[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá - [Truyen thieu nhi] Giua vuon cay xanh la - Trần Kỳ Trung - Website Trần Kỳ Trung - Nhà thơ, nhà văn

Những năm tháng đi sơ tán tránh máy bay Mỹ ném bom trên miền Bắc, đã để lại trong tôi những kỷ niệm “ thần tiên” mãi mãi không thể quên. Nhắc lại những kỷ niệm đó là nhắc lại một thời chúng ta đã sống rất đẹp, rất hồn nhiên của tuổi thiếu niên mà bây giờ... rất khó có thể tái hiện lại. Tất cả điều đó, tôi cố gắng miêu tả qua cuốn tiểu thuyết viết về đề tài thiếu nhi:”“ GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ”.

Tiểu thuyết “ GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ ” đã được NXB Kim Đồng phát hành năm 2004.

Bây giờ mời các bạn vào trang đầu của cuốn tiểu thuyết này.


GIỮA VƯỜN CÂY XANH LÁ



TẬP I




TỪ QUÊ RA PHỐ

1


Tôi đi học về, như mọi ngày, tầm này phải có cơm rồi nhưng sao đến giờ, căn nhà trống hoang trống hoác, dưới bếp nguội tanh. Tôi ngạc nhiên, không hiểu mẹ tôi đi đâu.
Mãi một lúc sau, mẹ tôi mới trở về, nét mặt mẹ có vẻ buồn. Tôi hỏi:
- Mẹ ơi! Sao hôm nay mẹ không nấu cơm?
Mẹ tôi không trả lời, bà nhìn khắp lượt căn nhà, căn nhà mà tôi cùng mẹ và thằng Minh đã ở suốt mấy năm nay, biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên. Mẹ chậm rãi đi thu dọn đồ đạc, xếp lại mấy chiếc áo, quần để bề bộn trên giường, rồi mẹ lặng lẽ đi ra sân rút vội mấy chiếc áo đang phơi vừa khô. Đi vào nhà, mẹ nói với tôi, giọng buồn buồn:
- Thế này Thắng ạ! Ngày mai, con với mẹ lên trường xin rút học bạ, con không học ở đây nữa.
Tôi nghe mà như không tin vào điều mẹ vừa nói. Không thể có chuyện như vậy, tôi sẽ không học ở đây nữa sao? Thế còn chuyện tôi với thằng Hảo đi tát cá ở khe Mực vào chủ nhật tới, chẳng lẽ đành bỏ ngang? Lại còn chuyện cả lớp tôi đi cắm trại ở núi Bút tuần sau, bao nhiêu háo hức, dự định cũng phải bỏ? Tôi hỏi lại mẹ mà cố nghĩ, chắc chuyện này mẹ nghe lầm:
- Tại sao phải rút học bạ hả mẹ? Con đang học rất tốt ở đây cơ mà?
Mẹ nhìn tôi, ánh mắt như hiểu điều tôi muốn nghĩ. Mẹ nói chậm rãi, giải thích cho tôi nghe:
- Mẹ có quyết định chuyển công tác lên thị xã Sơn Hà. Đầu tháng, mẹ phải nhận công tác ở nơi mới rồi. Thời gian chẳng còn nhiều nên ngày mai, con và mẹ lên trường rút học bạ của con, tiện thể mẹ đến chào tạm biệt và cảm ơn các thầy cô trong trường đã dạy con bấy lâu nay.
- Mình không đi có được không? – Tôi cố vớt vát vì thực tình không muốn chuyển khỏi nơi đây một tí nào.
Mẹ tôi lắc đầu:
- Không được con ạ! Mẹ là cán bộ, phải chấp hành sự phân công của tổ chức. Hơn nữa, lên Sơn Hà, con có điều kiện học thêm vì dù sao ở đấy cũng là thị xã… Chỉ khổ là làm sao báo cho bố biết, chứ không, đến tuần sau bố lại về đây không có mẹ con mình rồi lại phải vòng lên Sơn Hà.
Bố tôi đi bộ đội, đang đóng quân ở Phú Thọ, cách đây cũng khá xa. Cứ hai, ba tuần, bố lại đạp xe về thăm nhà. Bố viết thư nói tuần này sẽ về với mẹ con tôi, giờ đây làm sao báo tin cho bố biết?
Tôi thật sự buồn khi phải xa nơi này.
Quốc là một thị trấn nhỏ, đi độ ba bước chân là hết mấy con phố. Một con phố chính, hai bên là những dãy nhà lá thấp lè tè, nếu có khác là ở đây có rất nhiều cây sào mắc những dây thép giăng ngang để nghe đài bằng những cái loa nhỏ áp vào tai mà người ta gọi là đài Ga - len (1). Quốc còn hơn các vùng xung quanh là ban đêm, nhiều hàng xén thắp đèn dầu bán kẹo vừng, bánh đa… mà mỗi tối, xem xong phim chiếu ở sân vận động thì khoảng chín giờ tối là nhà ai nhà nấy cửa đóng im ỉm, đường phố tối đen, đom đóm bay lập loè, tiếng chó sủa khan lúc xa lúc gần.
Mùa đông ở Quốc, tôi có cảm giác không đâu lạnh bằng. Mặt đường lớp nhớp bùn. Người lớn lụp xụp trong những chiếc áo tơi đan bằng lá, đi vội vội vàng vàng. Trẻ con có bao nhiêu áo, bao nhiêu quần quấn vào người bằng hết, cứ như đống vải lộn đang di động, chỉ hở có hai con mắt. Cũng có đứa nhà nghèo, phong phanh một mảnh áo, một mảnh quần, đi chân trần đến lớp, môi nó tím ngắt, trông thương đến lạ. Ở Quốc, chúng tôi quanh đi quẩn lại chỉ chơi những trò chơi tự chúng tôi nghĩ ra như trốn tìm, đá bóng bằng quả bưởi, đánh khăng, đánh đáo… Quốc chỉ náo động khi có đội chiếu phim lưu động đến, một tháng được hai tối. Khi thấy ở đầu dốc chiếc xe cải tiến chở đội chiếu phim xuất hiện là mọi hoạt động của dân thị trấn tự nhiên náo nhiệt hẳn lên. Bọn trẻ chúng tôi mong trời chóng tối, chẳng thiết học hành, không thích chơi bời nữa, ăn cơm thật sớm để mau ra bãi. Chúng tôi đến xem các anh trong đội chiếu phim sửa soạn máy móc. Tôi cứ lẩn thẩn đến cạnh cái màn ảnh bằng vải trắng ngước nhìn, trong đầu vương vấn sự thắc mắc: Tại sao có chuyện người chui ra từ máy chiếu phim lên màn ảnh này lại cử động được? Tôi nhớ anh trong đội thông tin thị trấn cầm cái loa thiếc đi a lô, nếu đi mít tinh thì anh nói: “ A lô! A lô… Mời bà con sáng mai, đúng tám giờ sáng, tập trung tại sân vận động thị trấn làm lễ mít tinh lên án đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm sát hại đồng bào ta ở nhà tù Phú Lợi… A lô! A lô…”. Anh a lô cần mẫn, nhẫn nại. Tiếng anh vang to, ai ở trong nhà có đóng cửa cũng vẫn nghe được. Tiếng a lô của anh chỉ vui, như tôi nói ở trên, khi ở thị trấn có đoàn chiếu phim lưu động đến. Thế là tiếng a lô của anh đi khắp hang cùng ngõ hẻm, đầu chợ, cuối chợ, trên xóm, dưới thôn… Anh đi a lô với một niềm vui rất hồn nhiên: “ A lô! A lô… Mời bà con cùng các em tối nay ăn cơm thật sớm ra sân vận động để xem bộ phim màu thần thoại Trung Quốc “Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài”. Bộ phim rất hay, cảnh rất đẹp, diễn viên xinh ơi là xinh. Bộ phim chỉ chiếu riêng cho bà con thị trấn, nơi khác chưa có. Bà con xem xong, chắc ai cũng thích. A lô! A lô…”. Có lẽ nếu nói về Quốc, nói nhiều vẫn không hết vì nơi đây đã đi vào máu thịt của tôi nên thực tình, tôi không muốn xa. Đã thế, ở đây tôi có rất nhiều bạn, bạn chơi với tôi chí tình, chẳng giận dai bao giờ.
