LỚP TÔI - Tản văn - LOP TOI - Tan van - Trần Kỳ Trung - Website Trần Kỳ Trung - Nhà thơ, nhà văn

LỚP TÔI - Tản văn

[Không rõ 29/11/2012 22:32 | by kytrung ]

LỚP TÔI – Tản văn
 
Mới đó đã hơn bốn chục năm.
Gặp lại không khỏi ngỡ ngàng, tóc bạc, nét mặt nhiều nếp nhăn, dáng cũng thay đổi. Nhưng một điều hình như không thay đổi đó là giọng nói, tiếng cười. Mình vẫn có cảm giác y như ngày nhập lớp. Gặp nhau, đoán nhé: “ Ai đây ? Thêm phải không? Còn đây! Đúng rồi Hà Thanh. Đây nữa! Anh Cát, anh Tuấn!”…
Thế là vỡ ra tiếng cười, có cả nước mắt rơi.
Một thời, sống đầy kỷ niệm. Những kỷ niệm hút hồn, gìm chặt vào trí nhớ, đi theo, chung thuỷ suốt cả cuộc đời.
Làm sao quên được những tình cảm bạn bè trong sáng, vô tư không một vết gợn, khi sống những năm tháng đó. Trong một tổ gần như không phân biệt sang, hèn, mà lúc đó hình như không có khái niệm “ giàu, nghèo”. Học bổng như nhau, chế độ tem phiếu như nhau, ăn mặc gần như giống nhau…Nên thế, sinh hoạt tổ như một gia đình. Mấy anh cán bộ chăm học, làm gương cho lớp trẻ. Còn bọn mình, ngoài chuyện học, nếu là nữ lại tìm cách đan lát, móc, thêu. Còn con trai, ầm ỹ với trái bóng mỗi chiều, với tiếng ghi ta bập bùng trên sân thượng khu ký túc xá. Hồn nhiên trong sinh hoạt, hồn nhiên cả trong chuyện tình cảm. Quan tâm đến nhau, cũng có chút giận hờn vì không chép bài cho nhau, rồi mải đá bóng để lỡ cuộc hẹn, hay như tự ái vì để các bạn châm chọc…

