[Truyện thiếu nhi] Giữa vườn cây xanh lá - Tập II - [Truyen thieu nhi] Giua vuon cay xanh la - Tap II - Trần Kỳ Trung - Website Trần Kỳ Trung - Nhà thơ, nhà văn

TẬP II

Trưởng Thành
Tập 2 – Phần 1
1
Giữa hè năm ấy, chúng tôi được lệnh đi sơ tán vì máy bay Mỹ đã ném bom rất gần thị xã. Chúng tôi không được sinh hoạt tập trung nữa, phải phân tán thành từng tổ. Những trò chơi như đá bóng, cắm trại... mà mùa hè trước chúng tôi hay tổ chức, giờ đã trở thành những ước mơ. Cũng không còn những cánh diều thả lưng chừng trời để chúng tôi nhìn lên trong ánh mắt hân hoan mỗi buổi chiều, cũng mất hẳn những trò chơi đánh trận giả hằng đêm... Trong thị xã, mọi hoạt động, nhất là về ban đêm, trầm lắng hẳn, thật buồn. Rạp chiếu phim đóng cửa, những tấm biển quảng cáo không còn đề tên phim mới, chữ phấn nhạt nhòa, không ai buồn đọc. Ban đêm, cả thị xã không một ánh đèn điện, các căn nhà đều leo lét những ánh đèn dầu. Đã thế, đèn đầu ánh sáng leo lét phải che, không cho hắt ra bên ngoài, sợ máy bay Mỹ thấy. Cả thị xã ngủ mà như thức. Chỉ một tiếng ì ì rất xa, còi báo động cất lên, tất cả mọi người vội lao ra hầm, tâm trạng chờ đợi cực kỳ căng thẳng...
Mọi thứ thực phẩm trong thời kỳ này đều rất quý. Có cái gì gọi là ăn được, nhà nào nhà nấy cố tích lũy, nhất là gạo và mì sợi. Khổ nhất đối với chúng tôi, có bao nhiêu quần áo trắng hoặc màu nổi nổi một tí đều phải nhuộm thành màu xanh tất. Mà loại áo quần kiểu ấy, tôi với thằng Oanh cũng có kha khá, nếu như mang đến cửa hàng nhuộm ở chợ thì mất nhiều tiền, xót ruột lắm. Phải có cách nào chứ? Cạnh chợ có một dãy hàng quán bán thịt lợn, bán bún chả, bán bánh kẹo... trong đó có cả cửa hàng nhuộm quần áo nữa. Thằng Oanh bỏ cả một buổi quan sát cửa hàng nhuộm của bà Béo, rồi nó nói với tôi:
- Tao với mày khỏi phải xin tiền mẹ để nhuộm áo quần rồi Thắng ạ! Tao phát hiện bà Béo để nước nhuộm màu xanh vào cái chảo ở góc bếp của cửa hàng bà ấy, ngày mai bà dùng cái nước ấy nhuộm hàng cho khách. Tối nay, khoảng mười giờ, tao với mày ôm đống áo quần, đột nhập đằng sau, nhúng quần áo vào đó thành màu xanh rồi ôm về giặt lại, đỡ tốn tiền, tiền đó để mua thứ khác.
- Đúng thế không?
- Hôm qua tao đã nhìn kỹ lắm rồi, tối nay cứ thế thực hiện thôi –Thằng Oanh nói khẳng định với tôi.
Tối ấy, cả khu chợ tối như hũ nút, trời lại mưa lâm râm xung quanh tịch bóng người. Tôi cùng thằng Oanh ôm đống quần áo chui được qua một hàng rào dựng lên bằng dây thép gai rỉ, đến được cửa hàng nhuộm của bà béo. Tôi cứ đinh ninh thằng Oanh đã quan sát kỹ. Vì từng đường đi, nước bước có vẻ nó chỉ cho tôi rành rẽ lắm. Chúng tôi đột nhập được vào trong. Đến gần một cái chảo to có úp cái vung làm bằng tôn bên trên, tôi hỏi lại thằng Oanh:
- Chắc chắn cái chảo này chứ?
- Đúng quá còn gì! – Nó giục tôi – nhấc nắp vung lên cho quần áo vào đi!
Trong đêm tối, hai thằng tôi mò mẫm, lịch kịch nhấc nắp vung tôn lên, ấn vội đống quần áo vào bên trong cái chảo... Vội vàng, lại không nhìn rõ nữa, khi đống quần áo ấn vào thì một mùi chua chua, nồng nồng xộc thẳng vào mũi hai đứa. Tôi thò hẳn tay vào bên trong. Cái gì thế này? Không có nước mà là cái gì đó sền sệt, nằng nặng... bết lấy tay tôi. Tôi đưa tay lên mũi ngửi. Chết cha tôi rồi! Tôi và Oanh đã nhúng quần áo vào cái chảo họ... nấu cám lợn!
Tôi hốt hoảng:
- Oanh ơi! Đây là chảo người ta nấu cám cho lợn ăn, sao mày lại bảo là chảo đựng nước nhuộm quần áo? Làm sao bây giờ.
Thằng Oanh cũng hốt hoảng không kém tôi:
- Tao quan sát kỹ lắm rồi cơ mà, tại sao thế nhỉ? – Nó lọ mọ ra góc nhà bếp rồi thốt lên – Bỏ mẹ, đây mới là chảo đựng thuốc nhuộm, họ lại bỏ xuống đặt cái chảo đựng cám lợn lên thay.
Tôi quá tức giận:
- Mày là thằng hậu đậu, lẽ ra phải nhìn cho kỹ chứ...
Oanh “phản pháo”:
- Họ thay chảo, làm sao tao biết được? Có giỏi mày đi làm thay tao đi...
- Mày chỉ được cái to mồm...
- Mày có hơn gì tao, cũng to mồm...
- Mày nói cái gì? Nhìn kìa, cả đống áo quần giờ thì thành cám lợn.
Cũng vừa lúc ấy, bên ngoài có ánh đèn pin chiếu loang loáng, rồi tiếng người hỏi:
- Ai trong quán đấy nhỉ, nói gì thế? Có ra ngoài này không?
Thôi chết rồi, tiếng ông Tự bảo vệ chợ. Tôi và Oanh hồn vía lên mây. Ông Tự đến cửa hàng bà Béo mở chốt cửa , chiếu đèn pin vào hai đứa. Thấy tôi và Oanh đứng như trời chồng, ông Tự giật mình:
- Hai cháu làm gì ở đây?
Ông lia ánh đèn pin vào chảo nấu cám lợn thấy lều bều một đống áo quần, ông càng ngạc nhiên:
- Các cháu định làm cái trò gì thế này?
Không còn cách nào khác, chúng tôi đành thú thật mọi chuyện. Ông Tự lắc đầu, bắt chúng tôi vớt quần áo ra, mang về nhà giặt lại. Nhìn chúng tôi khổ sở vớt quần áo dính be bét trong cái chảo cám lợn ra, ông Tự ngán ngẩm, lắc đầu:
- Thế mà ông cứ tưởng bắt được quân... ăn trộm. Ai dè “ bắt” được hai ông tướng có sáng kiến nhuộm quần áo bằng cám lợn...
Suốt hè năm ấy, nhiều đứa bạn gặp tôi và Oanh hay đề nghị:
- Bao giờ chúng mày đi nhuộm quần áo bằng cám lợn, cho chúng tao đi với. Mà này, sau khi nhuộm bằng kiểu ấy thì quần áo sẽ ra màu gì chúng mày nhỉ?
Rõ là một phút không cẩn thận để thành một bài học nhớ đời.




Không khí chiến tranh tràn ngập thị xã. Không ngày nào là không nghe thấy tiếng bom nổ, ban đêm nhìn lên, đạn bắn lên đỏ cả một góc trời. Chỉ thị của trên là phải cho tất cả học sinh đi sơ tán gấp.
Thế là chúng tôi lên đường.
