ĐƯỜNG DÀI THEO BƯỚC CHÂN ANH - Ghi chép - DUONG DAI THEO BUOC CHAN ANH - Ghi chep - Trần Kỳ Trung - Website Trần Kỳ Trung - Nhà thơ, nhà văn

 

 

ĐƯỜNG DÀI THEO BƯỚC CHÂN ANH – ghi chép

 

 

 

           Nghe người ta nói “ Đường tuần tra biên giới”  vội nghĩ ngay đến những con đường giao liên dọc dải Trường Sơn, ngày xưa còn trong quân ngũ, tôi từng đi.

           Một con đường nhỏ ngoằn nghèo vừa một người đi men theo con suối, rồi trườn qua vách cao, chúi xuống dốc thấp, vắt qua mấy cây cầu treo lơ lửng giữa lòng sông cạn…Đi hành quân, lúc mệt thì thôi, chứ lúc khoẻ, nhìn những đàn bướm vờn bay dọc cánh rừng, mơn man bên suối cũng thấy thư thái, giỏi, nổi hứng, có người cũng làm được dăm câu thơ…  Đường tuần tra biên giới mà lãnh đạo ban 47 mời một số nhà văn trong Chi hội nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng cùng với một số  nhạc sỹ, nhà báo… đi tham quan chắc sẽ đẹp hơn thế nhiều, nhiều cảnh sắc muôn màu lung linh dưới nắng ban mai tha hồ thả hồn mà thơ phú…

         Hóa ra không phải, đường tuần tra biên giới, với hiện thực, một con đường chênh vênh nhẫn nại đến cương cường, nhiều lúc tôi có trăn trở suy nghĩ, không hiểu có sức mạnh nào mà các cán bộ, chiến sỹ Ban 47, thuộc Bộ tổng tham mưu, Bộ quốc phòng có thể làm được.    

       Ngồi ngẫm nghĩ, giá như nước mình giống nước Úc, thành một đảo lớn, xung quanh biên giới không giáp với ai, có khi thế lại sướng, khỏi phải “ tranh chấp”, khỏi phải “ Cột mốc” tranh cãi cắm chỗ này, dời chỗ kia…Nhưng, hiện thực làm  gì có chuyện đó. Đất nước mà  cha ông chúng ta “ khai sơn phá thạch”,  yên ổn cả ngàn năm nay, ranh giới rõ ràng, phải giữ, không giữ cho hôm nay mà giữ cho ngàn đời con cháu mai sau để chúng nhớ rằng: Cha ông chúng không phải là kẻ bán nước, dâng đất cho giặc. Ý muốn của dân tộc là thế, của những người Việt Nam yêu nước là thế, nhưng nhiều thế lực hắc ám bên ngoài đâu muốn như thế. Ngoài biển chúng chiếm đảo, chiếm công khai, bất chấp cả luật pháp quốc tế thừa nhận, còn trên đất liền… muôn chuyện để nói. Cột mốc luôn du di, lúc chỗ này, lúc chỗ kia, luôn có cớ để các thế lực phản động cố chiếm từng mét đất. Con sông bên họ chảy vào nước ta, thâm hiểm họ nắn lại dòng, vào đến nước mình, bên mình lở, bên họ bồi. Lợi dụng chuyện đó, họ chiếm đất luôn. Mấy đỉnh cao biên giới, vị trí chiến lược, tìm cách chiếm để khi có chiến tranh nổ ra, họ ở thế thượng phong. Đó là chưa kể, nước ta biên giới giáp mấy nước toàn là rừng, mà rừng rậm, cây to, núi mây chập chùng, một điều kiện thuận lợi cho những kẻ chuyên chở ma tuý, lủi hàng buôn lậu, đánh bạc chui… hai nước qua lại gây bất ổn… Giữ đất thế nào? Làm thế nào giữ biên ải có thế chủ động,ngăn chặn kịp thời những vụ bạo loạn, không cho bất cứ kẻ nào, dù bày ra nhiều trò thâm hiểm, cũng không thể lấn thêm một mét đất. Một câu hỏi, cần gấp một lời giải đúng, một đáp số đúng.

          Đường tuần tra biên giới ra đời vì một lẽ như vậy.

