... và sau đó là tiếng nổ của súng, của bom âm âm u u. Từng loạt đạn cao xạ bắn lên đỏ lừ, đan chéo vào nhau, vạch trời đêm. Mọi hoạt động của thị xã dường như hối hả hơn. Người ta đi vội, nói chuyện cũng vội. Ban ngày, đường phố như thưa hẳn bóng người, chỉ có bóng mấy anh chị dân quân tự vệ, vai vác súng trường đi lên mấy nhà cao tầng hoặc mấy ụ chiến đấu ở trên mặt đê rồi họ ở lì trên đó đến tận tối... Cái không khí chiến tranh mới đầu chúng tôi sợ, nhưng dần cũng quen, không có cảm giác lạ lẫm nữa. Nghĩa là, khi không có báo động, chúng tôi vẫn chơi những trò thường chơi như đá cầu, chơi trốn tìm... Bất chợt nghe còi báo động thì tất cả chui ngay vào hầm trú ẩn gần nhất. Qua phút căng thẳng chờ đợi, sau đó, ở dưới hầm có khi lại... vui. Hầm tối đen, ngực người này áp vào lưng người kia, chật như nêm cối. Bất chợt, có anh thanh niên gào tướng lên: “Ối giời ơi, có con rắn nó cắn tôi...”. Thế là cả hầm nháo nhác, người nọ đạp người kia, ngã dúi dùi dụi, ai cũng cố vọt nhanh ra khỏi cửa hầm... Còn trong hầm, có khi mấy người đã ngã, người này níu chân người kia, nam nữ đè lên nhau, ngoi, đạp mà vẫn không ra được. Đến lúc biết bị đùa, họ nhìn nhau cùng ngược ngùng, đỏ mặt...
Những ngày này, tôi lại nhớ đến Hảo, đến các bạn cũ của tôi ở Quốc. Nơi đó, thỉnh thoảng tôi cũng nghe thấy tiếng nổ ì ầm, những vệt sáng loang lổ... Có thể nơi đó bị máy bay Mỹ ném bom. Tôi hay chạy ra chiếc loa công cộng nghe bản tin thời sự buổi chiều, xem có chuyện gì ở Quốc xảy ra không? Không có tin tức gì cả, điều đó cũng có nghĩa ở Quốc, mọi việc vẫn bình thường. Tôi cũng tự trách mình, lẽ ra nên viết thư đều đặn cho Hảo nhưng... Cái tuổi của tôi, mau nhớ cũng mau quên, nhất là khi trước mặt mình những trò chơi, những người bạn... Rồi cũng phải thừa nhận, ở Sơn Hà, cái ánh đèn đô thị, sự náo nhiệt, quan hệ bạn bè... cuốn hút tôi, làm cho nỗi nhớ về Quốc, về Hảo trở thành sự thoáng qua, chợt nhớ... Có lúc bình tâm nghĩ lại, đó cũng là sự đáng trách. Bao lần, tôi đã ngồi vào bàn cầm lấy cái bút, lật trang giấy để viết thư cho Hảo, ấy vậy rồi cũng bỏ giữa chừng vì còn nhiều trò chơi lôi tôi phía trước.
Như câu chuyện tôi sẽ kể tiếp dưới đây.
Giữa thị xã Sơn Hà có một cái thành đất, xung quanh có một hào nước bao bọc, chiều nào tôi và Oanh cũng hay ra đấy câu cá. Nếu không có chiến tranh, nghe mấy anh nói, nơi này sẽ là một công viên lớn. Còn bây giờ, thành đất ấy lại biến thành một trận địa pháo cao xạ, không được ai đến gần. Tôi với Oanh nhìn những khẩu pháo nòng dài mấy ngày liền được xe xích kéo vào mà tò mò, không biết mấy chú bộ đội bắn kiểu gì? Thằng Oanh thì quả quyết, bộ đội bắn súng cao xạ bằng cách lấy chân đạp vào cò. Còn tôi, dù chưa một lần nhìn thấy vẫn khẳng định, đã là súng thì chỉ có dùng tay bóp cò chứ ai lại lấy... chân mà... đạp? Có mỗi chuyện như vậy mà hai thằng cãi nhau cả ngày, bất phân thắng bại. Để chứng tỏ ai đúng, ai sai, chỉ còn một cách là... mò vào tận nơi xem. Nhưng vào bằng cách nào? Thằng Oanh nghĩ một hồi, rồi nói với tôi:
- Nếu tao với mày xin vào xem, chắc các chú ấy không cho vào. Nhưng tao có cách rồi. Mình lội qua hào nước vào thành, chỗ mà tao với mày hay đứng câu cá ấy! Cứ giả như hai thằng kiếm củi, thế nào cũng bị các chú bộ đội giữ lại. Mà giữ lại thì thế nào các chú cũng phải dẫn qua chỗ đặt mấy khẩu pháo. Lúc ấy, cả tao với mày có thể xem ai nói đúng? ai nói sai? Rồi thì xin các chú ấy thả ra. Ai lại bắt mấy thằng đi xem cò pháo...
Thằng Oanh còn cho tôi biết thêm:
- Tao nghe mấy thằng ở khu phố Quang Trung nói, trong thành còn có một cái hầm rất rộng do người Pháp xây từ hồi mày với tao chưa đẻ cơ. Trong hầm ấy có nhiều cái lạ lắm, ví dụ như người Pháp làm hồ bơi, làm cả chỗ để đá bóng, để vật nhau... Biết đâu các chú bộ đội cho tao với mày vào đấy tham quan thì hay nhỉ!
Thằng Oanh nói thế càng kích thích sự tò mò của tôi. Tôi đồng ý liền với kế hoạch của nó. Than ôi, chẳng có cái dại nào như cái dại nào. Nếu kế hoạch đó thực hiện đúng thì cũng chỉ đúng có một phần. Đúng là chúng tôi bị mấy chú bộ đội canh gác bắt ngay tại trận khi vừa mới mò lên bên kia thành hào, mỗi tội chưa kịp nhìn thấy pháo cao xạ thì mắt của chúng tôi đã bị họ lấy dây vải bịt ngay lại, tối đen. Và cũng đúng là bị nhốt vào hầm, nhưng là cái hầm chật chội còn hơn... cũi lợn, bẩn không thể tưởng, nước lội lõm bõm, không khí bị bí bách do không có chỗ thoát nên bốc lên một cái mùi ẩm thấp, hôi không thể tả. Trong hầm đặc muỗi, chúng bay cứ như thể phải chen nhau mới có chỗ thoát. Chúng cắn chúng tôi chí chết, hai thằng phải lấy tay đập liên hồi. Mấy anh bộ đội tống chúng tôi xuống đó rồi... gần như quên chúng tôi hay sao ấy! Chúng tôi phải đứng mỏi nhừ chân trong căn hầm ấy đến cả tiếng đồng hồ. Có lúc mỏi quá, không có chỗ dựa, chẳng có cách nào khác, hai đứa phải dựa lưng vào nhau, rồi mỗi đứa co một chân. Trong lúc khổ, được một điều, tôi và Oanh không hề trách cứ lẫn nhau. Cái lỗi ngu này là do cả hai thằng cùng... đồng tình, trách ai?
Đến giữa chiều mới có một anh bộ đội xuống mở cửa hầm. Anh ấy có nét mặt dữ dằn, hỏi chúng tôi:
- Ai xui chúng mày vào đây để làm gì?
Tôi mếu máo:
- Em với thằng này – Tôi chỉ Oanh – cuộc với nhau, đứa thì bảo là cò pháo cao xạ đạp bằng chân, đứa thì bảo bóp bằng tay, không ai chịu ai lên định vào xem...
- Xem! Xem cái gì, mấy ông oắt con? Cho mỗi thằng một cái tát!
Tưởng anh ấy nói đùa, thế mà anh... tát thật, cái tát mạnh quá cứ như mặt tôi sắp... xoay ra đằng sau. Anh ấy hỏi:
- Đau để mà nhớ. Lần sau mà còn tái phạm thì biết tay. Chỗ này không phải là chỗ chúng mày đánh đố nhau, hiểu chưa? Còn bây giờ thì nghe tao hỏi đây: Mỗi thằng phải cho tao biết học trường nào, thầy giáo chủ nhiệm là ai, nhà ở đâu, bố mẹ tên gì?... Nào, khai ra đi, tao ghi...
Đau thế này, tình cảnh khốn khổ thế này, anh ấy có hỏi tên ông... cố nội là gì? bố mẹ cãi nhau bao nhiêu lần? thậm chí ở nhà có... ăn vụng không? Tôi cũng khai tuốt tuồn tuộn, huống hồ những câu hỏi như trên. Tôi với thằng Oanh nhanh nhảu đáp ứng ngay yêu cầu của anh ấy. Ghi chép xong, nét mặt anh ấy có vẻ hơi dịu đi.
Anh bộ đội bỏ quyển sách vào cái túi xách đeo bên người, nói với chúng tôi:
- Bây giờ vẫn chưa tha được đâu! Phải đợi bố mẹ của chúng mày đến nhận, ký cam đoan... không vào đây nữa. Ngồi yên đấy!
Sau cái vụ ấy, tự nhiên tôi ác cảm với mấy chú bộ đội. Làm cái gì mà dọa nạt, đánh cả trẻ con thế? Chúng tôi chỉ tò mò tí chút chứ có là “gián điệp” đâu? Chán thật!
Từ đó, chẳng bao giờ chúng tôi mon men đến cái trận địa cao xạ giữa lòng thị xã ấy nữa.




Máy bay Mỹ ném bom miền Bắc làm cho không khí sinh hoạt của cái thị xã nhỏ bé này như căng ra. Chợ họp từ sáng sớm chưa rõ mặt người, đến bảy giờ sáng là đã tan. Mọi người đều mặc áo, quần màu xanh hay màu đen để ngụy trang. Đường phố, giao thông hào đào chằng chịt chạy dọc theo các vỉa hè. Trên những nóc nhà cao lấp ló những khẩu đại liên cùng với mấy người dân quân đầu đội mũ sắt hoặc mũ rơm đứng canh chừng. Cũng vì không khí chiến tranh này mà tôi với Oanh như có vẻ lớn hẳn ra, cứng cáp hẳn ra. Chẳng gì lớp tôi, số lượng con trai ít hơn số lượng con gái, nên những việc nặng như đào hầm, vác tre ...con trai làm tốt hơn. Hạnh hay nhờ tôi những việc như vậy. Tôi và Oanh giúp tổ của Hạnh đào xong một cái hầm chữ A ở bên ngoài cùng hào chạy từ trong lớp ra đến cái hầm đó chỉ trong vòng một buổi sáng. Các bạn nữ trong tổ của Hạnh nhìn hai thằng chúng tôi phục lắm. Tay bị phồng rộp, thở ra cả đằng tai, mồ hôi nhễ nhại, thế mà chỉ một lời khen của Hạnh: “ Các đằng ấy giỏi thật! Không có các đằng ấy, chúng tớ đào cả ngày chắc gì đã xong !”. Tôi liền ưỡn ngực lên vênh váo:
- Ăn thua gì ! Có mười cái hầm như thế này, chúng tớ cũng đào được.
Than ôi! Khổ cho lời “ khoe khoang” không phải lối. Hạnh nghe tôi nói vậy, liền đề nghị ngay:
- Hay quá ! Ngày mai,Thắng với Oanh đến nhà nhà mình, giúp bố mình đào một hầm trú ẩn nhé !
Tôi đưa mắt nhìn Oanh. Nó nhăn mặt nhưng không dám phản đối. Còn tôi, biết nói thế nào bây giờ, đành gật đầu:
- Yên tâm đi, ngày mai tớ với Oanh sẽ đến nhà bạn.
Nét mặt của Hạnh rất vui:
- Tớ sẽ nói với mẹ nấu một nồi chè đãi hai bạn.
Lúc về thằng Oanh nói với tôi, giọng bực mình:
- Ngày mai tao không đến nhà Hạnh được. Mày nói với nó, thằng Oanh ăn bậy, bị đi té re, không còn sức đào hầm. Mày chỉ chết vì cái tính hay khoe mẽ trước mặt con gái.
Biết nói với thằng Oanh thế nào? Tôi sẽ vẫn giữ lời hứa với Hạnh, dù Oanh có rút lui.
Sáng hôm sau, với bàn tay vẫn bị phồng rộp, nhưng từ rất sớm, tôi vác một cái xẻng đến nhà của Hạnh. Bố của Hạnh vốn tính cẩn thận, ông chỉ cho tôi một miếng đất dưới bụi tre:
- Bác tính rồi, đào hầm chỗ này là đắc sách nhất. Phía trước có bụi tre dày như thế này, nếu bom có rơi ở hướng đó, mảnh bom có bụi tren này ngăn lại. Còn phía này ,lấy đất cứng mà đắp hầm sẽ không sợ bom bi...
- Dạ, thưa bác – Tôi nghĩ thầm – Bom bi chưa nổ, cháu đã chết rồi! Bàn tay phồng rộp như thế này mà đào đất cứng trộn lãn vào rễ tre thế kia thì có đến ...mùa quýt mới xong !
Thấy nét mặt tôi bần thần, bác ấy vỗ vai:
- Cháu ngẫm nghĩ gì thế? Cháu xem bác chọn địa thế đào hầm có đúng không ?
Không xong rồi, đào xong cái hầm này, có khi tôi “ nát” bàn tay. Tôi nhìn ra xung quanh, thấy miếng đất phía xa, gần bờ ao có vẻ mềm. Làm ra vẻ ta đây cũng hiểu biết, tôi góp ý với bác :
- Theo cháu, bác nên đào hầm ở chỗ kia, gần bờ ao ấy, chỗ ấy trông an toàn hơn chỗ này.
- Cháu nói cái gì ? - Bố của Hạnh nghiêng một bên tai như cố nghe cho rõ.
- Là cháu nói nên đào cái hầm đó gần bờ ao – Tôi nhắc lại, giọng hơi to.
- Vì sao ?
- Vì chỗ đó ...nếu có bị bom ...- Tôi đâm ra nói ngắc ngứ - thì ...thì ... cả gia đình bác ...dễ nhảy xuống ao. Chú còn ở đây, nếu bị bom, vướng bụi tre, theo cháu, gia đình bác thoát đi đằng nào?
- Cháu nói nghe buồn cười quá!Đào hầm gần bờ ao, chắc chắn có nước. Đã thế, trong hầm lại tối, dễ thành chỗ trú cho rắn, muỗi, bò cạp... Bom nó mà ném trúng hầm thì chết ráo cả, ở đó mà nhảy...
Tôi nghe bố của Hạnh nói vậy, duối lý, đành chịu. Nói lẩm bẩm trong miệng: “ Sao mình nói ngu thế không biết.”. Tôi đang định quay sang nói với bố của Hạnh, thừa nhận bác ấy nói đúng thì thấy ông đấm hai tay vào nhau, mắt trợn ngược lên, nói với tôi, giọng to còn hơn máy bay Mỹ bỏ bom:
- Anh vừa nói câu gì ?Nói lại cho tôi xem. Nhỏ tuổi đừng có hỗn. Anh mới học lớp bảy mà đã lên giọng như vậy là thằng...mất dạy. Anh hiểu không ?Tôi không thể tưởng tượng con Hạnh nhà tôi lại có những người bạn vô giáo dục như anh –Bố của Hạnh chỉ tay ra cổng – Anh cút khỏi nhà tôi! Cút.
Chết tôi rồi, chuyện gì thế này? Tôi vội phân bua:
- Thưa bác, bác bình tĩnh cho cháu nói.
- Không có nói gì cả! Cậu đi khỏi nhà tôi ngay. Nhỏ mà láo.
- Cháu láo cái gì cơ ạ? – Quả tình tôi cũng chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra.
- Anh còn vờ vĩnh hả !Tôi không nói chuyện với anh nữa. Anh đi khỏi nhà tôi ngay. Tôi sẽ nói chuyện này với bố, mẹ anh và cả cô giáo chủ nhiệm nữa...
Nói rồi ông hầm hầm đi vào nhà.
Tôi cầm cái xẻng lủi thủi quay ra mà trong đầu chưa có câu giải thích đầy đủ về việc bố của Hạnh cáu với tôi. Đi khỏi cổng nhà Hạnh được một đoạn thì tôi nghe thấy có tiếng chân người chạy ở phía sau. Tôi quay lại, nhận ra Hạnh. Hạnh chạy lại, vội hỏi:
- Thắng nói câu gì mà để bố của Hạnh giận đấy?
Tôi im lặng, suy nghĩ rồi nói thật cho Hạnh nghe vì sao phải lấy lý do đào hầm gần chỗ bờ ao. Tôi chìa cho Hạnh xem hai bàn tay phồng rộp của mình vì hôm qua đào hầm và cả lý do vì sao mình nói những câu nói vừa rồi. Tôi lắc đầu:
- Tớ chẳng hiểu, đang yên, đang lành, bố của đằng ấy tự nhiên nổi nóng quát ầm cả lên, rồi đuổi tớ ra khỏi nhà của đằng ấy. Tớ chẳng hiểu gì cả!
Hạnh nghe tôi nói xong, cười rũ rượi:
-Thắng ơi! Hôm qua là mình nói đùa với Thắng thôi, chứ hôm nay, ngoài Thắng ra, còn rất đông các bạn trong lớp đến giúp gia đình Hạnh đào hầm. Hạnh biết Thắng bị đau tay chứ. Thắng là người đến sớm nhất nên bố của Hạnh mới ra nói chuyện. Chứ lát nữa, các bạn đến đông thì mọi chuyện sẽ khác. Với lại, Hạnh nói điều này nữa nhé! Bố của mình hơi nặng tai. Nói cái gì với bố, Thắng phải nói to lên, chứ đừng nói lẩm bẩm, cụ nghe không rõ thành ra hiểu lầm. Thế mà bố nói với mình là Thắng “ chửi” cụ, nói là cụ “ ngu”.
Thế có chết tôi không ? hèn gì, tôi nói câu nào bố của Hạnh cũng hơi nghiêng nghiêng một bên tai. Cụ không nghe rõ câu nói của tôi, nên hiểu sai, chứ đời nào tôi dám nói thế.
Đang không biết nên xử lý chuyện này như thế nào thì Hạnh đỡ cho tôi:
- Thôi, Thắng đừng lo, để mình nói cho bố hiểu. Tính của bố, Hạnh biết chứ. Ông rất nóng, nhưng ai nhận lỗi là ông tha ngay. Thắng quay lại nhà với mình đi. Mình sẽ nói cho bố hiểu.
Tôi hơi lưỡng lự, Hạnh liền cầm tay tôi kéo vào nhà. Tôi thành thực xin lỗi bố của Hạnh. Phút hiểu lầm cũng qua đi. Một lúc sau, các bạn trong lớp kéo đến, người cầm cuốc, người cầm xẻng, kẻ cầm mai... cùng giúp Hạnh đào hầm trú ẩn. Tất nhiên cái hầm đó vẫn đào bên cạnh bụi tre, chứ không phải đào bên bờ ao như tôi “ vẽ ” ra. Do bị đau tay, tôi không phải đào cùng các bạn mà làm nhiệm vụ đun nước và nấu chè giúp cho mẹ của Hạnh. Một điều tôi nói nhỏ với Hạnh:
- Hạnh đừng cho chúng nó biết chuyện lúc nãy nhé.
Hạnh giả nghiêm nét mặt, nói với tôi:
- Thắng phải cho mình cái gì , mình mới không nói!
Thấy tôi lúng túng, Hạnh cười nói nhỏ:
- Mình đùa đấy, nói làm gì. Chuyện ấy chỉ Thắng với Hạnh biết thôi.
Cũng là một kỷ niệm vui, tôi không quên.




