TRƯỜNG TÔI - Tản văn - TRUONG TOI - Tan van - Trần Kỳ Trung - Website Trần Kỳ Trung - Nhà thơ, nhà văn

TRƯỜNG TÔI - Tản văn

[Không rõ 14/12/2012 08:51 | by kytrung ]

Tác giả ( Đứng giữa) cùng các em cựu sinh viên khoa Sử - Chính trị - Trường ĐHSP Quy Nhơn

Trong lễ kỷ niệm 35 năm thành lập.

 

TRƯỜNG TÔI – Tản văn
 
Về lại nhà, sau mấy ngày vào dự lễ kỷ niệm ba mươi lăm năm thành lập trường Đại Học Quy Nhơn. Ấy vậy hình ảnh thân thương, cảm động của cuộc gặp gỡ với đồng nghiệp cũ, với các sinh viên cũ… cứ vấn vương trong suy nghĩ, không thể nào dứt bỏ để cho mình làm việc bình thường.
Năm 1978, tốt nghiệp Khoa Sử - ĐHSP Hà Nội I, mình được Bộ Giáo Dục ( cũ ) giữ lại làm giảng viên và điều động vào giảng dạy tại khoa Sử - Chính trị , trường ĐHSP Quy Nhơn ( Nay là trường ĐH Quy Nhơn). Lúc đó, trường này mới thành lập, tất cả còn ngổn ngang, hầu như cơ sở vật chất không có gì. Mấy giảng đuờng trống hoác, hai khu tập thể hình chữ O không sinh viên. Thư viện nghèo nàn, sách tham khảo, tư liệu đều thiếu một cách trầm trọng… Nếu “ giàu có” thì phải nói, đó là gió. Gió biển mênh mang cả sáng, cả chiều. Rồi đến nắng, nắng rát ràn rạt, thừa thải, đủ làm cho da trở nên màu nâu trong một thời gian ngắn. Rồi còn gì nữa? Sóng biển, sóng biển vỗ ngay dưới chân, bất tận, nhẫn nại lúc rì rào như một lời thủ thỉ, lúc gào rú giận dữ như muốn trút bỏ mọi nỗi niềm, chấp nhận đua với thời gian, không bao giờ chịu dừng. Cả một khoa lớn gồm hai bộ môn Sử - Chính trị mà chỉ loe hoe vài cán bộ như mình. Nhưng điều đó không hề ngăn cản được sự nhiệt tình. Quên tất cả, kể cả nỗi buồn, lăn vào mà làm, lăn vào mà để thể hiện khả năng của mình, không hề có một lời thở than, cũng không hề có sự so đo, tị nạnh.
Giờ ngồi nghĩ lại, chính mình cũng không hiểu, lúc đó lấy nghị lực đâu để làm việc một cách nhiệt thành đến thế!
Chỉ có thể giải nghĩa, đó là sự nhiệt thành của tuổi thanh niên. Mà nhiệt thành của thanh niên bao giờ cũng ngây thơ, vô tư, trong sáng. Cũng chính điều đó, xây cho mình một ấn tượng, một hoài niệm, dẫu có đi muôn nẻo cũng không thể quên. Trước hết là tình cảm thầy, trò. Khóa sinh viên đầu tiên mà mình làm chủ nhiệm bao gồm các em sinh viên đủ mọi miền của đất nước. Nhiều nhất vẫn là mấy em sinh viên quê ngoài bắc. Xa gia đình, xa quê đã gắn các em vào làm một, một gia đình lớn. Mình cũng ở hoàn cảnh tương tự như các em, xa quê, xa gia đình nên rất thương các em. Cũng phải nói thêm rằng, thời điểm năm 1978, là thời điểm bắt đầu sự khốn khó về kinh tế, nhìn đâu cũng thấy thiếu, lúc nào cũng có cảm giác đói. Hình như điều đó cũng làm cho con người tựa vào nhau để vượt qua sự nhọc nhằn, tị hiềm. Không thể quên được những ngày thầy trò đi lao động ở khu kinh tế mới Long Mỹ, Nam Tăng trồng rau muống, rau lang để cố cải thiện bữa ăn. Rau không thấy đâu mà thấy nhiều buổi chiều cả thầy lẫn trò phải đi hái rau má về nấu canh. Cơm gần như là độn, còn sắn (mì), bo bo… mới là chính. Quần, áo mặc không lành lặn, thầy, trò như nhau, bạch phếch, đầy miếng vá. Điều khoả lấp nhọc nhằn, quên những cơn đói hành hạ, nỗi nhớ nhà là tiếng hát, tiếng cười, là những tối quây tròn bên đống lửa sinh hoạt tập thể, tâm sự…trò không dấu thầy một điều gì, còn thầy với trò, thông cảm, thương nhau kể cả những trò nghịch ngầm đậm nét của tuổi trẻ.