Cơn đói bụng tan biến, giờ đây chỉ có một nỗi nuối tiếc chiếm đầy hết trong suy nghĩ. Không biết lúc nào, bàn chân đã đưa tôi đến nhà thằng Hảo, bạn rất thân của tôi. Có thể nói thằng Hảo với tôi chơi thân còn hơn “ con chấy cắn đôi”. Tôi đi học, mẹ cho củ khoai lang luộc, dù có đói, bao giờ tôi cũng chỉ ăn nửa củ,còn nửa củ tôi dành cho nó. Tính Hảo cũng thế, rất thương tôi. Nhớ một lần trong lớp, đang giờ làm toán, nó nhìn trước nhìn sau, thấy thầy Dũng không để ý, nó chìa dưới gầm bàn một miếng gan lợn luộc to tướng. Hảo nói với tôi: “ Nhà tao vừa giết con lợn, bố tao luộc miếng gan này đấy, tao ăn một nửa rồi, còn đây là phần mày, mày cầm lấy ăn đi”. Nhưng… miếng gan nó chưa kịp đưa cho tôi, thầy Dũng đã phát hiện được. Thầy quật nó mấy roi, đau quắn cả mông. Ấy vậy nó vẫn nhe răng ra cười khi thấy tay tôi cứ xoa xoa mông, mặt nhăn nhó trêu nó.
Hảo nghe chuyện tôi phải chuyển trường nó buồn ra mặt, thẫn thờ trong ánh mắt. Nó hỏi lại tôi:
- Mày phải đi thật à?
Tôi gật đầu, khẳng định. Hảo nhìn tôi, giọng khẩn khoản:
- Hay là… mày nói với mẹ cho mày ở đây với gia đình tao. Học hết năm nay rồi hẵng chuyển trường.
Tôi lắc đầu buồn bã:
- Không được đâu, mẹ tao không đồng ý đâu với lại… ở đây với mày, thằng Minh em tao nó chơi với ai…
Hảo nắm chặt tay tôi, hơi ấm bàn tay của nó như truyền sang cho tôi. Tình cảm bạn thân thật là lạ, nhiều khi tôi không giải thích nổi. Rồi hình như nghĩ ra một điều gì đó, Hảo chạy ù ra đằng sau bếp. Tôi nhìn theo. Chỉ một thoáng, nó cầm một lồng chim, trong đó là một con sáo mỏ vàng mà Hảo nuôi từ hồi nó còn chưa mở mắt. Hảo đưa lồng sáo cho tôi:
- Khi nào mày chuyển gia đình lên Sơn Hà, tao cho mày con sáo này. Nó sắp biết nói đấy, lại quen hơi người. Mày cứ nhìn con sáo là mày nhớ đến tao..
Tôi nghe Hảo nói mà mủi lòng, thương nó quá chừng.
Ngay chiều đó, hai đứa tôi đi khắp làng. Chúng tôi ra đầm Vạc, đầm nước đầy hoa súng, đúng mùa nở, tím ngát một góc đầm. Mấy con chuồn chuồn thởn thơ đậu vào cánh hoa rung rung… Nước ở đầm trong vắt. Nơi đây, chúng tôi hay tắm, vui đùa thoả thích mỗi chiều. Có lần, tôi không thích tắm nữa, toan lên bờ thì không biết từ đâu, một nắm bùn ném tới. Đầu tôi dính đầy bùn, mắt không mở ra được, chỉ nghe thấy những tiếng cười khoái trá của mấy thằng đang tắm chung. Bọn chúng làm như vậy vì chúng không muốn cho tôi lên. Thằng Hảo đang bơi đằng xa phát hiện được thằng ném bùn, nó bơi lại đánh cho thằng ấy một trận rồi bắt thằng đó phải lại xin lỗi tôi. Chuyện đó làm tôi nhớ mãi. Rồi chúng tôi đi dọc con đê, nơi chúng tôi hay chơi trốn tìm mỗi đêm trăng sáng hoặc thả diều mỗi chiều. Thảm cỏ triền đê xanh mướt, gió thổi mơn man như níu chân tôi lại. Tôi và Hảo đến khe Mực, bong bóng cá nổi đầy. Chỉ mất độ một buổi hai đứa gồng mình tát là tha hồ có cá ăn. Ước mơ tưởng đã ở tầm tay, giờ thành xa vời, cả tôi và Hảo đều tiếc rẻ...
Tôi và Hảo đến nhà mấy đứa bạn nữa, đến tận tối mịt tôi mới về nhà. Mọi lần, tôi mà đi thế này, thế nào mẹ tôi cũng mắng cho một trận, nặng hơn là ăn mấy cái quật. Nhưng hôm nay, như thông cảm với cuộc chia tay này, mẹ không mắng một tiếng. Thấy tôi về, mẹ chỉ nhắc nhẹ:
- Con đi chia tay với các bạn phải không? Vào nhà rửa tay rồi đi ăn cơm...
Sáng sau, tôi và mẹ lên trường để rút học bạ. Khi thầy Dũng thông báo là tôi sẽ chuyển trường, không khí lớp học tự nhiên chùng xuống. Tôi không dám nhìn các bạn, quay vội mặt đi chỗ khác. Thầy Dũng đứng cạnh tôi dặn dò:
- Lớp cũng như thầy rất buồn khi em xa lớp. Thầy mong em dù ở đâu cũng học thật tốt, lớp và thầy luôn chờ đợi những thành tích tốt của em. Thầy mong em không phụ lòng tin đó...
Rồi tự nhiên, giọng thầy thật cảm động, bàn tay thầy như ôm vai tôi chặt hơn:
- Những ngày em học ở lớp này, đôi khi em làm thầy bực mình, thầy có đánh em. Sự thực những việc đó thầy làm chỉ với một mong muốn duy nhất là em nhớ để học mau tiến bộ. Nay, em xa thầy, em và mẹ cho thầy xin lỗi...