          Dự kiến khi hoàn thành tuần tra biên giới sẽ dài khoảng mười nghìn cây số, đổ bê tông, có chỗ láng nhựa, chạy dọc song song với đường biên giới một khoảng cách không xa, trên lãnh thổ nước mình.

        Con đường này sẽ phù trợ một cách vĩnh cửu cho những cột mốc biên giới đã cắm, mà những kẻ muốn lăm le xâm chiếm cũng không thể di dời. Cũng con đường này, chạy dọc biên giới, thành một hành lang phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số sống ở những vùng heo hút, khó khăn. Cũng có thể là một con đường cho các chiến sỹ biên phòng không phải lội bộ mà có thể… phóng mô tô, cưỡi ngựa, thậm chí ngồi trên những chiếc xe quân sự nhỏ đi tuần tra đỡ được bao nhiêu sức lực và khi “ có động” triển khai đội hình chiến đấu nhanh nhất

          Đó là chưa kể còn nhiều chuyện thuận lợi khác, mà hiệu quả cả về kinh tế lẫn quân sự không thể kể ra đây hết được.

           Nhưng để con đường tuần tra biên giới trở thành hiện thực là cả một vấn đề không đơn giản. Vì đây là con đường “ chưa từng có” trải dài theo chiều dài đất nước, song song với đường biên, bắt buộc phải qua những địa hình vô cùng phức tạp, cần huy động một lực lượng nhân công lớn, có kỷ luật. Đặc biệt, những con người thi công đường tuần tra biên giới phải có một ý chí thép, một bản lĩnh rắn hơn kim cương “ thắng không kiêu, bại không nản”, “ Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Cũng rất cần một ban chỉ huy thật sự khoa học, có kinh nghiệm, giỏi tổ chức, biết liên kết hợp đồng giữa các đơn vị với nhau…

           Điều này lý giải vì sao thi công con đường này là các chiến sỹ quân đội, ban 47, trực thuộc Bộ tổng tham mưu, Bộ quốc phòng.

           Đi với các anh có mấy ngày, nói không quá, những hình ảnh mà bộ đội ta vượt Trường Sơn năm xưa lại hiển hiện trước mặt tôi. Khác chăng, giờ đây trên trời không có tiếng máy bay ì ầm, ở mặt đất không phải đề phòng biệt kích, đêm đến không còn mắc võng ngủ rừng…Và tất nhiên, ăn uống cũng đầy đủ hơn. Chỉ thế thôi, còn tất cả tôi thấy giống vô cùng.

          Cũng những đoàn quân mặc áo lính phá núi mở đường, vẫn những tiếng cười đùa tếu táo sau một ngày làm việc mệt nhọc, cảnh tắm suối, cởi trần kỳ lưng cho nhau… Cũng cùng cảnh quây quần bên nhau bên mâm cơm đạm bạc mấy ngọn rau rừng luộc, thịt gà kho mặn, bát canh toàn quốc, vừa ăn, vừa nói chuyện đủ thứ trên đời. Và trên hết, cực giống, đó là ao ước con đường mình đang làm ( hay đang đi) mau đến đích.

          Khi nghe tôi so sánh con đường tuần tra biên giới với việc mở đường Trường Sơn năm xưa, các anh lắc đầu: “ Trông thế, chứ ngày xưa mở đường Trường Sơn vào nam dễ hơn mở đường tuần tra biên giới bây giờ”. Thấy tôi có vẻ không hiểu, các anh giải thích: “ Ngày xưa mở đường Trường Sơn, thực tế chỉ có một điều khó là làm sao giữ bí mật, không có máy bay Mỹ phát hiện, ném bom, biệt kích phá…Nên con đường vẫn đi vào những chỗ dễ làm, gần suối, gần sông, quan trọng là giữ bí mật…Bây giờ là ngược lại, không phải giữ bí mật, nhưng làm đường toàn những địa hình cực khó, có đoạn phải qua những ngọn núi cao nhất, phải vượt qua cả những con vực sâu nhất, không gần sông, gần suối, không được chọn chỗ dễ mà làm, thậm chí phải đến cả những chỗ chưa từng in dấu chân người. Sau này con đường hoàn thành, có người qua lại chắc chỉ là những chiến sỹ bộ đội biên phòng đi tuần tra biên giới, vì chỗ đó điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt, con người không thể sinh sống…” .

