NHỮNG NGƯỜI THẦY TÔI NHỚ Ở CẤP III - ĐAN PHƯỢNG - NHUNG NGUOI THAY TOI NHO O CAP III - DAN PHUONG - Trần Kỳ Trung - Website Trần Kỳ Trung - Nhà thơ, nhà văn

 

NHỮNG NGƯỜI THẦY TÔI NHỚ Ở CẤP III ĐAN PHƯỢNG

 

 

                Kính tặng những người Thầy đáng kính của tôi

 

 

            Khóa học 1969 – 1970 tôi chuyển trường, từ cấp III - huyện Phúc Thọ ( Hà Tây cũ ) về trường cấp III - Đan Phượng ( Hà Tây cũ).

          Trường cấp III Đan Phượng nằm ngay cạnh đường cái, giữa sân trường, không biết người ta xây nó làm gì? Một cái “ tháp nước”, hay là cái “lô cốt” có tầm cao khoảng 4-5 mét, tường phủ màu thời gian, nâu xỉn. Mà thật lạ, cách đây độ dăm năm về thăm lại trường cũ, cái lô côt này bị đập bỏ cho sân trường thông thoáng. Mất cái “lô cốt” ấy, tự nhiên tôi thấy luyến tiếc như mất một kỷ niệm. Chẳng gì, nhiều lần chúng tôi chơi đuổi nhau quanh cái lô lốt này, rồi buổi chiều cuối khóa từng lợi dụng bóng mát của nó để ngồi ôn bài… Trong sân trường có mấy cây bàng, cây phượng vĩ. Hè mấy cây phượng hoa nở đỏ, còn cây bàng tán rất rộng, che mát một vùng sân giúp  chúng tôi tập thể dục giữa giờ khỏi phải đứng nắng. Dưới những gốc cây phượng, cây bàng này, nhiều sáng sáng tôi đến lớp thật sớm, để nhìn sang lớp bên kia, cố thấy một người… Trường cấp III – Đan Phượng, thời tôi học, cũng không có nhiều lớp, hai dãy nhà xây, mỗi dãy nhà có độ bốn năm lớp học cả sáng, cả chiều cho cả ba khối 8,9,10. Lớp 9 B, thời tôi học, chủ nhiệm là thầy Dương Tiến Khang. Tôi chỉ học tốt mấy môn xã hội, còn các môn tự nhiên học không tốt lắm, nếu không nói là dốt. Thầy Khang dạy vật lý, biết tôi học yếu về các môn tự nhiên nên Thầy lên lịch dạy kèm cho tôi. Hồi ấy không có chuyện học thêm, dạy thêm, hễ có thời gian rỗi là Thầy Khang yêu cầu tôi đến nhà để Thầy kèm, bổ sung những kiến thức bị khiếm khuyết. Gọi là nhà,  thực ra chỗ Thầy Khang ở chỉ là một phòng nhỏ, có cửa sổ trông ra một bờ ao phủ kín bèo. Căn phòng đó trong  căn hộ tập thể  giáo viên lợp mái tranh, diện tích chỉ đủ kê một chiếc giường đơn, một bộ bàn ghế vừa là chỗ soạn bài, vừa là chỗ tiếp khách. Tôi đến chỗ Thầy ở, thỉnh thoảng lại gặp Thầy và Thầy Quảng ( dạy toán) đang quấn dây đồng mày mò lắp đài bán dẫn. Có Thầy Quảng, tiện thể Thầy Khang nhờ Thầy giúp tôi về toán, một môn tôi học cũng yếu. Hai người Thầy, mặc may ô còn thủng, chiếc quần soóc không lành lặn, mồ hôi đổ trên trán trong một căn phòng chật chột cố giảng giải từng công thức toán học, từng khái niệm điện, nước của môn vật lý để một học sinh không thông minh như tôi, hiểu được.  Một hình ảnh không bao giờ tôi quên. Thời gian gần đây, Thầy Khang cùng gia đình có vào Hội An, biết tin tôi đến gặp Thầy. Tôi vẫn giữ quyển học bạ có những lời nhận xét của Thầy cuối khóa học. Thầy, trò gặp nhau, thật mừng tôi thấy nét mặt, giọng nói của Thầy vẫn như xưa. Nhớ nhất lời Thầy dạy: “ Có thể nghèo về kinh tế, có thể thiếu về kiến thức nhưng tuyệt đối các em đừng hèn về nhân cách.”.