Mẹ cho hết áo quần, chăn màn của tôi và em Minh vào một cái bọc vải to đùng. Mẹ lấy thịt nạc giã làm ruốc để ăn dần. Trước khi anh em tôi đi sơ tán, mẹ còn đưa mấy phong lương khô Trung Quốc. Mẹ dặn tôi:
- Mấy phong lương khô này chỉ dùng khi nào thật cần thiết, nghĩa là không còn cái gì, con với em Minh mới được mang ra ăn. Đi sơ tán, hai anh em không được nghịch ngợm. Thứ bảy, thu xếp được, mẹ sẽ lên thăm...
Không hiểu với người khác thế nào chứ đi sơ tán về lại vùng nông thôn, tôi khoái lắm. Bao nhiêu kỷ niệm hồi ở Quốc cứ lần lượt hiện về. Sẽ có trò đi tát cá, có cả trò đi chăn trâu bắt dế để nướng, rồi thả diều nữa...Tôi sẽ chứng tỏ cho thằng Oanh biết.
Tất cả bọn tôi được tập trung thành một đoàn, cũng không đông lắm. Chịu trách nhiệm chung là anh Cường và chị Liên, đúng theo ý nguyện của chúng tôi mà cũng đúng theo ý nguyện của hai người - Đó là suy nghĩ của tôi. Anh Khanh phải ở lại phụ trách dân quân và công tác tuyển quân cho khu phố. Lúc anh Cường đứng cạnh chị Liên phổ biến những nội quy khi đi sơ tán, tôi để ý thấy anh Khanh nhìn anh Cường với ánh mắt rất tức tối. Tôi biết chắc anh Khanh không thích anh Cường gần chị Liên, nhưng không biết làm sao.
Nơi chúng tôi đến là một nơi thật xa thị xã, đạp xe đạp cũng phải mất gần một ngày... Bọc quanh làng là những hàng tre xanh ngát. Ngay rìa làng bên này là một cái đầm sen lớn, chúng tôi đến đúng lúc sen nở, nhìn đến hút tầm mắt chỉ thấy những cánh sen hồng đung đưa theo gió, hương thơm dìu dịu. Rìa bên kia làng là một nhánh của con sông lớn, mùa này nước cạn, rất trong, chúng tôi không cần bơi mà có thể lội qua, lội về không sợ chết đuối. Tôi khoái ra mặt. Nhìn con sông, tôi nhớ hồi ở Quốc tắm ao với chúng bạn. Tưởng sẽ không còn bao giờ được vùng vẫy trong làn nước trong xanh nữa...
Trước mắt, do chưa làm được trại tập thể, anh Cường và chị Liên phân chúng tôi ra thành từng nhóm nhỏ tỏa về các gia đình trong làng. Anh em tôi được phân về ở với gia đình ông Mẹo.
Vợ chồng ông Mẹo có hai người con, người con trai nghe đâu làm tận Hòn Gai - Móng Cái, một năm về nhà đôi ba lần, còn người con gái của ông bà lấy chồng ở tỉnh bên, thỉnh thoảng có đưa con về thăm ông bà ngoại. Chúng tôi được ông, bà coi như cháu con trong nhà. Khi anh Cường đưa hai anh em tôi đến, ông bà mừng lắm. Ông Mẹo ra tận cổng đón chúng tôi, đưa cả hai vào nhà, chỉ một tấm phản rộng kê ở góc nhà, nói xởi lởi:
- Hai cháu nằm đây. Ăn cơm với nhà ông cũng được. Ông có sẵn hai chum cà muối, cứ gọi là ăn cả năm cũng không hết...
Anh Cường có vẻ vui vì không khí thân mật của gia đình ông Mẹo:
- Thưa ông, tạm thời chưa có trại nên chúng cháu gửi hai em đến ở tạm nhà ông bà, khi nào trại làm xong, chúng cháu sẽ đón hai em về. Các em còn nhỏ tuổi, có điều gì không phải, mong hai ông bà cứ chỉ bảo.
Bà Mẹo nói vui:
- Không nghe là tôi lấy roi quật quắn đít ấy chứ! Ấy, bà nói vui thế thôi – Bà xoa đầu em Minh – Trông kháu khỉnh thế này, nỡ nào bà đánh cháu, có phải không nào?
Tối đầu tiên ngủ trong nhà lạ, em Minh nhớ mẹ, khóc thút thít. Tôi không ngủ được, nhớ mẹ, nhớ bố. Giờ này, không biết bố đã ở tận đâu? Còn mẹ chắc cũng nhớ anh em tôi, không ngủ được. Tôi lại nhớ cái thị xã nhỏ nhoi của tôi, nhớ đến từng gốc cây bàng, nhớ những tối cùng Oanh đi bắt ve, rồi chiều nào hai đứa vác một cái sào dài ngoẵng, một đầu dính nhựa mít đi lang thang bắt chuồn chuồn... Khuôn mặt tôi nhớ nhất là thằng Bình. Giá như nó còn sống, biết đâu nó cũng đi sơ tán với chúng tôi. Nó là thằng chịu khó, ở hoàn cảnh này, nó sẽ bày cho chúng tôi bao nhiêu trò...
Tôi đang miên man với bao kỷ niệm thì từ trong buồng bà Mẹo bước ra, tay cầm ngọn đèn dầu. Bà lại gần chỗ anh em tôi nằm. Có lẽ tiếng khóc của em Minh làm bà thức giấc. Bà hỏi tôi:
- Thắng ngủ chưa cháu?
- Dạ, cháu chưa ngủ! – Tôi trả lời.
- Thế sao em Minh lại khóc? – Bà Mẹo để cái đèn dầu lên bàn, vén màn đến ngồi cạnh em Minh.
- Có lẽ em nhớ mẹ, bà ạ. Anh em cháu chẳng bao giờ xa mẹ như thế này.
- Ờ, ờ... bà hiểu rồi. Sư bố thằng Mỹ, làm cho cháu của bà phải xa bố, mẹ.
Rồi bà Mẹo dỗ dành thằng Minh bằng tiếng ru:
À... ơi...
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều...
À... ơi...
Con ơi, con nhớ câu này
Công cha, nghĩa mẹ đều dày như nhau
Có sống đến muôn ngày sau
Ơn trả, nghĩa đáp chẳng bao giờ bằng...
Cứ thế, bà Mẹo ru hết câu này đến câu khác. Em Minh và cả tôi nữa chìm vào giấc ngủ say lúc nào không hay...
Tôi nhập vào gia đình ông bà Mẹo rất nhanh. Mót lúa tôi cũng làm được, phơi rơm đối với tôi không hề xa lạ, cắt cỏ cho trâu, tôi từng quen tay.
Bà Mẹo khen:
- Bà phục cháu đấy! Con trai thành thị mà làm chẳng thua mấy đứa ở thôn quê. Ai dạy mà cháu làm giỏi thế?
Bà Mẹo có biết đâu tôi đã có một thời kỳ dài ở nông thôn. Hảo đi đâu, tôi đi đấy, Hảo làm cái gì, tôi làm cái nấy, thạo hết tất cả các công việc. Nghe bà Mẹo hỏi thế, tôi chỉ cười, không trả lời.
Đến giờ thì thằng Minh cũng quen nơi ở mới. Nó giống tôi, coi ông bà Mẹo như ông bà của mình. Bà Mẹo tội lắm, có củ khoai nướng cũng để dành cho anh em tôi. Đi làm đồng bắt được con cà cuống, bà cũng lấy rơm buộc cánh về đưa cho em Minh... Mẹ tôi lên thăm hai anh em, thấy tình cảm của ông bà Mẹo như vậy, có vẻ yên tâm. Bà Mẹo nói với Mẹ:
- Cô cứ để hai cháu ở đây, tôi trông cho. Chú ấy vì nước phải đi bộ đội, còn cô lại bận công tác nhà nước phân công, toàn là việc vất vả...
Mẹ tôi nói mà rơm rớm nước mắt:
- Con biết ơn bố mẹ lắm...