         Nhớ lại cách đây bảy, tám năm, khi bắt đầu tìm hướng mở tuyến con đường. Những đoàn người trang bị y như những đoàn quân chuẩn bị vào một trận đánh. Ba lô, lương khô, súng đạn, võng, tăng… còn thêm những dụng cụ như thước, kính quang học, dây…vác, mang, leo dốc,  xuyên rừng oằn lưng, rách vai, nhiều ngày nhai sống gạo, lương khô, rồi có cả lạc rừng. Hai anh em ruột cùng đi trong những ngày này, người em lạc trong rừng, người anh khóc hết nước mắt vì tưởng, hai anh em không có ngày gặp lại.  Còn làm đường gian khổ không kể hết, có những đoạn đường không thể mang máy móc vào thi công, hoàn toàn bằng sức người. Nhiều đoạn đường, con người phải treo lơ lửng trên vách núi dựng đứng, bẩy từng viên đá… ăn uống rất kham khổ, chỉ có rau rừng và một ít thịt ở dưới chuyển lên. Giải trí văn hóa gần như không có gì, báo chí không có, ti vi bữa đực, bữa cái, ruồi vàng thì vô cùng nhiều. Ban đêm, lán trại nằm giữa rừng già, không ánh điện, xung quanh não nùng của tiếng chim: “ Bắt cô trói cột”, của sương rơi, của gió rít, của những cơn mưa núi phả mạnh vào vách lán, chống đỡ bằng cách nằm ôm lấy nhau truyền hơi ấm…Giữa núi cao, đến khốn khổ, khốn nạn về thiếu nước. Có chiến sỹ kể với tôi: “ Anh có tin không? Hai mươi ngày bọn em không có nước tắm, nước chỉ đủ dành cho nấu cơm, để uống. Thậm chí trước khi đi ngủ, bọn em còn tranh thủ dùng nước vo gạo để rửa chân…”. Cứ nghĩ, ở dưới xuôi, dính tý mồ hôi đã khó chịu, còn đây cả một ngày bám mặt đường, mồ hôi, bụi dính chặt vào lưng, không tắm hơn… hai mươi ngày! Tôi không thể hình dung, tại sao các chiến sỹ trẻ ban 47 có sức chịu đựng giỏi đến thế. Tôi chưa nói đến vật chất, chỉ nói đến tinh thần, quả đây là những con người có một ý chí thép, trung thành vô hạn độ với tổ quốc. Vì sao tôi nói thế? Thời chiến là một nhẽ, cả nước lên đường, cả nước đánh giặc, ai cũng như ai. Còn bây giờ là thời bình, chỉ cần hai tiếng đi xe máy hoặc ô tô xuống dưới kia, là ánh điện, là bia uống thả dàn, là karaoke, là thoả trí tang bồng của những người trai trẻ… những điều đó có sức lôi cuốn một cách khủng khiếp, người ta sẽ so sánh, suy bì, chán nản. Thế mà rất ít cán bộ, chiến sỹ của ban 47 bỏ đội ngũ, đa số vẫn ở lại, thi gan với trời, đọ sức với đất để làm đường, quyết làm bằng xong.

         Qua tìm hiểu, tôi mới biết rằng, trong nhiều đơn vị của ban 47, đã có rất nhiều cán bộ, chiến sỹ từng ra Trường Sa “ ăn dầm, nằm dề” xây cầu tàu, xây những công trình quân sự cả năm trời, bất chấp là mùa mưa bão, hay nắng rát. Họ đã tích tụ trong suy nghĩ, suy nghĩ đó “hóa thạch” không suy suyển:  TỔ QUỐC cần, NHÂN DÂN giao nhiệm vụ là lên đường, không hề tính toán cá nhân hay đòi hỏi một  phần quyền lợi nào.