HẾT TẬP 1

Chú thích:

(1) - Trại trẻ gồm các em của nhiều cơ quan, khu phố gộp lại thành một đoàn đi về nông thôn cho dễ quản lý, thời sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom.

GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ ( Tiếp theo)

Tập I – Phần II

3

Anh Cường và anh Khanh không ưa nhau. Hai anh cứ như nước với lửa, điều này tất cả chúng tôi đều biết. Anh Cường nói về anh Khanh: “ Lão ấy chỉ được cái hay dọa các em, nói nhiều mà chẳng làm được cái gì nên hồn. Tổ chức một lần đi cắm trại cũng không xong.”. Còn anh Khanh gặp chúng tôi lại nói : “ Thằng Cường toàn đầu têu cho chúng mày những trò chơi gây mất trật tự khu phố. Thằng đó không làm gương cho ai học tập được.”. Hai anh cứ như hằm hè nhau, chúng tôi ở giữa cũng khổ, nhiều lúc không biết nghe lời ai.
Sau này tôi mới hiểu vì sao giữa anh Khanh và anh Cường lại không ưa nhau, hay cụ thể hơn vì sao anh Khanh lại ghét anh Cường? Chuyện này có liên quan đến người thứ ba , tôi phải nói ra đây.
Đó là chị Liên.
Chị Liên học cùng lớp với anh Cường, lại là Phó bí thư chi đoàn khu phố. Chị Liên đẹp, điều ấy ai trong chúng tôi cũng thừa nhận. Một nước da trắng hồng trên khuôn mặt. Chị nhìn ai, ánh mắt của chị cũng như cười. Dáng đi của chị, chẳng khi nào tôi thấy vội vã, rất đoan trang, nhẹ nhàng. Mái tóc của chị nề nã, óng ả tết thành hai duôi sam luôn buông thả xuống hai bờ vai và đong đưa theo nhịp chân bước. Chị chưa bao giờ to tiếng với ai, chẳng bao giờ giận chúng tôi, kể cả những lúc tự bản thân chúng tôi nghĩ mình không nên đùa như thế. Chúng tôi mến chị vì nết dịu dàng, chu toàn trong mọi công việc. Còn cánh đàn ông mến chị vì một lẽ đơn giản là chị đẹp. Người thích chị nhất, lộ cả ra mặt có lẽ là anh Khanh. Anh Khanh là bí thư chi đoàn khu phố, chị Liên là phó bí thư nên anh Khanh đi đâu cũng muốn kéo chị Liên đi theo. Buồn cười, có một tối chị Liên đang hướng dẫn chúng tôi tập hát, anh Khanh tự nhiên đến yêu cầu chị Liên đi với anh đến họp với đôi dân quân khu phố. Chị Liên nói, chị không thể đi được vì đó không phải nhiệm vụ của chị. Thế là anh Khanh nổi cáu: “ Đồng chí không phải là con cháu của bà Trưng, bà Triệu”. Chị Liên từ tốn trả lời: “ Đồng chí bí thư chi đoàn nói hoàn toàn đúng. Mẹ tôi họ Nguyễn, tên Thu. Còn tôi là Nguyễn thị Liên không hề có họ hàng với bà Trưng, bà Triệu.”.Chị nói xong, bụm ngay tay vào miệng cố dấu tiếng cười đang chực bung ra, còn chúng tôi thả phanh cười.
Anh Khanh xấu hổ bỏ đi.
Trong cả bọn, chị Liên rất quý tôi vì tôi cũng thích hát. Mỗi lần liên hoan hay họp chi đội tôi hay xung phong lên hát. Vì thế khi đi đâu, bao giờ chị Liên cũng gọi tôi đi theo. Có bài hát mới, chị cũng tập cho tôi hát trước. Tôi với chị Liên thân nhau vì lẽ đó. Nhiều lúc anh Khanh cũng muốn gọi chị Liên ra một chỗ riêng để nói chuyện, chị lại toàn lôi tôi đi theo. Tôi thừa biết, có tôi bên cạnh chị Liên, anh Khanh không nói những chuyện “ giời ơi, đất hỡi ”, theo cách nói của chị Liên. Mấy lần, thấy vậy anh Khanh toàn yêu cầu tôi phải trở về : “ Trẻ con không nên nghe chuyện của người lớn”, Chị Liên lại giữ tôi ở lại: “ Thắng ra ngoài kia đợi chị một lát, đừng có đi xa em nhé !”. Rồi chị nói với anh Khanh: “ Nào có chuyện gì anh nói với em đi. Em yêu cầu anh nói đến việc chung thôi!”. Trước yêu cầu của chị Liên, thái độ anh Khanh rất lúng túng, nói ấp úng. Việc chung của chi đoàn thì quanh đi, quẩn lại cũng chỉ có mấy chuyện mà trong những cuộc họp trước mọi người đã được phổ biến rồi. Còn chuyện riêng anh Khanh muốn nói, chị Liên không muốn nghe, thành ra...Hai người đứng một lúc, cứ im lặng, không khí thật nặng nề. Tôi đứng ngoài này, cách chỗ anh Khanh và chị Liên không xa , đợi đến sốt cả ruột, muỗi cứ bay từng đàn vo ve bên tai, phải lấy tay đuổi, đập liên tục. Bực mình, tôi gọi liều:
- Về được chưa? Chị Liên ơi.Muỗi cắn em nhiều quá!
Chị Liên lấy cớ đó thoái thác, xin lỗi anh Khanh đưa tôi về, anh Khanh đứng đó một mình.
Ngược với anh Khanh, đối với anh Cường, chị Liên lại dành cho anh ấy một cách cư xử hết sức chân tình, đó là cách đối xử của một tình bạn đẹp, tôi trực tiếp nhiều lần chứng kiến. Anh Cường gần như học giỏi các môn, nhất là các môn tự nhiên, còn chị Liên học giỏi các môn xã hội. Hai người học chung một lớp nên càng có điều kiện gần gũi, hiểu nhau. Vì tôi thân với cả anh Cường và chị Liên nên giữa một chân “ điếu đóm” liên lạc quan lại giữa hai người. Gần anh Cường, chị Liên tôi có lợi nhiều điều, cả sự hiểu biết lẫn cách cư xử.
Chuyện chị Liên thân với anh Cường, làm cho anh Khanh tức ra mặt. Tức anh Cường đã đành, anh Khanh tức luôn cả tôi. Rõ khổ!
Dưới đây là một chuyện.
Anh Khanh được mấy ông lãnh đạo khu phố giao cho nhiệm vụ quản lý giờ giấc sinh hoạt đội thiếu niên hàng tuần của chúng tôi. Ngoài chuyện “ cờ đỏ” là vệ sinh hàng tuần trong khu phố, có hôm đột xuất vào tối thứ bảy anh Khanh lại bày trò đi gác, hay đi tuần giữ ‘ an ninh ” khu phố . Lúc ấy trong anh Khanh “ oách” lắm. Mỗi chuyện phân công đi gác, anh ấy cũng “ quan trọng”. Một lần, cũng vào tối thứ bảy, lẽ ra chúng tôi tổ chức chơi trận giả, dưới sự “ chỉ huy” của anh Cường, thì anh Khanh nổi còi tập trung tất cả bọn tôi lại. Anh Khanh giơ cao ngọn đèn dầu, xem có đứa nào vắng mặt không ? Đứa nào vắng mặt, hay đi chậm mất vài phút là “ chết” với anh Khanh. Kiểm tra đủ quân số rồi, anh Khanh bắt đầu nói:
- Các em phải biết rằng, bây giờ bọn Mỹ - Diệm thường tung biệt kích ra ngoài này để phá hoại miền bắc xã hội chủ nghĩa. Vì thế, anh và các em phải nâng cao cảnh giác, đi tuần tra, phát hiện ra những điều nghi vấn báo ngay cho các chú công an.
Rồi anh Khanh nghiêm nét mặt, tiếp tục nói. Nói liên tục, nói đủ thứ. Lỗ tai tôi nghe cứ lùng bùng, chẳng hiểu anh ấy đang nói điều gì. Đầu óc của tôi lúc này chỉ nghĩ, sau buổi nói chuyện của anh Khanh, được giải tán chúng tôi sẽ chơi trận giả cho thật thích. Nói một lúc lâu, anh Khanh kết luận:
- Các em là đội viên thiếu niên tiền phong, nhưng còn là cái gì nữa, có ai biết không ?
Chúng tôi im lặng, là ... “ cái gì nữa” bố thằng nào biết? Anh Khanh nói hùng hồn:
- Là cánh tay phải của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam. Thiếu niên khu phố Lê Lợi...- Anh Khanh giơ cách tay lên hô to – Sẵn sàng !
Tiếng hô của anh ấy làm cho chúng tôi giật mình, có đứa vãi cả ...thối um. Chúng tôi cười ồ. Thấy chúng tôi cười, anh Khanh tức quá, đi xuống hỏi gay gắt:
- Đứa nào vừa gây lộn xộn khi anh nói ? Đứa nào cười to nhất?
Lúc đó tôi vẫn lấy tay ôm miệng cười khùng khục. Anh Khanh túm tay tôi, lôi ra khỏi hàng:
- Té ra cậu Thắng. Cậu là thằng ấm ớ nhất đội. Được rồi, vì chuyện cậu làm mất trật tự khi tôi đang phổ biến tình hình thời sự nên tối nay cậu phải đi với tôi canh gác khu vực Gò Gánh. Còn các tổ, như đã phân công vào vị trí...
Trừ mấy đứa trong tổ trực gác tối thứ bảy, còn tất cả giải tán. Chúng hò reo, nói chuyện rôm rả, tôi nhìn theo chúng nó mà thòm thèm. Anh Khanh không biết kiếm đâu ra một chiếc gậy, dúi vào tay tôi:
- Mày cầm lấy rồi đi theo anh. Anh đi đâu, mày đi theo đấy. Anh với mày làm một nhiệm vụ “ thiêng liêng” là giữ vững an ninh khu phố. Mày phải cố gắng “ lập công chuộc tội”.Ngoài cái “ tội” anh đang nói, mày lại cười, mày còn nhiều “ tội” với anh lắm, anh chưa thể thống kê hết ra ngay bây giờ đâu.
Tôi chẳng biết tôi có “ tội” gì với anh Khanh mà cũng không muốn hỏi lại nữa. Hỏi ra anh ấy tức giận bắt tôi đi gác với anh ấy đến tận khuya thì nguy! Một tay anh Khanh cầm một cái gậy y như của tôi, còn tay kia, anh ấy cầm một chiến đèn pin, thái độ rất hùng hổ.
Tôi và anh Khanh lên đường.
Kể ra cũng tức thật. Lúc nãy có phải một mình tôi cười anh Khanh đâu, có thằng còn cười nhiều, to hơn tôi. Thế mà chỉ một mình tôi bị anh Khanh bắt làm nhiệm vụ này. Hình như trong chuyện này, anh Khanh thù tôi vì một chuyện khác!!! Trong suy nghĩ, tôi cũng lờ mờ nhận ra.
Gò Gánh, tôi biết đó là nơi Hợp tác xã trồng một vườn nhãn, cây đang lên vượt quá tầm người đứng. Tối tối, các anh chị thanh niên hay ra đó tâm sự. Ở đấy có chuyện gì đâu mà tôi với anh Khanh phải ra đó canh gác. Tôi thắc mắc điều đó với anh Khanh, anh Khanh liền giải thích:
- Mày đúng là thằng trẻ con chưa vỡ bọng cứt, chẳng hiểu gì cả! Nơi đó là ...là... – Anh Khanh nghĩ mãi không ra từ để diễn tả, thành ra nói cà lăm – là...là chỗ ...chỗ mọi người dễ mất cảnh giác, bọn Mỹ - Diệm lợi dụng, mày hiểu chưa?
Anh ấy nói thế, làm sao tôi hiểu, nhưng vẫn phải đi theo anh ta. Trời không có trăng, đường gồ ghề, thỉnh thoảng tôi lại vấp phải một hòn đá, chân đau điếng. Đêm tối đen, đặc quánh. Đom đóm lượn vật vờ, ánh sáng xanh, lạnh nhấp nháy lúc gần, lúc xa. Xung quanh tôi và anh Khanh tiếng ếch nhái, chẫu chàng, ễnh ương...oàm oạp, ồm ồm... nghe loạn xạ, không biết đâu mà lần. Tôi đi theo anh Khanh với tâm trạng ngán ngẩm, mong mau mau xong việc để mà về.
Đến gần Gò Gánh, anh Khanh ra hiệu cho tôi đừng lại. Tôi đứng lại, tâm trạng căng thẳng, nghe rõ cả tiếng tim mình đập trong ngực thình thịch. Anh Khanh ghé sát tai tôi, nói nhỏ:
- Mày có nghe thấy tiếng gì không ?
Tôi nghe kỹ một hồi, rồi lắc đầu:
- Em chẳng nghe thấy cái gì cả.
Anh Khanh có vẻ khó chịu:
- Đồ tậm tịt! Nghe kỹ, nhìn kỹ sau lùm cây nhãn kia kìa – Anh Khanh lấy tay chỉ cho tôi thấy phía xa xa.
Bây giờ tôi mới thấy, quả là sau một lùm cây nhãn, dưới ánh sao mờ mờ, hình như có hai người đứng và họ đang làm một động tác gì đó, cây nhãn rung rung... Tôi nói nhỏ với anh Khanh:
- Hình như có người, đúng không anh ?
- Chắc chắn có người rồi còn gì! – Giọng anh Khanh háo hức - Mày bò theo anh, đến thật gần. Phải bắt quả tang, hiểu không?
- Thế đấy là bọn “ biệt kích” à ? – Tôi cũng chưa hiểu hết chuyện gì mà anh Khanh đòi phải bắt “ quả tang”.
- Cái này còn nguy hiểm hơn “ biệt kích” ấy chứ ! Theo tao.
Anh Khanh cúi thấp người, lò dò tiến đến gần, tôi cũng lò dò tiến sau anh ấy. Anh Khanh ở phía trước trong tay vẫn lăm lăm cầm cái gậy, tay kia cầm đèn pin. Hai chúng tôi cố bò không gây tiếng động đến gần hai bóng đen. Hai bóng đen đó đứng gần như sít vào nhau, hai cái đầu trông cũng như chập vào làm một. Tôi mải quan sát phía trước, vấp phải một rễ cây, ngã dúi dùi dụi. Bỏ mẹ tôi rồi! Tôi ngã thế quái nào lại đúng vào một đống phân trâu. Cả tay, cả chân nhầy nhụa toàn phân trâu. Cái mùi thum thủm, khai khai... cứ thế xộc thẳng vào mũi. Khó cho tôi quá, lúc này lấy nước đâu mà rửa, mà giả có nước cũng không thể rửa được, vì tôi cùng anh Khanh đang “ làm nhiệm vụ”.
Anh Khanh quay lại, thấy tôi tụt lại đằng sau, anh bò đến gần, thì thầm:
- Mày làm cái gì mà không đi sát theo tao. Sợ à!
- Không phải – Tôi vội thanh minh – Em ngã dính phải bãi phân trâu. Đây này !
Vô tình, tôi đưa bàn tay dính phân trâu lên ... đúng mũi của anh Khanh. Anh Khanh tức quá, giọng cố kìm lại, nhưng không dấu dược sự nổi nóng:
- Mày định xỏ tao phải không ?
- Dạ, không phải, em vô tình thôi. Em xin lỗi anh. Hay... anh cho em về nhà rửa tay, chân. Chứ thế này...
- Về là về thế nào ! Để đấy, hoàn thành xong nhiệm vụ rồi rửa. Con bây giờ chú mày phải theo anh – Anh Khanh vẫn nói thì thầm – Mày phải nhớ là đang làm nhiệm vụ của một đội viên thiếu niên tiền phong đấy nhé.
Hai chúng tôi lại cúi thấp người, trườn đến như hai con rắn. Hai bóng đen trước mặt gần như vẫn không để ý, đứng sát vào nhau. Cái cây nhãn rung rung, lại có cả tiếng thở gấp gáp nữa.
Anh Khanh bò đến gần hai bóng đen ấy, rồi đứng bật dậy, hô to:
- Tất cả đứng im! Giơ tay lên! Giữ nguyên hiện trường.
Anh Khanh chiếu ánh sáng đèn pin vào mặt người đàn ông. Người đàn ông là một người thanh niên bị ánh sáng đèn pin làm quáng mắt, lấy một tay che mắt, còn tay kia kéo chiếc quần dài đang bị tụt xuống dưới đầu gối. Còn người con gái đứng bên cạnh cũng run lẩy bẩy kéo một chiếc quần đen lên. Anh Khanh lại lia ánh đèn pin vào mặt người con gái đó, cười gằn:
- Tôi nhắc lại, giữ nguyên hiên trường!
Anh Khanh quay lại nói với tôi:
- Thắng đâu! Em cùng tôi giải hai người này về trụ sở Ủy ban.
Người nam thanh niên kéo quần lên, giữ được bình tĩnh, vuốt lại tóc, nói với anh Khanh, giọng gay gắt:
- Anh với thằng này – anh ta chỉ tôi- Đến đây định làm cái trò gì ?
Anh Khanh nói có vẻ cứng rắn:
- Làm “ trò” gì à ! Cả hai người cứ về Ủy ban rồi sẽ biết.
Người nam thanh niên tức khí ,vung tay lên:
- Anh là ai ? mà có quyền bắt chúng tôi. Chúng tôi đến đây chỉ tâm sự, chẳng làm gì nên tội. Chúng tôi không đi đâu hết.
Anh Khanh nói với giọng khoe khoang:
- Tôi là gì à? Tôi có nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh ở đây. Ai vi phạm an ninh là tôi bắt.
- Tôi vi phạm cái gì! Anh thử chỉ ra cho tôi xem?
Anh Khanh bấm đèn pin cho ánh sáng chiếc đèn chiếu vào thắt lưng của anh thanh niên kia đang buông lòng thòng, nói:
- Tang chứng rành rành thế này lại còn cãi? Cái trò này còn “ nguy hiểm ” hơn cả bọn biệt kích Mỹ - Diệm ấy chứ!
Người con gái đứng nép bên cạnh anh thanh niên nghe vậy, mếu máo:
- Anh cho em xin. Đừng bắt chúng em về Ủy ban. Mọi người biết, gia đình em biết thì em chết mất.
Anh Khanh vẫn giữ thái độ cương quyết:
- Không nói lôi thôi nữa, hai người phải giữ nguyên “ hiện trường”, đi theo tôi!
Thật dại dột, không hiểu sao lúc đó tôi lại “ ngứa mồm”:
- Về Ủy ban, hai tên “ Biệt kích”!
Người nam thanh niên nghe vậy, gầm lên:
- “ Biệt kích” đ... gì tao! Chúng tao làm gì mà chúng mày gọi là “ biệt kích”? “ Biệt kích” này!
Người nam thanh niên đó túm lấy cổ áo của anh Khanh kéo mạnh về phía mình. Anh Khanh lỡ đà, chúi người xuống. Tiện thể, anh thanh niên thoi ngay một quả đấm vào ngực anh Khanh. Anh Khanh đổ vật xuống đất, cái đèn pin lăn long lóc. Anh thanh niên quay lại tôi:
- Còn thằng nhóc này, tao đạp một phát cho mày chết luôn!
Tôi nghe vậy, hoảng quá, vứt luôn cái gậy đang cầm trên tay, bỏ mặc cả anh Khanh đang nằm trên mặt đất, co giò chạy thục mạng. Anh Khanh thấy tôi chạy, kêu lên sợ hãi:
- Thắng ơi! Thắng ơi! Đừng chạy. Mày cứu tao với, lão ấy đánh chết tao rồi...chết tao rồi...- Tôi lại nghe thấy tiếng anh Khanh van nài – Em lạy anh, em không dám làm thế nữa. Anh tha cho em. Em lạy...
Rõ khổ cho anh Khanh mà rõ khổ cho tôi. Tự nhiên chuyện không đâu lại đâm đầu vào để rước họa.
Sau chuyện ấy, anh Khanh gặp tôi có vẻ ngượng nhưng chuyện này chính tôi cũng chẳng dám kể với ai. Nào có hay ho gì...