Hàng ngày, tôi và em Minh lên trại sinh hoạt đội do anh Cường và chị Liên chỉ huy. Buổi trưa và buổi chiều thì hai anh em tôi đến bếp ăn cơm, còn buổi tối chỉ điểm danh rồi về từng gia đình ngủ. Tối có trăng là tôi thích nhất, có thể đùa thoải mái mà chẳng ai cấm đoán. Bọn trẻ trong làng cũng rất thích đùa với chúng tôi. Từ ngày trại sơ tán về đây, không khí ồn ào hơn. Ở đây có những bãi cỏ rộng tít tắp, đêm trăng chia phe đánh trận giả thích ơi là thích. Chúng tôi có thể chơi đến tận khuya. Chơi xong, nếu đói, bọn trẻ trong làng lại rủ chúng tôi lội qua sông, đến các bãi ngô của mấy xã bên ăn trộm mang về nhà luộc.
Tối hôm ấy, mấy đứa ở trong thôn cùng bọn tôi quyết định sang bên kia sông ăn trộm ngô. Chúng tôi phân công mấy đứa con gái ở bên này bờ trông quần áo, còn bọn con trai bí mật lội qua sông. Sông cạn, nước chỉ đến lưng chừng bụng, bọn tôi nhón chân đi thật khẽ, cố không để phát ra tiếng động, đầu cố cúi thật thấp, thần kinh căng thẳng, mắt không chớp, cố phát hiện ra những điều bất trắc, tai tập trung lắng nghe mọi tiếng động. Thật lòng, tôi khoái cảm giác này. Cứ như các chú bộ đội đi trinh sát đồn địch. Cánh đồng ngô, ngô đang lên bắp, ken dày. Dưới ánh trăng, bãi ngô như được tráng một lớp mỡ mỏng, lấp lóa thật đẹp. Bọn trẻ trong làng cho tôi biết, chúng cũng đã mấy lần ăn cắp ngô trót lọt. Còn lần này...
Chúng tôi tiến lại gần bờ, nhìn quanh thấy im ắng, hơi yên tâm, toan tiến vào gần tí nữa. Bỗng từ đâu, đất ném ra tới tấp, có những tiếng hét:
- Ném mạnh vào! Bọn thành phố đến ăn cắp ngô, chúng mày ơi!
Bọn tôi hoảng quá, vội quay ngược trở lại. Đất vẫn thi nhau choảng xuống. Thằng đi cạnh tôi nói:
- Mày phải lặn xuống nước mà đi. Hở đầu lên, chúng thấy là ném trúng đấy!
Tôi vội làm theo lời nó. Cũng còn may, sông cạn, hai bờ hẹp, chỉ mấy bước, chúng tôi sang được bên bờ bên này, hoàn hồn...
Sáng sau, anh Cường biết chuyện, lôi chúng tôi ra kiểm điểm một trận ra trò. Cũng sợ những trò chơi dại dột, chị Liên góp ý với tôi:
- Sang năm, các em học lên cấp ba rồi, không còn là trẻ nhỏ nữa, làm thế nào để mọi người nhìn vào thấy chúng ta là người có văn hóa...
Bình tâm, tôi mới hiểu lời góp ý của chị Liên. Có lẽ không nên có những trò chơi như vậy nữa...
Cũng nhờ về lại thôn quê, tôi biết được bao nhiêu điều mới. Như chuyện uống trà chẳng hạn. Tôi cứ nghĩ việc pha trà quá đơn giản. Mỗi lần về phép, ăn cơm xong, bố thường tự pha trà. Bố súc cái ấm thật sạch, cho vào nhúm trà, rót nước sôi, mang ra bàn, vừa đọc báo Nhân Dân, vừa xỉa răng tanh tách, đợi trà ngấm, rót nước trà ra cái chén mẻ miệng... Đấy là tôi kể dài dòng chứ có hôm, còn đơn giản hơn nhiều.
Nhưng với ông Mẹo, việc uống trà là cả một quá trình, như ông nói: “Đó là thể hiện một cách sống, cháu ạ!”.
Như tôi nói ở trên, rìa làng này có một đầm sen rộng. Cứ khoảng chín giờ rưỡi tối, ông Mẹo lại rủ tôi đi ra đầm sen bằng một cái thuyền nan nhỏ. Trên thuyền, ông để một gói trà. Đi thuyền ban đêm giữa mùa hè trên đầm sen cũng có cái thú. Trên giời, sao chi chít như người ta phơi thóc. Hai ông cháu bơi thuyền trong không gian thật yên tĩnh, chỉ còn nghe tiếng mái chèo động vào mặt nước. Hơi nước bốc lên mát lạnh. Thuyền len lỏi giữa cả một rừng hoa sen. Hương thơm của hoa như quyện với không khí, thấm vào hơi thở làm cho tôi thấy khoan khoái lạ. Đã vậy, cánh hoa mềm, chạm vào chỗ nào cũng thấy buồn buồn, thinh thích. Thỉnh thoảng, có tiếng cá đớp mồi, nghe rất gần mà không biết ở chỗ nào.
Đi thuyền ban đêm như thế mà chẳng bao giờ ông Mẹo lầm. Tay ông luôn chọn được những bông sen nở to. Ông cho trà vào bông sen đó rồi buộc túm lại. Tiếp theo, ông cho thuyền đi dọc đầm, trải những lá sen thật rộng để đón sương đêm. Xong mọi việc cũng phải gần tiếng đồng hồ, ông mới đưa tôi về nhà.
Khoảng năm giờ sáng, ông Mẹo đã gọi tôi dậy, theo ông ra lại đầm sen. Trên chiếc thuyền nan, ông đặt một niêu đất để hứng nước sương rơi trong những lá sen mà ông trải đêm qua. Sương mờ lan tỏa khắp mặt hồ, hơi nước bốc lên lành lạnh. Tôi cầm hai mái chèo chỉ to bản hơn chiếc đòn gánh một chút cố gắng lái chiếc thuyền theo sự chỉ bảo của ông Mẹo ngồi trước mũi. Có lúc tôi điều khiển chiếc thuyền, nhưng cũng có lúc ông Mẹo dùng tay khỏa nước hoặc vít lấy cành sen để thuyền đi theo hướng mình muốn. Ông Mẹo nhớ từng vị trí mấy bông sen tối qua ủ trà. Chẳng mấy chốc, trà ủ trong hoa sen được ông Mẹo gói gọn vào một lá sen non để trước mặt. Xong mọi việc, hai ông cháu bơi thuyền tiếp tục lấy nước đọng từ sương. Mỗi lá sen chỉ đọng lại độ một phần ba ly nước trong veo, mát lạnh. Ông Mẹo lấy hai tay nâng nhẹ lá sen lên, hơi nghiêng đi cho những giọt nước tinh khiết đó chảy vào niêu đất. Ông làm cẩn thận, không muốn một giọt nước nào rơi ra ngoài. Chiếc thuyền đi vòng một lượt, trong niêu đất, nước sương đêm vừa đủ pha một ấm trà.
Tôi với ông Mẹo về đến nhà, xung quanh đã có tiếng người gọi nhau ra đồng. Khói lam bốc lên từ những mái rạ, nồng nồng. Đặt niêu đất hứng nước sương lên một cái kiềng ba chân, ông Mẹo bắt đầu đun bằng những cây dâu tằm phơi khô, lửa cháy xanh, không khói.
Trong lúc ông Mẹo đun nước, bà Mẹo đi súc ấm, rửa chén. Cái ấm da lươn chỉ to hơn nắm tay, mấy cái chén chỉ to hơn hạt mít một chút mà bà Mẹo rửa lâu lắm. Rửa xong mấy cái chén đó, bà Mẹo đặt ấm chén ấy lên một chiếc chõng tre để dưới gốc cây bưởi đang trổ hoa.