Tác giả ( đứng, bên phải) chụp chung với anh Tuấn, bạn Mai, Nhị, Nhân
 
Nhưng cũng như một cơn gió thoảng… chưa đâu vào với đâu, thì chiến tranh phá hoại ập đến.
Quên làm sao được cái đêm 16/4/1972 khốc liệt cả Hà Nội phải sơ tán gấp vì máy bay Mỹ ném bom. Bên kia sông Hồng, kho xăng Đức Giang trúng bom máy bay Mỹ thả, lửa cuồn cuộn bốc lên, sáng cả một góc trời. Trên đường nhựa trước cổng trường người đi bộ, người đạp xe , người gồng gánh… tất tả, chen lấn, cuống cuồng. Cả lớp cũng vội vã, người nhét vội quần áo vào ba lô, kẻ vơ vội chăn màn cuộn tròn cùng sách vở…rồi tất cả cố gắng đi thật nhanh đến ga Hàng Cỏ, xuôi theo tàu về sơ tán ở Đồng Văn ( Duy Tiên – Nam Định). Đêm trên tàu, ngồi ép vào nhau, lắc lư theo nhịp tàu đi, ánh mắt người nào, người nấy đều lộ vẻ lo lắng, lo lắng cho gia đình ở nhà, giờ này có làm sao không ? Hầm hố đào thế nào? Rồi lại nghĩ có khi gia đình cũng đang lo cho mình…
Cả một đêm trên tàu, không ai ngủ được.
Nơi sơ tán, một vùng đạo toàn tòng, có nhà thờ, mỗi chiều tiếng chuông nhà thờ ngân xa, vang trong chiều muộn như cố níu kéo hoàng hôn chậm lại. Mình ở gần nhà Lý Cẩm Hương, Kim Chung… mấy bạn gái trong tổ. Chiều chiều Cẩm Hương hay rủ mấy đứa trẻ, con cháu bác chủ nhà ra tập múa, Hương hay rủ mình đến xem. Mình với Kim Chung, nhiều buổi chiều, chẳng có việc gì làm, hai đứa cầm chổi ra quét dọn con đường phía trước ngồi nhà tạm trú… Bên này con đường những dãy nhà lá lụp xụp, ẩn mình dưới rặng tre già, còn bên kia nhìn ra, một cánh đồng trải dài đến tít tắp màu xanh mượt của lúa đang kỳ lên đòng. Điểm xuyến, những cánh cò trắng chấp chới bay lúc mờ, lúc tỏ và xa hơn nữa, những đám mây trôi đi vô định… Thế thôi, lớp ở đây mới có hơn tháng, với cảnh ấy, nhớ da diết khi xa.
Chia tay với Đồng Văn, lớp mình sơ tán tiếp đến Đan Phượng ( Hà Tây cũ) gần nhà mình ở thị trấn Phùng. Với lớp không thể xa, thế là mấy ngày đầu, mình cùng anh Chương, anh Thông, anh Tánh, anh Quỹ, Lê Hà…đắp bếp lấy chỗ nấu ăn. Học ngay trong một ngôi đình làng, thầy giảng bài ở trên, còn chúng mình ngồi bệt xuống nền, sách để trên đùi mà ghi chép. Học khổ nhưng vui, vì ngồi không hàng lối, kẻ dựa lưng vào cột, người dựa vào tường…ngủ gật thầy cũng không biết. Có lúc một bạn nữ dấm dúi đưa cho một múi bưởi, cúi xuống giả vở viết, thực ra dấu thầy “ăn vụng”, người ngồi phía trước che cho, người ngồi cạnh nói nhỏ: “ Còn không, cho tớ một miếng?”. Thỉnh thoảng giờ học phải ngưng, chạy vội ra hầm trú ẩn vì có tiếng máy bay xoẹt qua, tiếng súng của một trận địa cao xạ gần đó nổ…Thực ra học như thế bữa đực, bữa cái, kiến thức cũng chẳng vào đựơc là bao nhiêu. Chỉ vui, hình như có nhiều thời gian để gần nhau, để nhớ nhau hơn. Tối tối, trăng sáng, mình với mấy bạn nữ tha thẩn lên mặt đê, nhìn về phía xa xa, có ánh sáng mờ mờ hắt lên. Hà Nội đấy, bao giờ yên hàn, đất nước hết chiến tranh, lớp bớt đi những chỗ trống do các bạn trai lần lượt lên đường nhập ngũ, để được quay về với khu ký túc xá, với những dãy nhà bốn tầng có ánh điện vàng soi trang sách, rộn tiếng cười. Để chiều chiều lên sân thượng, nghe văng vẳng đâu đây giọng ai đang hát: “ Chiều thanh vắng là đây, âm thầm gió rì rào…”