Thằng Oanh thì thầm với tôi:
- Nó là một thằng rất tội, mày biết không ? Mẹ nó bị bệnh, chết sớm. Bố của nó đi lấy vợ khác. Bà dì ghẻ bắt nó làm cả ngày, không cho ăn no, trông khổ lắm.
- Nó kể cho mày nghe thế à !
- Ừ, thì nó vừa kể với tao, vừa khóc – Oanh nói với tôi.
Tôi lắc đầu:
- Tao không tin đâu. Mày phải dẫn tao tới gặp nó, xem thế nào đã .
- Thì đi!
Oanh đưa tôi đến một cái nhà lợp tôn trong chợ Gừng, cái trần nhà người ta gác rất nhiều những cây tre, có lẽ để phòng lụt. Oanh đứng dưới ngước cổ lên, gọi:
- Bình ơi!
Có tiếng lục cục như trở mình ở trên đó. Oanh nói:
- Nó ngủ đấy, sáng nay tao cho nó một củ sắn luộc, trông cu cậu ăn có vẻ ngon lành.
Tôi vẫn thắc mắc:
- Mày cũng lạ! Chưa biết nó làm sao mà mày lại thương nó!
Oanh nhìn tôi, ánh mắt giận dữ:
- Nó khổ thật đấy, để nó xuống rồi mày xem.
Từ trên trần nhà, một thằng cũng trạc tuổi tôi theo cây cột nhà, tụt xuống. Trông dáng hình nó thật thảm hại. Cái mặt thì lem luốc, chỗ trông bợt bợt, chỗ thì đen đen, chỗ thì chỉ có hai con mắt, đầu tóc rối bù còn hơn ổ rơm trộn. Quần áo nó cũng dễ cả tháng không giặt, nó đứng cách tôi có nửa thước mà bốc ra cái mùi nằng nặng, rất khó ngửi. Thằng Bình nhìn Oanh rồi nhìn tôi có phần lạ lẫm, tự nhiên nó co người ho một cơn rũ rượi. Đến lúc này, tôi không nói nhưng thừa nhận là thằng Oanh nói đúng, thằng này có hoàn cảnh rất khổ. Thằng Oanh chỉ tôi, giới thiệu với Bình:
- Đây là thằng Thắng, bạn tao! Nó chơi rất thân với tao. Mẹ nó bán thịt lợn quốc doanh đấy.
Tôi hỏi Bình:
- Nhà mày ở đâu?
Bình trả lời lí nhí:
- Nhà tao ở tận Thanh Hóa cơ, xa lắm!
Tôi hỏi nó:
- Tao nghe Oanh nói mày còn có bố cơ mà, sao mày không ở với bố mà phải trốn ra tận ngoài này?
Bình nói với tôi, giọng buồn buồn, con mắt của nó chưa chi đã có ngấn nước:
- Bố tao suốt ngày chỉ uống rượu thôi. Ông ấy vừa sợ dì, vừa ác nữa. Ông ấy đánh tao thế này này...
Bình làm động tác như người ta... bổ củi, sau đó nó quay lưng lại kéo áo lên cho chúng tôi xem. Khiếp! Không biết bố nó đánh nó kiểu gì mà lưng nó chằng chịt vết roi, cứ như thể vết xe đi trong đám bùn. Có vết roi hằn trên lưng vẫn chưa lành, rơm rớm máu. Tôi nhìn nó ái ngại:
- Thế sao mày không báo cho các chú... công an?
- Bố tao đánh tao tức là đánh con của ông ấy chứ có phải đánh người khác đâu mà công an bắt?
Đơn giản như thế mà tôi không hiểu. Tôi nghĩ, thằng Oanh giúp Bình được thì mình cũng giúp Bình được. Mỗi lần về thăm nhà, bố tôi hay kể những cảnh khổ mà bố gặp dọc đường. Có một lần, bố về thăm nhà, mẹ tôi phàn nàn là không đủ tiền mua mấy tấm lá cọ lợp nhà, mẹ nói bố đưa lương cho mẹ. Bố tôi thực tình kể: khi đạp xe trên đường, bố gặp một gia đình đi ăn xin, chồng mù, đứa con thì bị tật, còn vợ lại câm. Họ đói, trú tạm trong một hàng hiên, ngồi co ro, trông rất thương. Trong túi có hai mươi đồng, bố rút ra cho họ mười lăm đồng, còn năm đồng bố đưa cho mẹ.
Mẹ tôi cười mà như mếu:
- Ông ơi! Mười lăm đồng ông cho người ta ấy, mẹ con tôi tằn tiện cũng đủ ăn trong gần nửa tháng, còn nếu đem lợp mái nhà kia kìa – mẹ chỉ lên mái nhà đang thủng lỗ chỗ - thì mười lăm đồng của ông thuê người ta lợp cũng được cả mái. Thế mà... Năm đồng ông đưa bây giờ phỏng làm được việc gì?
Bố tôi lại gần mẹ, vỗ về:
- Thôi em ạ. Mình làm phúc cho người ta rồi đến lúc người ta làm phúc cho mình. Hơn nữa, anh là bộ đội, nhìn những cảnh đó anh không đành. Không có lương tháng này, tháng sau anh sẽ có, còn người ta, nếu không có mình giúp, biết đâu họ sẽ chết rét, chết đói...
Mẹ tôi thở dài:
- Ông chỉ được cái thương người nhưng gia đình mình thì ai thương?
Bố tôi như thế, chẳng lẽ tôi lại không làm được điều đó. Chỉ có điều khi tôi nói với mẹ cho Bình mấy bộ quần áo cũ, mẹ tôi bực mình nói:
- Bố con nhà này có tính khí thất thường. Bố con mỗi tháng chỉ đưa cho mẹ có vài đồng lương, còn bao nhiêu đem làm “lệnh làng” cả, bây giờ lại đến con. Con biết không, họ hàng nhà mình còn có dì Hoa kia kìa, nhà dì cũng khổ. Phải giúp dì trước đã...
Mới có thế mẹ tôi không cho, huống hồ là xin tiền để giúp Bình. Tôi với Oanh phải tính kế.
Trước hết, không thể để cho Bình đói. Oanh bàn với tôi thế này:
- Mày nuôi Bình một tuần, sau đó đến lượt tao nuôi.
- Nhưng nuôi nó bằng cách nào?
- Có thế mà mày cũng hỏi. Thế này này... – Oanh nói như thể chuyện đó chẳng có gì quan trọng cả - Đến bữa ăn, mày giả như ăn một bát, rồi mày ăn một nửa thôi, chỗ cơm ấy mày đổ ra ca uống nước, cứ ăn ba bát hay bốn bát là có hai bát cho thằng Bình. Mày đậy ca cho cẩn thận, để trong cặp. Mày đi học sớm, đưa cho nó. Mày thấy thế nào? Hết lượt mày đến lượt tao.
Tôi đồng ý với “sáng kiến” của Oanh để nuôi Bình. Từ đó, cả trưa và chiều, lúc gói cơm trong ca uống nước, lúc gói trong lá chuối, lúc bọc trong giấy giấu trong bụng, chúng tôi đưa cơm cho Bình ăn. Chỉ mới gần một tháng, trông da dẻ của nó đã thay đổi, hồng hào lên tí chút. Có điều...
Một lần, đến lượt tôi đưa cơm nuôi Bình. Trong bữa cơm, mẹ thấy tôi ăn vội ăn vàng, mắt thì láo liếng nhìn ra ngoài, mẹ sinh nghi:
- Dạo này con ăn cơm, mẹ thấy khác lắm...
Mẹ nói thế làm tôi chột dạ. Không khéo mẹ biết chuyện này thì chết. Tôi tìm cách chống chế:
- Có gì đâu mẹ!
- Những lần trước, con ngồi một chỗ, ăn cơm từ tốn, còn bữa nay, con ăn cơm mà như bị ma đuổi. Có việc gì mà đang ăn cơm, con lại chạy ra ngoài?
Tôi im lặng, không nói, cố nghĩ trong đầu xem có thể bịa ra một lý do gì thật chính đáng, nói cho mẹ tin. Mải suy nghĩ, răng tôi cắn phải lưỡi đau điếng. Mẹ nhìn tôi lắc đầu, giọng nghiêm lại:
- Hôm nay, mẹ yêu cầu con ngồi yên một chỗ, ăn xong bát cơm rồi đi đâu hẵng đi.
Thế là chết tôi rồi, làm sao báo cho thằng Oanh biết tình thế này, rồi làm sao để cho thằng Bình khỏi đói? Chắc bây giờ nó đợi tôi mang cơm ra đây... Thật nan giải. Cuối bữa cơm tôi tìm cách bưng nồi cơm đi trước. Một hy vọng tìm cách vét số cơm còn lại trong nồi cho Bình. Đợi mẹ đi vào bếp, tôi vét hết chỗ cơm cho vào cái bát rồi úp một bát lên. Nhìn trước nhìn sau, mẹ không để ý, tôi cho bát cơm đã đậy vào một lùm cây để tí nữa đi học sẽ tìm cách đưa cho Bình. Mọi tính toán của tôi té ra lại sai bét. Trước lúc đi học, tôi ra chỗ để bát cơm, bát cơm đổ tung tóe. Tôi nhìn quanh. Phía xa, một con chó nằm đang thè lưỡi liếm mép. Đích thị nó là thủ phạm rồi! Tôi ngán ngẩm, sao mà hôm nay số tôi và cả thằng Bình “đen” thế. Mối lo nhất của tôi hôm nay là Bình không có bữa ăn trưa, đói thủng dạ dày là cái chắc!
Tôi đi học, thằng Oanh đón tôi ngay ở đầu đường. Tôi nói cho nó biết chuyện với tâm trạng lo lắng:
- Tao nghi mẹ tao biết chuyện này, phải chuyển cách thôi!
Thằng Oanh nghĩ cũng có vẻ đăm chiêu:
- Có lẽ tao với mày phải nghĩ cách khác, chẳng hạn như tìm cho thằng Bình một công việc gì đó, rồi tao với mày phụ giúp nó, chứ nuôi nó vài tháng nữa là chết cả tao lẫn mày.
Tôi kể lại chuyện vì sao hôm nay không mang cơm cho Bình được, Oanh trấn an tôi:
- Hôm nay nó cũng có cơm rồi. Mấy bà bán hàng xén ở chợ nhờ nó giúp chuyển hàng, cho nó ăn cơm.
Được cái Bình là thằng chịu khó, ở chợ ai sai việc gì nó cũng làm. Nhiều việc quá sức như vần những sọt rau từ xe bò xuống, nó vẫn hì hục gắng làm. Có lần bị sọt rau đè vào, tím hết cả bàn chân, bọn tôi phải lấy dầu hỏa bóp chân cho nó. Oanh nhìn thằng Bình đang nhăn mặt vì đau, suy nghĩ rồi dặn:
- Lần sau nếu ai thuê mày làm việc nặng, mày gọi chúng tao, chúng tao sẽ ra làm giúp. Mày cũng phải nói cho họ biết, nên trả công đàng hoàng.
Bình gật đầu.
Thế là hàng ngày, thay cho những buổi tập thể dục chạy bộ, tôi với Oanh lại chạy ra chợ xem có việc gì để giúp Bình. Bình cảm động, nói thực lòng: ”Tao cứ muốn ở đây mãi với chúng mày”.
Việc ở chợ xuất hiện thằng bé không cha, không mẹ, tối lại chui lên trần nhà để ngủ tất nhiên là sẽ bị những người lớn tuổi để ý. Anh Khanh là một trong những người ấy.
Hôm ấy, tôi và Oanh đi học về, định ghé qua chỗ Oanh nghỉ, rủ nó chiều ra bờ sông chơi thì nghe mấy bà bán hàng ở chợ cho biết: Bình bị anh Khanh và mấy anh thanh niên cờ đỏ dẫn lên đồn công an rồi.
Thế là thế nào? Cái anh Khanh này thật quá quắt, ai anh ấy cũng nghi là “gián điệp” với “biệt kích” hết! Thằng Bình làm gì mà phải đưa nó lên công an?
Tôi với Oanh chạy vội lên đồn công an thị xã.
Trong đồn công an – một gian phòng có vài cái ghế dài và một cái bàn có ghế mà không có người ngồi – Bình đang ngồi, đầu gục xuống như ngủ gật, hai tay nó bị trói vào thành ghế. Thấy động, Bình choàng tỉnh, nhìn vội ra ngoài. Thấy chúng tôi, Bình mừng rỡ. Tôi hỏi Bình:
- Vì sao anh Khanh lại trói mày như thế này?
Bình mếu máo:
- Tao cũng chẳng biết nữa? Anh ấy bảo, phải đưa tao về lại gia đình. Ở đây tao sẽ lôi kéo những đứa như bọn mày vào con đường hư hỏng.
- Anh ấy đâu rồi? để tao gặp anh ấy nói cho rõ mọi chuyện – Thằng Oanh cáu lắm, nói.
Thằng Bình hất đầu vào phía trong:
- Anh ấy vào phía trong kia, không biết để làm gì? Anh ấy trói tao ở đây, sợ tao chạy.
Anh Khanh là người hay quan trọng hóa vấn đề, lại nữa, chuyện gì anh ấy nói cũng cho là đúng, vậy thì tôi có gặp để nói chuyện hay xin xỏ, chắc gì anh Khanh đã nghe. Tốt nhất là...
Nhìn trước nhìn sau không thấy ai, tôi và Oanh tháo dây trói cho Bình rồi kéo nó đứng dậy:
- Mày đi theo bọn tao, không việc gì phải ngồi đây!
Bình sợ sệt:
- Nhỡ anh ấy ra, biết chuyện lại bảo tại tao xui chúng mày rồi không cho tao chơi với chúng mày...
- Không có chuyện đó! – Tôi khẳng định rồi lôi Bình chạy ra khỏi phòng làm việc ở đồn công an.
Chuyện tôi chơi với Bình đến tai mẹ tôi, mẹ tôi không bằng lòng. Mẹ nói:
- Bây giờ thì mẹ đã rõ mọi chuyện, con với Oanh nuôi Bình. Thôi, đó là một nhẽ, vì thương bạn. Nhưng con và Oanh tối ngày kết thân với nó là không được. Anh Khanh nói đúng, con không thể thành người tốt khi con cứ kết bạn với những đứa không học hành, bỏ gia đình đi lang thang...
Tôi không đồng ý với ý kiến của mẹ. Từ ngày tôi và Oanh chơi với Bình, nào đã thấy nó hại ai, thậm chí nó còn gỡ được cho chúng tôi bao nhiêu điều.
Nhớ một lần tôi với Oanh đến lớp, trước giờ toán, Oanh mới phát hiện quên vở bài tập ở nhà. Chạy về nhà thì không kịp. May cho nó, hôm ấy thằng Bình lại theo bọn tôi đến lớp xem chúng tôi học. Thế là thằng Oanh nhờ thằng Bình chạy về nhà lấy, thằng Bình nhận ngay và nó chạy thục mạng về nhà Oanh, bị một chiếc xe đạp đâm phải, trầy xước hết cả chân tay. Ấy vậy mà thằng Bình giấu nhẹm chuyện đó, đưa quyển sách cho thằng Oanh, trông nó có vẻ khoái lắm. Rồi lần khác, chính thằng Bình lại cứu tôi. Số là tôi và thằng Oanh khoái trò chơi đánh đáo ăn khuy áo, mỗi tội tôi càng đánh càng thua. Mấy chiếc áo của tôi, khuy mất gần hết, phải lấy dây chuối cột lại. Mẹ mắng bao lần, tôi vẫn không chừa. Nhưng nguy nhất là chuyện chiếc áo đại cán của bố tôi. Chiếc áo ấy để trong tủ, ông chỉ mặc vào ngày Tết, ngày lễ. Nó có mấy cái khuy áo rất to. Do bị thua nặng, tôi nghĩ, cứ cắt đại mấy cái khuy áo đó chơi để gỡ, sau đó nhờ người khâu lại cho bố cũng được vì thời gian này, bố chưa về. Có ai dè, cả mấy cái khuy áo đại cán của bố, tôi đánh với chúng nó cũng thua nốt. Bây giờ, nhìn cái áo của bố không có khuy áo, cứ thẳng đuồn đuột, trông không ra làm sao cả. Đúng lúc ấy, bố tôi lại về thăm nhà, mẹ tôi mừng vì gần kịp thời gian đi dự đám cưới của một cô trong cơ quan. Mẹ tôi nói với bố:
- Hôm dự đám cưới của cô Hoa, anh nhớ lấy cái áo đại cán trong tủ ra mặc cho nó sang trọng.
Bố tôi gật đầu, còn tôi tái cả mặt. Thế là chết tôi rồi, áo không có khuy thì mặc thế nào? Làm thế nào kiếm được mấy cái khuy áo to ấy? Chẳng còn cách nào khác, tôi nói với Bình. Bình trả lời: “Để tao”. Bình rủ cái thằng hay chơi đáo ăn của tôi mấy cái khuy áo to, chơi với nó. Tội cho thằng Bình, cái quần rách của nó có mấy cái khuy trông cũng đèm đẹp, nó giật phắt rồi cứ để thế mà chơi đáo ăn khuy với thằng kia. Quần ngoài thì không có khuy, quần đùi thì rách, khi thằng Bình ngồi xổm hở cả... trông không nín được cười. Ấy vậy mà Bình đâu có để ý, nó quyết tâm gỡ bằng được mấy cái khuy áo to cho tôi. Và nó thắng thật. Chỉ chơi có một buổi, mấy cái khuy áo to kia về lại với tôi. Gỡ được rồi, nó phủi tay:
- Mày đừng chơi cái trò này nữa, mất hết cả khuy áo. Chẳng lẽ cứ lấy dây chuối cột mãi à? Nói thật với mày nhá, tao chơi ăn gian mà thằng kia không biết đấy! Cái trò đánh đáo ăn tiền muốn thắng thì phải ăn gian, đâu có hay ho gì!
Thằng Bình tốt thế mà mẹ tôi, rồi cả anh Khanh và một số người lớn nữa cứ cấm chúng tôi chơi với nó, tôi thấy thật quá vô lý.