Nước sôi, ông Mẹo nói với bà cho trà vào ấm, còn ông vào nhà mặc một chiếc áo dài the màu đen. Trang trọng, cầm ba cây hương, ônglạy trời đất một cách thành kính, rồi ông mới ra chõng tre, ngồi xếp bằng, rót nước trà ra chén. Ông nâng chén trà lên bằng hai tay. Chẳng có ai ngồi uống với ông mà sao nét mặt ông có vẻ vui và thư thả đến thế.




2.

Chiến tranh phá hoại của Mỹ lan rộng, chúng tôi ăn uống có phần kham khổ hơn. Không còn bánh mì ăn sáng, thay vào đó, cơm độn nhiều ngô, sắn. Chỉ hôm nào gia đình sớm tiếp tế thì chúng tôi được ăn cơm độn mì sợi. Thức ăn của chúng tôi giờ đây toàn rau muống luộc chấm nước muối. Chúng tôi thèm thịt, nhưng kiếm đâu ra? Một tối, thằng Oanh đến tìm tôi:
- Mày có thích ăn thịt gà không?
Tôi hơi ngạc nhiên nhưng nhìn ánh mắt có phần lém lỉnh tự nhiên của nó, tôi tin là Oanh có thể cho tôi ăn thịt gà lúc này:
- Mày kiếm được à!
- Tất nhiên rồi, nhưng muốn ăn thịt gà, phải có lòng dũng cảm.
- Mày nói tao chẳng hiểu gì cả.
Nó ghé sát tai tôi nói nhỏ:
- Bắt trộm gà. Mày còn nhớ cái trò làm cho gà sợ không? Cái trò mà thằng Bình nó kể cho chúng mình nghe ấy!
Tôi nhớ ra rồi. Hồi ấy, thằng Bình kể chuyện, có lần bà dì không cho nó ăn cơm. Nó tức quá, tối đến, kiếm một đọt khoai ngứa đem nướng. Thò đọt khoai ngứa đã nướng ấy vào chuồng gà, lũ gà tưởng rắn, rụt hết cả cổ. Thế là nó nhẹ nhàng tóm từng con, không một tiếng động. Bài học này thằng Oanh ghi lòng, nay tính đem ra áp dụng. Nhưng tôi sờ sợ:
- Tao sợ... Họ mà bắt được thì chết, như chuyện ăn cắp ngô vừa rồi ấy. Anh Cường với chị Liên biết chuyện, không tha đâu.
- Sao mày nhát thế? Đã làm thì không sợ bị bắt chứ! Mà họ bắt mình thế quái nào được? Tao tính toán hết cả rồi. Có mấy thằng nữa cũng tán thành với tao việc này. Chuyện ăn cắp ngô vừa rồi là mình a dua theo bọn trong thôn, chúng nó dốt lắm. Mày không làm, bọn tao làm, chỉ yêu cầu mày im lặng thôi.
Trước khi bỏ đi, nó nói đúng một câu:
- Mày là một thằng hèn!
Được, tôi sẽ chứng tỏ cho nó biết. Tôi đồng ý đi ngay với nó. Nó vừa nhìn tôi “căm thù” là vậy mà giờ lại toe toét, tay khoác vai tôi, gật gù:
- Mày đúng là thằng bạn thân của tao!
Cái chuồng gà nhà ông Toản ở gần cuối làng làm rất sơ sài, nhốt hai con gà béo mượt lông. Tôi với Oanh cùng hai thằng nữa bò men theo bờ ao, vòng ra đằng sau chuồng gà. Thằng Oanh nhẹ nhàng đưa vào chuồng gà mấy đọt khoai nước đã nướng theo cách của thằng Bình. Đúng là hai con gà tưởng rắn sợ rụt hết cả cổ lại, không dám kêu. Chúng tôi thò tay nâng bụng hai con gà lên, bịt mỏ, bẻ quặt cổ, cho vào cái túi rồi mang chúng ra đầm sen mổ. Ruột, gan, lông gà, chúng tôi gói vào lá sen, buộc chặt với mấy viên gạch, dìm luôn xuống đầm. Bây giờ mới rầy rà. Lấy cái gì để luộc gà? Mượn nồi mà luộc có khác gì “lậy ông tôi ở bụi này”, mà nấu ở ngoài đồng, họ đi làm thì có khác nào “không đánh cũng khai”? Cầm hai con gà làm xong, thằng nọ nhìn thằng kia. Cuối cùng, lại thằng Oanh. Mắt nó sáng lên trong đêm:
- Tao có kế rồi!
- Kế thế nào? - Chúng tôi vội hỏi.
- Rất đơn giản. Chúng mày mang về bếp tập thể của mình, luộc gà ngay bây giờ.
Tôi tức khí:
- Mày nói ngu bỏ mẹ! Làm thế có khác nào tự nộp mạng? Anh Cường hay chị Liên xuống bếp kiểm tra thường xuyên, làm thế nào mà luộc?
Thằng Oanh khẳng định:
- Tao nói là luộc được, thậm chí trước mặt mọi người. Thế mới tài.Mày cứ về ngủ đi, bao giờ luộc xong gà, tao gọi.
Tôi về, trong đầu cứ xoay câu hỏi lởn vởn, không biết thằng này nó luộc gà kiểu gì?
Đến gần nửa đêm, tôi đang ngủ, thằng Oanh đến kều chân gọi tôi dậy:
- Thắng ơi! Dậy...dậy...
Tôi vội dụi mắt, sấp ngửa đi theo nó. Đến góc một nhà kho lúa bỏ hoang, lờ mờ trong bóng tối có hai, ba thằng cùng nhóm. Hơi nóng của con gà luộc còn bốc nghi ngút. Thằng Oanh tài thật, không biết nó luộc gà như thế nào? Thằng Oanh giục tôi và mấy thằng đứng xung quanh ngồi xuống, lấy tay xe gà. Tôi cũng được nó chia phần một miếng đùi gà. Tôi nuốt nước bọt, đưa vội miếng đùi gà ấy lên miệng. Thằng Oang hỷ hả:
- Ăn mấy “ ky lô gam đạm” thế này, cứ gọi là...đầu óc sáng suốt phải biết.
Còn tôi, vừa lấy răng cắn vào miếng thịt gà thì có mùi oi nồng, khai... xộc thẳng vào mũi. Miếng thịt gà béo ngậy nhưng tại sao nó lại có mùi” hơi khó ngửi “ thế này. Tôi buông vội miếng thịt gà xuống hỏi Oanh:
- Sao miếng thịt gà của tao nó hôi thế?
Mấy thằng ngồi cạnh cũng đồng tình với ý kiến của tôi. Thằng Oanh ngồi đần ra một lúc, rồi nó “ à” một tiếng, nói:
- Bỏ mẹ rồi, cái chăn của tao dễ đến gần năm nay không giặt. Đã thế, hôm nọ hình như có thằng đái dầm, chưa giặt, chỉ phơi khô rồi đắp thôi nên khi luộc chung, gà mới có mùi này.
Té ra, thằng Oanh lừa mấy chị nuôi mượn chảo của bếp tập thể “ luộc chăn màn để diệt rệp” rồi nó cho con gà ăn cắp vào cái chăn vừa bẩn, vừa dính nước đái ấy vào luộc chung. Hèn gì khi ăn cắp gà xong, thằng Oanh khẳng định với tôi sẽ luộc được gà “ trước mặt mọi người” là như thế này đây!
Nghe thằng Oanh nói vậy ăn mất cả ngon. Mấy thằng đưa mắt nhìn nhau, thằng Oanh cười khẩy:
- Chúng mày có ăn không? Sợ bẩn à? Xin lỗi nhé “ buồn ngủ còn chê chiếu manh” ! Chúng mày nhìn đây!
Nó xé con gà ra thành từng miếng, đút vào mồm nhai nhồm nhoàm, mỡ gà chảy ra hai bên mép. Mấy thằng thấy vậy cũng ăn, còn tôi lắc đầu:
- Tao chịu, trông chúng mày ăn bẩn quá.
Thằng Oanh dẩu môi:
- Thằng bệnh “sĩ”. Đói bỏ mẹ còn ra vẻ...