Giờ tìm đâu ra những tình cảm ấy, nhất là môi trường đại học.
Mình nhớ một kỷ niệm, buổi sáng sớm, vừa mới ngủ dậy có tiếng gõ cửa. Ra mở cửa, trước mặt mình là một cậu sinh viên dáng gày gò, quần áo nhầu nhĩ sau mấy ngày ăn ngủ vật vờ trên tàu hoả từ Hà Nội vào. Duy chỉ có ánh mắt, ánh mắt lúc nào cũng cũng ánh lên nét tinh nghịch. Cậu sinh viên đó, sau tiếng “ Em chào thầy!” rồi cởi ba lô ra, rút đưa cho mình một tấm gỗ, vốn là bàn ăn trên tàu hoả, nói: “ Mấy lần em sang chỗ thầy, thấy thầy không có bàn ăn, cứ ngồi bệt xuống đất trải báo ra lót. Em đi trên tầu, bẻ trộm chiếc bàn này, biếu thầy. Thầy chỉ cần kê mấy viên gạch lên là có cái bàn ăn lịch sự…”. Mình vừa giận, vừa thương: “ Chết mất! Em làm thế này, người ta bắt được thì sao? Hơn nữa đây là tài sản nhà nước. Mình không nên làm như thế!”. Cậu sinh viên đó cười: “ Thầy ơi! Em đã lấy thì làm sao họ bắt được! Hơn nữa, cả toa tầu, khách đi tàu bẻ gần hết, còn có hai, ba cái chứ mấy! Em không lấy, người khác cũng lấy.” Mình nghe vậy, đành chịu, chỉ đưa ra một lời khuyên: “ Thôi, em nhé! Lần sau đừng làm thế!”. “ Em hứa! Chỉ một lần này thôi, vì thầy không có bàn ăn…”.Thương thế! Cậu sinh viên ấy sau này trở thành một người làm nghệ thuật nổi tiếng, tình cảm thầy trò, gặp mình vẫn như ngày nào. Rồi một chuyện khác, hơn mười giờ tối, anh V… cũng là cán bộ giảng dạy, ngủ cùng phòng, sang khu sinh viên về, nét mặt buồn, tay cầm hai củ đậu, nói: “ Tội quá ông ạ! Tôi đi qua khu bếp sinh viên phát hiện mấy “tướng” đang lấy mấy que nhọn chọc qua khe cửa của kho để lấy củ đậu. Phát hiện thấy tôi, mấy “ tướng” vội bỏ chạy, đánh rơi mấy củ đậu này. Tôi nhặt lên, đuổi theo để đưa cho mấy em mang về ăn, kẻo đói. Thế mà chúng nó tưởng tôi đuổi để bắt đưa lên cờ đỏ, cứ chạy. Tôi gọi mãi không đứa nào đứng lại…”.
Tình cảm thầy,trò như thế, làm sao mình quên.
Cũng ở trường ĐHSP Quy nhơn những năm tháng đó, điều để mình nhớ, đó là “lực bất tòng tâm” của người thầy không thể giúp gì được cho trò. Hồi đó, có những quy định lạ lùng, bây giờ kể lại có khi cho là chuyện “khó tin”, nhưng lúc đó là sự thật hiển nhiên. Có sinh viên, gia đình theo đạo phật, ăn chay trường. Vào trường, Ban giám hiệu lại cấm sinh viên ấy ăn chay, bắt ăn mặn.
Điều vô lý không thể tưởng!
Lại có chuyện, một anh bạn khoa Văn giới thiệu với mình một sinh viên nữ, vốn là giáo viên cấp II đi học. Em sinh viên này nét mặt hiền, ánh mắt buồn, nhưng lúc nào cũng giữ được dáng đoan trang, ăn nói dịu dàng từ tốn, đúng tác phong sư phạm. Em học ngoại ngữ rất giỏi. Ngoài tiếng Anh đã giao tiếp được, em còn học tiếng Nga rất chăm chỉ, tiếp thu rất nhanh. Đặc biệt , em có trình độ thẩm thấu văn học rất tốt. Em thuộc rất nhiều thơ Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Quang Dũng, Bùi Giáng, Du Tử Lê... Mình tin, chỉ độ vài năm, khi ra trường, em sẽ là một giáo viên dạy văn rất tốt, rất cần cho đất nước. Nhưng em ấy chỉ kịp học hết kỳ I, nhà trường buộc em phải thôi học vì gia đình có người anh là sỹ quan chế độ cũ bị bắt đi học cải tạo. Mình và anh bạn khoa Văn không thể đấu tranh để em ở lại tiếp tục học, đành thở dài, bất lực.
Đêm ấy, trước lúc chia tay, mấy thầy trò đi dọc bãi biển, tâm sự nhiều lắm, em nói về tương lai mà nước mắt chảy dài. Còn mình, những lời an ủi, thương cảm cố nói thật nhiều để em bớt đi nỗi buồn, nhưng hình như… cũng giống tiếng động của những con sóng kia, dẫu có vỗ về, nhưng đâu có thay đổi được màu đen như mực của biển Quy Nhơn tối ấy.