         Lời Thầy dạy tôi cố gắng giữ.

         Học toán ngoài giờ, thường tôi được Thầy Quảng chỉ bảo, nhưng chính khóa là Thầy Tiếp. Hình ảnh thầy Tiếp, có lẽ không riêng tôi, mà tôi tin, còn rất nhiều học sinh thế hệ của tôi rất nhớ. Hơn bốn mươi năm qua, khi ngồi viết những dòng này, tôi vẫn thấy hình ảnh của Thầy hiển hiện rất rõ. Nhà Thầy Tiếp rất nghèo, vách đất lở loang lổ, mái tranh ở dưới chân đê Song Phượng. Không biết có phải Thầy muốn tìm người đồng cảnh, nhiều lần tôi đến để Thầy phù đạo môn toán, đều thấy trên tay Thầy cầm cuốn tiểu thuyết “ Những người khốn khổ” của một nhà văn Pháp. Với Thầy, Thầy hay nói với chúng tôi: “ Đã là học trò của Thầy thì không thể dốt toán”. Mấy tiết toán trên lớp, nhiều bạn hiểu, riêng tôi tiếp thu hơi chậm, Thầy biết điều đó, nếu học sáng, còn buổi chiều Thầy yêu cầu tôi đến nhà Thầy để Thầy dạy thêm. Một Thầy, một trò Thầy nhẫn nại giảng giải từng công thức, từng dãy toán mà lúc ở trên lớp, tôi chưa hiểu. Kết thúc giờ dạy thêm, Thầy nói với tôi: “ Giờ toán ngày mai, Thầy sẽ gọi em lên bảng để giải bài tập này, em về nhà chuẩn bị. Em làm được bài toán này, cả lớp sẽ làm được…”. Tôi biết, Thầy đặt tin tưởng vào tôi, muốn tôi, một học sinh gần như dốt toán nhất lớp, biết phấn đấu, ham học hỏi phải là tấm gương cho cả lớp học tập. Những ngày chúng tôi ôn thi hết học kỳ I lớp 10, niên học 1970 – 1971, không hiểu sao năm ấy khí hậu lạnh  một cách khắc  nghiệt, chân Thầy Tiếp bị khớp nặng, sưng tấy, đỏ tái đầu gối, đi đứng rất khó khăn, thế mà Thầy vẫn cố đạp chiếc xe “ Phượng Hoàng” Trung Quốc đến trường. Thầy vừa ôn tập cho chúng tôi trên bục giảng, thỉnh thoảng Thầy phải dừng lại, tay bíu chặt vào bờ tường, nén cơn đau đang hành hạ. Chúng tôi nhìn Thầy quá thương cảm, muốn Thầy nghỉ, nhưng Thầy lắc đầu: “ Không sao đâu các em ạ! Thầy thấy bình thường. Để Thầy nghỉ một lúc là có thể giảng tiếp…” Hè năm 1971, khi chúng tôi vừa thi tốt nghiệp cấp III xong, chưa kịp vui với kết quả tốt, thì chúng tôi nhận được tin buồn, Thầy Tiếp đột ngột qua đời vì bệnh khớp. Tôi và Phan Răng, bạn đồng niên vội chạy đến nhà Thầy. Bên trong tấm màn xô cũ kỹ, Thầy nằm như ngủ, tấm chăn rạ vẫn đắp trên ngực. Cuốn tiểu thuyết “ Những người khốn khổ” Thầy vẫn để ở đầu giường.