Biết nói với nó thế nào? Phần vì luộc gà như kiểu thằng Oanh thì bẩn thật, nghĩ đã thấy kinh rồi, phần nữa là vì tôi thấy xấu hổ, hay ho gì chuyện ăn cắp. Tôi không tranh cãi với nó nữa, bỏ đi...
Cái chuyện ăn cắp gà sau này mới “phát sinh” nhiều rắc rối. Đầu tiên là bà vợ ông Toản, vì mất hai con gà, bà cứ đứng đầu làng mà chửi. Bà chửi từ sáng đến trưa, trưa đến chiều... Cả làng phải nghe. Mà hình như bà đoán ra... bọn tôi ăn cắp hay sao ấy. Bà chửi: “Chúng mày ăn con gà của tao thì con chúng mày mù mắt, đi không biết đường về. Chúng mày ăn con gà mỏ đỏ sẽ đẻ ra sâu róm, bọ hung. Chúng mày ăn con gà mỏ đen cả nhà chúng mày không chết đầu đường thì cũng chết ở xó chợ, không ma nào nó biết, bớ quân thành phố kia ơi!”.
Anh Cường nghe bực lắm, hỏi chúng tôi, cả bọn đều lắc đầu. Lộ ra thì chết cả đám, nhất là khi biết mấy con gà đó ông Toản để dành chuẩn bị làm đám cưới cho con trai. Nhìn nét mặt buồn của ông Toản khi đứng trước chuồng gà, tôi cũng thấy ân hận nhưng không dám thú nhận, chỉ nghĩ thầm: “Cương quyết không dính vào những trò như vậy nữa, nhục lắm!”. Còn thằng Oanh, mặt nó vẫn cứ nhơn nhơn,như không có chuyện gì xảy ra. Có lúc tự nhiên tôi lại đâm ghét nó.




Tôi thích cách kể chuyện của anh Cường. Không biết anh đọc ở đây mà trong đầu anh lắm chuyện thế, gần như kể mãi không hết. Mỗi đêm trăng, giữa sân gạch phơi lúa của hợp tác, sau buổi sinh hoạt, anh Cường giữ vài đứa ở lại kể chuyện anh vừa đọc. Những chuyến thám hiểm vòng quanh thế giới của Ma Gien Lăng, rồi cả sự chống trọi một cách đơn độc của Rô Bin Sơn giữa đảo hoang để tồn tại, hay như tình bạn thật cảm động và lớn lao của Rê Mi và Mát chi a trong quyển tiểu thuyết “ Không gia đình”... Chúng tôi nghe mãi không chán. Thích nhất là anh kể những câu chuyện cổ tích của An Đéc Xen, như chuyện nàng tiên cá mơ lấy hoàng tử, cô Bạch Tuyết với bảy chú lùn rồi chú lính chì dũng cảm... Hay thật, có ai đó nói cho chúng tôi một điều ước nhỉ, chúng tôi sẽ ước hết chiến tranh, bố tôi trở về, tôi và em Minh về lại với bố mẹ. Lớn lên tý nữa, tôi sẽ trở thành một nhà văn, kể chuyện giỏi như anh Cường. Điều ấy liệu có thể đến không?
Có một điều tôi không ngờ, Hảo đến thăm tôi. Mới có hai năm mà trông nó phổng phao hẳn lên, bắp tay, bắp chân của nó to, rắn chắc, nước da đen sậm lại. Nó đã cao hơn tôi đến gần nửa cái đầu. Gặp tôi, nó mừng mừng, tủi tủi:
- Tao đi bộ lên Sơn Hà từ chiều hôm qua, rồi ngủ lại ở nhà mày, đến sáng nay lại đi bộ xuống đây...
Tôi thương quá. Hảo bắt tôi dẫn ngay đến gặp em Minh. Nó lôi từ trong túi ra một con châu chấu làm bằng lá dừa đưa cho em Minh:
- Anh làm đấy! Anh cho em.
Thằng Minh cầm con châu chấu có vẻ thích thú. Hảo hỏi tôi:
- Thế con sáo mỏ vàng tao cho, còn không?
Tôi lúng túng rồi thú thật:
- Tao vô ý đóng cửa lồng không cài chốt, nó bay mất rồi...
- Tiếc nhỉ! Con sáo ấy khôn lắm, thế nào cũng có người bắt được vì nó quen hơi người rồi mà.
Nói xong Hảo báo với tôi một tin buồn:
- À! Tao báo mày một tin, thầy Dũng chết rồi...
- Cái gì? Sao? Mày nói lại đi, thầy Dũng chết rồi à? – Tôi thảnh thốt.
- Mày chuyển lên đây được gần sáu tháng thì thầy bị bệnh. Bệnh thầy nặng lắm, nằm ở bệnh viện huyện không khỏi, định chuyển lên bệnh viện tỉnh... thì thầy đi...
Thầy Dũng của tôi! Làm sao tôi quên được khuôn mặt khắc khổ của thầy. Tôi định hè này, nếu không đi sơ tán, tôi sẽ xin phép mẹ cho về Quốc thăm thầy và các bạn cũ. Giờ đây, dù tôi có về được Quốc cũng không thể thăm thầy được nữa. Cô và các em sống thế nào khi vắng thầy. Thầy Dũng tính nghiêm khắc, điều ấy rõ rồi, nhưng thương học trò, tôi nghĩ không ai bằng thầy. Tôi nhớ mỗi lần đến lớp, thầy bắt chúng tôi xòe bàn tay ra xem có sạch không? đã cắt móng tay chưa? áo quần có nghiêm chỉnh không... Thầy dặn:
- Đi học, tất cả phải chỉn chu các em ạ, vì các em đang học chữ của ông bà, của thánh hiền. Ăn mặc không nghiêm túc, học dốt là các em có tội, mà thầy cũng có tội...
Bản thân thầy cũng là một mẫu mực về sự chỉn chu. Đến lớp, khoác bên ngoài là chiếc áo đại cán đã bạc màu, bên trong bao giờ thầy cũng mặc một cái áo hở cổ màu trắng, trông rất lịch sự. Chắc thầy có nhiều áo mới nên hôm nay thấy thầy hở cổ áo màu xanh hòa bình, ngày mai lại cổ áo màu trắng, hôm khác lại cổ áo màu vàng... Hồi ấy, lớp tôi có thằng Tiếu, nhà nó nghèo nhưng nó học rất giỏi. Hôm ấy, gió bấc tràn về, cái lạnh thấm vào da thịt. Thấy Tiếu phong phanh trong chiếc áo mỏng, thầy Dũng thương lắm. Hôm sau, thầy cho nó một mảnh vải may vừa cái áo. Cầm mảnh vải thầy đưa, Tiếu cảm động, khóc. Tôi và các bạn trong lớp nghĩ chắc thầy Dũng có nhiều áo lắm thầy mới làm thế. Hóa ra không phải...
Thầy thường dặn chúng tôi khi nào đến nhà phải báo trước, để thầy đón. Nhưng hôm ấy, cả bọn kéo nhau qua làng Bùng chơi, tiện thể qua nhà thầy, chúng tôi ghé vào thăm không báo cho thầy biết. Mái rạ nhà thầy đã mủn gần như sắp bệt xuống đất, tường đất bở ra từng mảng, hở cả nan tre bên trong. Thầy đang ngồi giữa sân chẻ củi, lưng quay ra ngoài mặt đường nên không thấy chúng tôi. Thầy mặc một cái áo bạc mầu thấm mồ hôi, vá khắp chỗ. Điều đặc biệt, chỉ có cái cổ áo của thầy là mới. Cạnh chỗ thầy ngồi phơi ba bốn cái áo cổ áo màu trắng, vàng... Thế là bọn tôi hiểu, cái áo của thầy mặc chỉ thay mỗi cái cổ áo. Thầy khoác bên ngoài chiếc áo đại cán, hở cổ áo mới nên lúc nào chúng tôi cũng tưởng thầy có áo mới, thực tình thầy mặc toàn áo vá. Nhìn thầy ngồi chẻ củi khoác trên mình tấm áo màu đã bạc, đầy mảnh vá, chúng tôi đứng lặng người, không nói được câu nào.