Thầy nói thế làm tôi òa khóc. Ở dưới lớp, mấy bạn khóc theo. Tình cảm của thầy Dũng trước sau vẫn thế. Thầy rất thương chúng tôi. Với thầy, tôi nhớ nhất những giờ thầy lên lớp. Thầy có lối dạy học rất dễ hiểu, chân tình. Tuy thế, thầy lại nghiêm khắc, khi đến lớp, ai chưa làm bài tập ở nhà hoặc không thuộc bài thì luôn bị thầy có những hình phạt chỉ một lần sợ tới già như quỳ gối quay mặt vào tường, giơ hai tay lên, đến khi nào mỏi, xin thầy chưa chắc thầy đã cho bỏ xuống. Đấy là nhẹ chứ thường khi chúng tôi có lỗi nặng là bị mấy cái roi mây vào mông, lằn vết mất mấy ngày mới khỏi. Có điều lạ, bố mẹ chúng tôi biết thầy Dũng đánh con mình nhưng không ai phản đối. Còn ai trong chúng tôi học thuộc bài, viết chữ đẹp, trong lớp không nói chuyện, hay giơ tay phát biểu, bao giờ đến tiết sinh hoạt lớp cuối tuần cũng được thầy thưởng, khi thì cái bút tre, lúc lại là mấy trang giấy trắng, có lúc thầy lại hái mấy quả bưởi trong nhà làm phần thưởng... Chúng tôi vừa sợ thầy, vừa kính phục thầy. Giờ xa thầy, xa lớp, tôi nhớ lắm...
Khi tiễn tôi ra khỏi lớp, thầy Dũng nói nhỏ với tôi:
- Chiều mai, thầy muốn em đến nhà thầy ăn với thầy một bữa cơm để chia tay, em nói với mẹ đến, được không?
Tôi cảm động không thể thốt thành lời. Cái nhìn biết ơn của tôi thay câu trả lời.
Hôm sau, tôi và Hảo đến nhà thầy thật sớm. Hảo cầm theo chục quả trứng, còn tôi, mẹ bảo xách thêm một con gà vì chúng tôi biết nhà thầy Dũng rất nghèo.
Đến nhà thầy, một căn nhà vách đất gần mủn, mái lợp rạ, không thấy bóng thầy đâu. Tôi với Hảo ngơ ngác nhìn quanh thì nghe thấy tiếng thầy vọng ra từ dưới ao sau nhà:
- Có phải Thắng đấy không? Ai đi với em đấy?
Rồi không đợi tôi trả lời, thầy đã phát hiện ra:
- Hảo đấy à, hai em vào nhà đi, tôi đang bắt cá làm nồi canh chua.
Chúng tôi vào hẳn bên trong sân, thấy thầy đang lội bì bõm dưới ao, mặc một cái quần đùi ướt sũng, vá chằng chịt, tấm thân thầy gầy phơi rõ hàng xương sườn lấm bê bết bùn... Thầy thấy chúng tôi, cười:
- Tiện dịp tiễn Thắng lên Sơn Hà. Ao cá của thầy cũng sắp cạn nước rồi, hạn quá. Thầy thấy bong bóng cá nổi nhiều, thầy tính bắt mấy con nấu nồi canh chua cùng các em vui khi chia tay...
Thầy Dũng của tôi là thế. Với học trò, ai thầy cũng thương. Thầy cương quyết không nhận con gà của tôi và chục trứng gà của Hảo. Thầy nói nhà thầy nghèo nhưng không phải là không có. Thầy chỉ bát canh chua và đĩa thịt gà rắc lá chanh, nói:
- Các em xem, chia tay với Thắng cũng tươm tất đấy chứ!
Hảo nói nhỏ với tôi:
- Tao thấy trong vườn của thầy có con gà nào đâu? Thầy lấy gà ở đâu?
Tôi lắc đầu, không dám đụng đũa. Thầy phải ép tôi mãi. Thầy dặn tôi:
- Ở đâu em cũng phải gắng học, học thật giỏi, đừng làm điều gì để gia đình, nhà trường phiền lòng. Nên nhớ viết thư về cho thầy báo tin kết quả học tập của em... Kết quả học tập của em thật tốt, có lẽ đấy là điều thầy mừng nhất. Nào, ăn đi các em...
Thầy gắp thức ăn cho tôi và Hảo. Nhìn thầy, tôi lại ứa nước mắt.
Ngày tôi và gia đình tạm biệt phố huyện Quốc, mấy hôm trước đang nắng gắt, hôm ấy nắng tự nhiên dịu, trời cũng mát hẳn. Gia tài gia đình tôi chất lên hai cái xe bò kéo. Thực ra, nếu xếp gọn lại cũng chỉ vừa một xe nhưng mấy chú, mấy cô trong cơ quan cũ của mẹ bảo đi hai xe cho thoải mái, hơn nữa có đi hai xe như thế, bò kéo không mệt.
Thằng Hảo vẫn đi cạnh tôi, tay nó vẫn cầm cái lồng chim có con sáo mỏ vàng nhảy nhót bên trong. Nó đi bên tôi một đoạn đường dễ dài cả mấy ki lô mét.
Mẹ tôi nhắc;
- Thôi, Hảo ơi, về đi cháu. Đi nữa là mệt đấy...
Hảo vẫn còn nấn ná như chưa muốn quay về. Mẹ lại bảo:
- Hảo, về đi cháu. Nếu lên đến Sơn Hà, cô sẽ bảo Thắng viết thư về cho cháu. Rồi có điều kiện cháu lên Sơn Hà thăm Thắng.
Tôi nhìn thằng bạn thân mà thấy tội cho nó. Không biết đến nơi mới, tôi có gặp được thằng nào tốt như Hảo không? Hảo nghe lời mẹ tôi đứng lại trao lồng chim có con sáo mỏ vàng bên trong cho tôi. Nó dặn, nét mặt như mếu:
- Con sáo này sắp biết nói rồi, tao định dạy nó gọi “ Thắng ơi”. Bây giờ, tao đưa nó cho mày, mày chịu khó cho nó ăn ớt với gừng để lưỡi nó chóng lột. Mỗi lần cho ăn thì bắt nó tập nói “ Hảo ơi”, thế là... mày với tao luôn nhớ nhau. Rồi thế nào tao cũng lên đó thăm mày, mà có điều kiện thì mày về đây thăm tao...
Nói xong, nó quay mặt, lấy ống tay áo quệt vội vào mắt.
Cầm lồng chim của Hảo đưa, tôi gật đầu.
Chiếc xe bò chở tôi và mẹ đi một đoạn rất xa, tôi vẫn thấy Hảo đứng đó nhìn theo...
Vốn tính hiếu động, vừa đến nhà mới ở Sơn Hà hôm trước, hôm sau, tôi đã vọt ra phố xem nơi ở mới của mình có gì lạ. Tất nhiên, từ phố huyện chỉ lèo tèo vài nóc nhà lá nằm dọc con đường lầm bụi đỏ lên một thị xã của một tỉnh lỵ, đối với tôi là một sự thay đổi hết sức lớn lao. Điều ngỡ ngàng là ở đây phố liền phố, nhà liền nhà, dọc các con phố là hàng cây bàng xanh như chạy đến hút tầm mắt. Tán cây bàng thật rộng, gần như che kín cả mặt đường. Điều tôi thích nhất là thị xã Sơn Hà có rạp chiếu bóng, tối nào cũng có phim, không như nơi ở cũ của tôi, cả tháng mới có hai tối phim, phải đi từ chiều để giữ chỗ. Còn bây giờ… thì nếu có tiền, có thể xem phim thoả thích, xem đến chán thì thôi.
