Ở NHA TRANG TÔI CÓ MỘT NGƯỜI BẠN ( Viết về Bạn) - O NHA TRANG TOI CO MOT NGUOI BAN ( Viet ve Ban) - Trần Kỳ Trung - Website Trần Kỳ Trung - Nhà thơ, nhà văn

Tôi biết Trần Việt Kỉnh từ hồi cùng  học ở trường Đại học sư phạm Hà Nội I. Kỉnh học khoa Văn, còn tôi học  khoa Sử. Hồi ấy, những năm 1976, ai là bộ đội phục viên, về học lại  trường sư phạm này, rất dễ thân nhau, dẫu khác khoa. Tôi và Kỉnh là như  vậy, cùng là sinh viên, cùng lên đường nhập ngũ, rồi cùng về lại trường  khi ra quân. Cứ chiều chiều, khi ăn cơm xong, tôi lại thấy Kỉnh khua  guốc gỗ lộp cộp đi từ nhà A7 ( khu ký túc xá sinh viên khoa Văn) sang  khu A6, ký túc xá của chúng tôi chơi. Kỉnh thường ăn vận giản dị, mà quả  thật hồi đó, lũ bộ đội phục viên của chúng tôi cũng toàn nhất bộ màu  xanh, quân phục mang về từ thời quân ngũ, khác chăng, mỗi thằng thêm đôi  “ guốc gỗ”, đi cho nó là lạ một chút. Mới tiếp xúc với Kỉnh, hơi e  ngại, khuôn mặt đôi chút ngầu, ít nói, nói hay nhìn thẳng vào người đối  diện, nhưng rồi đến lúc thân lại rất thích bởi Kỉnh là người hiểu đời,  sống không để bụng, thật giả dễ phân biệt. Kỉnh chơi thân với Huy (sau  này Huy dạy môn Giáo học pháp ở trường Đại học sư phạm Hồ Chí Minh, đã  mất), Huy nằm cạnh tôi, nên Kỉnh đến không có Huy, lại bắt chuyện với  tôi. Tôi thân với Kỉnh từ đó. Tôi quý Kỉnh, một phần những suy nghĩ có  vẻ chín chắn hơn ( Kỉnh hơn tôi hai tuổi), phần nữa, những dự định khi  tốt nghiệp mà Kỉnh tâm sự, tôi nghe rất phục, như sáng tác, rồi cả  nghiên cứu văn học dân gian... Hồi ấy nghe Kỉnh nói dự định của mình,  tôi suy nghĩ: “ Không biết bố này vẽ ra như thế liệu có thực hiện được  không”.Có ai ngờ, những dự định khi còn là sinh viên, đến lúc tốt nghiệp  ra trường công tác tại Nha Trang, Kỉnh làm được rất nhiều. Tôi quý  Kỉnh, nhất là sự chân tình với bạn. Khi tôi dạy ở Trường Đại học sư phạm  Quy Nhơn, Kỉnh liên tục hỏi thăm, rất mong tôi về Nha Trang để Kỉnh  đón. Những năm 1978 đến năm 1982, tình hình đất nước ta thậm khổ, ăn  uống thiếu thốn, đi lại khó khăn, từ Quy Nhơn về Nha Trang đâu có cách  xa, ấy vậy mà tôi không có điều kiện đến thăm Kỉnh. Đã vậy, công việc  giảng dạy rất bận, Kỉnh hỏi thăm, viết thư động viên, chia sẻ kinh  nghiệm... tôi cũng ít khi hồi âm. Giờ nghĩ lại, mới thấy ân hận, mà ân  hận thì mọi chuyện đã muộn. Qua bạn bè, tôi biết thời gian này Kỉnh lập  gia đình, vẫn làm công tác giảng dạy ở trường Cao Đẳng Sư Phạm Nha Trang  rồi hay tin Kỉnh không làm công tác giảng dạy nữa mà trở thành một  chuyên viên của Sở Văn Hóa làm công tác nghiên cứu về văn học dân gian,  đúng sở trường và mơ ước từ thủa sinh viên. Tôi mừng cho bạn.