4.


Chủ nhật ấy là ngày khánh thành đập nước hồ Suối Ba. Trước đó, trên loa trên đài, họ tuyên truyền rất nhiều là ngày khánh thành có đốt pháo bông, có lướt ván, có nhiều trò chơi... làm cho chúng tôi háo hức. Tôi với Oanh quyết định rủ Bình đi mà không xin phép gia đình. Tôi biết, nếu có xin phép, mẹ tôi cũng chẳng cho đi. Tôi quyết định giả đi lao động ở trường để dự lễ khánh thành rồi chiều về, vì có nhiều ô tô chạy lên đó, chúng tôi sẽ xin đi nhờ.
Ban đầu, mọi việc diễn ra đúng như với dự kiến. Có một chiếc ô tô chở thực phẩm lên đó, cả ba chúng tôi đi nhờ được. Ba chúng tôi được một bữa đi chơi thỏa thích. Chiều đến rồi trời tối ập đến lúc nào không hay. Đến lúc đó tôi mới giật mình, biết ở nhà mẹ tôi đang mong, ngày mai lại còn đi học trong khi bài vở chưa chuẩn bị gì cả. Chúng tôi lo cuống cuồng, cả ba thằng đi tìm ô tô để xin về nhưng đều bị họ từ chối vì họ còn chở khách, chở hàng ngập ứ, chỗ đâu nữa mà chở ba đứa chúng tôi.
Thằng Oanh lo một thì tôi lo mười. Tính mẹ tôi rất nghiêm, tôi lại chưa bao giờ bỏ nhà đi đâu lâu như thế này. Nếu về đến nhà, chắc thế nào tôi cũng bị mẹ đánh. Còn Oanh, nó nói thiểu não:
- Chắc bố mẹ tao cũng giống như mẹ của mày, sẽ đi tìm tao. Nhưng có tìm hay không tìm thì ngày mai, nhất định chúng mình cũng sẽ tìm được cách về nhà. Nếu không tìm được ô tô, bọn mình sẽ... đi bộ. Hơn ba chục cây số, chỉ đi một ngày là tới. Khổ nỗi, tối nay chúng mình không biết lấy gì mà ăn...
Thằng Bình nhìn tôi và Oanh, động viên:
- Lúc này cứ bình tĩnh là có cái ăn. Hai đứa chúng mày ngồi đây, đừng chạy đi đâu đấy, tao đi kiếm cái ăn cho.
Nói rồi, nó chạy vụt đi. Không biết nó “kiếm cái ăn” cho chúng tôi như thế nào trong khi cả ba chúng tôi đều nhẵn túi, không còn một xu.
Tôi với Oanh ngồi nép vào nhau, xung quanh xen lẫn trong ánh đèn là hàng quán, tiếng cười, tiếng nói lao xao, những bước chân người đi đi, lại lại. Bụng đói đến cồn cào cộng với nỗi lo ở nhà người nhà đang hốt hoảng đi tìm làm cho tôi và Oanh có cảm giác mệt. Tôi nhắm mắt cố gắng để quên đi cái tình thế rất chán này.
Tự nhiên, tôi nghe tít đằng xa có tiếng hô hoán:
- Bắt lấy nó! Bắt lấy nó... Nó chạy đằng này... Không, nó chạy đằng kia kìa. Cái thằng nhóc mặc áo đen ấy... Bắt lấy nó...
Thằng nào ăn cắp bị họ đuổi thế không biết? Tiếng hô hoán, tiếng người chạy một lúc rồi xung quanh lại yên tĩnh trở lại, như không có chuyện gì xảy ra. Chắc chuyện lấy cắp cũng không phải là lớn, tôi với Oanh lại gục đầu, ngồi nép vào nhau đợi Bình.
Tôi với Oanh đang thiu thiu ngủ thì Bình lay chúng tôi dậy:
- Dậy đi chúng mày! Dậy đi...
Cả hai chúng tôi choàng tỉnh. Bình đưa cho chúng tôi hai chiếc bánh mì thơm nức và nửa nải chuối. Bình nói:
- Ăn đi!
Tôi ngơ ngác:
- Tiền đâu mà mày mua được nhiều thế này?
Bình nói lưỡng lự:
- Đói thì ăn đi, việc gì phải hỏi.
Oanh cầm cái bánh mì Bình đưa. Nó nhai ngon lành, vừa nhai vừa hỏi:
- Mày xin được à? Mà làm gì có người tốt thế, cho một lúc những ba chiếc bánh? Ba cái bánh này á, mất đứt ba tem gạo hai trăm hai lăm gam đấy (1). Thế... mày ăn chưa?
Bình gật đầu rồi nó ngồi... xem hai chúng tôi ăn. Chúng tôi hoàn toàn không để ý từ xa có mấy bóng người lớn đang cầm đèn pin đi đến. Một người lia ánh đèn trúng mặt thằng Bình. Người ấy hô lên:
- Đúng thằng này rồi! Thằng ăn cắp bánh mì đây rồi!
Người ấy lao vào vật thằng Bình xuống, bẻ quặt tay nó ra đằng sau. Khổ thân thằng Bình, dáng còm nhom, lẻo khẻo, đẩy cũng ngã chứ việc gì mà phải vật nó. Mấy người kia lại chỉ hai chúng tôi:
- Hai thằng này nữa, chắc đồng lõa với thằng ăn cắp này. Bắt luôn!
Tôi hốt hoảng:
- Không phải em! Em không ăn cắp. Thằng ấy lấy bánh mì về cho bọn em ăn...
Oanh nhìn tôi căm giận:
- Sao mày hèn thế hả Thắng? Tao không ngờ đấy...
Thằng Bình bị nằm vật dưới đất, thế mà nó cũng cố ngóc đầu lên, nói:
Hai đứa đấy không lấy đâu, chỉ một mình em thôi. Chúng em đói quá...
Một người đàn ông kéo thằng Bình ngồi dậy, dẫn nó đi:
Được, tao chỉ bắt một mình mày thôi. Đói thì xin ăn chứ việc gì lại đi ăn cắp? Đến đó mà trình bày với mấy chú công an.
Bình bị mấy người đó dẫn đi, còn lại một mình tôi với Oanh. Oanh vẫn giận tôi:
-Tao chưa thấy thằng nào hèn như mày.Sao lúc mày ăn banh mỳ của thằng Bình đưa, tao thấy mày nhai ngon lành lắm cơ mà.
Tôi cúi đầu, im lặng, qua xấu hổ. Oanh như không để y điều đó, giục tôi:
- Thằng Bình là thằng tôt nhất mà tao đã gặp.Tao với mày phải đi ngay cứu nó!
- Cứu nó như thế nào ?- Tôi đã thấy ân hận về lời nói của mình lúc nãy, nên hỏi Oanh.
Oanh kéo tay tôi đi:
-Chắc sáng mai họ mới giao thằng Bình cho công an. Còn tối nay, có lẽ họ giam nó vào chỗ nào đó, gần đây thôi. Mày với tao cố đi tìm...
Chúng tôi đi qua mấy quán hàng dựng tạm, đèn đuốc sáng trưng, kẻ ngồi, người đứng ăn uống ồn ào. Lúc này chúng tôi không để ý đến điều đó nữa, bụng cũng không còn đói, nỗi lo mẹ mắng cũng không còn, chuyện ngày mai làm sao kiếm được ô tô về lại Sơn Hà, tôi cũng không thèm để ý. Lúc này chỉ đau đáu một chuyện làm sao kiếm được chỗ họ giam Bình, cứu nó.
Tôi và Oanh chịu khó sục sạo khá lâu rồi cũng tìm thấy chỗ họ nhốt Bình. Hai thằng cứ đi dọc mấy căn nhà tối như hũ nút, gọi nho nhỏ : “ Bình ơi! Bình ơi! Mày có trong đó không ?”. Một lúc sau, có tiếng Bình trả lời trong một cái kho kín, sực mùi xi măng: “ Tao đây! Thắng với Oanh ơi, tao ở đây cơ mà !”. Khỏi phải nói tôi với Oang mừng đến cỡ nào. Hai thằng tiến sát đến nơi Bình bị nhốt. Bình cho chúng tôi biết:
-Tao bị họ trói vào cột, không gỡ ra được. Muỗi đốt nhiều quá!
Nghe Bình nói thế, hai chúng tôi thương nó vô hạn. Cũng vì bạn, mà Bình bị vạ lây. Oanh với tôi vội lần theo bức vách của cái kho ấy, đến một chỗ thấy có một mô đất cao, Oanh nói thì thầm với tôi:
- Mày trèo lên vai tao, dỡ mái chui vào cởi dây trói cho thằng Bình, rồi cả hai chúng mày tìm cách trèo ra. Tao ở ngoài này cảnh giới.
Nói rồi, Oanh cúi thấp người, cho tôi trèo lên lưng. Tôi nói vọng vào đủ cho Bình nghe:
- Mày cứ đứng nguyên như thế, đừng làm gì cả. Tao đang trèo vào đây.
Bình dặn tôi:
- Cẩn thận đấy, Thắng ơi! Khéo ngã đấy.
Phía dưới, Oanh từ từ nâng người tôi lên. Còn phía trên, tay tôi lần lần theo mép tường, để đu người vào. Đang đu người, định trèo vào thì ở phía dưới, thằng Oanh nói thảnh thốt:
- Bỏ mẹ, có người! Xuống.
Nó hạ người xuống. Cả hai thằng vội lăn tròn, nấp ngay vào sau một mô đất. Phía bên trong, Bình cũng im thin thít.
Hai bóng người lớn tiến dần gần đén chỗ tôi và Oanh đang núp. Cả tôi và Oanh nín thở, căng thẳng. Họ đến đây để làm gì ?Chúng tôi không phải nghĩ lâu. Hai dòng nước khai nồng, nóng nóng dội thẳng vào chỗ hai thằng đang núp. Tức quá, mà cả tôi và Oang không dám động đậy. Đã thế, một người hình như cố tình cho “ dòng nước” bắn thật xa. Người ấy vừa làm “ động tác” đó, vừa nói đùa với người kia:
-Tuấn ơi! Mày xem tao đang “ nã pháo” vào “ đầu giặc Mỹ ” đây này!
“ Nã cái mả bố ông à !”, tôi lẩm bẩm chửi thầm, trong khi dòng nước “ nóng nóng, âm ấm” vẫn rót trúng lưng.
Khi hai người kia xong việc, đi khuất thì cả lưng áo của tôi và Oanh ướt đẫm toàn... nước tiểu. Từ thủa "cha sinh mẹ đẻ" đến giờ, tôi chưa bao giờ chịu một “ cực hình ” như thế này. Nhớ có một lần nằm cạnh em Minh, nó có đái dầm nhưng cũng chỉ dính vào tôi một tý, nhưng nó không khai đến độ ghê gớm như thế này.
Cuối cùng thì tôi với Oanh cũng cứu được Bình ra khỏi chỗ giam.Trèo được ra ngoài, Bình định vươn vai thở ra, khoan khoái.
Phía trước , hình như có tiếng bước chân người đi lại. Cả bọn vội ù té chạy.