Mẹ tôi đến cơ quan mới nhưng vẫn làm công việc cũ, nghĩa là công tác trong ngành mậu dịch. Mẹ được lên chức cửa hàng trưởng, phụ trách phân phối tem phiếu thực phẩm. Vì thế công việc của mẹ bận hơn. Mẹ nói với tôi:
- Bây giờ, công việc của mẹ bận hơn ở Quốc. Mẹ sẽ gửi em Minh ở nhà trẻ cơ quan. Còn con ngoài giờ đi học thì phải về nhà giúp mẹ, như... mẹ có về muộn thì đến nhà trẻ đón em Minh, hoặc con tập đi chợ rồi về nấu cơm.
Toàn công việc lần đầu tôi phải làm, mà không biết có làm được không? Tôi cứ ầm ừ cho qua chuyện.
Sau khi ổn định xong việc ăn ở, mẹ tôi dẫn tôi đến lớp mới. Đón tôi là cô Phương, một cô giáo trẻ, da trắng, đầu phi dê. Cô hiền và hát rất hay. Lớp tôi học ở đình An Hậu, một cái đình mà tôi bước có vài bước là đến rạp chiếu bóng. Ngồi cạnh tôi là một thằng nhỏ người, dáng nhanh nhẹn. Thấy tôi được cô Phương phân công ngồi cạnh, nó tự động ngồi xích vào để lấy chỗ cho tôi. Rồi không để tôi hỏi, nó tự giới thiệu:
- Tao tên là Oanh, còn mày tên là gì?
- Tao tên là Thắng, ở Quốc lên.
- À! Tao biết rồi, ở Quốc có chùa Ông chứ gì? Năm ngoái tao lên đó, leo lên mỏi gối bỏ mẹ! Mà trên đó mát, mày nhỉ. Khiếp! Xuống hang Tiên, tối mò, có thằng núp trong ngách đấm trộm tao, tao đấm lại, lại trúng ngay ngực một con bé, thế có bỏ bố tao không... Tối như hũ nút, tao phải bám vào tay bố tao, tao mới đi được đấy...
Nó định nói với tôi nữa thì bị cô Phương nhắc:
- Oanh! Ngồi trong lớp không được nói chuyện. Tập trung lên bảng. Còn Thắng, giở sách ra ghi bài đi.
Thế là tôi thêm bạn mới. Thằng này có vẻ nghịch. Sau này chơi thân với nó, quả là dự đoán của tôi không lầm. Qua Oanh tôi biết dần tên các bạn trong lớp, cái phút ngập ngừng ban đầu dần biến mất, tôi quen với không khí của lớp. Tôi vẫn nhớ những ngày ở Quốc, giờ ra chơi đôi khi tôi lại kể cho các bạn mới nghe về những người bạn cũ của tôi như Hảo chẳng hạn, rồi những buổi đi mót lúa, tát cá... Oanh nghe chăm chú, nó nói có vẻ thòm thèm;
- Mày sướng quá nhỉ, bao giờ tao được như thế? Có khi hè này tao với mày xin bố mẹ về Quốc chơi đi, tao khoái đi tát cá lắm.
Oanh kể, nó sinh ở Thái Lan, theo ba mẹ về Việt Nam, ở luôn Sơn Hà chẳng đi đâu, nên đối với nó vùng nông thôn vẫn là một thế giới mới cần khám phá. Oanh rủ tôi về nhà nó chơi cho biết. Nhà Oanh nằm trong một ngõ hẻm, cái ngõ có hai đầu thông ra hai đường lớn của thị xã. Oanh hào hứng khoe với tôi:
- Mày biết không, cái ngõ này rất hay là chơi đánh trận giả, có thể chạy hai đầu được, ví như... chạy ra đằng sau ấy, nổ súng thế này này – Nó giơ hai ngón tay lên chĩa ra phía trước, nheo mắt, giọng giả làm tiếng súng – Pằng! Pằng! Thế là khối thằng “chết” vì bất ngờ do bị “tập kích” sau lưng. Cái món đánh bất ngờ này là anh Cường dạy tao đấy.
- Anh Cường nào? – Lại một nhân vật mới làm tôi chú ý.
- Anh Cường ở gần nhà tao. Anh ấy là “đại tướng” đấy, oai không?
- Sao chúng mày lại phong anh Cường là “Đại tướng”? – Tôi hỏi.
Oanh trả lời:
- Anh Cường biết nhiều thứ lắm, anh ấy lại đứng ra tổ chức những “trận đánh” với các bọn ở phố khác, bao giờ cúng chiến thắng. Vì thế chúng tao gọi anh ấy là “Đại tướng”.
Và tôi cũng chẳng phải chờ đợi lâu, một tối trăng sáng, sau khi cơm nước xong, đang chuẩn bị nghe chương trình “Măng non đất nước” ở đài phát thanh công cộng thì thằng Oanh đến rủ tôi:
- Thắng ơi! Đi đánh trận giả đi, lần này phải diệt hết quân bên phố Quang Trung. Trận này anh Cường trực tiếp chỉ huy đấy.
Nghe vậy, tôi vọt theo nó liền, bỏ luôn buổi phát thanh “Măng non đất nước” hay nghe mỗi tối. Đánh trận giả, thực tế là một trò chơi vui như thế này. Hai bên nhận mặt, nhận tên xong, sau đó tản ra những khu vực quy định, bí mật đến sát nhau, ai gọi đúng tên của người đối phương ra thì coi như “diệt” được một “tên giặc”. Bên nào mà bị “chết” hết trước tiên thì coi như bên đó thua. Theo như Oanh nói, quân của phố nó, từ hồi có anh Cường chỉ huy là “bách chiến, bách thắng”. Anh học giỏi nhưng lại hay đầu têu những trò chơi mà như anh Khanh, bí thư đoàn phố lên án là những trò chơi “phá đám vô tích sự”. Đã mấy lần anh Khanh bắt anh Cường ngồi viết kiểm điểm. Nhưng anh Cường cũng chẳng chừa, đang hướng dẫn trò chơi ở chỗ này, anh Khanh nghe tin cho mấy thanh niên cờ đỏ ra yêu cầu giải tán, anh Cường lại dẫn cả bọn ra chỗ khác, tiếng cười, tiếng nói vang cả một vùng.
Anh Cường thấy thằng Oanh dẫn tôi đến, hỏi:
- Em này mới đến đây à?
Oanh bảo tôi:
- Mày nói cho anh ấy biết đi!
Tôi hơi ngượng ngập chẳng biết nên giới thiệu về mình như thế nào giữa một đám bạn mới, nên nói ngập ngừng:
- Em... Em... là bạn của Oanh, em mới đến đây...
Anh Cường chủ động:
- Em cũng muốn chơi “đánh nhau” chứ gì. Ra đây! – Anh Cường kéo tôi ra chỗ sáng, ngắm nghía – Trông cũng có vẻ chiến đấy – Tôi cũng không biết anh nhận xét như thế là tôi “chiến” kiểu gì? Anh Cường thoáng suy nghĩ, rồi gật gù – Hay quá! Anh nghĩ ra một kế mới rồi! Tí nữa, bên phố Quang Trung nhận mặt, đưa em này ra trước cho bên ấy xem. Vì em mới đến nên bên Quang Trung chưa nhớ ngay được mặt với tên đâu. Rồi em đổi áo cho Oanh, thế nào bên ấy cũng gọi tên lầm, lộ lực lượng. Lúc đó chúng ta tha hồ “bắn tỉa”. Mà này, em tên là gì?