           Khóa học những năm 1969, 1970,1971…ở trường cấp III – Đan Phượng chúng tôi, nam, nữ tụ tập quanh thị trấn Phùng, chơi với nhau rất thân, nghịch nữa. Tôi nhớ dạy môn Chính trị là Thầy Thiệu, Thầy thường yêu cầu chúng tôi đến giờ của Thầy phải chỉnh chu, mực thước, không nói chuyện trong lớp, không ăn quà vặt, không được giở sách trong giờ kiểm tra… Nhưng ít khi chúng tôi thực hiện yêu cầu của Thầy, học trò mà! Có đứa ở cuối lớp, lợi dụng Thày không để ý, nhảy cửa sổ ra ngoài đi mua sắn luộc về cho cả lớp. Có đứa nghĩ Thầy mắt kém, dẫu Thầy có đứng sát cạnh, vẫn giở vở… Có điều, chúng tôi tưởng Thầy không biết, hóa ra Thầy biết hết cả. Thầy chỉ nhắc nhẹ: “ Các em đừng làm những điều gì khuất tất, dối trá. Bây giờ đó là việc nhỏ, các em chỉ có thể lừa một mình tôi. Nhưng khi các em lớn, trưởng thành, các em dối trá, làm việc khuất tất các em sẽ làm hại cho cả gia đình, cho cả xã hội. Đó sẽ là tội ác.”. Thày Thiệu giảng về chính trị, nhưng không hề có những từ “ đao to, búa lớn” như bây giờ tôi thấy học sinh học. Thày dạy luôn liên hệ với thực tế, lấy thực tế so sánh và chính tấm gương mực thước của Thầy từ tác phong, lời nói đến việc làm khiến thế hệ học sinh của chúng tôi rất phục, thích học giờ chính trị của Thầy.

           Hồi học cấp II cho đến cấp III, tôi đã thích học văn, sau này cố gắng rèn rũa, học thêm, cũng có một số thành công nhất định. Nhưng để đạt được thành quả này tôi phải biết ơn công ơn dạy dỗ của Cô Thơ, Thầy Giang Đức Dụ. Chính Cô Thơ đã khơi nguồn cho tôi đến với niềm say mê văn học. Trong giờ giảng văn, rất nhiều lần Cô Thơ yêu cầu tôi đứng lên đọc những bài văn trong sách giáo khoa. Nhưng câu chữ cần nhấn mạnh, những đoạn văn hay cần tập trung diễn cảm  … Cô đều chỉ bảo tôi cặn kẽ. Qua lời Cô  dạy , những bài văn hay, những câu văn đẹp hình như có hồn, lấp lánh, ngọt ngào chảy dạt dào theo dòng suy tưởng, bắt buộc tôi phải đắm đuối, không thể dứt ra được.   Sau này, tôi được biết, Cô Thơ về làm hiệu trưởng một trường ở miền tây Nam Bộ, chính Cô, người hiệu trưởng đầu tiên sau năm 1975, trả lại giá trị chiếc áo dài trắng cho nữ sinh trung học.

            Hình như,trong Cô, giữa văn với đời, thống nhất làm một.

           Giờ rất hiếm có một giáo viên dạy văn như thế!

            Theo nghiệp văn, tôi còn nhớ ơn Thầy Giang Đức Dụ. Hồi tôi học lớp 10, tôi rất thích những giờ bình văn của Thầy Giang Đức Dụ. Thầy phân tích, hay bình luận một bài văn rất hay, có lúc quá say sưa, nhiều ý Thầy giảng đi ra ngoài nội dung của sách giáo khoa, chúng tôi vẫn chăm chú lắng nghe, như nuốt từng lời. Thầy rất chú ý sửa lỗi cho học sinh. Từng câu, từng chữ viết chính tả sai, những ý tôi viết nông cạn, Thầy đều cho nhận xét xác đáng. Đặc biệt, có những bài bình văn tôi viết, sau khi Thầy nhận xét, Thầy thường hay hỏi : “ Theo em, bài viết như thế này, sẽ được điểm mấy?”. Thấy tôi lúng túng, Thầy nói: “ Thầy muốn nói với em, dù thật trung thực, mình cũng không thể đánh giá được mình một cách chính xác, nên phải khiêm tốn, biết lắng nghe… Viết văn chỉ một, nhưng hiểu văn có ngàn ý. ”. Ngày Thầy mất ở Hà Nội, tôi vội ra Hà Nội. Bạn bè đồng đồng niên với tôi đứng quanh Thầy đông lắm, sự trưởng thành của mỗi người hình như, ai cũng thấy, có một phần nhờ sự uốn nắn của Thầy, từ nhân cách cho đến tri thức.