Sau này anh bạn khoa văn cho mình biết, em cùng gia đình tìm cách vượt biên ra nước ngoài, nhưng không đến đích, thuyền bị chìm giữa biển…
Em chết do ai?
Mình cũng thấy như có lỗi trong chuyện này. Giá như mình giữ liên lạc, làm chỗ dựa tinh thần cho em, có khi chuyện đó không xảy ra…
Những năm tháng dạy học ở Quy nhơn, đến ngay như mình, làm thầy giáo, nhưng nói đã làm gì với kiến thức để truyền đạt cho sinh viên. Đó là câu hỏi khó! Kiến thức nào!!! Mấy trang giáo án gần như chép lại khi mình học ở Hà Nội, là những buổi theo giáo viên được mời từ ngoài bắc vào thỉnh giảng. Bộ môn mình dạy, rất ít tài liệu tham khảo, chủ yếu mấy quyển sách mang vào, học thế nào, dạy thế nấy, một sự nhồi nhét kiến thức đúng nghĩa. Một môn học, học liên tù tỳ năm tiết liền, trong một ngày, Cứ học như thế trong một tháng, thầy lên lớp đọc, sinh viên ngồi dưới chép, chép đến mỏi tay. Đói hoa cả mắt, học chán ngắt, không một sự hứng thú. Kết thúc một môn học, tổ chức thi ngay. Thi cho có lệ, chứ thực ra, chỉ cần không học trong một tháng… dễ kiến thức của thầy lại trả cho thầy. Nhưng trong cái rủi, lại có cái may. Học khổ, ăn khổ, ở khổ… không thể trông đợi có người nào đó đưa tay cứu vớt, mà mỗi người tự rèn cho mình tính nhẫn nại, chịu đựng, tìm ra phương pháp để tồn tại. Thêm vào đó ý chí tập thể cùng chung lòng không bỏ quên ai, dìu nhau đi. Sau này khi ra trường, đức tính đó đã giúp các em sinh viên trưởng thành, dễ thích ứng, dù ở môi trường nào. Mình mừng nhất đó là nhân cách sống trung thực của các em, trước hết với mình, thầy chủ nhiệm cũ, sau đó đến bạn bè, trước sau như một. Gặp các em, sau ba mươi lăm năm, tiếng : “ Em chào thầy!” vẫn đầy tràn tình cảm, tươi nguyên. Chứng kiến cảnh các cựu sinh viên những khóa đầu gặp nhau, giờ đã bước sang tuổi gần sáu mươi, giữ nhiều chức vụ khác nhau, người Tổng biên tập tờ báo lớn, người làm đạo diễn, vụ trưởng, vụ phó, người là đại biểu Quốc hội… nhưng cũng có người chỉ là anh giáo viên cấp III, thậm chí có người bỏ nghề làm anh nông dân… Ấy vậy, gặp lại nhau, vẫn giữ được tiếng cười hồn nhiên, những ánh mắt nhìn nhau như quên tuổi tác, cả cách xưng hô nữa, y như ngày đầu nhập trường… thật cảm động.
Bây giờ nhìn vào vật chất, tưởng có thể hơn thời mình và các em sinh viên đã sống ở trường ĐHSP Quy nhơn. Nào nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh…đến ăn mặc, chải chuốt, lịch sự hơn. Kể cả nước da nữa chứ, hồng hào, tươi tắn… Dẫu thế, để tìm ra được một tiếng cười vô tư, một chỗ ăn, nói thoả mái không ngượng ngập, không phải nhìn trước, ngó sau, chẳng phải thưa gửi, nịnh bợ ai quả là khó! Phía trước, cuộc sống còn bao nhiêu điều bộn bề, lo toan, đối phó, tìm được một phút giây thanh thản với chính mình giữa bạn bè, rất hiếm. Và cũng giữa thời buổi “ chợ trời”, mọi giá trị tinh thần, kể cả đạo đức, nhắc lại như một từ phù phiếm, con người bi quan, hay lạc hướng giữa buổi thuyết giảng “lý tưởng”, “chủ nghĩa”, đến độ không dám nói thật, không dám sống thật với mình… thì chỉ có những buổi gặp gỡ như thế này, ôn lại những năm tháng sống chết với nhau, thương nhau hết lòng, con người mới có một nụ cười tự nhiên, sống đúng với mình nhất.
Chỉ thế thôi, làm sao không mong có ngày gặp lại.
 