          Sau bảy, tám năm con đường tuần tra biên giới, tuy chưa phải là hoàn thiện toàn bộ, dẫu vậy, nó đã nên hình hài một con đường ôm trọn vóc dáng đất nước, là  “ những mạnh máu”, nói không quá, đang giữ cho “cơ thể” tổ quốc trường tồn. Xe của ban 47 chở đoàn nhà văn, nhà báo đi qua những cung đoạn đang làm còn lổn nhổn sỏi đá, qua những cung đoạn một bên là vực sâu hun hút, còn một bên là vách đá dựng đứng, chỉ cần sơ sểnh tay lái một chút, chiếc xe có thể lao xuống vực, không có cách gì đỡ nổi. Nhưng cũng có cung đường lát bê tông, cột tiêu đã cắm, biển báo được dựng… xe chạy bon bon. Anh Biền, lái xe đưa đoàn nhà văn, nhà báo đi nét mặt có vẻ hân hoan, nói : “ Cách đây độ dăm năm mà các anh, các chị  đi trên con đường này, không thể nói hết sự vất vả. Lúc đó trên xe của chúng tôi bao giờ cũng phải chở thêm lương khô, mỳ ăn liền, nước uống, tăng võng… vì xe nằm lại trên đường, giữa rừng già là thường xuyên.  Chưa kể những lúc tắc đường do lở núi, hoặc xe bị hỏng đột ngột. Đi được như bây giờ là sướng lắm.”. Thiếu tướng Hoàng Kiền, giám đốc ban quản lý dự án đường tuần tra biên giới ( Bộ quốc phòng) cho chúng tôi hay: “ Làm nên con đường này có cả máu và nước mắt, bảy chiến sỹ đã hy sinh khi làm nhiệm vụ, chưa kể nhiều người bị thương do đá rơi, mìn nổ. Đó là máu. Còn nước mắt, kể ra bao nhiêu chuyện.  Có cán bộ ở trong rừng ròng rã, bám hiện trường, thậm chí tranh thủ mùa khô, tiết trời thuận lợi để làm đường, tết cũng không về nhà, mấy năm liền như thế. Không còn cách nào khác, vợ ở quê phải vào thăm chồng. Gặp nhau, thấy khuôn mặt của chồng đen sạm, áo quần bảo hộ không lành lặn, người gầy như không thể gầy hơn. Ôm nhau, nghẹn ngào, khóc không thành tiếng  Rồi nước mắt khi chia tay nhau, qua những ngày sống thân hơn ruột thịt, chia sẻ từng điếu thuốc, ngụm nước, cả nước mắt khi chứng kiến người bạn của mình hy sinh, bị thương, bị ốm sốt rét. Đó là những giọt nước mắt thật, không giả dối của những con người sống có lý tưởng, ngay thẳng, trọn lòng trung với dân, với nước…”. Thiếu tướng Hoàng Kiền nhấn mạnh với tôi ý đó.

          Cũng nói thêm về về vị tướng này.Ông từng ở bộ tư lệnh công binh làm đường, cũng đã từng đưa dân làng ở quê mình cùng chiến sỹ ra Trường Sa xây cầu tàu ở buổi ban đầu đầy khó khăn, thử thách Với tuổi của ông, sự cống hiến, có thể an nhàn, nghỉ ngơi với tuổi già. Nhưng không ! Tổ quốc yêu cầu,  ông lại lên đường làm một vị chỉ huy tạo dựng con đường mới, một con đường đặc biệt, ngoài chức năng làm giao thông, còn một nhiệm vụ nữa là giữ biên cương. Nhận nhiệm vụ là ông hiểu, làm con đường này chính là hành động cụ thể, thể hiện lòng trung thành với tổ quốc, với dân tộc của một người lính cụ Hồ. Một con đường, ông và cán bộ dưới quyền của ông tự thiết kế, tự thi công, nhiều vấn đề nan giải cùng một lúc xuất hiện. Không nắm sát thực tế, không xuống hiện trường chỉ nghe báo cáo là một điều vô cùng nguy hiểm, với thiếu tướng Hoàng Kiền, ông không chấp nhận điều đó. Không biết bao nhiêu lần ông ăn, ngủ trong lán trại với các chiến sỹ làm con đường này. Mỗi lần xuống cung đường, khảo sát tuyến, đối với ông, như một lần ra trận. Bao nhiêu kinh nghiệm được tích luỹ từ hồi còn ở bộ tư lệnh công binh, ở Trường Sa, ông cố gắng truyền đạt hết cho cán bộ, chiến sỹ. Để anh em hiểu và thành thục về kỹ thuật đổ bê tông theo công nghệ mới, cả một giáo trình khoa học về vấn đề này, ông đã biên soạn thành một quyển thơ lục bát cho anh em cán bộ chiến sỹ học dễ nhớ, dễ áp dụng.