Sau chuyện tôi và Oanh tự động đi dự khánh thành hồ Suối Ba không xin phép mẹ, bỏ mất một buổi học. ngoài chuyện tôi bị mẹ mắng, tôi và Oanh còn bị cô Phương bắt phải viết kiểm điểm để đến buổi sinh hoạt lớp, hai chúng tôi đứng trước các bạn nhận khuyến điểm. Tất nhiên những chuyện gọi là “ vô tổ chức” thì chúng tôi nhận một cách thành khẩn, riêng chuyện bị người lớn ... tè cho trúng lưng, tôi với Oanh hứa với nhau, không bao giờ nói với ai.
Lại thương cho thằng Bình, bao nhiêu tội lỗi của tôi và Oanh đều trút lên đầu nó cả. Mẹ tôi cứ nói đi, nói lại:
- Hồi ở Quốc, có bao giờ con như vậy đâu. Lên đây, mẹ thấy con thay đổi nhiều lắm. Con đứng đánh bạn với đám “ du thủ, du thực”, không trước, thì sau cũng hư. Mẹ phải nói với anh Khanh báo với mấy chú công an đưa thằng Bình đi cải tạo hoặc tống nó về quê, chứ nó còn ở đây sẽ làm hỏng con với mấy đứa khác nữa.
Còn anh Khanh, biết chuyện, đã cảnh cáo tôi với thằng Oanh:
- Các em ngày càng đi xa tổ chức. Đã có những phần tử xấu, với tư tưởng không tốt đến lôi kéo các em đi chệch hướng lý tưởng của đội thiếu niên tiền phong. Các em em cần cảnh giác.
Anh Khanh nói nghe ghê quá! Không biết chúng tôi cần cảnh giác với ai, nghĩ mãi không ra. Có điều, càng nghĩ, tôi và Oanh càng muốn Bình gần chúng tôi hơn. Tuy nhiên, điều này không nên cho người lớn biết, vì như vậy càng làm cho họ không cho tôi và Oanh chơi với Bình.
Nhưng kể cũng lạ, khi người lớn không muốn quan hệ của chúng tôi với Bình trở nên thân thiết, thì trong lớp, các bạn, khi quen Bình, ai cũng muốn kết thân.
Ví như Hạnh, tổ trưởng tổ của tôi chẳng hạn.
Hôm Hạnh đi chợ, thấy tôi và Oanh hì hục giúp Bình vần những sọt rau từ trên xe xích lô xuống cho một bà bán ở chợ, Hạnh ngạc nhiên:
- Ai bảo các cậu làm việc này?
Bình nhanh nhẩu trả lời:
- Thắng và Oanh giúp tớ đấy!
Oanh ngừng tay, lau mồ hôi, giải thích cho Hạnh hiểu:\
- Đây là thằng Bình, quê của nó tận Thanh Hóa. Nó không có gia đình, ra ngoài này bốc vác thuê... bọn tớ thấy nó khổ, nên giúp.
Hạnh như hiểu vấn đề:
- Có phải Bình mà anh Khanh hay nói là phải “cảnh giác” vì...
Nghe thế, tôi tức mình, phẩy tay:
- Thôi đi, ý cậu muốn nói là ...
Hạnh vội vàng thanh minh :
- Thắng đừng nghĩ mình giống suy nghĩ của anh Khanh. Anh ấy nói thế chứ mấy ai tin.
Hạnh nói rồi, xắn tay áo:
- Để tớ cùng làm với các cậu, giúp Bình.
Hạnh cùng tôi, Oanh và Bình vần những sọt rau xuống đất. Là con gái, nhưng Hạnh rất chăm làm. Chuyện lao động chân tay đối với Hạnh chẳng thành vấn đề. Chúng tôi làm một lúc, mấy sọt rau về đúng vị trí, công được bà bán rau trả năm hào, đủ tiền cả bọn ăn một bữa ốc luộc vui vẻ.
Trước khi chia tay với chúng tôi, Hạnh nói:
- Các đằng ấy nên dẫn Bình đến gặp các bạn trong lớp để Bình làm quen với tất cả. Với lại, theo tớ nghĩ, không nên để Bình ở như thế này, tất cả chúng ta phải giúp Bình.
Từ hôm đó, Bình không còn là bạn riêng của tôi và Oanh, nó thành bạn chung của tất cả các bạn trong lớp.Tối tối, có người ra chỗ Bình trú tạm ở chợ Gừng, dạy Bình học. Cô Phương biết chuyện chúng tôi giúp Bình, cô ủng hộ những việc làm đó của chúng tôi, nhưng cô dặn:
- Các em làm những việc tốt giúp bạn Bình, cô tuyên dương. Nhưng dù có làm gì, các em cũng nên hỏi ý kiến của bố, mẹ. Riêng với em Bình, tốt nhất chúng ta cũng chỉ nên giúp Bình một thời gian chứ làm sao các em có thể giúp Bình suốt cả năm được, vì các em còn phụ thuộc vào gia đình. Trước mắt, chúng ta cùng tiết kiệm giúp Bình một số tiền, bồi dưỡng sức khỏe cho em đó. Sau đó. Cô sẽ tìm cách liên hệ chỗ gia đình Bình sống, để họ đón em ấy về...
Nghe cô Phương nói vậy, trong lòng, tôi thấy buồn buồn. Chẳng lẽ đến một lúc nào đó, tôi phải chia tay với Bình? Thôi, bao giờ đến ngày chia tay với nó hẵng hay. Còn bây giờ...
Phải công nhận thằng Bình có nhiều tài vặt, tôi với Oanh học nó mãi mà không được. Như tài bắt cá của Bình. Nước ao sâu là như thế, thằng Bình chỉ cần nhìn tăm nước nổi lên là nó phân biệt được ở đó có loại cá nào?Cởi vội quần áo, Bình “ tùm” xuống nước, chỉ một lúc, nó đã túm được một con cá trê vàng ươm, giãy đành đạch. Hay cái tài làm diều của Bình. Diều của Bình làm, giấy dán phẳng lỳ, các thanh tre vót đều, mảnh như người ta chẻ bằng máy. Chiếc diều ấy thả, bao giờ cũng bay lên rất cao, nhìn thích vô cùng. Bây giờ những giờ thủ công, tôi và Oanh đã có một “ trợ thủ” đắc lực. Bình nặn quả cà chua, đu đủ... giống ơi là giống.
Bình hay kể cho tôi nghe những hình ảnh của người mẹ đã khuất. Một người mẹ tần tảo, thương con rất mực. Hồi mẹ nó còn sống, bố của Bình mắc cái tật nghiện rượu rồi. Hễ có tý tiền là bố nó lao vào uống rượu, uống say rồi về nhà đánh vợ, đánh con. Không hiểu sao, mẹ nó vẫn cam chịu. Đi làm đồng, bắt được mấy con cua, mẹ cũng mang về cho rang muối cho bố và Bình ăn, còn mẹ thì ăn cơm chan bằng nước vối pha ít muối. Giữa ngày đông, tháng rét, mưa phùn rắc rây cả ngày, tái tê lạnh. Lạnh từ trong, lạnh ra, ấy vậy mẹ vẫn ra đồng trong khi bố nó ngồi với mấy ông bạn dưới bếp, đốt một đống lửa thật to, nướng ếch nhắm với rượu. Còn thằng Bình khi ấy nằm co ro trong góc nhà, nếu không có ổ rơm mẹ lót trước khi đi làm có khi Bình chết cóng. Mẹ của Bình làm quần quật, không có ngày nghỉ mà nghèo vẫn hoàn nghèo, khổ vẫn hoàn khổ, cho đến lúc mẹ bị bạo bệnh.
Trước lúc mất, mẹ chỉ nắm tay Bình, không nói được câu nào, hai hàng nước mắt cứ thế chảy dài.
Mẹ mất năm trước, năm sau bố đi lấy vợ mới. Cuộc đời của Bình khi còn mẹ đã khổ, khi mẹ mất đi lại khổ gấp trăm lần. Bố đánh Bình cả ngày, cò bà dì suốt ngày chì chiết, cứ làm như nuôi Bình như nuôi một đứa “ báo cô”.
Không còn con đường nào khác, Bình phải trốn gia đình ra đi.
Nghĩ lại, nhiều lúc tôi cũng bị mẹ mắng. Có những lần về thăm nhà, bực mình vì thấy tôi không nghe lời, bố cũng đánh tôi mấy roi. Đã có lúc tủi thân, tôi ngồi khóc một mình, làm như mình là người khổ nhất. Nghe Bình tâm sự về hoàn cảnh của nó, tôi nghĩ, mình còn sướng gấp trăm vạn lần thằng Bình.
...Hôm ấy là ngày chủ nhật, lẽ ra là ngày nghỉ nhưng lớp chúng tôi tổ chức đi lao đông gây quỹ lớp. Lớp tôi được một xí nghiệp thuê giặt bao tải đựng hàng, mỗi bao tải giặt sạch họ trả cho một hào. Tiền công như vậy là cao, chúng tôi khoái quá, cả lớp xung phong đi. Oanh đến rủ thêm Bình :
- Mày ở đây làm gì ! Đi làm kế hoạch gây quỹ lớp với chúng tao cho vui.
Bình nhận lời ngay. Hôm đó nó trở thành một thành viên của lớp và làm rất tích cực.
Tôi với Oanh và những người khác có sức khỏe vào kho vác bao tải ra bờ sông cho mấy đứa con gái đập, rũ, giặt từng bao một. Giặt xong, chúng nó lại đưa cho một nhóm khác mang lên bờ sông để phơi. Bình ở nhóm này. Buổi sáng, trời còn mát mẻ, còn sức khỏe, khí thế hừng hực, chúng tôi làm hăng lắm. Bình cũng thế, có lẽ rất lâu nó mới được “ tắm” trong không khí này. Tuy nó làm trong nhóm phơi bao, nhưng cứ thấy ai có việc nặng là nó lại lao vào làm giúp. Bình làm một cách tận tâm khiến chúng tôi cảm động. Oanh bảo với nó:
- Mày làm vừa vừa thôi, sức của mày không được khỏe đâu!
Bình trề môi, nói khinh khỉnh:
- Thế này đã ăn thua gì so với thời tao ở nhà phải đi cắt cỏ - Nó vung tay thành một vòng tròn to tướng – Gánh cỏ to như thế này này, tao vẫn gánh đi băng băng.
Nói rồi, nó lại lao vào việc.
Lúc ấy khoảng hơn mười giờ, mặt trời lên cao rọi xuống mặt sông, nước lấp lánh. Làm từ sáng đến giờ, chúng tôi đã thấm mệt. Bình cũng vậy, lưng áo của nó đẫm ướt mồ hôi. Lượng bao trong kho cũng vơi đi kha khá. Có lẽ cũng sắp đến giờ nghỉ, thằng nào, thằng nấy như có “ kiến bò trong bụng” vội tìm chỗ có bóng râm ,tránh cái nắng càng gần trưa càng gay gắt. Chăm làm chỉ còn bọn con gái đang cố giặt mấy cái bao gần như cuối cùng. Tôi với Oanh nhanh chân cũng tìm ra được một chỗ mát để ngả lưng. Bình dáng mệt mỏi đến ngồi cạnh chúng tôi, hỏi:
- Chúng mày có nước không? Cho tao một ngụm.
Oanh lấy chai nước để bên cạnh đưa cho Bình, nó tu một hơi rồi trả chai nước cho Oanh, lấy tay chùi miệng. Uống xong ngụm nước, Bình không nhìn chúng tôi mà cũng chẳng thèm bắt chuyện. Nó nhìn dòng sông đang chảy, giọng ngậm ngùi:
- Ở quê tao cũng có con sông như thế này, có điều nước chảy hiền hòa hơn, hai bờ cũng gần hơn. Tao với mấy đứa bạn bơi đi, bơi về được.
Ánh mắt nó chợt đăm chiêu, buồn bã:
- Tao nhớ nhà lắm, có lẽ... sau đợt lao động này, tao sẽ về thăm nhà mấy hôm. Ra đây với chúng mày cũng được mấy tháng rồi còn gì.
- Mày về để bố mày đánh mày à? – Tôi nói.
Bình cúi xuống, nó nói với tôi mà gần như nói với nó thì đúng hơn:
- Tại sao bố lại không thương con? Trong khi bố tao đánh tao ác như thế mà tao đâu có giận ông ấy, nỡ nào... Giá như tao còn mẹ, tao không bỏ đi như thế này đâu...
Ba chúng tôi im lặng. Tôi nhìn Bình cảm thông, tự hứa có lẽ khi nó về lại với gia đình, tôi sẽ đập con lợn đất tiết kiệm, có bao nhiêu tiền sẽ đưa cho nó tất...
Đang nghĩ như thế, chúng tôi bỗng nghe thấy tiếng kêu thất thanh từ phía dưới sông vọng lên:
- Chết rồi chúng mày ơi! Con Hạnh ngã xuống sông rồi... Cứu nó mau lên!
Cả ba chúng tôi nghe vậy, vội lao xuống. Lớp chúng tôi chạy túa ra. Cô Phương cũng vừa chạy, vừa kêu to:
- Các em ơi, phải cứu Hạnh! Mau lên!
Xung quanh tôi, tiếng hỏi lao xao, không ra đầu ra đũa:
- Đâu? Ở đâu? Ngã chỗ nào?...
- Thế làm sao mà bị ngã?...
- Hỏi cái gì? Kia kìa, chỗ kia kìa...
Mấy cánh tay chỉ một vòng nước xoáy đang cuộn lên. Nhấp nhô ở trong ấy là mái tóc của Hạnh. Hai bàn tay Hạnh đang khua loạn xạ.
Tùm! Một người lao ngay xuống nước.
Chẳng phải ai khác, người đó chính là Bình. Bình biết bơi, còn chúng tôi chỉ đôi ba đứa mới bập bõm bơi kiểu... chó.
Bình đang mệt, không hiểu có sức mạnh nào mà Bình lặn một hơi đã đến chỗ Hạnh đang chới với. Bình định nâng người Hạnh lên thì dòng nước chảy mạnh, ác nghiệt lại đẩy Hạnh ngã dúi. Chúng tôi hoảng hồn khi không thấy hai người đâu. Một lúc, lại thấy Hạnh được nâng người lên. Thằng Oanh lanh hơn tôi, nó chạy ngược lên bờ sông, vác luôn cây sào đang phơi bao rồi băm bổ chạy xuống. Đến lượt thứ ba, khi Hạnh được Bình nâng người lên thì cũng vừa lúc Hạnh bám được vào đầu sào để chúng tôi kéo vào.
Còn Bình...
Chúng tôi chỉ kịp nhìn thấy một mái tóc đen cố ngoi lên nhưng dòng nước xoáy vặn nghiến, nhấn chìm.
Cái sào tre đã đưa được đến đấy, nhưng tay của Bình nắm không kịp...
Mãi đến ba ngày sau, xác Bình mới nổi lên, cách chỗ chúng tôi giặt bao tải đến hai, ba ki lô mét.
Cả lớp tôi sững sờ.
Tôi và Oanh như không tin vào chuyện này. Làm sao lại có chuyện Bình chết một cách nhanh chóng như thế? Tôi nghĩ nhiều về Bình đến độ thẫn thờ. Hình ảnh Bình đi lấy cắp bánh mì ở Suối Ba về cho tôi ăn lại hiện lên chập chờn. Tôi ân hận những lúc đối xử không phải với Bình. Bình ơi! Mày có tha lỗi cho tao không? Tôi không tin Bình mất. Bình đi đâu đó rồi về lại với chúng tôi thôi mà. Còn Hạnh, nó khóc đến độ sưng húp cả mắt. Không ai có thể khuyên bảo nó được.
Mẹ tôi nghe chuyện Bình hy sinh cả mạng sống của mình để cứu người, mẹ khóc, nói như tự trách mình:
- Mẹ sai lầm nhiều quá con ạ! Lẽ ra, với một đứa như thằng Bình, phải tìm hiểu kỹ và giúp đỡ nó. Ngược lại, mẹ lại không cho các con chơi với nó. Đã thế, lại còn nghĩ xấu về nó. Mẹ thật đáng trách...
Chúng tôi còn đáng trách hơn. Đến lúc Bình chết, chúng tôi chỉ biết quê nó ở Thanh Hóa chứ nhà nó ở đâu trong tỉnh Thanh, bố nó tên là gì, chúng tôi đều không biết, một phần vì nghĩ trước hay sau nó cũng về lại nhà, mình hỏi làm gì? Mà hình như Bình cũng không muốn kể chi tiết về quê, về người bố của mình. Bình muốn giấu những kỷ niệm buồn...
Thế là chúng tôi cũng không báo được tin này cho bố của Bình biết.
Đám tang của Bình tự nhiên thành một đám tang rất to ở thị xã Sơn Hà. Tất cả các bà bán hàng ở chợ bỏ hết hàng quán đi đưa Bình. Cả lớp chúng tôi đầu đều quấn băng tang trắng. Mẹ tôi cùng mấy cô chú trong cơ quan cũng bỏ một buổi làm việc đi theo đám tang. Tôi đi ngay sau quan tài của Bình để nước mắt lặng lẽ chảy, không muốn lau nữa...
Bình ơi! Sao không ở lại với chúng tôi?...



HẾT PHẦN II – TẬP I

Chú thích:

(1) – Thời bao cấp, mua một bánh mỳ lớn mất 1 hào, và một tem lương thực 225 gam.

 

Những năm tháng đi sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom trên miền Bắc, đã để lại trong tôi những kỷ niệm “ thần tiên” mãi mãi không thể quên. Nhắc lại những kỷ niệm đó là nhắc lại một thời chúng ta đã sống rất đẹp, rất hồn nhiên của tuổi thiếu niên mà bây giờ... rất khó có thể tái hiện lại. Tất cả điều đó, tôi cố gắng miêu tả qua cuốn tiểu thuyết viết về đề tài thiếu nhi:”“ GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ”.

Tiểu thuyết “ GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ ” đã được NXB Kim Đồng phát hành năm 2004.

Bây giờ mời các bạn vào trang đầu của cuốn tiểu thuyết này.


GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ



TẬP I




TỪ QUÊ RA PHỐ

1


Tôi đi học về, như mọi ngày, tầm này phải có cơm rồi nhưng sao đến giờ, căn nhà trống hoang trống hoác, dưới bếp nguội tanh. Tôi ngạc nhiên, không hiểu mẹ tôi đi đâu.
Mãi một lúc sau, mẹ tôi mới trở về, nét mặt mẹ có vẻ buồn. Tôi hỏi:
- Mẹ ơi! Sao hôm nay mẹ không nấu cơm?
Mẹ tôi không trả lời, bà nhìn khắp lượt căn nhà, căn nhà mà tôi cùng mẹ và thằng Minh đã ở suốt mấy năm nay, biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên. Mẹ chậm rãi đi thu dọn đồ đạc, xếp lại mấy chiếc áo, quần để bề bộn trên giường, rồi mẹ lặng lẽ đi ra sân rút vội mấy chiếc áo đang phơi vừa khô. Đi vào nhà, mẹ nói với tôi, giọng buồn buồn:
- Thế này Thắng ạ! Ngày mai, con với mẹ lên trường xin rút học bạ, con không học ở đây nữa.
Tôi nghe mà như không tin vào điều mẹ vừa nói. Không thể có chuyện như vậy, tôi sẽ không học ở đây nữa sao? Thế còn chuyện tôi với thằng Hảo đi tát cá ở khe Mực vào chủ nhật tới, chẳng lẽ đành bỏ ngang? Lại còn chuyện cả lớp tôi đi cắm trại ở núi Bút tuần sau, bao nhiêu háo hức, dự định cũng phải bỏ? Tôi hỏi lại mẹ mà cố nghĩ, chắc chuyện này mẹ nghe lầm:
- Tại sao phải rút học bạ hả mẹ? Con đang học rất tốt ở đây cơ mà?
Mẹ nhìn tôi, ánh mắt như hiểu điều tôi muốn nghĩ. Mẹ nói chậm rãi, giải thích cho tôi nghe:
- Mẹ có quyết định chuyển công tác lên thị xã Sơn Hà. Đầu tháng, mẹ phải nhận công tác ở nơi mới rồi. Thời gian chẳng còn nhiều nên ngày mai, con và mẹ lên trường rút học bạ của con, tiện thể mẹ đến chào tạm biệt và cảm ơn các thầy cô trong trường đã dạy con bấy lâu nay.
- Mình không đi có được không? – Tôi cố vớt vát vì thực tình không muốn chuyển khỏi nơi đây một tí nào.
Mẹ tôi lắc đầu:
- Không được con ạ! Mẹ là cán bộ, phải chấp hành sự phân công của tổ chức. Hơn nữa, lên Sơn Hà, con có điều kiện học thêm vì dù sao ở đấy cũng là thị xã… Chỉ khổ là làm sao báo cho bố biết, chứ không, đến tuần sau bố lại về đây không có mẹ con mình rồi lại phải vòng lên Sơn Hà.
Bố tôi đi bộ đội, đang đóng quân ở Phú Thọ, cách đây cũng khá xa. Cứ hai, ba tuần, bố lại đạp xe về thăm nhà. Bố viết thư nói tuần này sẽ về với mẹ con tôi, giờ đây làm sao báo tin cho bố biết?
Tôi thật sự buồn khi phải xa nơi này.
Quốc là một thị trấn nhỏ, đi độ ba bước chân là hết mấy con phố. Một con phố chính, hai bên là những dãy nhà lá thấp lè tè, nếu có khác là ở đây có rất nhiều cây sào mắc những dây thép giăng ngang để nghe đài bằng những cái loa nhỏ áp vào tai mà người ta gọi là đài Ga - len (1). Quốc còn hơn các vùng xung quanh là ban đêm, nhiều hàng xén thắp đèn dầu bán kẹo vừng, bánh đa… mà mỗi tối, xem xong phim chiếu ở sân vận động thì khoảng chín giờ tối là nhà ai nhà nấy cửa đóng im ỉm, đường phố tối đen, đom đóm bay lập loè, tiếng chó sủa khan lúc xa lúc gần.
Mùa đông ở Quốc, tôi có cảm giác không đâu lạnh bằng. Mặt đường lớp nhớp bùn. Người lớn lụp xụp trong những chiếc áo tơi đan bằng lá, đi vội vội vàng vàng. Trẻ con có bao nhiêu áo, bao nhiêu quần quấn vào người bằng hết, cứ như đống vải lộn đang di động, chỉ hở có hai con mắt. Cũng có đứa nhà nghèo, phong phanh một mảnh áo, một mảnh quần, đi chân trần đến lớp, môi nó tím ngắt, trông thương đến lạ. Ở Quốc, chúng tôi quanh đi quẩn lại chỉ chơi những trò chơi tự chúng tôi nghĩ ra như trốn tìm, đá bóng bằng quả bưởi, đánh khăng, đánh đáo… Quốc chỉ náo động khi có đội chiếu phim lưu động đến, một tháng được hai tối. Khi thấy ở đầu dốc chiếc xe cải tiến chở đội chiếu phim xuất hiện là mọi hoạt động của dân thị trấn tự nhiên náo nhiệt hẳn lên. Bọn trẻ chúng tôi mong trời chóng tối, chẳng thiết học hành, không thích chơi bời nữa, ăn cơm thật sớm để mau ra bãi. Chúng tôi đến xem các anh trong đội chiếu phim sửa soạn máy móc. Tôi cứ lẩn thẩn đến cạnh cái màn ảnh bằng vải trắng ngước nhìn, trong đầu vương vấn sự thắc mắc: Tại sao có chuyện người chui ra từ máy chiếu phim lên màn ảnh này lại cử động được? Tôi nhớ anh trong đội thông tin thị trấn cầm cái loa thiếc đi a lô, nếu đi mít tinh thì anh nói: “ A lô! A lô… Mời bà con sáng mai, đúng tám giờ sáng, tập trung tại sân vận động thị trấn làm lễ mít tinh lên án đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm sát hại đồng bào ta ở nhà tù Phú Lợi… A lô! A lô…”. Anh a lô cần mẫn, nhẫn nại. Tiếng anh vang to, ai ở trong nhà có đóng cửa cũng vẫn nghe được. Tiếng a lô của anh chỉ vui, như tôi nói ở trên, khi ở thị trấn có đoàn chiếu phim lưu động đến. Thế là tiếng a lô của anh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đầu chợ, cuối chợ, trên xóm, dưới thôn… Anh đi a lô với một niềm vui rất hồn nhiên: “ A lô! A lô… Mời bà con cùng các em tối nay ăn cơm thật sớm ra sân vận động để xem bộ phim màu thần thoại Trung Quốc “Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài”. Bộ phim rất hay, cảnh rất đẹp, diễn viên xinh ơi là xinh. Bộ phim chỉ chiếu riêng cho bà con thị trấn, nơi khác chưa có. Bà con xem xong, chắc ai cũng thích. A lô! A lô…”. Có lẽ nếu nói về Quốc, nói nhiều vẫn không hết vì nơi đây đã đi vào máu thịt của tôi nên thực tình, tôi không muốn xa. Đã thế, ở đây tôi có rất nhiều bạn, bạn chơi với tôi chí tình, chẳng giận dai bao giờ.
Cơn đói bụng tan biến, giờ đây chỉ có một nỗi nuối tiếc chiếm đầy hết trong suy nghĩ. Không biết lúc nào, bàn chân đã đưa tôi đến nhà thằng Hảo, bạn rất thân của tôi. Có thể nói thằng Hảo với tôi chơi thân còn hơn “ con chấy cắn đôi”. Tôi đi học, mẹ cho củ khoai lang luộc, dù có đói, bao giờ tôi cũng chỉ ăn nửa củ,còn nửa củ tôi dành cho nó. Tính Hảo cũng thế, rất thương tôi. Nhớ một lần trong lớp, đang giờ làm toán, nó nhìn trước nhìn sau, thấy thầy Dũng không để ý, nó chìa dưới gầm bàn một miếng gan lợn luộc to tướng. Hảo nói với tôi: “ Nhà tao vừa giết con lợn, bố tao luộc miếng gan này đấy, tao ăn một nửa rồi, còn đây là phần mày, mày cầm lấy ăn đi”. Nhưng… miếng gan nó chưa kịp đưa cho tôi, thầy Dũng đã phát hiện được. Thầy quật nó mấy roi, đau quắn cả mông. Ấy vậy nó vẫn nhe răng ra cười khi thấy tay tôi cứ xoa xoa mông, mặt nhăn nhó trêu nó.
Hảo nghe chuyện tôi phải chuyển trường nó buồn ra mặt, thẫn thờ trong ánh mắt. Nó hỏi lại tôi:
- Mày phải đi thật à?
Tôi gật đầu, khẳng định. Hảo nhìn tôi, giọng khẩn khoản:
- Hay là… mày nói với mẹ cho mày ở đây với gia đình tao. Học hết năm nay rồi hẵng chuyển trường.
Tôi lắc đầu buồn bã:
- Không được đâu, mẹ tao không đồng ý đâu với lại… ở đây với mày, thằng Minh em tao nó chơi với ai…
Hảo nắm chặt tay tôi, hơi ấm bàn tay của nó như truyền sang cho tôi. Tình cảm bạn thân thật là lạ, nhiều khi tôi không giải thích nổi. Rồi hình như nghĩ ra một điều gì đó, Hảo chạy ù ra đằng sau bếp. Tôi nhìn theo. Chỉ một thoáng, nó cầm một lồng chim, trong đó là một con sáo mỏ vàng mà Hảo nuôi từ hồi nó còn chưa mở mắt. Hảo đưa lồng sáo cho tôi:
- Khi nào mày chuyển gia đình lên Sơn Hà, tao cho mày con sáo này. Nó sắp biết nói đấy, lại quen hơi người. Mày cứ nhìn con sáo là mày nhớ đến tao..
Tôi nghe Hảo nói mà mủi lòng, thương nó quá chừng.
Ngay chiều đó, hai đứa tôi đi khắp làng. Chúng tôi ra đầm Vạc, đầm nước đầy hoa súng, đúng mùa nở, tím ngát một góc đầm. Mấy con chuồn chuồn thởn thơ đậu vào cánh hoa rung rung… Nước ở đầm trong vắt. Nơi đây, chúng tôi hay tắm, vui đùa thoả thích mỗi chiều. Có lần, tôi không thích tắm nữa, toan lên bờ thì không biết từ đâu, một nắm bùn ném tới. Đầu tôi dính đầy bùn, mắt không mở ra được, chỉ nghe thấy những tiếng cười khoái trá của mấy thằng đang tắm chung. Bọn chúng làm như vậy vì chúng không muốn cho tôi lên. Thằng Hảo đang bơi đằng xa phát hiện được thằng ném bùn, nó bơi lại đánh cho thằng ấy một trận rồi bắt thằng đó phải lại xin lỗi tôi. Chuyện đó làm tôi nhớ mãi. Rồi chúng tôi đi dọc con đê, nơi chúng tôi hay chơi trốn tìm mỗi đêm trăng sáng hoặc thả diều mỗi chiều. Thảm cỏ triền đê xanh mướt, gió thổi mơn man như níu chân tôi lại. Tôi và Hảo đến khe Mực, bong bóng cá nổi đầy. Chỉ mất độ một buổi hai đứa gồng mình tát là tha hồ có cá ăn. Ước mơ tưởng đã ở tầm tay, giờ thành xa vời, cả tôi và Hảo đều tiếc rẻ...
Tôi và Hảo đến nhà mấy đứa bạn nữa, đến tận tối mịt tôi mới về nhà. Mọi lần, tôi mà đi thế này, thế nào mẹ tôi cũng mắng cho một trận, nặng hơn là ăn mấy cái quật. Nhưng hôm nay, như thông cảm với cuộc chia tay này, mẹ không mắng một tiếng. Thấy tôi về, mẹ chỉ nhắc nhẹ:
- Con đi chia tay với các bạn phải không? Vào nhà rửa tay rồi đi ăn cơm...
Sáng sau, tôi và mẹ lên trường để rút học bạ. Khi thầy Dũng thông báo là tôi sẽ chuyển trường, không khí lớp học tự nhiên chùng xuống. Tôi không dám nhìn các bạn, quay vội mặt đi chỗ khác. Thầy Dũng đứng cạnh tôi dặn dò:
- Lớp cũng như thầy rất buồn khi em xa lớp. Thầy mong em dù ở đâu cũng học thật tốt, lớp và thầy luôn chờ đợi những thành tích tốt của em. Thầy mong em không phụ lòng tin đó...
Rồi tự nhiên, giọng thầy thật cảm động, bàn tay thầy như ôm vai tôi chặt hơn:
- Những ngày em học ở lớp này, đôi khi em làm thầy bực mình, thầy có đánh em. Sự thực những việc đó thầy làm chỉ với một mong muốn duy nhất là em nhớ để học mau tiến bộ. Nay, em xa thầy, em và mẹ cho thầy xin lỗi...
Thầy nói thế làm tôi òa khóc. Ở dưới lớp, mấy bạn khóc theo. Tình cảm của thầy Dũng trước sau vẫn thế. Thầy rất thương chúng tôi. Với thầy, tôi nhớ nhất những giờ thầy lên lớp. Thầy có lối dạy học rất dễ hiểu, chân tình. Tuy thế, thầy lại nghiêm khắc, khi đến lớp, ai chưa làm bài tập ở nhà hoặc không thuộc bài thì luôn bị thầy có những hình phạt chỉ một lần sợ tới già như quỳ gối quay mặt vào tường, giơ hai tay lên, đến khi nào mỏi, xin thầy chưa chắc thầy đã cho bỏ xuống. Đấy là nhẹ chứ thường khi chúng tôi có lỗi nặng là bị mấy cái roi mây vào mông, lằn vết mất mấy ngày mới khỏi. Có điều lạ, bố mẹ chúng tôi biết thầy Dũng đánh con mình nhưng không ai phản đối. Còn ai trong chúng tôi học thuộc bài, viết chữ đẹp, trong lớp không nói chuyện, hay giơ tay phát biểu, bao giờ đến tiết sinh hoạt lớp cuối tuần cũng được thầy thưởng, khi thì cái bút tre, lúc lại là mấy trang giấy trắng, có lúc thầy lại hái mấy quả bưởi trong nhà làm phần thưởng... Chúng tôi vừa sợ thầy, vừa kính phục thầy. Giờ xa thầy, xa lớp, tôi nhớ lắm...
Khi tiễn tôi ra khỏi lớp, thầy Dũng nói nhỏ với tôi:
- Chiều mai, thầy muốn em đến nhà thầy ăn với thầy một bữa cơm để chia tay, em nói với mẹ đến, được không?
Tôi cảm động không thể thốt thành lời. Cái nhìn biết ơn của tôi thay câu trả lời.
Hôm sau, tôi và Hảo đến nhà thầy thật sớm. Hảo cầm theo chục quả trứng, còn tôi, mẹ bảo xách thêm một con gà vì chúng tôi biết nhà thầy Dũng rất nghèo.
Đến nhà thầy, một căn nhà vách đất gần mủn, mái lợp rạ, không thấy bóng thầy đâu. Tôi với Hảo ngơ ngác nhìn quanh thì nghe thấy tiếng thầy vọng ra từ dưới ao sau nhà:
- Có phải Thắng đấy không? Ai đi với em đấy?
Rồi không đợi tôi trả lời, thầy đã phát hiện ra:
- Hảo đấy à, hai em vào nhà đi, tôi đang bắt cá làm nồi canh chua.
Chúng tôi vào hẳn bên trong sân, thấy thầy đang lội bì bõm dưới ao, mặc một cái quần đùi ướt sũng, vá chằng chịt, tấm thân thầy gầy phơi rõ hàng xương sườn lấm bê bết bùn... Thầy thấy chúng tôi, cười:
- Tiện dịp tiễn Thắng lên Sơn Hà. Ao cá của thầy cũng sắp cạn nước rồi, hạn quá. Thầy thấy bong bóng cá nổi nhiều, thầy tính bắt mấy con nấu nồi canh chua cùng các em vui khi chia tay...