           Có một điều tôi cứ đắn đo suy nghĩ mãi, tại sao có một thời kỳ, mà thời kỳ đó đói khổ, trên bom dưới đạn. Một thời kỳ thiếu thốn trăm bề mà vẫn có một thế hệ Thầy,Cô tuyệt vời đến thế. Một thế hệ Thầy, Cô để lại dấu ấn tốt không thể phai mờ cho những người trưởng thành ở thế hệ chúng tôi còn sống đến ngày hôm nay, mỗi khi nhắc lại, đều biết ơn.

               Chỉ có thể giải thích, xã hội chúng ta sống lúc đó, nhất là ở miền bắc, dẫu là một xã hội chưa phải sự hoàn thiện về quản lý kinh tế, một xã hội chưa hoàn chỉnh về luật pháp nhưng do có chiến tranh, mục đích tối thượng là thống nhất đất nước, mọi ảnh hưởng tiêu cực về lối sống, về đạo đức chưa có dịp bộc phát. Những thế hệ già, trẻ sống thời đó ,quan hệ cấp trên với cấp dưới, cán bộ với người dân, giáo viên với học sinh… chủ yếu bằng tình nhân ái, “thương người như thể thương thân”. Rõ nhất là đội ngũ giáo viên, gần như không có giáo viên xấu, mỗi người giáo viên lúc đó là một tấm gương tốt cho học sinh học tập. Một điều nữa, tôi thử lý giải, đội ngũ giáo viên lúc đó, ít nhiều được đào tạo bài bản bởi những giáo viên giỏi, có đức, có tài. Thế hệ các Thầy, Cô đã dạy chúng tôi là thế hệ nối tiếp, kế thừa truyền thống tốt đẹp của thế hệ giáo viên đi trước, góp phần đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước sau này.

               Bây giờ, giáo dục là một ngành bị dư luận ca thán nhiều nhất. Không phải tất cả,  một số hình ảnh giáo viên  đã bị “ méo mó” trước mắt học sinh, thậm chí có hiệu trưởng trường phổ thông trung học phải ra tòa lĩnh án về những tội lỗi vô đạo không thể tha thứ.

               Một việc không bao giờ có, thời chúng tôi đi học.

               Trách những người giáo viên đó một phần, mà trách những người lãnh đạo đến chín phần.  Chỉ vì quyền lợi một giai cấp, một tập đoàn, nhóm lợi ích… họ đã để một xã hội bị biến dạng từ cách điều hành cho đến hình thành đạo đức, dù khoác bên ngoài đủ từ mỹ miều.

           Xã hội đó đảo điên  quay cuồng, làm tha hóa nhân tâm, kéo theo  đạo đức của người giáo viên chao đảo, lụn bại.

             Thật buồn cho giáo dục Việt Nam hiện tại.

              Muốn có giáo viên tốt, nhà nước đó phải là nhà nước tốt,hiến pháp tốt, xã hội tốt, người lãnh đạo tốt.

               Điều đó rất hiếm cho đến thời điểm này.

               Viết đến đây tôi lại nhớ đến các Thầy, Cô từng dạy tôi năm xưa.

             

       

Phóng Sự, Tản Văn | Nhận xét(1) | Trích dẫn(0) | Đọc(3378)
Phan Email
02/03/2015 17:35
Tôi mơi phát hiện ra website của anh.Hàng ngày tôi tranh thủ đọc nhưng chưa hết được.Có thể do anh cùng trang lứa,học cấp ba từ 68 đến 71, vào ĐH 71,nên tôi rất thích tản văn của anh ,nhất là những bài viết về những kỷ niệm thời cấp ba và ĐH,mang đến cho tôi nhiều cảm nhận sâu sắc và xúc động chân thành. Cảm ơn anh.
Phân trang 1/1 Trang đầu 1 Trang cuối
Viết nhận xét
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]