Khi tôi không còn làm công tác giảng dạy ở trường Đại học sư phạm  Quy Nhơn, chuyển về NXB Đà Nẵng, đi lại có phần dễ dàng hơn, đến lúc  này tôi mới có điều kiện gặp Kỉnh, sau bao năm xa cách.
Gặp Trần Việt Kỉnh, vẫn tình cảm nồng hậu như hồi còn học ở Hà Nội. Kỉnh  làm cơm rồi vồn vã mời tôi về nhà. Về nhà của Kỉnh, tôi mới biết thêm  một “ chi tiết” đặc biệt, bà xã của Kỉnh là nhà thơ Lê Khánh Mai, một  trong những hoa khôi khoa văn hồi đó, giờ chị là một nhà thơ có tên tuổi  trên văn đàn.Vì thế cuộc gặp gỡ của chúng tôi càng dễ nói chuyện. Thăm  Kỉnh, tôi được biết, đam mê thực hiện bằng được những dự định từ hồi còn  sinh viên vẫn không dứt và Kỉnh làm được nhiều việc. Kỉnh là đồng tác  giả và là tác giả của mấy cuốn sách “ Thơ ca dân gian Phú Khánh” (  1982), “ Truyện cổ dân gian Phú Khánh” (1989), “ Đất nước con người  Khánh Hòa” và đặc biệt cuốn “ Nữ thần Pô Na Ga ”(1989) được dịch giả  Honđa Mamoru dịch ra tiếng Nhật... Thời điểm này, Kỉnh ra sách liên tục  thì tôi, vẫn là một anh biên tập viên của Nhà Xuất Bản chưa ra được một  cuốn sách nào. Tôi nhìn Kỉnh với ánh mắt thán phục, những dự định thời  sinh viên của Kỉnh, thì nay đã thành hiện thực. Nhìn những công trình  văn hóa của Kỉnh, mới thấy sức làm việc của Bạn thật đáng nể, nhưng có  điều lạ, Kỉnh không hề “ khoe” những chuyện này với tôi, coi những  chuyện đó là bình thường, chỉ là sự khởi đầu, như một một vận động viên  tập khởi động để có sức khỏe, kinh nghiệm ... đến với những cuộc đua  đường trường“ văn học” không có đích.
Một lần tôi về Nha  Trang giúp Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang ra cuốn sách “ Nha Trang  Xưa và Nay”, một việc khó, tôi nhờ Kỉnh. Kỉnh giúp tôi tận tình. Nhờ sự  giúp đỡ của Kỉnh, công việc ra sách trở nên suông sẻ, đúng kế hoạch và  đặc biêt, cuốn sách đạt được nội dung, thẩm mỹ. Kỉnh không chịu nhận  những món quà của NXB Đà Nẵng tặng, mà nói với tôi: “ Thấy ông vào Nha  Trang là tôi mừng, quà cáp làm gì. Tình bạn tốt sẽ còn nhớ và sẽ còn đến  với nhau”. Tôi với Kỉnh nhiều lần tâm sự, lúc ở bãi biển, lúc trong quá  trà, khi bên bàn nhậu. Kỉnh uống rất ít, mà ngồi nói chuyện với bạn là  nhiều. Những nhân tình thế thái, nỗi vui buồn, hai anh em kể nhau nghe.  Qua những lần tâm sự, tôi hiểu, cuộc đời của Kỉnh không phải thuận buồm  xuôi gió mà cũng có nhiều trắc trở, có điều, bình tĩnh, ít nói, suy nghĩ  thật chín chắn, tin ở mình. Kỉnh nói nhiều về chuyện gia đình, tự hào  có người vợ thương chồng, chia sẻ niềm vui, san bớt nỗi buồn, cùng chồng  xây dựng sự nghiệp. Kỉnh kể về những người con, vui với thành tích học  tập và sẽ hạnh phúc trong tình yêu mà các cháu đã chọn.
Ngoài công việc, Kỉnh còn làm thơ, với tôi Kỉnh là một nhà thơ Chính  Hiệu viết hoa. Nhiều bài thơ Kỉnh chép tay tặng tôi khi ở bàn trà, trong  quán nhậu đọc thấy vui, ấp áp nhất là tình bạn, hãy sống vì nhau, lúc  khổ đã nhớ, lúc vui phải càng nhớ hơn. Tôi được Kỉnh tặng tập thơ “ Lửa  và Đất” – đọc nhiều bài thơ của Kỉnh viết, có thể đó là lúc ngẫu hứng,  hoặc như ngồi một mình, bất chợt một câu thơ vụt hiện lên... Đấy là điều  tôi suy diễn, ấy vậy vẫn cứ tưởng như Kỉnh viết tặng riêng cho tôi:

...Nắng chiều xiên khoai xế bóng
Ta ngồi, ta nhớ bạn hiền
Rượu rót, chờ mong – ruột nóng
Giờ này sao bạn chưa lên?

Trời đã cho ta cuộc sống
Làm sao thiếu nổi bạn bè
Rượu thường khơi nguồn thi hứng
Vắng bạn – Thơ đọc ai nghe?

Trong thơ của Kỉnh rất ít khi nỗi buồn hiển hiện, nhưng đọc  lâu, mới thấm nỗi buồn đó, nó đẫm lên khóe mắt, cái nhìn, suy tư, đậm  đặc đến độ gần như bình thường, mình cam chịu. Tôi nghĩ không dễ nhà thơ  nào, có thể viết được điều đó. Nhưng bạn của tôi, Trần Việt Kỉnh, đã  viết được. Ví dụ, khi Kỉnh gặp lại người đồng đội cũ, giờ làm người chữa  xe đạp ngồi một chỗ ở ngã tư, bụi mù mịt, chẳng ai để ý, trừ những  người hỏng xe. Song, dưới con mắt của Kỉnh, người bạn ấy là một hình ảnh  đẹp, khó có thể quên:

Sống như thế này vẫn hãnh diện đời trai
Cái gì hiến dâng, bạn đã trao cạn kiệt
Chiếc áo lính mòn vai mùa chiến dịch
Vẫn mặc để ngồi sửa xe ngã tư

Cái gì nên thì dùng, sửa không được là hư
Tính rành ròi, tác phong người lính
Sửa xe lề đường, nhưng giữ trọn chữ tín
Sống ở ngã tư mà lòng không ngã tư.

Đọc kỹ đoạn thơ trên, tôi thấy một nỗi buồn thật thấm. Những  con người như người lính kia, bạn của Trần Việt Kỉnh, nhân cách đẹp như  thế, sống vô tư, trọn vẹn: “ Sống ở ngã tư mà lòng không ngã tư” sao  không ai nhìn thấy!!! trừ bạn tôi, Trần Việt Kỉnh.
Tôi  cũng đã từng đi bộ đội, cũng vượt dãy Trường Sơn, vai chai sạn vì chiếc  ba lô nặng vít xuống. Đã có lần quá mệt khi trèo qua một dốc cao, tôi  ước ao: “ Giá như chiếc ba lô trên vai của mình ai đó vác hộ hoặc lấy  đi, tốt bao nhiêu!”. Với tôi, kỷ niệm cuộc đời binh nghiệp, nhiều lúc  không muốn nhớ! Đó là những năm tháng khủng khiếp. Nhưng với Trần Việt  Kỉnh, ngược lại, những năm tháng đó là những năm tháng như những bao cát  chất ngày một cao cho con đê tình yêu ngày càng vững chắc, bất chấp  sóng to, bão dữ. Chỉ chiếc ba lô cũ bị mấy mảnh bom Mỹ cào rách, đối với  Kỉnh, đó những kỷ vật nói hộ mình một ước mơ cháy bỏng:

Chiếc ba lô cũ của tôi
Quai đeo còn dấu mồ hôi thấm vào
Mấy lỗ rách, bom Mỹ cào
Ba lô xanh lại vá màu chỉ đen
( Làm sao gửi được cho em
Những năm tháng ấy để em khâu dùm)