Thầy Dũng của tôi là thế. Với học trò, ai thầy cũng thương. Thầy cương quyết không nhận con gà của tôi và chục trứng gà của Hảo. Thầy nói nhà thầy nghèo nhưng không phải là không có. Thầy chỉ bát canh chua và đĩa thịt gà rắc lá chanh, nói:
- Các em xem, chia tay với Thắng cũng tươm tất đấy chứ!
Hảo nói nhỏ với tôi:
- Tao thấy trong vườn của thầy có con gà nào đâu? Thầy lấy gà ở đâu?
Tôi lắc đầu, không dám đụng đũa. Thầy phải ép tôi mãi. Thầy dặn tôi:
- Ở đâu em cũng phải gắng học, học thật giỏi, đừng làm điều gì để gia đình, nhà trường phiền lòng. Nên nhớ viết thư về cho thầy báo tin kết quả học tập của em... Kết quả học tập của em thật tốt, có lẽ đấy là điều thầy mừng nhất. Nào, ăn đi các em...
Thầy gắp thức ăn cho tôi và Hảo. Nhìn thầy, tôi lại ứa nước mắt.
Ngày tôi và gia đình tạm biệt phố huyện Quốc, mấy hôm trước đang nắng gắt, hôm ấy nắng tự nhiên dịu, trời cũng mát hẳn. Gia tài gia đình tôi chất lên hai cái xe bò kéo. Thực ra, nếu xếp gọn lại cũng chỉ vừa một xe nhưng mấy chú, mấy cô trong cơ quan cũ của mẹ bảo đi hai xe cho thoải mái, hơn nữa có đi hai xe như thế, bò kéo không mệt.
Thằng Hảo vẫn đi cạnh tôi, tay nó vẫn cầm cái lồng chim có con sáo mỏ vàng nhảy nhót bên trong. Nó đi bên tôi một đoạn đường dễ dài cả mấy ki lô mét.
Mẹ tôi nhắc;
- Thôi, Hảo ơi, về đi cháu. Đi nữa là mệt đấy...
Hảo vẫn còn nấn ná như chưa muốn quay về. Mẹ lại bảo:
- Hảo, về đi cháu. Nếu lên đến Sơn Hà, cô sẽ bảo Thắng viết thư về cho cháu. Rồi có điều kiện cháu lên Sơn Hà thăm Thắng.
Tôi nhìn thằng bạn thân mà thấy tội cho nó. Không biết đến nơi mới, tôi có gặp được thằng nào tốt như Hảo không? Hảo nghe lời mẹ tôi đứng lại trao lồng chim có con sáo mỏ vàng bên trong cho tôi. Nó dặn, nét mặt như mếu:
- Con sáo này sắp biết nói rồi, tao định dạy nó gọi “ Thắng ơi”. Bây giờ, tao đưa nó cho mày, mày chịu khó cho nó ăn ớt với gừng để lưỡi nó chóng lột. Mỗi lần cho ăn thì bắt nó tập nói “ Hảo ơi”, thế là... mày với tao luôn nhớ nhau. Rồi thế nào tao cũng lên đó thăm mày, mà có điều kiện thì mày về đây thăm tao...
Nói xong, nó quay mặt, lấy ống tay áo quệt vội vào mắt.
Cầm lồng chim của Hảo đưa, tôi gật đầu.
Chiếc xe bò chở tôi và mẹ đi một đoạn rất xa, tôi vẫn thấy Hảo đứng đó nhìn theo...
Vốn tính hiếu động, vừa đến nhà mới ở Sơn Hà hôm trước, hôm sau, tôi đã vọt ra phố xem nơi ở mới của mình có gì lạ. Tất nhiên, từ phố huyện chỉ lèo tèo vài nóc nhà lá nằm dọc con đường lầm bụi đỏ lên một thị xã của một tỉnh lỵ, đối với tôi là một sự thay đổi hết sức lớn lao. Điều ngỡ ngàng là ở đây phố liền phố, nhà liền nhà, dọc các con phố là hàng cây bàng xanh như chạy đến hút tầm mắt. Tán cây bàng thật rộng, gần như che kín cả mặt đường. Điều tôi thích nhất là thị xã Sơn Hà có rạp chiếu bóng, tối nào cũng có phim, không như nơi ở cũ của tôi, cả tháng mới có hai tối phim, phải đi từ chiều để giữ chỗ. Còn bây giờ… thì nếu có tiền, có thể xem phim thoả thích, xem đến chán thì thôi.
Mẹ tôi đến cơ quan mới nhưng vẫn làm công việc cũ, nghĩa là công tác trong ngành mậu dịch. Mẹ được lên chức cửa hàng trưởng, phụ trách phân phối tem phiếu thực phẩm. Vì thế công việc của mẹ bận hơn. Mẹ nói với tôi:
- Bây giờ, công việc của mẹ bận hơn ở Quốc. Mẹ sẽ gửi em Minh ở nhà trẻ cơ quan. Còn con ngoài giờ đi học thì phải về nhà giúp mẹ, như... mẹ có về muộn thì đến nhà trẻ đón em Minh, hoặc con tập đi chợ rồi về nấu cơm.
Toàn công việc lần đầu tôi phải làm, mà không biết có làm được không? Tôi cứ ầm ừ cho qua chuyện.
Sau khi ổn định xong việc ăn ở, mẹ tôi dẫn tôi đến lớp mới. Đón tôi là cô Phương, một cô giáo trẻ, da trắng, đầu phi dê. Cô hiền và hát rất hay. Lớp tôi học ở đình An Hậu, một cái đình mà tôi bước có vài bước là đến rạp chiếu bóng. Ngồi cạnh tôi là một thằng nhỏ người, dáng nhanh nhẹn. Thấy tôi được cô Phương phân công ngồi cạnh, nó tự động ngồi xích vào để lấy chỗ cho tôi. Rồi không để tôi hỏi, nó tự giới thiệu:
- Tao tên là Oanh, còn mày tên là gì?
- Tao tên là Thắng, ở Quốc lên.
- À! Tao biết rồi, ở Quốc có chùa Ông chứ gì? Năm ngoái tao lên đó, leo lên mỏi gối bỏ mẹ! Mà trên đó mát, mày nhỉ. Khiếp! Xuống hang Tiên, tối mò, có thằng núp trong ngách đấm trộm tao, tao đấm lại, lại trúng ngay ngực một con bé, thế có bỏ bố tao không... Tối như hũ nút, tao phải bám vào tay bố tao, tao mới đi được đấy...
Nó định nói với tôi nữa thì bị cô Phương nhắc:
- Oanh! Ngồi trong lớp không được nói chuyện. Tập trung lên bảng. Còn Thắng, giở sách ra ghi bài đi.
Thế là tôi thêm bạn mới. Thằng này có vẻ nghịch. Sau này chơi thân với nó, quả là dự đoán của tôi không lầm. Qua Oanh tôi biết dần tên các bạn trong lớp, cái phút ngập ngừng ban đầu dần biến mất, tôi quen với không khí của lớp. Tôi vẫn nhớ những ngày ở Quốc, giờ ra chơi đôi khi tôi lại kể cho các bạn mới nghe về những người bạn cũ của tôi như Hảo chẳng hạn, rồi những buổi đi mót lúa, tát cá... Oanh nghe chăm chú, nó nói có vẻ thòm thèm;
- Mày sướng quá nhỉ, bao giờ tao được như thế? Có khi hè này tao với mày xin bố mẹ về Quốc chơi đi, tao khoái đi tát cá lắm.
Oanh kể, nó sinh ở Thái Lan, theo ba mẹ về Việt Nam, ở luôn Sơn Hà chẳng đi đâu, nên đối với nó vùng nông thôn vẫn là một thế giới mới cần khám phá. Oanh rủ tôi về nhà nó chơi cho biết. Nhà Oanh nằm trong một ngõ hẻm, cái ngõ có hai đầu thông ra hai đường lớn của thị xã. Oanh hào hứng khoe với tôi:
- Mày biết không, cái ngõ này rất hay là chơi đánh trận giả, có thể chạy hai đầu được, ví như... chạy ra đằng sau ấy, nổ súng thế này này – Nó giơ hai ngón tay lên chĩa ra phía trước, nheo mắt, giọng giả làm tiếng súng – Pằng! Pằng! Thế là khối thằng “chết” vì bất ngờ do bị “tập kích” sau lưng. Cái món đánh bất ngờ này là anh Cường dạy tao đấy.
- Anh Cường nào? – Lại một nhân vật mới làm tôi chú ý.
- Anh Cường ở gần nhà tao. Anh ấy là “đại tướng” đấy, oai không?
- Sao chúng mày lại phong anh Cường là “Đại tướng”? – Tôi hỏi.
Oanh trả lời:
- Anh Cường biết nhiều thứ lắm, anh ấy lại đứng ra tổ chức những “trận đánh” với các bọn ở phố khác, bao giờ cúng chiến thắng. Vì thế chúng tao gọi anh ấy là “Đại tướng”.
Và tôi cũng chẳng phải chờ đợi lâu, một tối trăng sáng, sau khi cơm nước xong, đang chuẩn bị nghe chương trình “Măng non đất nước” ở đài phát thanh công cộng thì thằng Oanh đến rủ tôi:
- Thắng ơi! Đi đánh trận giả đi, lần này phải diệt hết quân bên phố Quang Trung. Trận này anh Cường trực tiếp chỉ huy đấy.
Nghe vậy, tôi vọt theo nó liền, bỏ luôn buổi phát thanh “Măng non đất nước” hay nghe mỗi tối. Đánh trận giả, thực tế là một trò chơi vui như thế này. Hai bên nhận mặt, nhận tên xong, sau đó tản ra những khu vực quy định, bí mật đến sát nhau, ai gọi đúng tên của người đối phương ra thì coi như “diệt” được một “tên giặc”. Bên nào mà bị “chết” hết trước tiên thì coi như bên đó thua. Theo như Oanh nói, quân của phố nó, từ hồi có anh Cường chỉ huy là “bách chiến, bách thắng”. Anh học giỏi nhưng lại hay đầu têu những trò chơi mà như anh Khanh, bí thư đoàn phố lên án là những trò chơi “phá đám vô tích sự”. Đã mấy lần anh Khanh bắt anh Cường ngồi viết kiểm điểm. Nhưng anh Cường cũng chẳng chừa, đang hướng dẫn trò chơi ở chỗ này, anh Khanh nghe tin cho mấy thanh niên cờ đỏ ra yêu cầu giải tán, anh Cường lại dẫn cả bọn ra chỗ khác, tiếng cười, tiếng nói vang cả một vùng.
Anh Cường thấy thằng Oanh dẫn tôi đến, hỏi:
- Em này mới đến đây à?
Oanh bảo tôi:
- Mày nói cho anh ấy biết đi!
Tôi hơi ngượng ngập chẳng biết nên giới thiệu về mình như thế nào giữa một đám bạn mới, nên nói ngập ngừng:
- Em... Em... là bạn của Oanh, em mới đến đây...
Anh Cường chủ động:
- Em cũng muốn chơi “đánh nhau” chứ gì. Ra đây! – Anh Cường kéo tôi ra chỗ sáng, ngắm nghía – Trông cũng có vẻ chiến đấy – Tôi cũng không biết anh nhận xét như thế là tôi “chiến” kiểu gì? Anh Cường thoáng suy nghĩ, rồi gật gù – Hay quá! Anh nghĩ ra một kế mới rồi! Tí nữa, bên phố Quang Trung nhận mặt, đưa em này ra trước cho bên ấy xem. Vì em mới đến nên bên Quang Trung chưa nhớ ngay được mặt với tên đâu. Rồi em đổi áo cho Oanh, thế nào bên ấy cũng gọi tên lầm, lộ lực lượng. Lúc đó chúng ta tha hồ “bắn tỉa”. Mà này, em tên là gì?
- Em tên là Thắng...
Thế là tôi nhập bọn với tất cả, nhập vào những trò chơi như chơi “đánh nhau” kể trên. Với tôi, trò chơi này chỉ cần làm quen mười lăm giây là tôi chơi thành thạo, thậm chí còn rất thích thú như biết chơi cái trò này từ lâu. Chẳng những thế, có khi tôi còn được anh Cường cử làm “đại đội trưởng” có quân hàm hẳn hoi. Quân hàm được cắt ra từ những miếng bìa các-tông, vẽ mấy ngôi sao, dán lên vai bằng nhựa mít. Quả thật, chơi với các bạn trên tỉnh, thôi, tôi cứ gọi là thế đi, trông có vẻ láu lỉnh hơn, thông minh hơn và hình như... nó cũng ồn ào hơn. Hồi ở Quốc, tôi hay giúp Hảo đi chăn trâu, trò chơi của chúng tôi hồi đó, quanh quẩn là trò... Vào ruộng mía, hai thằng ăn cắp mía rồi ra mả đi tìm những bát sành mấy người đi mả dùng để cúng. Chúng tôi vứt hết mọi thứ họ để trong đó rồi mang cái bát sành đó ra mương rửa cho thật sạch. Hai thằng ăn mía, nhả bã, còn nước thì nhổ vào cái bát sành đó đem đun lên thành mật, lúc nó sôi hương cũng bay ra thơm ngào ngạt. Mật để nguội rồi lấy mấy củ khoai lang nướng sẵn chấm vào đó ăn rất ngon lành. Oanh nghe tôi kể như thế, nó lắc đầu:
- Ở đây, thằng bẩn nhất cúng không bẩn hơn chúng mày!
Tôi “xì” một tiếng:
- Đã ăn thua gì! Bọn tao còn ăn cả trứng trong đám ma cơ! Mả mới chôn, họ hay để bát cơm có quả trứng luộc ở trên. Bọn tao cứ đợi tan đám là đến lấy trứng, bóc lòng trắng ra, ăn lòng vàng bên trong. Cái lòng vàng ấy mà chấm muối ớt, ăn rất ngon.
Thằng Oanh nghe vậy, nó nhổ nước bọt liên tục:
- Tao nghe mày kể mà thấy tởm quá, kiểu này chúng mày ăn còn tạp hơn... lợn.
Chỉ vì câu nói đó mà hai chúng tôi giận nhau mất một buổi. Về sau tôi thấy hình như... Oanh nói cũng đúng. Ở thị xã này, tôi không thấy ai bày những trò như tôi với Hảo làm ở Quốc mà những trò chơi có vẻ “văn minh” hơn, ví như ngoài “đánh trận giả” còn chơi trò “đi tìm mật mã” hay như chơi đá bóng. Bóng ở đây là bóng cao su chứ không phải là bằng quả bưởi như hồi ở Quốc. Có hôm, Anh Cường còn tổ chức thi kể chuyện, nghĩa là thằng nào có chuyện gì nhớ thì kể, bịa cũng được. Anh Cường đứng giữa chấm điểm. Tôi thì chẳng bịa chuyện được, tôi cứ kể những chuyện hồi mình còn ở Quốc, tất nhiên là học ở vùng nông thôn thì làm sao bằng học sinh học ở thị xã. Ngay như chuyện tôi cứ hay tỉ mẩn đến gần màn ảnh chiếu phim để tự hỏi “vì sao người ta chui vào đấy được” làm cho cả bọn ở thị xã bò lăn ra cười. Anh Cường phải nghiêm nét mặt:
- Tại sao các em lại cười bạn Thắng? Trước đây, anh cũng có suy nghĩ đó đấy. Bạn không biết thì giải thích cho bạn hiểu chứ sao lại cười?
Những buổi trăng sáng, anh Cường hay tụ tập chúng tôi ở sân trong trụ sở Ủy ban, kể lại những câu chuyện mà anh vừa dọc được. Giọng kể của anh Cường trầm, ấm. Anh nhớ từng chi tiết của câu chuyện đưa chúng tôi đến vùng cát cháy mênh mông của sa mạc Xa ha ra, hay đêm gió tuyết mịt mù của vùng Bắc cực, hay đến sự huyền bí đến kinh sợ của những khu rừng già vùng hạ lưu sông A ma zôn... Chúng tôi như nuốt từng lời khi nghe anh Cường kể chuyện, trong lòng càng khao khát khám phá những thế giới mới.
Tính cách anh Cường như thế, làm cho chúng tôi càng mến anh Cường hơn.