Bây giờ thầy Dũng đi xa, nhớ thầy vô cùng. Tôi tự hứa thế nào cũng về lại Quốc viếng mộ thầy.
Ngoài cái tin đó ra, Hảo còn cho tôi biết một tin khác cũng khiến tôi ngạc nhiên:
- Tao đến tạm biệt mày để đi bộ đội!
- Mày chưa đến tuổi cơ mà? – Tôi thắc mắc.
- Tao khai gian tuổi. Với lại, mày thấy đấy, tao to hơn mày.
Nó nói thế thì tôi chịu, nhưng đây không phải là chuyện đùa. Tôi nói với nó:
- Mày phải biết, đi bộ đội bắn nhau là có người chết, đừng có dại!
- Nhưng chẳng trước thì sau, tao cũng phải đi thôi. Cả làng tao đi gần hết con trai rồi. Có học tiếp cũng chẳng làm gì, đi bộ đội là hơn... – Hảo giải thích với tôi.
- Thế mày như thế này mà họ cũng nhận à?
- Đã bảo tao xung phong mà lại. Họ hoan nghênh quá đi chứ. Gia đình tao được cái bằng khen của xã nữa... – Hảo nói với tôi, cái giọng cũng chẳng buồn, chẳng vui.
Hảo ở với tôi hai ngày. Tôi dẫn Hảo đi chơi với các bạn trong trại sơ tán. Đi cạnh Hảo, tôi thấy tự hào. Chẳng gì thì có một người đồng lứa chuẩn bị trở thành một anh bộ đội, thế là chúng tôi đã lớn rồi. Biết Hảo xung phong vào bộ đội, các bạn trong trại phục lăn. Khi Hảo ra về, ai cũng muốn tặng quà cho Hảo, Hảo gần như không nhận gì hết, chỉ nhận có quyển sổ tay với cây bút Trường Sơn của thằng Oanh: “Để tao viết thư cho chúng mày”.
Ngày hôm sau, tôi với mấy bạn khác tiễn Hảo đi một đoạn đường dài. Khác lần Hảo tiễn tôi từ Quốc lên Sơn Hà, lần này Hảo lại giục tôi:
- Thôi, mày với mấy bạn về đi. Đi với tao đến đoạn đường này là được rồi. Ở đâu rồi tao cũng viết thư về thăm chúng mày.
Tôi vẫn muốn đi với Hảo thêm một đoạn đường nữa. Tự nhiên tôi sợ, biết đâu đây là cuộc chia tay cuối cùng giữa tôi và nó. Nhưng Hảo không đồng ý, cứ giục chúng tôi:
- Chúng mày về đi, gần giữa trưa rồi...
Bọn tôi đứng lại, còn ở phía trước, Hảo bươn bả bước những bước vội. Tôi đứng lặng nhìn theo nó. Bóng Hảo phía xa cùng chiếc lá sen đội đầu khuất dần...
Tôi thấy thương Hảo vô hạn.


Bom Mỹ ném càng ngày càng gần chỗ chúng tôi sơ tán. Đứng ở đây có thể nhìn thấy những đụn khói bốc xa xa. Tiếng bom nổ rung cả mặt đất. Chiều chiều, bọn tôi hay tập trung tại nhà anh Cường. Bác chủ nhà nơi anh Cường ở có cái đài bán dẫn buộc lòng thòng mấy chiếc pin Con Thỏ bên ngoài hay đưa tin chiến sự, nhất là ngày nào cũng đưa tin máy bay Mỹ bị bắn cháy, chúng tôi rất khoái.
Buổi trưa ấy, tôi đang nằm trên cái chõng tre, dưới gốc cây bưởi nhà ông Mẹo thiu thiu ngủ, bỗng, giật mình bởi tiếng nổ “ầm” rất lớn giữa lưng chừng trời. Cái gì thế? Tôi choàng tỉnh nhưng chưa định thần thì xung quanh là tiếng hò reo vang dậy:
- Bà con ơi! Máy bay Mỹ cháy rồi! Phi công nhảy dù kìa, bà con ơi! Đi bắt phi công...
Còn gì sung sướng bằng. Tôi nhảy cẫng lên, cầm luôn cái đòn gánh để ở góc bếp lao ra cổng. Ông Mẹo đang nằm trên phản đọc sách, nghe vậy, không kịp mặc quần dài cũng lao vội theo, vừa chạy, ông Mẹo vừa hô:
- Đả đảo bọn xâm lược Mỹ! Bà con ơi, đi bắt giặc Mỹ!
Xung quanh tôi người ta chạy ào ào, người vác cuốc, người vác mai... Hình như cả làng cùng túa ra. Lần này, tôi sẽ nhìn tận mắt thằng giặc lái Mỹ. Chắc nó nhìn thấy bọn tôi cứ gọi là... run như dẽ! Ai bảo nó mang bom ra đây ném làm gì? Mày cứ tưởng ở trên giời muốn làm gì thì làm à? Đừng hòng nhé!
Bọn tôi chạy nhanh ra cánh đồng theo hướng người ta đang chạy. Phía xa ấy, một cái dù trắng đang hạ dần, hạ dần...
Cái dù vừa chạm đất cũng là vừa lúc mọi người đổ xô đến. Bên trong cái dù, có người động đậy. Một người định lao vào thì có ai đó nói: “Cẩn thận, nó có súng đấy!”. Nghe vậy, người ấy dạt vội ra ngoài, nằm thụp xuống nói với người bên cạnh: “Ông cầm súng lao vào đi”. Người cầm súng trường nòng dài định lao vào thì cái dù được gỡ ra. Một người phi công dáng tầm thước, tóc đen, mũi tẹt, da vàng đứng dậy. Khuôn mặt anh đau khổ. Anh chỉ một lá cờ màu đỏ, sao vàng in trên cánh tay bộ áo phi công, nói:
- Bà con đừng bắn. Tôi là phi công của Quân đội nhân dân Việt Nam, bị trúng đạn của máy bay Mỹ. Mong bà con liên lạc với cấp trên đưa tôi về đơn vị...
Một người hét tướng lên:
- Nó nói láo đấy! Khéo là giặc lái ngụy bị bắn rơi chứ máy bay ta làm sao mà bị máy bay Mỹ bắn trúng được? Cứ gô cổ nó vào, đưa lên huyện!
Nhìn xung quanh toàn những ánh mắt căm thù, khí thế đằng đằng, anh phi công càng hoảng, vội bỏ chiếc mũ bay đang cầm trên tay xuống đất, lấy trong túi mấy thứ giấy tờ, thanh minh:
- Bà con xem, các đồng chí xem hộ... Tôi đúng là phi công của Quân đội nhân dân Việt Nam đánh nhau với máy bay Mỹ, không phải ngụy.
Thấy thái độ anh ấy không có gì có vẻ chống đối, một thanh niên mạnh dạn cầm giấy tờ anh ấy đưa. Xem xong anh lại đưa cho người bên cạnh, nói:
- Không khéo, đúng là phi công của ta thật, ông ạ!
Người kia xem xong giấy tờ cũng gật gù:
- Đúng là phi công của ta rồi. Bỏ mẹ, thế ra máy bay của ta cũng bị... bắn rơi à? Thôi, bà con thu xếp hết đồ đạc của anh ấy, đưa anh ấy về trụ sở của hợp tác rồi ta báo cho huyện biết...
Tưởng bắt được phi công Mỹ hóa ra lại được xem phi công của ta. Cũng tốt. Trước đây, tôi cứ nghĩ phi công là những người cao to, lông mày rậm, mặt vuông chữ điền... nghĩa là rất đẹp trai, nhưng anh phi công này trông cũng không đẹp trai lắm, dáng chỉ cao hơn anh Cường một tí. Thế mà anh ấy cũng lái được máy bay, tài nhỉ!