Rõ ràng, nghĩ về quá khứ, để mình sống tốt cho hiện tại và  tương lai, khi nghĩ lại những năm tháng mình đã sống, không ân hận, Kỉnh  hơn tôi rất nhiều.
Với Mẹ, Kỉnh cũng có những câu thơ  cháy ruột. Tất nhiên ai viết về Mẹ mà không thế, nhưng Kỉnh viết về Mẹ  có những điểm riêng, đọc như đóng dấu chặt vào suy nghĩ. Viết về Mẹ đối  với Kỉnh, đó là một câu chuyện kể tình yêu chung thủy vợ chồng, là niềm  thương đau đáu khi chồng đi xa. Là nỗi khắc khoải, dày vò nửa đêm giật  mình thức giấc khi không thấy người thương bên cạnh và...dồn dào kỷ niệm  mỗi buổi chiều ùa về khi người chồng đã khuất bóng:
...Nhớ buổi ấy những năm đầu kháng chiến
Cha con về làng nửa đêm thăm nhà
Để rồi lên chiến khu biền biệt
Đêm giáp ranh, mẹ không dám nấu một nồi cơm nhỏ
Cả tiếng kẹt cửa cũng nhỏ hơn ngày thường
Cuộc chia tay chỉ có ánh mắt nhìn quyến luyến...

Kỉnh ghi lại hình ảnh Mẹ khi chia tay với Cha, mà phát hiện  tiếng kẹt cửa cũng nhỏ hơn ngày thường, tôi cho đó là một chi tiết rất  đắt, rất đẹp của tình cảm. Chỉ có người con rất thương mẹ, kính trọng mẹ  thật sự mới để ý đến chi tiết đó.
Thơ của Kỉnh nhiều chi  tiết, nhưng không ngồn ngộn, không lặp lại, không ngoa ngôn... tôi cho  đấy là một thành công, nếu Kỉnh đi tiếp chắc chắn sẽ có nhiều bài thơ  được nhiều bạn đọc nhớ.
Trong thơ của Kỉnh, như muôn thủa,  đề tài tình yêu bao giờ Kỉnh cũng nâng niu, chăm chút như mỗi sáng mở  cửa giơ tay đón ánh bình minh. Viết về tình yêu, tôi có cảm tưởng, bài  thơ nào của Kỉnh cũng mới. Kỉnh đã qua năm tháng ác liệt, kề cận sống  chết, được toàn vẹn trở về, được yêu, hơn bao đồng đội, tuổi đẹp nhất,  đã nằm lại giữa chiến trường hoặc trên rừng đại ngàn...Nên thế, với  Kỉnh, tình yêu rất thiêng liêng, không thể là một sự đùa bỡn:

Có những lúc lòng không thể lãng quên
Là nỗi niềm day dứt nhớ về em
Như chim kia nhớ về nơi tổ ấm
Suốt mùa đông hoảng hốt bay tìm

Em ở nơi xa khuất bao núi khó tìm
Cho lòng anh trở thành ngọn gió
Cho lòng anh sẽ là cơn bão tố
Bay điên cuồng, đến yên ngủ bên em

...
Đêm khuya rồi, trái tim chưa ngủ yên
Gọi tên em như tiếng lòng nhắc mãi
Như quả chín đến kỳ, không kịp hái
Tình yêu anh rụng kín gốc cây đời

Quan niệm của Kỉnh về tình yêu, đọc nhiều bài thơ Kỉnh viết,  hình như là sự “ trả nợ” của những người đàn ông, vì vướng bụi của kiếp  phong trần, mà làm cho nhiều người phụ nữ đau khổ. Nên khi đã nên vợ,  nên chồng, cái ơn của người vợ vì chồng, vì con, người đàn ông có trả  đến hết đời vẫn còn nợ hay nói rõ hơn, những ngày hạnh phúc bên vợ con,  bao giờ cũng là ngày hợp hôn đầu tiên, không có ngày cuối:

Em đã sống cùng anh
Qua một thời chiến tranh
Vẫn tình yêu sâu đằm, bền chắc
Như nhịp đi của ngày
Như nhịp thở của đêm
Em nhường nhịn cho anh và con
Niềm vui nhỏ nhất của ngày thường


Ôi bữa cơm có vợ có chồng
Hạt gạo ta ăn không bao giờ cũ
Tình yêu vẫn cháy sáng hàng ngày như ngọn lửa
Ở trong căn bếp mỗi nhà