2



Cả thị xã Sơn Hà, nơi gia đình tôi mới đến, chỉ có một rạp chiếu bóng nhỏ. Như tôi đã nói ở trên, rạp chiếu bóng này cách lớp tôi học ở đình An hậu không xa. Cứ giữa giờ ra chơi, tôi lại chạy ra rạp chiếu bóng ấy xem tối nay họ chiếu phim gì ?Ở đây họ chiếu nhiều phim đánh nhau của Trung Quốc, Liên Xô. Tôi thích xem phim chiến đấu của Trung Quốc. Kinh thật! Bát lộ quân (2) Trung Quốc, mặt người nào người nấy sát khí đằng đằng cầm cầm súng xông lên hết lớp người này, đến lớp người khác, lao vào chốn quân thù như lao vào chỗ không người. Còn người chỉ huy mới khiếp! Như chẳng sợ ai, ông ấy đứng giữa đỉnh đồi, tay giơ cao khẩu Pặc hoọc (3), không cần núp ở đâu, nổ súng pằng...pằng ...mà quân giặc chết như ngả rạ. Còn quân giặc, trên phim tôi thấy bắn lại Bát lộ quân bằng súng đại liên hẳn hoi, mà bên Bát lộ quân chẳng chết một ai, quân giặc cứ chết từng lớp, từng lớp. Lại có bộ phim chiếu cảnh quân du kích Trung Quốc bị quân Tưởng Giới Thạch bao vây chặt trong một hẻm núi, tưởng chết đến nơi. Thế mà chỉ cần nghe thấy tiếng thằng chỉ huy la thất thanh: “ Bát lộ quân đến rồi !”, thế là tất cả bọn lính Tưởng vội bỏ chạy tán loạn, còn quân du kích trong hẻm núi kia lại thoát, ôm hôn Bát lộ quân cười tít cả mắt.
Trong mấy người ở rạp chiếu bóng có một chú tên là Nhiên. Chú kết thân với tôi. Thật ra, chuyện chú Nhiên kết thân với tôi cũng rất tình cờ. Hôm đó, tôi ra chỗ mẹ duyệt tem phiếu mua thực phẩm, đúng lúc mẹ đang nói gay gắt với một người đàn ông:
- Lương của anh chỉ có ba mươi sáu đồng, tức là chỉ được hưởng phiếu D(4), thế mà anh khai khống lên là lương của anh năm mươi hai đồng để anh hưởng tiêu chuẩn phiếu C. Mà anh biết đấy, chỉ có cán bộ trung cấp mới được hưởng tiêu chuẩn đó, anh chỉ là nhân viên rạp chiếu phim, làm sao lại có thể “ ăn cắp ” tiêu chuẩn của ngừoi khác một cách trắng trợn như thế. May mà có người phát hiện sơm cho chúng tôi biết chứ không mỗi tháng nhà nước mất cho hai lạng thịt lợn, cả năm hơn một ki lô gam thịt lợn rồi còn gì.
Người đàn ông đứng trước mặt mẹ tôi, nét mặt thật thiểu não, cả người nhũn như con chi chi, nói van nài:
-Mong chị bỏ qua cho em, dù gì thì em cũng được hưởng tiêu chuẩn thịt lợn ba tháng bằng phiếu C. Mỗi tuần em được thêm ba lát thịt, ăn quen miệng mất rồi. Giờ chi cắt tiêu chuẩn của em, đau quá chị ạ! Mà nói thật với chị. Đây, chị nhìn bắp tay của em...- Người đàn ông đó co gập cánh tay, bắp tay nổi lên cuồn cuộn – Thử hỏi một thằng đàn ông như em, nếu một tháng không có thêm ba lạng thịt lợn, làm sao có bắp tay to như thế này ?
Nghe người đàn ông ấy nói, mẹ tôi càng bực mình :
-Anh đừng làm gương cho những đứa bé như con tôi đây hư hỏng. Anh nhớ nhé, đồng bào miền nam ở trong kia, họ có lát thịt lợn nào ăn đâu mà đánh quân Mỹ - Diệm, chúng thua chạy ầm ầm. Nếu như tôi chấp nhận việc làm của anh, đồng bào miền nam đang đánh giặc sẽ lên án tôi đó. Thôi, không nói nữa, anh về đi. Anh Nhiên!
Người đàn ông đó, tức chú Nhiên, lúc đó nhìn tôi có vẻ xấu hổ, lủi thủi ra về. Còn tôi nhìn chú ấy, thấy có vẻ quen quen...Về đến nhà, tôi chợt nhớ đến người đàn ông hay kẻ chữ tên phim lên cái bảng đen trước rạp chiếu phim. Đúng chú ấy rồi ! À, thế là tôi biết tên của chú ấy.
Hôm sau, tôi đi học sớm do phải trực nhật, hơn nữa tôi cũng muốn đến sớm, đi ngang qua rạp chiếu phim, xem thử hôm nay rạp chiếu phim gì. Đi ngang qua, tôi lại thấy chú Nhiên dang nắn nót kẻ chữ tên phim lên bản đen trước cửa rạp. Tôi dừng lại, ngó nghiêng một hồi, rồi nói đánh động cho chú ấy biết:
- Cháu chào chú Nhiên!
Chú Nhiên ngừng tay kẻ chữ, quay lại thấy tôi nét mặt của chú ngạc nhiên:
- Chào cháu! Nhưng làm sao ...cháu lại biết tên chú ?
Tôi cười giải thích:
- Hôm qua chú ở chỗ của mẹ cháu, mẹ cháu nói tên của chú, cháu biết đấy!
- Chỗ mẹ cháu là chỗ nào? – Quả thật chú Nhiên không để ý chuyện hôm qua tôi chứng kiến chú bị mẹ tôi mắng.
- Chỗ mẹ cháu phát tem phiếu ấy –Tôi nói với chú Nhiên bằng thái độ thành thật.
- Ờ...ờ...chú hiểu rồi...Ờ...ờ...chú nhớ rồi ...- Thái độ chú Nhiên tự nhiên lúng túng, hai tai đỏ lựng. Rồi chú đánh trống lảng – Thế cháu cũng học ở tận đây cơ à ! Từ đấy về đây đi bộ xa lắm. Mà cháu học lớp của cô Phương dạy phải không ? Hôm nay cháu đi học sớm nhẩy?
Tôi hoàn toàn không để ý những điều chú Nhiên hỏi mà chỉ chú ý tối nay rạp chiếu phim gì :
- Chú Nhiên ơi! Tối nay rạp có chiếu phim chiến đấu không ?
- Có chứ cháu ! Một bộ phim chiến đấu của Trung Quốc , tên phim là “ Tiễu phỉ trên sa mạc”. Phim này à ! Cứ gọi là chiến đầu từ đầu phim đến cuối phim. Cháu có thích xem phim chiến đấu không ?
Tôi gật đầu, vì điều đó chính là sở thích của tôi. Chú Nhiên cũng gật đầu, có vẻ đồng tình rồi chú quay vào bảng kẻ chữ tiếp. Tôi định quay ra vào lớp ở đình An Hậu, thì chú Nhiên gọi giật lại:
- À! Cháu gì ơi!
Tôi dừng lại:
- Chú gọi cháu!
- Ờ , tên cháu là gì nhỉ ?
- Dạ, cháu tên là Thắng .
- Tên là “ Thắng ”, cái tên nghe hay đấy- Chú Nhiên nhìn tôi, cười mỉm. Cái nụ cười của chú tôi không hiểu hết ý nghĩa – Thế này cháu ạ! Chú cháu mình biết nhau rồi, nếu cháu thích xem phim thì nói trước với chú, chú sẽ cho cháu vào xem.
Nghe chú Nhiên nói vậy, tôi rất vui. Nhưng...tôi nói thật với chú :
- Cháu không có tiền, chỉ thỉnh thoảng mẹ cháu mới cho cháu tiền đi xem phim thôi.
Chú Nhiên nghe vậy, vội xua tay:
- Không có vấn đề gì đâu...Cháu thích xem phim gì, nói trước với chú, tối đó cháu sẽ được xem phim với chỗ ngồi đàng hoàng.
- Thật không chú ? – Tôi nghe chú Nhiên nói mà như không tin đó là sự thật.
- Thật chứ lị! – Chú Nhiên bắt tay tôi như khẳng định một lần nữa lời hứa của mình.
Tôi khoái quá, bắt tay chú Nhiên xong quên cả chào chú chạy ngay vào lớp ở đình An Hậu. Tôi phải báo tin này ngay cho thằng Oanh. Thằng Oang nghe tin đó, nó cũng háo hức không kém gì tôi:
- Mày nói với chú ấy cho tao xem với. Giả dụ như chỗ ngồi chỉ vừa một người, mày nhích cái mông vào một tý, tao ngồi chớm thôi, thế là hai thằng có thể ngồi xem chung được mà không ảnh hưởng xung quanh.
- Liệu chú Nhiên có đồng ý không ? – Tôi hơi phân vân.
- Thì mày cứ cố hỏi thử xem, biết đâu chú ấy cho – Thằng Oanh nói với tôi giọng thèm thuồng.
Tưởng là dễ như thế, nhưng khi tôi nói lại với chú Nhiên đè nghị của thằng Oanh, chú ấy lắc đầu quầy quậy, phản ứng rất gay gắt:
- Chuyện xem phim không mất tiền, chú chỉ cho riêng cháu thôi, không thể đưa bạn của cháu vào đây được. Ông rạp trưởng biết chuyện chú đưa cháu vào rạp xem phim không mất tiền là ông ấy sẽ kỷ luật chú. Cho nên chuyện này là tuyệt đối bí mật, chỉ có cháu và chú biết.
Nghe chú Nhiên giải thích thế, tôi đành chấp nhận. Được rồi, khi xem phim tôi sẽ cố gắng thật tập trung, nhớ từng chi tiết trên phim, về kể lại cho Oanh nghe.
Thế là, bắt đầu từ hôm đó, hễ rạp có phim gì mới là lập tức tôi được xem. Mỗi buổi tối, tôi nói dối mẹ là đi học nhóm rồi tôi cầm cả cặp sách đến rạp, ở đó chú Nhiên đã đón tôi. Chú Nhiên đưa tôi vào một góc rạp, cho mượn một cái ghế con, tôi ngồi xem. Tất nhiên ngồi xem phim như vậy không thỏa mái lắm. Song điều đó đối với tôi không hề gì, còn hơn bao nhiêu đứa trong lớp, chúng muốn được một phần như tôi, nào đâu có được.
Tôi kết thân với chú Nhiên từ đó. Quả thực trước mắt tôi, chú Nhiên là người cực kỳ tốt. Chú “tốt” như thế mới cho tôi xem phim không mất tiền chứ.
Một hôm, lúc tan lớp, tôi định về thì lại thấy chú Nhiên đợi tôi ở một chỗ khuất. nghe thấy tiếng chú gọi, tôi vội chạy lại:
-Có viện gì không, chú ?
Chú Nhiên kéo tay tôi ra một chỗ rất vắng , đôi mắt chú láo liếng còn nhìn xung quanh xem có ai để ý không ? Rồi chú nói thì thầm vào tai tôi:
- Chú có việc nhờ cháu. Cháu mà làm tốt việc này thì tha hồ mà xem phim, lại có cả tiền tiêu nữa, khỏi phải xin mẹ.
Nghe chú Nhiên nói, tôi chẳng hiểu gì cả. Chú bảo “ làm tốt” thì tha hồ xem phim !!! nhưng mình phải biết làm việc gì đã chứ .Tôi hỏi:
-Chú định nhờ cháu việc gì ?
- Cháu có hay vào chỗ các cô, chú bán thịt lợn không ?
- Dạ, có ! Cháu hay vào đấy chơi. Nhưng ... chú ...
- Ấy, cháu nói khe khẽ chứ ! Thế này này, chú bày cho cháu. Cháu xem có thể lấy được những tem cung cấp mua thịt lợn đã bán rồi ấy, mang nó ra đây cho chú...
-Để làm gì hả chú !
- Việc tiếp theo là để chú lo. Còn cháu, nếu lấy được nhiều thì ...tha hồ xem phim. Chú hứa danh dự đấy!
Trước mắt tôi lúc này, hiện lên cái túi xách của mẹ. Mỗi buổi tối, khi ăn cơm xong, mẹ thường hay đổ những cái tem thịt lợn đã bán ở trong túi ra để phân loại rồi cặm cụi ghi chép. Có khi nhiều tem quá, mẹ lại nhờ tôi phận loại giúp. Như vậy, việc chú Nhiên nhờ, không phải là việc quá sức đối với tôi. Nhưng tôi vẫn thấy việc này “ thế nào” ấy, không biết có “ sai ” không ?
Thấy tôi lưỡng lự, chú Nhiên lắc đầu:
- Có mỗi một việc bé con con thế mà cháu cũng làm được. Vậy mà cháu nói với chú, mai này lớn lên sẽ làm công an bắt gián điệp.
- Nhưng... ý cháu muốn hỏi chú là việc này có phải giống như “ ăn cắp” không ?
Chú Nhiên nghe tôi hỏi vậy, hơi giật mình, thái độ có phần lúng túng rồi chú cười giả lả :
- Ăn cắp đâu mà ăn cắp. Ở đây cháu lấy những tem thịt lợn mà cửa hàng của mẹ cháu đã bán rồi đưa cho chú ...Ai cần thứ đó làm gì nữa .
- Nhưng cháu đưa những tem đó cho chú, chú lấy làm gì ? – Tôi vẫn thắc mắc.
Chú Nhiên có vẻ khó trả lời những câu hỏi của tôi. Tự nhiên chú bực mình :
-Thôi, chú không nhờ cháu nữa. ngày mai chấm dứt việc cháu vào xem phim không mất tiền. Chú hơi buồn, chú đã cho cháu xem phim không mất tiền, thế mà chú nhờ cháu có mỗi một việc nhỏ như thế, cháu lại không giúp chú.
Thoáng suy nghĩ, nghe chú Nhiên nói vậy, tôi tiếc thực sự. không chần chừ nữa, tôi liền gật dầu :
- Được rồi, cháu sẽ giúp chú !
Thế là mỗi tối, khi mẹ tôi ngồi phân loại tem phiếu bán thịt lợn trong ngày, tôi tìm cách tranh thủ ngồi bên cạnh. Nhân lúc mẹ không để ý , tôi nhanh tay đút vào trong túi một, hai cái tem phiếu bán thịt lợn trong ngày để hôm sau đưa mấy cái tem phiếu ấy cho chú Nhiên.
Cầm mấy cái tem phiếu mua thịt lợn, nét mặt của chú Nhiên có vẻ hoan hỉ, khen ngợi tôi và chú tiếp tục... cho tôi vào xem phim không mất tiền mua vé.
Chú Nhiên bảo tôi giữ bí mật chuyện này, tôi lại không giữ được.
Một lần, sau buổi chiếu đầu tiên bộ phim “ Con chim vành khuyên”. Tôi háo hức kể nội dung phim cho anh Cường nghe. Anh Cường hỏi tôi:
- Anh xếp hàng cả buổi chiều, không mua được vé. Còn em làm thế nào mà “ chui” vào rạp?
- Em có cách... mà cách này thì không thể kể với anh được!
Tôi có biết đâu, nói kiểu như thế càng kích thích sự tò mò của anh Cường. Anh Cường véo tai tôi:
- Em không nói, anh véo đứt tai đấy!
Anh vặn xoáy tai của tôi, đau quá, tôi đành phải nói sự thật vì sao mình có thể vào xem phim không cần mua vé. Nghe tôi kể xong, anh Cường nhìn tôi, lắc đầu:
- Thôi chết! Sao em lại dại thế...Mà sao lão Nhiên lại xui trẻ con làm một việc bậy bạ thế nhỉ !
Tôi không đồng ý với nhận xét của anh Cường:
- Chẳng phải thế, anh Cường ạ! Chú Nhiên tốt lắm. Chú chỉ nhờ em có thế, em mới lấy cho chú vài cái tem thôi mà được xem phim tha hồ. Đấy ! Tối nay chú ấy bảo , rạp chiếu bộ phim “ Hầm bí mật bên bờ sông En Bơ”, phim chống gián điệp hay lắm. Em ăn cơm sớm đi xem, chú Nhiên xếp chỗ cho em rồi.
Tôi nói như thế cũng chẳng làm thay đổi nét mặt của anh. Nét mặt của anh Cường vẫn cương quyết, bàn tay anh ấy co lại như chuẩn bị đấm ai, miẹng anh lẩm bẩm:
- Phải cho lão này một bài học, không được lợi dụng trẻ con.
Hôm sau, quả nhiên có một trận cãi nhau rất to giữa anh Cường và chú Nhiên. Anh Cường nói với tôi đi với anh đến gặp chú Nhiên để làm chứng. nghe vậy tôi sợ vãi đái ra quần. Ra làm chứng để chết à !Hơn nữa, đang được lợi thế là xem phim không mất tiền, chỉ vì mắc bệnh hay “ khoe” mà cuối cùng... Chắc chú Nhiên sẽ không tha cho tôi chuyện này!!!
Y như rằng, sau cái hôm anh Cường gặp chú Nhiên để to tiếng, chú Nhiên tránh hẳn không muốn gặp tôi. Một lần tôi định gặp chú để thanh minh, không ngờ vừa gặp tôi, tôi chưa kịp chào chú, thì chú đã buông ngay một câu: “ Đồ phản bội!”, rồi chú đi thẳng.
Ngay đến lúc ấy tôi vẫn chưa hình dung được sự nghiêm trọng của sự việc này cho lắm. Nhưng đến một tối, khi về đến nhà tôi mới biết việc chú Nhiên bảo tôi lấy mấy cái tem phiếu đưa cho chú vượ quá sự suy nghĩ đơn giản của tôi.
Mẹ đợi cho tôi ăn cơm xong, rồi mẹ dọn thật gọn ghẽ. Mẹ gọi tôi lại bàn. Nét mặt của mẹ thật nghiêm, làm cho tôi sợ:
- Mẹ muốn hỏi con một chuyện.
Linh tính như mách bảo tôi, đây không phải là một chuyện bình thường. Tôi đi thật chậm đến gần mẹ, ngồi xuống. Em Minh ngồi ở giường đưa mắt ngơ ngác hết nhìn tôi lại nhìn mẹ. Mẹ hỏi tôi chậm rãi, rõ ràng:
- Mấy tối vừa qua con đi học nhóm, phải không ?
Tôi hơi lo sợ vì mình đã nói dối.Thực tế, tôi đâu có đi học nhóm, tổ mà đi xem phim.Tôi run, không dám trả lời. Mẹ tôi nhắc lại, giọng nghiêm hơn:
- Sao mẹ hỏi, con không trả lời!
Tôi định cố nói mà không thể nào cất giọng được, chân tay như không thể là của mình nữa, mồ hôi trên mặt đổ ra ròng ròng. Mẹ tôi đi lấy một cái roi mây, một điều ít khi bà làm đối với tôi. Tôi đành phải thú thật:
-Con nói dối mẹ, con không đi học!
- Con đi đâu ?
- Con ...con ...
- Con nói nhanh lên. Không đi học thì con đi đâu?
Vừa mếu máo, tôi vừa kể lại sự thật, mắt vẫn dè chừng chiếc roi mây mẹ đang cầm trên tay:
-Con đi...đi ... xem phim...
Mẹ tôi hạ giọng:
- Thế tiền con lấy ở đâu mà mua vé xem phim?
Điều mẹ tôi hỏi mới thực là khó trả lời, mà không trả lời thành thực thì tôi cũng không biết trả lời như thế nào nữa :
- Con không có tiền, chú Nhiên cho con vào xem phim không mất tiền.
Hình như mẹ tôi đã biết rõ tất cả mọi chuyện rồi, nhưng mẹ tôi muốn tôi phải nói ra sự thật. Cũng khó cho tôi quá. Tôi nhìn lên trần nhà. Góc trần nhà có một con ruồi sa vào lưới nhện, nó đang cố vùng vấy để thoát. Tôi nhìn kỹ, nó càng vùng vẫy hình như chân càng dính chặt vào lưới nhện dệt. Mẹ thấy tôi không trả lời cứ ngó trân trân lên trần nhà, bà giục:
- Con phải trả lời cho mẹ rõ, vì sao chú Nhiên lại cho con vào xem không mất tiền ?
Con nhện to không biết nó núp ở chỗ nào, bây giờ nó mới từ từ bò ra chuẩn bị ăn thịt con ruồi sa bẫy. Còn tôi, tôi đã bị mẹ dồn vào con đường cùng rồi. Chỉ có nói thật mới là con đường cứu tôi :
- Chú Nhiên nói với con, lấy trộm của mẹ mấy cái tem phiếu mua thịt lợn đưa cho chú...chú cho vào rạp xem phim không mất tiền...
Nghe vậy, mẹ tôi lập tức cầm chiếc roi mây giơ cao lên. Theo phản sạ, tôi ôm lấy đầu, nhắm mắt. Mẹ tôi giơ roi lên, nhưng lại không đánh tôi. Mẹ hạ cái roi mây xuống, ngồi khóc. Vừa khóc, mẹ vừa nói:
- Con ơi! Sao con lại dại thế ! Cùng một lúc con đã phạm hai khuyết điểm. mà khuyết điểm nào cũng trầm trọng cả. Tội nói dối là cái tội cả ba và mẹ rất ghét, thêm vào đó, con lại mắc thêm cái tội ăn cắp nữa. Làm sao ba, mẹ lại có một đứa con hư hỏng đến như thế. Con biết không ? mấy hôm vừa rồi, kiểm tra lại sổ sách ,.mẹ thấy mất mấy cái tem thực phẩm loại C, nhưng mẹ không hề nghĩ là con lấy. Mẹ nghĩ, có thể mình vô tình đánh rơi, mẹ đã viết bản kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật trước các cô chú trong cơ quan...
Mẹ lấy tay chùi nước mắt. Bây giờ tôi mới thấy thực sự ân hận cho việc làm không phải của mình:
- Con xin lỗi mẹ!
Mẹ ôm em Mình vào lòng, nói tiếp:
- May cho con đấy ! Anh Cường lại đây nói chuyện naỳ với mẹ, lại nữa, mẹ cũng thấy đây là lần đầu, con cũng biết nhận lỗi, mẹ có thể tha thứ cho con. Còn lần sau, nếu con vi phạm, tái diễn lại việc này, con đừng trách mẹ...
Tôi cúi đầu, im lặng.
Mẹ tôi là như vậy, vẫn một tấm lòng bao dung, thương con vô hạn.
Một bài học đầu đời, tôi vô cùng thấm thía.
Đúng là mọi chuyện ở thị xã này không hề đơn giản như hồi tôi ở Quốc. Ít nhất trong đầu óc non nớt của tôi, tôi đã lờ mờ nhận ra như thế. Hồi ở Quốc, cũng có lúc chúng tôi nói dối người lớn để đùa nghịch, nhưng đó cũng chỉ là những trò đùa tếu, chẳng làm người lớn giận. Thậm chí nếu có ai biết lại là một trận cười no bụng và không hề có chuyện người lớn lợi dụng trẻ con làm những trò như chú Nhiên bày cho tôi.
Tôi có một chút lớn khôn trong những chuyện như thế này.


HẾT PHẦN 1 – TẬP 1

Chú thích:

-(1)- Galen – Để nghe được đài tiếng nói Việt Nam, ở miền bắc lúc đó ( 1956 -1958) người ta thường mắc dây thép vào hai cây sào thật cao lấy sóng. Ròng xuống bên dưới là một cái hộp nhựa nhỏ, bên trong có thiết kế bộ phận thu sóng đơn giản, để áp vào tai nghe đài.
- (2) Bát lộ quân - Tên gọi của Quân đội Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến chống Tưởng Giới Thạch.
- (3) Pặc Hoọc – Súng lục của quân Mao Trạch Đông
-( 4) – Thời bao cấp ở miền bắc – Việt Nam – bán thịt lợn theo chế độ tem phiếu. Phiếu D của cán bộ ( Tôi nhớ không chính xác) mỗi tháng được mua 1/2 cân thịt lợn

[no-readmore]Một người đàn ông dáng lam lũ, đầu đội nón lá đi từ đằng sau lại. Thấy tôi ngồi khóc, ông dừng lại hỏi:
-    Làm sao cháu khóc?
-  Cháu đi với anh cháu, không may bị lạc – Tôi mếu máo, tuy đói bụng vẫn còn tỉnh táo để nói dối.
-   Trông cháu mệt lắm – Người đàn ông sờ đầu tôi, thái độ ân cần:
Cháu đói quá, từ sáng đến giờ chưa có hạt cơm nào vào bụng, bao nhiêu tiền anh cháu cầm hết. – Điều này thì tôi nói thật, hy vọng nhà bác ngay cạnh đây thôi. Rồi bác đi tìm anh cho cháu.
Tôi đi theo người đàn ông về nhà. Một ngôi nhà lá đơn sơ nằm ngay cạnh con đường đầy bụi. Biết tôi đói, người đó dọn cho tôi một chén cơm nguội với vài con cá kho khô.

[no-readmore]CUỘC PHIÊU LƯU KHÔNG ĐỊNH TRƯỚC là cuốn tiểu thuyết tôi viết về đề tài thiếu nhi. Cuốn tiểu thuyết này đã được NXB Kim Đồng in, phát hành. Dựa trên nội dung cuốn tiểu thuyết, tôi chuyển thể thành 5 tập của kịch bản phim truyền hình ( Các bạn có thể xem nội dung kịch bản trong mục “ Kịch bản điện ảnh” của trang Website này). Phim do Xưởng phim truyện Việt Nam dựng, đạo diễn Hữu Mười. Phim “ CUỘC PHIÊU LƯU KHÔNG ĐỊNH TRƯỚC” đã được phát trong chương trình “ Văn Nghệ Chiều Thứ Bảy”.

Phân trang 173/175 Trang đầu Trang trước 168 169 170 171 172 173 174 175 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]