Ở Đan Phượng được một thời gian, lớp mình tiếp tục chuyển chỗ, sơ tán về xã Khúc Lộng – Văn Giang – Hưng Yên. Một làng quê yên ả nằm cạnh một con sông đào, có cái cầu bắc qua, tên gọi ngộ ngộ: Cầu Váu. Mình ở nhà bà Hoè, một căn nhà ngói cũ kỹ, trước sân cạnh bể nước có cây bưởi, những đêm vắng, hương buởi thoang thoảng bay vào nhà, dễ làm cho người có giấc ngủ say. Cũng chưa thể tổ chức học, máy bay Mỹ ném bom ngày càng ác liệt, thế là mình cùng Kim Chung và cả lớp được Ban chủ nhiệm Khoa phân công đi làm công tác hè, giúp các em cấp II trong xã. Mình với Kim Chung dạy các em bài hát : “ Mùa xuân sang em lớn thêm một tuổi, lúc hoa bưởi toả ngát hương thơm. Bạn rủ em đi ra đồng với con nghé hoa cũng lớn thêm một tuổi…” ( Tổ khúc “ bốn mùa” – sáng tác : Hoàng Vân). Các em dễ thân, hay mời mình và Kim Chung về nhà chơi…
Nhưng rồi…
Cuộc “ thực tập” đầu tiên trong đời để sau này trở thành giáo viên, bị bỏ dở nửa chừng.
Mình lên đường nhập ngũ.
Nhớ mãi buổi chia tay, Kim Chung và Tâm định đưa mình đến tận chỗ nhận quân. Mình không chịu: “ Các bạn về đi, tiễn với đưa làm gì! Đi rồi lại về…”. Mình không muốn cuộc chia tay diễn ra trong nước mắt, nói cứng thế thôi, bên trong bùi ngùi thương cảm. Vì giữa mình với Kim Chung lúc đó chưa là gì cả, chỉ chơi thân với nhau, cũng không một lần nắm tay…nhưng, trong tổ gần như mình đi đâu cũng có bạn ấy, dễ nói chuyện với nhau, chẳng dấu nhau một điều gì.
Mình đi xa, quay lại vẫn thấy hai bạn đứng nhìn theo.
Những năm tháng ở Trường Sơn rồi bao vây Bình Long ( Đông Nam bộ) kề cận cái sống, cái chết. Có lẽ điều mình nhớ nhiều nhất là người thân Bố, Mẹ, mấy đứa em và cả lớp Sử khoá 1971 – 1975 mình đã học năm đầu. Ao ước, ao ước thật sự lúc đó là được quay ra bắc, lao vào vòng tay người thân. Lại được choàng vai, bắt tay với mấy bạn trong lớp. Dừng chân ở bãi khách, mình với Lễ, bạn cùng lớp, cùng một ngày nhập ngũ, cùng đơn vị hay ôn lại những kỷ niệm về lớp Sử thân yêu, nhắc lại những ngày đi khảo cổ ở Tứ Xã ( Lâm Thao – Phú Thọ), đi lao động ở Cống Thôn, Xuân Quang, những buổi đạp xe cùng các bạn đi xem phim ở tận bãi Cầu Giấy… Lễ hay nói với mình cái giọng y như buổi còn sinh viên: “ Từ này tiếng Nga là gì nhỉ?”. Rồi Lễ hát nho nhỏ lời Việt của một bài hát Nga: “ Ôi, không gian bao la. Hãy nói với ta. Như ngôi sao hôm. Đêm ngày mong chờ. Rằng ta vẫn nhớ. Đến người dấu yêu. Ở phương trời xa…” ( Lời Việt bài hát Nga: Ngôi sao ban chiều) làm cho nỗi nhớ thêm cồn cào. Ông chính trị viên Thành nằm cạnh, nghe Lễ hát như vậy, mắng ngay: “ Đang hành quân vất vả như thế này, không động viên mà đi hát nhạc vàng. Mấy ông sinh viên im ngay cho tôi nhờ!”. Mình với Lễ vội im, không dám trò chuyện nữa. Không biết lúc đó Lễ nghĩ gì, còn mình, những khuôn mặt của các bạn, cả nam lẫn nữ trong lớp sử mình học cùng, hiện lên rõ mồn một, lạ kỳ, bên tai nghe như có cả tiếng cười nữa…
Hình ảnh đó cứ thế đi theo mình cho suốt cuộc trường chinh.
Đất nước hoà bình, bộn bề công việc, khi mình trở về lại trường để học tiếp thì các bạn khoá 1971 – 1975 đã ra trường, tứ tán mỗi người một nơi, mình không có điều kiện gặp.