Với Kỉnh, trong tình yêu, tình vợ chồng sợ nhất là sự trống  vắng. Căn nhà ra vào bóng hình người thương đã trở nên quá quen thuộc,  hiện hữu. Có những điều hàng ngày vẫn thấy bình thường vì nó là không  khí, là ánh sáng, là một thực thể mình vẫn bám vào đó để sống, không để  ý. Nhưng nếu vắng những hình ảnh đó, dù chỉ là tạm thời, cũng làm cho  mình chới với, nhớ thắt ruột, cồn cào, khao khát. Bài thơ “ Đèn khuya  sân ga” của Trần Việt Kỉnh, theo tôi là một bài thơ hay, nói đúng tâm  trạng này:

Ga Nha Trang
Đêm ấy tiễn em đi
Một mình tôi
Bóng đổ
Một mình tôi
Cháy đỏ
Như ngọn đèn khuya
Sân ga
Tiếng còi tàu
Rời xa
Nha Trang
thành điểm hẹn
Trăng hạ tuần quyến luyến
Mắt đỏ
Khóc ai


Nha Trang đêm nay
Tôi nhớ một người
Trái tim tôi chia nửa
Một mình tôi
cháy đỏ
Như ngọn đèn khuya
Sân ga

Làm thơ, mọi đề tài, mọi số phận con người, các cung bậc nổi  chìm của tình yêu... Kỉnh đều đắm đuối, đều lo mình không thể đi đến tận  cùng của cảm xúc:

Bài thơ tôi dở dang
Tưởng viết tận cùng không có đích
Tôi chạy đua với thời gian, chạy đua cùng trang sách
Và dường như bất lực trước những ngọn núi thơ...

Và thực sự Kỉnh đã cố gắng viết, trải hết tình cảm của mình lên những trang giấy trắng. Gắng đến tận cùng.
Hôm tôi dự trại sáng tác ở Đại Lãi, cùng với nhà thơ Pờ  Sảo Mìn – Nhà thơ dân tộc Pa zí. Nhà thơ Pờ Sảo Mìn lấy trong túi ra một  số tấm ảnh chụp ở Nha Trang nói với tôi trong một tâm trạng buồn không  thể tả:
- Trung thấy mấy bức ảnh này có đẹp không?
Tôi gật đầu, nhà thơ nói tiếp, điều ấy khiến cho tôi sững sờ:
- Người chụp là Trần Việt Kỉnh đấy, người bạn rất thân của tôi. Anh ấy mất rồi...
Một điều tôi không thể tin là sự thật? Sao lại đường đột thế? Mà vì sao tôi không biết tin?
Sau này tôi mới biết, Kỉnh có tiền sử bệnh nặng, nhưng với  bạn bè, gần như Kỉnh không cho ai biết, trừ người thân trong gia  đình.Tính cách của bạn tôi là như thế, khi còn sống, có thành quả trong  công việc, Kỉnh cũng không muốn nói, muốn khoe. Và khi mất, Kỉnh cũng  lặng lẽ, cố thật nhẹ nhàng,  không muốn làm phiền ai.
Sau  này, khi tôi từ Hội An vào dự đám tang của nhà văn Phan Cao Toại, nhà  thơ Lê Khánh Mai có dẫn tôi đến chỗ Trần Việt Kỉnh nằm, nhà thơ Lê khánh  Mai nức nở nói với chồng:
- Anh Kỉnh ơi! Anh Trung đến thăm anh, sao anh không ngồi dậy đón anh ấy?
Tôi nhìn tấm ảnh của Trần Việt Kỉnh trên tấm bia, ánh mắt  của Kỉnh như nhìn tôi mà lời của Bạn cứ văng vẳng bên tai:“...Thấy ông  vào Nha Trang là tôi mừng, quà cáp làm gì. Tình bạn tốt sẽ còn nhớ và sẽ  còn đến với nhau”.

Hội An đầu hạ 2010

Viết Về Bạn | Nhận xét(0) | Trích dẫn(0) | Đọc(1530)
Viết nhận xét
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]