        Cũng nói thêm, thiếu tướng Hoàng Kiền rất thích làm thơ, ông có thể làm thơ ngay khi ngồi trên xe đi kiểm tra dọc tuyến, hoặc cả những lúc trò chuyện với bạn bè. Thơ của ông không phải là những bài thơ tả “ mây, gió, trăng” như ta thường đọc. Ông cho xem mấy bài thơ vừa sáng tác, tôi ngạc nhiên, đó là sự suy tư, trăn trở của một người ham công, tiếc việc: “…Hiệp đồng xử lý chắc tay/Nắmg mau lên tuyến đêm ngày tăng ca/Mưa về dựng mở ô ra/Thêm người thêm máy đại trà bê tông/Cùng nhau gắng sức đồng lòng/Cuối năm hoàn tất thoả mong biên thuỳ.”

         Ước mong cháy lòng của vị thiếu tướng, giám đốc ban 47 cũng như của các cán bộ, chiến sỹ đang thi công là như vậy, nhưng có một cái khó, khó đưa con đường hoàn thành đúng kế hoạch, đến sức người có lớn mấy cũng chịu, đó là thiếu vốn. Trên thực tế, làm con đường tuần tra biên giới cần một số vốn rất lớn, vì đây là con đường chiến lược, Bộ chính trị đã thông qua, chính phủ đồng ý. Tưởng mọi chuyện an bài, thiếu tướng Hoàng Kiền và cán bộ chiến sỹ ban 47 an tâm mà lao vào công việc. Hoá ra không đơn giản,  đất nước đang cần bao việc, việc nào cũng gấp cả, tiền cấp không đủ. Nhìn thấy cảnh các cán bộ, chiến sỹ dưới quyền ăn không đủ no, áo quần qua mưa nắng, lao động vất vả không lành lặn, nhầu nhĩ, những phương tiện cơ giới hỗ trợ công việc không có nhiều, đồng lương không cao… họ không phàn nàn, không suy nghĩ tiêu cực, căng sức, căng lực ra để chống chọi với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, quyết hoàn thành công việc trên giao. Thiếu tướng Hoàng Kiền ước ao: Giá như… đừng có sự thất thoát khủng khiếp của những vụ án kinh tế lớn như vụ vinashin, Vinalines… chỉ dùng số tiền bằng con số lẻ mà những cơ quan này làm thất thoát của nhà nước chi dùng vào việc xây dựng đường tuần tra biên giới, phải tốt bao nhiêu! Cán bộ, chiến sỹ ban 47 đỡ khổ bao nhiêu! Con đường tuần tra biên giới sớm hoàn thành, biên ải sớm bình an bấy nhiêu.

         Thiếu tướng Hoàng Kiều hỏi tôi: “ Anh thấy tôi nói như vậy có đúng không ?”.

         Tôi im lặng, không biết trả lời ông như thế nào cho phải.

          Buổi tối, để ngày mai tạm biệt các anh, tôi ngồi lại với mấy cán bộ, chiến sỹ ban 47 đang trực tiếp thi công con đường này trong một lán nứa heo hút giữa rừng già. Anh em vừa đánh được một con cá to dưới suối làm một nồi cháo đãi tôi. Một anh nói, giọng thật tình cảm: “ Ngày mai xa nhau rồi, tối nay anh thức trắng đêm với chúng tôi nhé, chứ biết bao giờ mới gặp lại…”. Buổi tối ấy, quả thật chúng tôi gần như thức trắng đêm, tôi uống được rất ít rượu mà kỳ lạ, trong buổi tối nói chuyện vui này, tôi uống như không biết say. Mới quen thôi, mà sao cứ như hiểu nhau, thân nhau từ lâu lắm. Trong cuộc vui, có đại tá Vũ Văn Cương, cùng tuổi với tôi, từng là lính vượt Trường Sơn vào nam đánh giặc, cũng từng là giáo viên, giờ chỉ huy một đơn vị thi công đường tuần tra biên giới. Anh hợp với tôi nhiều điều. Bảy năm anh ở trong này làm đường, thi thoảng mới có điều kiện về nhà. Tôi hỏi: “ Có lúc nào ông buồn không?”. Trả lời: “ Công việc cứ cuốn đi, làm sao mà buồn.”. “ Thì cũng có lúc chứ! Chẳng hạn như lúc trời mưa, ngồi trong lán trại như thế này, buồn thúi ruột.”. Trả lời: “ Tôi xin ông, lúc mưa là lo quặn ruột, đá lở, đường tắc, rồi đất lấp… bao nhiêu thành quả làm được cả tháng trời, chỉ một cơn mưa rừng đổ xuống, không khéo thành công cốc. Làm lại từ đầu…ở đấy mà buồn…”. Nói xong anh Cương cười, tiếng cười của con người chấp nhận, lấy công việc đè lên, phủ kín mọi nỗi buồn. Rồi, như không muốn nói đến công việc, những khó khăn, nói cả đêm không hết chuyện. Tính lạc quan, yêu đời, rộn tiếng cười là bản chất của người lính.  Các anh tự động viên bằng những câu chuyện vui: Ngày làm đường thiếu nước, chiều về chỉ dám lấy khăn ướt lau khô mồ hôi rồi đi ngủ, nếu có về thăm gia đình: “ Cứ để người hôi thế này, về nhà nằm cạnh vợ, vợ sẽ quen mùi không đi với trai lạ”. Rồi nữa: “ Những vết ruồi vàng đốt thành sẹo, để đấy, về khoe với gia đình, bạn bè… đây là huân chương “ ruồi vàng” không phải ai cũng có” . Hay như: “ Cứ quen nhai gạo sống với mỳ tôm khô, dạ dày thành sắt, ăn bậy kiểu gì cũng không sợ đau bụng.”. Nghe chuyện các anh kể, cười đấy mà trong mắt cứ cay cay.