- Em tên là Thắng...
Thế là tôi nhập bọn với tất cả, nhập vào những trò chơi như chơi “đánh nhau” kể trên. Với tôi, trò chơi này chỉ cần làm quen mười lăm giây là tôi chơi thành thạo, thậm chí còn rất thích thú như biết chơi cái trò này từ lâu. Chẳng những thế, có khi tôi còn được anh Cường cử làm “đại đội trưởng” có quân hàm hẳn hoi. Quân hàm được cắt ra từ những miếng bìa các-tông, vẽ mấy ngôi sao, dán lên vai bằng nhựa mít. Quả thật, chơi với các bạn trên tỉnh, thôi, tôi cứ gọi là thế đi, trông có vẻ láu lỉnh hơn, thông minh hơn và hình như... nó cũng ồn ào hơn. Hồi ở Quốc, tôi hay giúp Hảo đi chăn trâu, trò chơi của chúng tôi hồi đó, quanh quẩn là trò... Vào ruộng mía, hai thằng ăn cắp mía rồi ra mả đi tìm những bát sành mấy người đi mả dùng để cúng. Chúng tôi vứt hết mọi thứ họ để trong đó rồi mang cái bát sành đó ra mương rửa cho thật sạch. Hai thằng ăn mía, nhả bã, còn nước thì nhổ vào cái bát sành đó đem đun lên thành mật, lúc nó sôi hương cũng bay ra thơm ngào ngạt. Mật để nguội rồi lấy mấy củ khoai lang nướng sẵn chấm vào đó ăn rất ngon lành. Oanh nghe tôi kể như thế, nó lắc đầu:
- Ở đây, thằng bẩn nhất cúng không bẩn hơn chúng mày!
Tôi “xì” một tiếng:
- Đã ăn thua gì! Bọn tao còn ăn cả trứng trong đám ma cơ! Mả mới chôn, họ hay để bát cơm có quả trứng luộc ở trên. Bọn tao cứ đợi tan đám là đến lấy trứng, bóc lòng trắng ra, ăn lòng vàng bên trong. Cái lòng vàng ấy mà chấm muối ớt, ăn rất ngon.
Thằng Oanh nghe vậy, nó nhổ nước bọt liên tục:
- Tao nghe mày kể mà thấy tởm quá, kiểu này chúng mày ăn còn tạp hơn... lợn.
Chỉ vì câu nói đó mà hai chúng tôi giận nhau mất một buổi. Về sau tôi thấy hình như... Oanh nói cũng đúng. Ở thị xã này, tôi không thấy ai bày những trò như tôi với Hảo làm ở Quốc mà những trò chơi có vẻ “văn minh” hơn, ví như ngoài “đánh trận giả” còn chơi trò “đi tìm mật mã” hay như chơi đá bóng. Bóng ở đây là bóng cao su chứ không phải là bằng quả bưởi như hồi ở Quốc. Có hôm, Anh Cường còn tổ chức thi kể chuyện, nghĩa là thằng nào có chuyện gì nhớ thì kể, bịa cũng được. Anh Cường đứng giữa chấm điểm. Tôi thì chẳng bịa chuyện được, tôi cứ kể những chuyện hồi mình còn ở Quốc, tất nhiên là học ở vùng nông thôn thì làm sao bằng học sinh học ở thị xã. Ngay như chuyện tôi cứ hay tỉ mẩn đến gần màn ảnh chiếu phim để tự hỏi “vì sao người ta chui vào đấy được” làm cho cả bọn ở thị xã bò lăn ra cười. Anh Cường phải nghiêm nét mặt:
- Tại sao các em lại cười bạn Thắng? Trước đây, anh cũng có suy nghĩ đó đấy. Bạn không biết thì giải thích cho bạn hiểu chứ sao lại cười?
Những buổi trăng sáng, anh Cường hay tụ tập chúng tôi ở sân trong trụ sở Ủy ban, kể lại những câu chuyện mà anh vừa dọc được. Giọng kể của anh Cường trầm, ấm. Anh nhớ từng chi tiết của câu chuyện đưa chúng tôi đến vùng cát cháy mênh mông của sa mạc Xa ha ra, hay đêm gió tuyết mịt mù của vùng Bắc cực, hay đến sự huyền bí đến kinh sợ của những khu rừng già vùng hạ lưu sông A ma zôn... Chúng tôi như nuốt từng lời khi nghe anh Cường kể chuyện, trong lòng càng khao khát khám phá những thế giới mới.
Tính cách anh Cường như thế, làm cho chúng tôi càng mến anh Cường hơn.


2



Cả thị xã Sơn Hà, nơi gia đình tôi mới đến, chỉ có một rạp chiếu bóng nhỏ. Như tôi đã nói ở trên, rạp chiếu bóng này cách lớp tôi học ở đình An hậu không xa. Cứ giữa giờ ra chơi, tôi lại chạy ra rạp chiếu bóng ấy xem tối nay họ chiếu phim gì ?Ở đây họ chiếu nhiều phim đánh nhau của Trung Quốc, Liên Xô. Tôi thích xem phim chiến đấu của Trung Quốc. Kinh thật! Bát lộ quân (2) Trung Quốc, mặt người nào người nấy sát khí đằng đằng cầm cầm súng xông lên hết lớp người này, đến lớp người khác, lao vào chốn quân thù như lao vào chỗ không người. Còn người chỉ huy mới khiếp! Như chẳng sợ ai, ông ấy đứng giữa đỉnh đồi, tay giơ cao khẩu Pặc hoọc (3), không cần núp ở đâu, nổ súng pằng...pằng ...mà quân giặc chết như ngả rạ. Còn quân giặc, trên phim tôi thấy bắn lại Bát lộ quân bằng súng đại liên hẳn hoi, mà bên Bát lộ quân chẳng chết một ai, quân giặc cứ chết từng lớp, từng lớp. Lại có bộ phim chiếu cảnh quân du kích Trung Quốc bị quân Tưởng Giới Thạch bao vây chặt trong một hẻm núi, tưởng chết đến nơi. Thế mà chỉ cần nghe thấy tiếng thằng chỉ huy la thất thanh: “ Bát lộ quân đến rồi !”, thế là tất cả bọn lính Tưởng vội bỏ chạy tán loạn, còn quân du kích trong hẻm núi kia lại thoát, ôm hôn Bát lộ quân cười tít cả mắt.
Trong mấy người ở rạp chiếu bóng có một chú tên là Nhiên. Chú kết thân với tôi. Thật ra, chuyện chú Nhiên kết thân với tôi cũng rất tình cờ. Hôm đó, tôi ra chỗ mẹ duyệt tem phiếu mua thực phẩm, đúng lúc mẹ đang nói gay gắt với một người đàn ông:
- Lương của anh chỉ có ba mươi sáu đồng, tức là chỉ được hưởng phiếu D(4), thế mà anh khai khống lên là lương của anh năm mươi hai đồng để anh hưởng tiêu chuẩn phiếu C. Mà anh biết đấy, chỉ có cán bộ trung cấp mới được hưởng tiêu chuẩn đó, anh chỉ là nhân viên rạp chiếu phim, làm sao lại có thể “ ăn cắp ” tiêu chuẩn của ngừoi khác một cách trắng trợn như thế. May mà có người phát hiện sơm cho chúng tôi biết chứ không mỗi tháng nhà nước mất cho hai lạng thịt lợn, cả năm hơn một ki lô gam thịt lợn rồi còn gì.