 
Bài viết cùng chuyên mục
[9804] NÓI VỚI CHÁU NỘI31/10/2014
[2648] LỚP TÔI - Tản văn29/11/2012
[4079] ĐÁM CƯỚI LÀNG - Tản văn23/10/2012
[2425] HỒN HÀ NỘI TRONG PHỐ CỔ HỘI AN - Tản văn10/8/2012
[2059] NÓI VỚI CON - Tản văn18/7/2012
[2724] LÃNG ĐÃNG ...SÀI GÒN25/3/2012
[5497] MẸ TÔI ĐI TÂY4/11/2011
[1887] GHI CHÉP MỘT LẦN ĐẾN24/3/2011
[2079] Nắng Lào24/3/2011
Tản văn | Nhận xét(3) | Trích dẫn(0) | Đọc(4179)
Thủy Email
16/12/2012 09:34
Bài thầy viết đầy tâm trạng, nhiều câu chuyện bọn em đã được nghe thầy kể nhiều lần, nhưng vẫn xúc động, hội Đà nẵng may có thầy ủng hộ, động viên, nên thường xuyên gặp mặt và tình cảm thầy trò vẫn trân trọng như ngày nào thầy nhỉ?
mai Email
16/12/2012 03:09
Vô sư phạm là "bước đường cùng" rồi, trường nghèo là phải.Trường SP QN hồi trước toàn áo dài trắng. Ra đường gặp gió biển thổi bay bay... Băng qua sân bay, vào quán cà phê (không nhớ tên) cà phê "kho" nhưng ngon tuyệt. Chỉ mấy đứa bạn trong trường làm thổ địa mới biết chứ mình đóng ở Gia Lai,đi công tác, tranh thủ ghé qua thì chịu. Hơn 30 năm rồi vẫn chưa tìm được ly cà phê nào giống như vậy.Còn chuyện lý lịch thì khỏi bàn. Nguyễn Chí Trung học dốt nhất TQC vẫn vào ĐH, vẫn làm GĐ, trong khi đứa bạn cùng lớp là Nguyễn Xuân Bản thi vào ĐH Huế đứng đầu bảng (gần 30 điểm) vẫn không được đi học!
Dũng Email
14/12/2012 15:52
Các thế hệ sinh viên Văn-Sử họ gặp nhau toàn kể chuyện cũ, ôn ngheo kể khổ anh Trung nhỉ. Không như bên kinh tế bọn tôi gặp nhau được lần đầu còn vui, lần sau họ chia phe ngay, chỉ gặp chung được vài phút sau đó các nhóm tùy nghi di tản tìm chỗ chơi riêng, chán lắm. Có lần tôi rủ anh bạn phổ thông, sau học sử đi chơi cho vui. Đến nơi thấy không khi họp mặt bọn kinh tế kiểu ấy, nó bảo lần sau tốt nhất đừng đi. Tôi đi dự 3 lần, từ đó đến nay 4 -5 lần nữa khg có mình cũng chẳng ai biết(?) Chẳng lẽ họ đều mắc bệnh nghề nghiệp cả hay sao?.
Phân trang 1/1 Trang đầu 1 Trang cuối
Viết nhận xét
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]