Trước đây, hồi còn ở Sơn Hà, tôi nhớ có lần xem một bộ phim của Liên Xô nói về các anh hùng không quân. Tôi ao ước đến một lúc nào đó mình cũng sẽ trở thành một phi công lái máy bay, bay vút lên tận các tầng mây. Máy bay của tôi lái cũng sẽ chao lượn như những cánh chim và khi máy bay hạ cánh xuống đường băng, sẽ có biết bao người đến tặng hoa với những ánh mắt thán phục. Nhưng giờ đây, nhìn thấy anh phi công của ta bị máy bay Mỹ bắn rơi, tôi cũng... sờ sợ. Cái ước mơ có phần viển vông kia tan biến đi lúc nào không biết.
Được bà con chăm sóc chu đáo, anh phi công rất cảm động. Mái tóc ngắn bết đất được gội sạch, chải ngay ngắn; quần áo mới thay cho bộ quần áo cũ, trông tinh tươm. Trước khi lên chiếc ô tô đít vuông trên tỉnh về đón, anh nói:
- Xin đồng bào hãy ghi nhớ lời tôi nói: lần sau, tôi sẽ bắn hạ máy bay Mỹ, không phải một chiếc mà vài chiếc. Máu phải trả bằng máu!
Nói xong anh giơ tay chào mọi người rồi chui vào ô tô, chiếc ô tô nổ máy phóng rồ đi.
Phía bên dưới, mọi người vẫy tay chào anh ấy. Có cả tiếng hoan hô...


Trại dựng xong, tôi và em Minh tạm biệt ông bà Mẹo, ra ở trại với các bạn. Trại cách nhà ông bà không xa nhưng không hiểu sao, khi chia tay cũng có vẻ quyến luyến. Ông bà gói hộ đồ cho tôi. Thằng Minh cứ níu tay bà Mẹo, không muốn rời. May cho anh em chúng tôi, sống giữa tình thương của ông bà, có thiếu thốn vật chất nhưng không phải là nhiều. Có ông bà bên cạnh nên nỗi nhớ bố mẹ của anh em tôi cũng dịu bớt.
Bà Mẹo tiễn hai anh em tôi ra cổng, nói:
- Cứ lên đây ở, lúc nào thích thì về nhà với ông bà. Có thời gian, thế nào bà cũng lên thăm hai cháu. Bà thương hai cháu lắm!
Rồi bà Mẹo lại ôm thằng Minh.
Tôi nhớ cái tối ấy, gió to, mưa lớn, sấm chớp cứ đùng đùng, oàng oàng, tôi ôm em Minh, lo thắt ruột. Không hiểu sao từ chiều đến giờ, đầu em nóng thế. Nó thiếp đi, thở mệt nhọc. Thuốc uống không có, không biết em đau bệnh gì? Bệnh viện thì xa... Nếu không có ông bà Mẹo, không biết tôi xoay xở thế nào. Ông Mẹo sờ trán, sờ bụng em Minh rồi trong cơn mưa gió sấm chớp ấy, ông mặc ngay cái áo lá cọ, đội nón đi tìm hái lá xông cho em. Còn bà Mẹo lúc đó đội nón ra vườn hái lá khế non về xoa lưng, đắp trán cho em Minh. Thấy tôi lo lắng, bà Mẹo động viên:
- Em cháu không sao đâu, có lẽ bị cảm nắng. Cháu đi ngủ đi, lấy sức ngày mai đi học. Tối nay, ông bà lo cho, em Minh sẽ qua khỏi thôi!
Bà Mẹo còn cẩn thận dặn tôi:
- Chuyện em Minh bị ốm đau như thế này, cháu đừng tin cho mẹ biết, mẹ sẽ lo. Mọi chuyện ở đây đều có ông bà, để mẹ cháu còn lo việc nước...
Sống với ông bà Mẹo tình cảm như vậy, làm sao anh em tôi không quyến luyến.
Chúng tôi về trại mới. Trại là ngôi nhà rộng làm từ tranh, tre, nứa, bên trong có hai dãy giường đôi, một bên nam, một bên nữ. Tôi với em Minh ngủ chung. Sáng sáng, anh Cường thổi còi là tất cả phải dậy. Chị Liên hướng dẫn tập thể dục bên nữ, anh Cường hướng dẫn bên nam, sau đó tất cả đánh răng, rửa mặt rồi đến bếp tập thể ăn sáng.
Hết hè, bọn tôi phải ở lại đây đi học với các bạn mới ở nông thôn. Đã chuyển cấp, lại xa gia đình, sống tự lập là chính, tôi cảm nhận được rất rõ sự trưởng thành của minh. Rõ nhất là trong quan hệ của tôi và Hạnh. Trong khi bọn trẻ nông thôn trạc tuổi tôi sau buổi đi học thường lao động thêm giúp gia đình, đến chiều kéo nhau ra tắm ở đầm sen, la hét váng cả một vùng thì tôi và Hạnh về lại trại, giúp các em nhỏ học. Rồi chúng tôi chụm đầu giải từng bài toán, cùng nhau tìm ý văn. Trong lúc trò chuyện, chúng tôi thường nghĩ đến cảnh hết chiến tranh, về lại thị xã học tiếp, học đến tận đại học. Hạnh sẽ trở thành cô giáo, còn tôi sẽ là bác sĩ làm ở bệnh viện tỉnh... Những ước mơ như thế chỉ hai chúng tôi tâm sự với nhau thôi, chứ nói với lũ bạn cùng lứa, chắc gì chúng nó hiểu...
Hạnh giúp tôi chăm sóc em Minh từ việc đánh răng, rửa mặt đến tắm giặt. Hạnh còn giúp em Minh học. Chị gái dạy em bao giờ cũng mềm mỏng hơn anh trai. Đã vậy, tính tôi lại lười, toàn giả “ đau bụng”, thế là bao nhiêu quần áo bẩn của hai anh em, Hạnh đều giặt hộ. Thậm chí có khi Hạnh sang mắc màn cho anh em tôi rồi mới mắc màn cho mình. Cái hôm trại tổ chức đi gặt lúa giúp dân, trừ mấy đứa nhỏ, còn bọn tôi gồm Hạnh, Oanh và rất nhiều đứa khác, đi gặt với tâm trạng hồ hởi. Riêng tôi, tôi muốn ra oai với chúng nó vì những chuyện gánh lúa, gặt lúa, hồi ở Quốc, tôi đã quen. Hôm ấy, tôi làm nhiệt tình nhất, một phần vì mình thạo việc hơn các bạn nhưng phần chính là do có Hạnh, tôi làm quên mệt. Thấy mồ hôi tôi đổ giọt trên má, Hạnh đưa một cái khăn tay:
- Thắng lấy khăn của mình lau mặt đi.
Cái khăn tay của Hạnh có mùi hương bưởi, thơm thơm. Tôi đưa lại chiếc khăn tay cho Hạnh, hầu như không để ý ánh mắt của mấy đứa bạn đang nháy nhau, tay chỉ trỏ, miệng nói thì thầm điều gì đó, cười khúc khích. Phía xa kia, anh Cường cũng đang gặt lúa cạnh chị Liên. Không biết hai người nói chuyện gì mà chị Liên cười như nắc nẻ. Bất giác, tôi nhìn sang Hạnh. Khuôn mặt Hạnh đỏ hồng, ánh mắt của Hạnh hôm nay trông khác lạ lắm, đẹp hẳn lên. Tại sao điều này hôm nay tôi mới phát hiện nhỉ? Hay là...
Thấy tôi nhìn chằm chằm, Hạnh ngượng:
- Tớ có cái gì mà Thắng nhìn tớ ghê thế?
Câu hỏi của Hạnh làm tôi sực tỉnh. Tôi ngượng ngùng, chống chế:
- Không tớ nhìn... đằng kia mà! – Tôi chỉ vu vơ rồi cúi xuống gặt lúa tiếp.