Người đàn ông đứng trước mặt mẹ tôi, nét mặt thật thiểu não, cả người nhũn như con chi chi, nói van nài:
-Mong chị bỏ qua cho em, dù gì thì em cũng được hưởng tiêu chuẩn thịt lợn ba tháng bằng phiếu C. Mỗi tuần em được thêm ba lát thịt, ăn quen miệng mất rồi. Giờ chi cắt tiêu chuẩn của em, đau quá chị ạ! Mà nói thật với chị. Đây, chị nhìn bắp tay của em...- Người đàn ông đó co gập cánh tay, bắp tay nổi lên cuồn cuộn – Thử hỏi một thằng đàn ông như em, nếu một tháng không có thêm ba lạng thịt lợn, làm sao có bắp tay to như thế này ?
Nghe người đàn ông ấy nói, mẹ tôi càng bực mình :
-Anh đừng làm gương cho những đứa bé như con tôi đây hư hỏng. Anh nhớ nhé, đồng bào miền nam ở trong kia, họ có lát thịt lợn nào ăn đâu mà đánh quân Mỹ - Diệm, chúng thua chạy ầm ầm. Nếu như tôi chấp nhận việc làm của anh, đồng bào miền nam đang đánh giặc sẽ lên án tôi đó. Thôi, không nói nữa, anh về đi. Anh Nhiên!
Người đàn ông đó, tức chú Nhiên, lúc đó nhìn tôi có vẻ xấu hổ, lủi thủi ra về. Còn tôi nhìn chú ấy, thấy có vẻ quen quen...Về đến nhà, tôi chợt nhớ đến người đàn ông hay kẻ chữ tên phim lên cái bảng đen trước rạp chiếu phim. Đúng chú ấy rồi ! À, thế là tôi biết tên của chú ấy.
Hôm sau, tôi đi học sớm do phải trực nhật, hơn nữa tôi cũng muốn đến sớm, đi ngang qua rạp chiếu phim, xem thử hôm nay rạp chiếu phim gì. Đi ngang qua, tôi lại thấy chú Nhiên dang nắn nót kẻ chữ tên phim lên bản đen trước cửa rạp. Tôi dừng lại, ngó nghiêng một hồi, rồi nói đánh động cho chú ấy biết:
- Cháu chào chú Nhiên!
Chú Nhiên ngừng tay kẻ chữ, quay lại thấy tôi nét mặt của chú ngạc nhiên:
- Chào cháu! Nhưng làm sao ...cháu lại biết tên chú ?
Tôi cười giải thích:
- Hôm qua chú ở chỗ của mẹ cháu, mẹ cháu nói tên của chú, cháu biết đấy!
- Chỗ mẹ cháu là chỗ nào? – Quả thật chú Nhiên không để ý chuyện hôm qua tôi chứng kiến chú bị mẹ tôi mắng.
- Chỗ mẹ cháu phát tem phiếu ấy –Tôi nói với chú Nhiên bằng thái độ thành thật.
- Ờ...ờ...chú hiểu rồi...Ờ...ờ...chú nhớ rồi ...- Thái độ chú Nhiên tự nhiên lúng túng, hai tai đỏ lựng. Rồi chú đánh trống lảng – Thế cháu cũng học ở tận đây cơ à ! Từ đấy về đây đi bộ xa lắm. Mà cháu học lớp của cô Phương dạy phải không ? Hôm nay cháu đi học sớm nhẩy?
Tôi hoàn toàn không để ý những điều chú Nhiên hỏi mà chỉ chú ý tối nay rạp chiếu phim gì :
- Chú Nhiên ơi! Tối nay rạp có chiếu phim chiến đấu không ?
- Có chứ cháu ! Một bộ phim chiến đấu của Trung Quốc , tên phim là “ Tiễu phỉ trên sa mạc”. Phim này à ! Cứ gọi là chiến đầu từ đầu phim đến cuối phim. Cháu có thích xem phim chiến đấu không ?
Tôi gật đầu, vì điều đó chính là sở thích của tôi. Chú Nhiên cũng gật đầu, có vẻ đồng tình rồi chú quay vào bảng kẻ chữ tiếp. Tôi định quay ra vào lớp ở đình An Hậu, thì chú Nhiên gọi giật lại:
- À! Cháu gì ơi!
Tôi dừng lại:
- Chú gọi cháu!
- Ờ , tên cháu là gì nhỉ ?
- Dạ, cháu tên là Thắng .
- Tên là “ Thắng ”, cái tên nghe hay đấy- Chú Nhiên nhìn tôi, cười mỉm. Cái nụ cười của chú tôi không hiểu hết ý nghĩa – Thế này cháu ạ! Chú cháu mình biết nhau rồi, nếu cháu thích xem phim thì nói trước với chú, chú sẽ cho cháu vào xem.
Nghe chú Nhiên nói vậy, tôi rất vui. Nhưng...tôi nói thật với chú :
- Cháu không có tiền, chỉ thỉnh thoảng mẹ cháu mới cho cháu tiền đi xem phim thôi.
Chú Nhiên nghe vậy, vội xua tay:
- Không có vấn đề gì đâu...Cháu thích xem phim gì, nói trước với chú, tối đó cháu sẽ được xem phim với chỗ ngồi đàng hoàng.
- Thật không chú ? – Tôi nghe chú Nhiên nói mà như không tin đó là sự thật.
- Thật chứ lị! – Chú Nhiên bắt tay tôi như khẳng định một lần nữa lời hứa của mình.
Tôi khoái quá, bắt tay chú Nhiên xong quên cả chào chú chạy ngay vào lớp ở đình An Hậu. Tôi phải báo tin này ngay cho thằng Oanh. Thằng Oang nghe tin đó, nó cũng háo hức không kém gì tôi:
- Mày nói với chú ấy cho tao xem với. Giả dụ như chỗ ngồi chỉ vừa một người, mày nhích cái mông vào một tý, tao ngồi chớm thôi, thế là hai thằng có thể ngồi xem chung được mà không ảnh hưởng xung quanh.
- Liệu chú Nhiên có đồng ý không ? – Tôi hơi phân vân.
- Thì mày cứ cố hỏi thử xem, biết đâu chú ấy cho – Thằng Oanh nói với tôi giọng thèm thuồng.
Tưởng là dễ như thế, nhưng khi tôi nói lại với chú Nhiên đè nghị của thằng Oanh, chú ấy lắc đầu quầy quậy, phản ứng rất gay gắt:
- Chuyện xem phim không mất tiền, chú chỉ cho riêng cháu thôi, không thể đưa bạn của cháu vào đây được. Ông rạp trưởng biết chuyện chú đưa cháu vào rạp xem phim không mất tiền là ông ấy sẽ kỷ luật chú. Cho nên chuyện này là tuyệt đối bí mật, chỉ có cháu và chú biết.
Nghe chú Nhiên giải thích thế, tôi đành chấp nhận. Được rồi, khi xem phim tôi sẽ cố gắng thật tập trung, nhớ từng chi tiết trên phim, về kể lại cho Oanh nghe.