           Buổi sáng, trước lúc chia tay, đại tá Lê Quang Hiệp, phó ban 47, phụ trách làm con đường tuần tra biên giới khu vực miền Trung và Tây Nguyên ra tiễn chúng tôi, nói cảm động: “ Được gặp các anh, các chị nhà văn, nhà báo lên chia sẻ, động viên, chúng tôi vui lắm. Chỉ tiếc rằng, con đường chưa hoàn thành để đưa các anh, các chị đi dọc đất nước. Lần sau các anh, các chị lên với chúng tôi nữa chứ. Hứa với các anh, các chị, lần đó, con đường sẽ đẹp hơn thế này nhiều, đi lại dễ dàng hơn…”.

         Hứa với đại tá Lê Quang Hiệp, chúng tôi sẽ lên với các anh, không phải một lần, mà là nhiều lần. Cũng không phải như anh nói, lúc “ đẹp” hay “ dễ dàng” mới lên, mà những lúc các anh đang thi công khó khăn, chúng tôi sẽ lên, sống với các anh, cố gắng ghi lại trung thực những việc làm của các anh. Để sau này khi con đường tuần tra biên giới hoàn thành, tất cả được lát bê tông, trải nhựa phẳng phiu, đi qua những cánh rừng hoang vu, chạy dọc theo những con sông nước chảy trong xanh thơ mộng,  uốn lượn theo những sườn đồi rực màu xanh của bắp, muôn ngàn tía của hoa… Tôi dẫn những em thanh, thiếu niên thích đi khám phá, đi dọc con đường này. Tôi sẽ nói với các em: “ Để bảo vệ trọn vẹn lãnh thổ tổ quốc  Việt Nam như ngày hôm nay và cho cả mai sau, đã có rất nhiều cán bộ chiến sỹ quân đội dâng hết tuổi thanh xuân, đi gần hết cả một đời người, cùng với những nghị lực phi thường đổ mồ hôi, có khi chấp nhận đổ cả máu, mới làm nên con đường TUẦN TRA BIÊN GIỚI tuyệt vời mà chúng ta đang đi. Một con đường rất đẹp với đầy đủ ý nghĩa của từ này. Đặc biệt, đây là một “ bức trường thành” vững chắc không cho bất cứ kẻ thù nào lăm le xâm lược, muốn lấn chiếm từng mét đất của tổ quốc. Các em hãy ghi nhớ điều này mà sống, làm việc  cho xứng đáng.”.

        Đại tá Lê Quang Hiệp nắm chặt tay tôi: “ Xin cảm ơn các anh!”.

        Không! Chúng tôi phải cảm ơn các anh, ngàn lần cảm ơn các anh.

                                     Kom Tum – Hội An  4/2013

              

 

Phóng Sự, Tản Văn | Nhận xét(0) | Trích dẫn(0) | Đọc(1898)
Viết nhận xét
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]