Oanh đến gần tôi lúc nào không hay. Cả người nó lấm đầy bùn đất. Cu cậu cũng chăm nhưng làm không quen, mấy ngón tay bị lá lúa cứa rớm máu, bàn tay đỏ lựng lên, có chỗ phồng nước. Nó giơ tay cho tôi xem, lắc đầu ngao ngán:
- Tao chỉ làm ngày hôm nay nữa thôi, mai là tao cáo ốm xin nghỉ! Làm thế này tao khiếp quá rồi. Mệt thấy ông bà, ông vải.
Buổi tối, ăn cơm xong, cả trại đi ngủ. Tôi thiếp đi trong giấc ngủ nặng nề sau một ngày lao động quá sức. Đang ngủ như thế, tôi thấy như ai đang đẩy mình vào phía trong. Mở mắt ra thấy thằng Oanh, tôi ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao mày lại sang đây?
Nó nói khẽ:
- Mày nói nhỏ thôi, cho tao ngủ nhờ với. Tao... đái ướt hết cả chiếu với màn rồi, không ngủ được. Có lẽ tại ban ngày tao làm mệt quá nên đái dầm mà không biết...
- Mày thay quần áo chưa?
- Thay rồi.
- Sao tao vẫn thấy mùi khai khai...
- Tao đã rửa đâu! Để sáng mai. Cho tao ngủ đi.
Nó chưa kịp chui vào màn thì bên giường của nó, tiếng Phiến “lại gái”, người ẻo lả như tàu chuối héo, nằm chung giường với nó, chu chéo:
- Anh Cường ơi, thằng Oanh đái ướt hết em rồi. Người thành thị mà... đái dầm.
Thế là cả khu trại nhốn nháo. Chuyện Oanh đái dầm lan ra. Từ đó, Oanh mang thêm biệt hiệu: Oanh “dấm đài”. Cũng vì thế mà thằng Oanh thù thằng Phiến ra mặt.
Thằng Phiến có tật buổi trưa thích ngủ một mình, nóng mấy cũng đắp một cái chăn ngang bụng cho ra dáng, như nó nói “Người thành thị phải thế!”. Thằng Oanh chúa ghét, bảo: “Đồ rởm”.
Hôm ấy, như thường lệ, thằng Phiến ngủ trưa, không biết ai để trên ngực nó một... cục gạch. Tỉnh giấc, thấy cục gạch để trên ngực, tức mình, không thèm quan sát, Phiến ném vội hòn gạch ra xa... Có ngờ đâu, hòn gạch được buộc với sợi dây, mà đầu kia là cái thòng lọng buộc vào với “của quý” của nó. Do Phiến đắp chăn nên không ai nhìn thấy, hòn gạch ném đi, thít luôn cái đầu thòng lọng bên này. Đau quá, thằng Phiến la oai oái...
Những buổi tối, tôi với thằng Oanh hay ra chùa Hạ, một ngôi chùa nhỏ nằm ở rìa làng để học bài. Còn em Minh ở lại trại học chung với mấy đứa bạn cùng lớp. Học ở chùa Hạ chẳng qua cũng là cái cớ để anh Cường hay chị Liên khỏi kiểm tra chúng tôi, chúng tôi được tự do hơn.
Bên ngoài chùa Hạ là một lớp học buổi tối bỏ trống, bên trong là một cái điện thờ, trên để một số tượng Phật và mấy cái bát nhang. Ngăn cách giữa điện thờ và lớp học là một bức mành tre. Tôi với Oanh mang cái đèn dầu và sách vào lớp học, đang định lấy quyển sách toán ra làm bài tập thì nghe thấy tiếng chị Liên, Hạnh và một số bạn nữ lao xao bên ngoài:
- Bạn Thắng và Oanh nói là học ở đây chị Liên ạ! – Tiếng của Hạnh.
- Thế thì chúng ta vào học chung với hai bạn đó – Tiếng chị Liên.
- Nhỡ trong đó có ma thì sao? – Tiếng của ai đó mà chúng tôi chưa phân biệt được.
Oanh kéo tay tôi, thì thầm:
- Hai đứa mình trèo lên điện thờ, đợi chị Liên và bọn nó vào dọa ma cho tất cả chết khiếp...
Nhất trí, cả hai tắt đèn, ôm đèn sách chui tọt vào trong, trèo lên điện thờ. Tôi và Oanh hồi hộp chờ đợi.
Chị Liên dẫn cả bọn vào bên trong lớp học. Mọi người cũng cầm sách và đèn dầu. Vào đến bên trong không thấy chúng tôi, Hạnh ngạc nhiên:
- Thắng nói với em là cùng với Oanh đến đây cơ mà. Hai bạn đó đi đâu nhỉ?
Chúng tôi vẫn cố giữ thật im lặng.
Một người bạn của Hạnh nói:
- Biết đâu hai ông ấy nói đến đây, không thấy bọn mình, kéo đi nơi khác thì sao? Ở làng này thiếu gì chỗ học.
Thế là yên tâm không có chúng tôi trong này, nghĩa là không có con trai, các nàng cùng chị Liên tha hồ tự do. Mới đầu, một đứa kêu nóng quá cởi áo ngoài ra, hở cả áo lót bên trong. Bên ngoài có ánh đèn dầu, bên trong tối thui, lại ngồi ở phía trên, qua bức mành tre chúng tôi nhìn thấy hết. Một đứa lại nói:
- Em với chị Liên đổi áo cho nhau đi, xem em có mặc vừa áo của chị không?
- Ừ thì đổi! – Chị Liên đồng ý – Chị em mình vào bên trong cởi áo.
Tình thế này ngoài dự kiến của chúng tôi. Hai chị em cởi áo chỉ cách chỗ chúng tôi ngồi trên điện thờ khoảng một mét, thậm chí tôi còn... ngửi thấy cả mùi mồ hôi của chị Liên. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy phụ nữ cởi trần. Tôi nín thở, có một cảm giác rất khác lạ chạy suốt sống lưng. Cổ tự nhiên khô không khốc. Tôi như bị thôi miên, toàn thân bất động. Hình như Oanh cũng giống tôi. Bên ấy, Oanh cố gìm hơi thở mà vẫn nghe thấy. Người đổi áo cho chị Liên chạy ra ngoài, khoe:
- Chúng mày ơi! Nhìn tao mặc áo của chị Liên có đẹp không này.
Cả bọn trầm trồ, Hạnh nói với bạn:
- Mày cho tao mặc thử đi!
Rồi Hạnh kéo người bạn đó vào bên trong, nghĩa là cũng cách chỗ tôi ngồi trên điện thờ rất gần. Cả cơ thể mới lớn của Hạnh, tôi gần như nhìn thấy hết. Tôi nín thở, một xúc cảm khó diễn tả bùng phát. Tôi cố ghìm chân tay và cả toàn thân cho bớt run. Hạnh đã mặc xong áo, toan đi ra ngoài thì thằng Oanh giả giọng, nói ồm ồm như từ ở cõi âm ti vọng về:
- Các... người... phải... đứng... lại...!
Khỏi phải nói Hạnh và chúng bạn sợ hãi đến mức độ như thế nào. Tất cả bỏ chạy tán loạn. Thậm chí Hạnh ngã dúi, chưa cài hết cúc áo mà vội ngồi dậy, lao đi. Còn chị Liên và mấy người khác chạy thục mạng, vừa chạy, vừa kêu:
- Có ma... Ai cứu chúng tôi với...
Thấy mọi người hoảng hốt bỏ chạy, tôi với Oanh buồn cười quá, cười sằng sặc nhưng cũng phải rời điện thờ mà chạy. Ở lại, anh Cường biết chuyện, chắc sẽ không tha...
Tối ấy, không hiểu sao, tôi trằn trọc rất khó ngủ. Hình ảnh Hạnh cứ chập chờn, chập chờn...



HẾT TẬP II – PHẦN I

 

TRUYỆN THIẾU NHI | Nhận xét(0) | Trích dẫn(0) | Đọc(2300)
Viết nhận xét
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]