Thế là, bắt đầu từ hôm đó, hễ rạp có phim gì mới là lập tức tôi được xem. Mỗi buổi tối, tôi nói dối mẹ là đi học nhóm rồi tôi cầm cả cặp sách đến rạp, ở đó chú Nhiên đã đón tôi. Chú Nhiên đưa tôi vào một góc rạp, cho mượn một cái ghế con, tôi ngồi xem. Tất nhiên ngồi xem phim như vậy không thỏa mái lắm. Song điều đó đối với tôi không hề gì, còn hơn bao nhiêu đứa trong lớp, chúng muốn được một phần như tôi, nào đâu có được.
Tôi kết thân với chú Nhiên từ đó. Quả thực trước mắt tôi, chú Nhiên là người cực kỳ tốt. Chú “tốt” như thế mới cho tôi xem phim không mất tiền chứ.
Một hôm, lúc tan lớp, tôi định về thì lại thấy chú Nhiên đợi tôi ở một chỗ khuất. nghe thấy tiếng chú gọi, tôi vội chạy lại:
-Có viện gì không, chú ?
Chú Nhiên kéo tay tôi ra một chỗ rất vắng , đôi mắt chú láo liếng còn nhìn xung quanh xem có ai để ý không ? Rồi chú nói thì thầm vào tai tôi:
- Chú có việc nhờ cháu. Cháu mà làm tốt việc này thì tha hồ mà xem phim, lại có cả tiền tiêu nữa, khỏi phải xin mẹ.
Nghe chú Nhiên nói, tôi chẳng hiểu gì cả. Chú bảo “ làm tốt” thì tha hồ xem phim !!! nhưng mình phải biết làm việc gì đã chứ .Tôi hỏi:
-Chú định nhờ cháu việc gì ?
- Cháu có hay vào chỗ các cô, chú bán thịt lợn không ?
- Dạ, có ! Cháu hay vào đấy chơi. Nhưng ... chú ...
- Ấy, cháu nói khe khẽ chứ ! Thế này này, chú bày cho cháu. Cháu xem có thể lấy được những tem cung cấp mua thịt lợn đã bán rồi ấy, mang nó ra đây cho chú...
-Để làm gì hả chú !
- Việc tiếp theo là để chú lo. Còn cháu, nếu lấy được nhiều thì ...tha hồ xem phim. Chú hứa danh dự đấy!
Trước mắt tôi lúc này, hiện lên cái túi xách của mẹ. Mỗi buổi tối, khi ăn cơm xong, mẹ thường hay đổ những cái tem thịt lợn đã bán ở trong túi ra để phân loại rồi cặm cụi ghi chép. Có khi nhiều tem quá, mẹ lại nhờ tôi phận loại giúp. Như vậy, việc chú Nhiên nhờ, không phải là việc quá sức đối với tôi. Nhưng tôi vẫn thấy việc này “ thế nào” ấy, không biết có “ sai ” không ?
Thấy tôi lưỡng lự, chú Nhiên lắc đầu:
- Có mỗi một việc bé con con thế mà cháu cũng làm được. Vậy mà cháu nói với chú, mai này lớn lên sẽ làm công an bắt gián điệp.
- Nhưng... ý cháu muốn hỏi chú là việc này có phải giống như “ ăn cắp” không ?
Chú Nhiên nghe tôi hỏi vậy, hơi giật mình, thái độ có phần lúng túng rồi chú cười giả lả :
- Ăn cắp đâu mà ăn cắp. Ở đây cháu lấy những tem thịt lợn mà cửa hàng của mẹ cháu đã bán rồi đưa cho chú ...Ai cần thứ đó làm gì nữa .
- Nhưng cháu đưa những tem đó cho chú, chú lấy làm gì ? – Tôi vẫn thắc mắc.
Chú Nhiên có vẻ khó trả lời những câu hỏi của tôi. Tự nhiên chú bực mình :
-Thôi, chú không nhờ cháu nữa. ngày mai chấm dứt việc cháu vào xem phim không mất tiền. Chú hơi buồn, chú đã cho cháu xem phim không mất tiền, thế mà chú nhờ cháu có mỗi một việc nhỏ như thế, cháu lại không giúp chú.
Thoáng suy nghĩ, nghe chú Nhiên nói vậy, tôi tiếc thực sự. không chần chừ nữa, tôi liền gật dầu :
- Được rồi, cháu sẽ giúp chú !
Thế là mỗi tối, khi mẹ tôi ngồi phân loại tem phiếu bán thịt lợn trong ngày, tôi tìm cách tranh thủ ngồi bên cạnh. Nhân lúc mẹ không để ý , tôi nhanh tay đút vào trong túi một, hai cái tem phiếu bán thịt lợn trong ngày để hôm sau đưa mấy cái tem phiếu ấy cho chú Nhiên.
Cầm mấy cái tem phiếu mua thịt lợn, nét mặt của chú Nhiên có vẻ hoan hỉ, khen ngợi tôi và chú tiếp tục... cho tôi vào xem phim không mất tiền mua vé.
Chú Nhiên bảo tôi giữ bí mật chuyện này, tôi lại không giữ được.
Một lần, sau buổi chiếu đầu tiên bộ phim “ Con chim vành khuyên”. Tôi háo hức kể nội dung phim cho anh Cường nghe. Anh Cường hỏi tôi:
- Anh xếp hàng cả buổi chiều, không mua được vé. Còn em làm thế nào mà “ chui” vào rạp?
- Em có cách... mà cách này thì không thể kể với anh được!
Tôi có biết đâu, nói kiểu như thế càng kích thích sự tò mò của anh Cường. Anh Cường véo tai tôi:
- Em không nói, anh véo đứt tai đấy!
Anh vặn xoáy tai của tôi, đau quá, tôi đành phải nói sự thật vì sao mình có thể vào xem phim không cần mua vé. Nghe tôi kể xong, anh Cường nhìn tôi, lắc đầu:
- Thôi chết! Sao em lại dại thế...Mà sao lão Nhiên lại xui trẻ con làm một việc bậy bạ thế nhỉ !
Tôi không đồng ý với nhận xét của anh Cường:
- Chẳng phải thế, anh Cường ạ! Chú Nhiên tốt lắm. Chú chỉ nhờ em có thế, em mới lấy cho chú vài cái tem thôi mà được xem phim tha hồ. Đấy ! Tối nay chú ấy bảo , rạp chiếu bộ phim “ Hầm bí mật bên bờ sông En Bơ”, phim chống gián điệp hay lắm. Em ăn cơm sớm đi xem, chú Nhiên xếp chỗ cho em rồi.
Tôi nói như thế cũng chẳng làm thay đổi nét mặt của anh. Nét mặt của anh Cường vẫn cương quyết, bàn tay anh ấy co lại như chuẩn bị đấm ai, miẹng anh lẩm bẩm:
- Phải cho lão này một bài học, không được lợi dụng trẻ con.
Hôm sau, quả nhiên có một trận cãi nhau rất to giữa anh Cường và chú Nhiên. Anh Cường nói với tôi đi với anh đến gặp chú Nhiên để làm chứng. nghe vậy tôi sợ vãi đái ra quần. Ra làm chứng để chết à !Hơn nữa, đang được lợi thế là xem phim không mất tiền, chỉ vì mắc bệnh hay “ khoe” mà cuối cùng... Chắc chú Nhiên sẽ không tha cho tôi chuyện này!!!