Dẫu thế vẫn ước ao, có một ngày được gặp lại tất cả…
Nghe điện thoại của anh Cát, bạn Tỵ, bạn Nhị… điện cho mình thông báo ngày gặp cả lớp, sau bốn mươi năm xa, mình mừng vô cùng.
Gặp lại nhau, nhìn mà thương vì nghĩ mãi, đoán mãi, không biết người đang ngồi trước mặt mình là ai? Thay đổi nhiều quá. Ngày nào là tuổi xuân phơi phới, mái tóc dài, làn da trắng, má đỏ hồng. Thế mà bây giờ… Khi nhận được ra nhau, cùng ồ lên trong tiếng cười, nước mắt. Bốn mươi năm, trôi qua như một cái chớp mắt, nhưng in đậm nỗi niềm khốn khó vận vào từng số phận. Có bạn, năm tháng qua là những chuỗi ngày của vất vả, phải nuôi chồng bị tai biến nằm liệt một chỗ . Lại có bạn là sự cương cường chống lại số mệnh, chạy thận mười một năm, vẫn lạc quan, hết mình với bạn. Trong lớp có mấy bạn, không may chồng mất sớm, một mình ở vậy nuôi con cho đến khi con khôn lớn dựng vợ, gả chồng… Có bạn phận nghèo, ở tít tận Lạng Sơn, Hoà Bình, xuống với mọi người vẫn cố mang bằng được mấy bao hạt dẻ, bắp ngô… làm quà.
Gặp nhau, coi như không có tuổi tác, cũng không phải là hiện tại mà thực sự trở về với quá khứ bằng tiếng cười, tiếng hát, cách xưng hô “ cậu, tớ, mày, tao…”, của tuổi sinh viên, cùng ôn lại những kỷ niệm của bốn mươi năm trước, mà cứ ngỡ nó vừa xảy ra hôm qua, không quên một chi tiết nào! Các thầy Cảnh Minh, Đặng Minh, Thầy Thêm, Cô Bích Ngọc…cùng đến chung vui, chứng kiến cảnh ấy, ánh mắt của các Thầy,Cô cũng biểu lộ sự xúc động. Nhìn các Thầy mình lại nhớ đến Thầy Hồ Song, chủ nhiệm Khoa lúc đó. Biết mình cận thị vẫn xung phong đi bộ đội, Thầy nói riêng với mình, giọng ái ngại: “ Em nên lựa sức mình, mắt như thế, liệu có thể hoàn thành nhiệm vụ không?”. Không hiểu sao lúc đó, mình trả lời chắc nịch: “ Thầy yên tâm, em tin ở mình!”. Nhưng sau này vào chiến trường, có lúc bình tĩnh ngồi ngẫm nghĩ , thấy mình cũng hơi liều, may mà… không chết! Khi mình về lại trường, nhập học,Thầy thấy mình, reo to, như thể thấy đứa con đi xa, giờ mới trở về: “ Trung về rồi này! Thầy mừng quá, có làm sao không, em? ”.
Buổi gặp mặt tổ chức trên con thuyền rồng lướt nhẹ trên mặt nước hồ Tây hôm ấy đã làm thoả mãn cho mình một điều, gặp lại những khuôn mặt xưa, thân hơn ruột thịt, làm điểm tựa cho mình lại sức ,vượt qua những lúc cam co nhất.
Gặp những con người, đã giúp mình có khát vọng sống, khát vọng tin vào một tương lai nhất định sẽ tốt đẹp nếu mình đừng bi quan, đừng chán nản.
Xin cảm ơn các Thầy, Cô và các anh, các chị, các bạn lớp Sử - Khoá 1971-1975 – Khoa Lịch Sử - Trường ĐHSP Hà Nội I.
--------------------------------------------------
 
 
 
Bài viết cùng chuyên mục
[9546] NÓI VỚI CHÁU NỘI31/10/2014
[4041] TRƯỜNG TÔI - Tản văn14/12/2012
[4000] ĐÁM CƯỚI LÀNG - Tản văn23/10/2012
[2368] HỒN HÀ NỘI TRONG PHỐ CỔ HỘI AN - Tản văn10/8/2012
[2020] NÓI VỚI CON - Tản văn18/7/2012
[2677] LÃNG ĐÃNG ...SÀI GÒN25/3/2012
[5414] MẸ TÔI ĐI TÂY4/11/2011
[1853] GHI CHÉP MỘT LẦN ĐẾN24/3/2011
[2036] Nắng Lào24/3/2011
Tản văn | Nhận xét(0) | Trích dẫn(0) | Đọc(2584)
Viết nhận xét
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]