Y như rằng, sau cái hôm anh Cường gặp chú Nhiên để to tiếng, chú Nhiên tránh hẳn không muốn gặp tôi. Một lần tôi định gặp chú để thanh minh, không ngờ vừa gặp tôi, tôi chưa kịp chào chú, thì chú đã buông ngay một câu: “ Đồ phản bội!”, rồi chú đi thẳng.
Ngay đến lúc ấy tôi vẫn chưa hình dung được sự nghiêm trọng của sự việc này cho lắm. Nhưng đến một tối, khi về đến nhà tôi mới biết việc chú Nhiên bảo tôi lấy mấy cái tem phiếu đưa cho chú vượ quá sự suy nghĩ đơn giản của tôi.
Mẹ đợi cho tôi ăn cơm xong, rồi mẹ dọn thật gọn ghẽ. Mẹ gọi tôi lại bàn. Nét mặt của mẹ thật nghiêm, làm cho tôi sợ:
- Mẹ muốn hỏi con một chuyện.
Linh tính như mách bảo tôi, đây không phải là một chuyện bình thường. Tôi đi thật chậm đến gần mẹ, ngồi xuống. Em Minh ngồi ở giường đưa mắt ngơ ngác hết nhìn tôi lại nhìn mẹ. Mẹ hỏi tôi chậm rãi, rõ ràng:
- Mấy tối vừa qua con đi học nhóm, phải không ?
Tôi hơi lo sợ vì mình đã nói dối.Thực tế, tôi đâu có đi học nhóm, tổ mà đi xem phim.Tôi run, không dám trả lời. Mẹ tôi nhắc lại, giọng nghiêm hơn:
- Sao mẹ hỏi, con không trả lời!
Tôi định cố nói mà không thể nào cất giọng được, chân tay như không thể là của mình nữa, mồ hôi trên mặt đổ ra ròng ròng. Mẹ tôi đi lấy một cái roi mây, một điều ít khi bà làm đối với tôi. Tôi đành phải thú thật:
-Con nói dối mẹ, con không đi học!
- Con đi đâu ?
- Con ...con ...
- Con nói nhanh lên. Không đi học thì con đi đâu?
Vừa mếu máo, tôi vừa kể lại sự thật, mắt vẫn dè chừng chiếc roi mây mẹ đang cầm trên tay:
-Con đi...đi ... xem phim...
Mẹ tôi hạ giọng:
- Thế tiền con lấy ở đâu mà mua vé xem phim?
Điều mẹ tôi hỏi mới thực là khó trả lời, mà không trả lời thành thực thì tôi cũng không biết trả lời như thế nào nữa :
- Con không có tiền, chú Nhiên cho con vào xem phim không mất tiền.
Hình như mẹ tôi đã biết rõ tất cả mọi chuyện rồi, nhưng mẹ tôi muốn tôi phải nói ra sự thật. Cũng khó cho tôi quá. Tôi nhìn lên trần nhà. Góc trần nhà có một con ruồi sa vào lưới nhện, nó đang cố vùng vấy để thoát. Tôi nhìn kỹ, nó càng vùng vẫy hình như chân càng dính chặt vào lưới nhện dệt. Mẹ thấy tôi không trả lời cứ ngó trân trân lên trần nhà, bà giục:
- Con phải trả lời cho mẹ rõ, vì sao chú Nhiên lại cho con vào xem không mất tiền ?
Con nhện to không biết nó núp ở chỗ nào, bây giờ nó mới từ từ bò ra chuẩn bị ăn thịt con ruồi sa bẫy. Còn tôi, tôi đã bị mẹ dồn vào con đường cùng rồi. Chỉ có nói thật mới là con đường cứu tôi :
- Chú Nhiên nói với con, lấy trộm của mẹ mấy cái tem phiếu mua thịt lợn đưa cho chú...chú cho vào rạp xem phim không mất tiền...
Nghe vậy, mẹ tôi lập tức cầm chiếc roi mây giơ cao lên. Theo phản sạ, tôi ôm lấy đầu, nhắm mắt. Mẹ tôi giơ roi lên, nhưng lại không đánh tôi. Mẹ hạ cái roi mây xuống, ngồi khóc. Vừa khóc, mẹ vừa nói:
- Con ơi! Sao con lại dại thế ! Cùng một lúc con đã phạm hai khuyết điểm. mà khuyết điểm nào cũng trầm trọng cả. Tội nói dối là cái tội cả ba và mẹ rất ghét, thêm vào đó, con lại mắc thêm cái tội ăn cắp nữa. Làm sao ba, mẹ lại có một đứa con hư hỏng đến như thế. Con biết không ? mấy hôm vừa rồi, kiểm tra lại sổ sách ,.mẹ thấy mất mấy cái tem thực phẩm loại C, nhưng mẹ không hề nghĩ là con lấy. Mẹ nghĩ, có thể mình vô tình đánh rơi, mẹ đã viết bản kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật trước các cô chú trong cơ quan...
Mẹ lấy tay chùi nước mắt. Bây giờ tôi mới thấy thực sự ân hận cho việc làm không phải của mình:
- Con xin lỗi mẹ!
Mẹ ôm em Mình vào lòng, nói tiếp:
- May cho con đấy ! Anh Cường lại đây nói chuyện naỳ với mẹ, lại nữa, mẹ cũng thấy đây là lần đầu, con cũng biết nhận lỗi, mẹ có thể tha thứ cho con. Còn lần sau, nếu con vi phạm, tái diễn lại việc này, con đừng trách mẹ...
Tôi cúi đầu, im lặng.
Mẹ tôi là như vậy, vẫn một tấm lòng bao dung, thương con vô hạn.
Một bài học đầu đời, tôi vô cùng thấm thía.
Đúng là mọi chuyện ở thị xã này không hề đơn giản như hồi tôi ở Quốc. Ít nhất trong đầu óc non nớt của tôi, tôi đã lờ mờ nhận ra như thế. Hồi ở Quốc, cũng có lúc chúng tôi nói dối người lớn để đùa nghịch, nhưng đó cũng chỉ là những trò đùa tếu, chẳng làm người lớn giận. Thậm chí nếu có ai biết lại là một trận cười no bụng và không hề có chuyện người lớn lợi dụng trẻ con làm những trò như chú Nhiên bày cho tôi.
Tôi có một chút lớn khôn trong những chuyện như thế này.


HẾT PHẦN 1 – TẬP 1

Chú thích:

-(1)- Galen – Để nghe được đài tiếng nói Việt Nam, ở miền bắc lúc đó ( 1956 -1958) người ta thường mắc dây thép vào hai cây sào thật cao lấy sóng. Ròng xuống bên dưới là một cái hộp nhựa nhỏ, bên trong có thiết kế bộ phận thu sóng đơn giản, để áp vào tai nghe đài.
- (2) Bát lộ quân - Tên gọi của Quân đội Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến chống Tưởng Giới Thạch.
- (3) Pặc Hoọc – Súng lục của quân Mao Trạch Đông
-( 4) – Thời bao cấp ở miền bắc – Việt Nam – bán thịt lợn theo chế độ tem phiếu. Phiếu D của cán bộ ( Tôi nhớ không chính xác) mỗi tháng được mua 1/2 cân thịt lợn

TRUYỆN THIẾU NHI | Nhận xét(0) | Trích dẫn(0) | Đọc(3154)
Viết nhận xét
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]